Bên cạnh đó, khi thực hiện rà soát y văn các nghiên cứu liên quan kể từ khi Việt Nam hoàn thành lộ trình áp dụng “Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc” cho thấy, hầu hết là các nghiên cứu tậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ,
THỰC HÀNH BÁN KHÁNG SINH
CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC TẠI
CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tổ chức quản lý dược
Mã số : 6272 0412
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
Hà Nội, năm 2021
Trang 20
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Dược Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Xuân Thắng;
PGS.TS.Nguyễn Hoàng Anh Phản biện 1: ………
Phản biện 2: ………
Phản biện 3: ………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp trường họp tại: ……… Vào hồi ……… giờ…….ngày…… tháng …… năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội
Trang 31
A GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 Tính cấp thiết của luận án
Cơ sở bán lẻ thuốc (CSBLT) đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng Ở nhiều nước có mức thu nhập thấp và trung bình, nhà thuốc là kênh chính để người dân mua thuốc và trao đổi thông tin khi có vấn đề về sức khỏe Tại Việt Nam, theo thống kê cho thấy khoảng 65%-80% người dân có vấn đề sức khỏe
sẽ tìm đến CSBLT trước khi đến với dịch vụ y tế khác Với mạng lưới các CSBLT đã và đang phát triển mạnh mẽ, để có thể phát huy vai trò của CSBLT trong cung ứng và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, kiến thức, thái độ và thực hành của NBT có vai trò rất quan trọng Nếu kiến thức, thái độ, thực hành của NBT không phù hợp có thể dẫn đến nhiều hệ lụy khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, gia tăng gánh nặng chi phí điều trị và trầm trọng nhất có thể là tính mạng của người bệnh
Tuy nhiên, thực tế hoạt động của hệ thống này đang tồn tại một số vấn đề bất cập, NBT bán kháng sinh không có đơn và CSBLT trở thành địa điểm cung cấp kháng sinh bất hợp lý trong cộng đồng Trong khi kháng sinh là nhóm thuốc có vai trò rất quan trọng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt các nước đang phát triển như Việt Nam, nhưng ngược lại đây là thuốc bị lạm dụng mức cao, dẫn đến gia tăng sử dụng bất hợp lý
và đề kháng kháng sinh Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với mức
độ và tốc độ lan rộng các vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh, xuất hiện vi khuẩn kháng đa thuốc Theo thống kê của Klein và cộng sự, Việt Nam là một trong 3 quốc gia có tốc độ gia tăng mức tiêu thụ kháng sinh cao nhất trên thế giới Một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến thực trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam là bởi kháng sinh bị lạm dụng trong cộng đồng, tự sử dụng kháng sinh khi không có đơn của bác sỹ, người dân có thể tự ý mua kháng sinh không có đơn ở các nhà thuốc hoặc theo lời khuyên của NBT Nghiên cứu quan sát tại 30 nhà thuốc năm 2011 ở
Hà Nội đã cho thấy phần lớn kháng sinh được bán mà không có đơn 88% (thành thị) và 91% (nông thôn) Có lẽ điều này góp phần khiến Việt Nam đang rơi vào “vùng trũng” của tình trạng kháng thuốc trên thế giới Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu của chúng tôi bắt đầu được
Trang 42
tiến hành cơ quan quản lý chưa có giải pháp riêng đối với CSBLT nhằm giải quyết vấn đề bán kháng sinh không có đơn ở Việt Nam
Bên cạnh đó, khi thực hiện rà soát y văn các nghiên cứu liên quan
kể từ khi Việt Nam hoàn thành lộ trình áp dụng “Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc” cho thấy, hầu hết là các nghiên cứu tập trung phản ánh thực trạng một số khía cạnh hoạt động của loại hình nhà thuốc như cơ sở vật chất, trang thiết bị, hổ sơ, sổ sách, hoạt động sắp xếp, bảo quản thuốc, kỹ năng thực hành bán thuốc, thực trạng bán kháng sinh không đơn tại một địa phương đơn lẻ, chưa đề cập toàn diện các khía cạnh về kiến thức, thái độ của NBT liên quan hoạt động bán kháng sinh và chưa phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc bán kháng sinh không đơn của NBT tại CSBLT ở Việt Nam hiện nay Trước bối cảnh trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của NBT đối với hoạt động bán kháng sinh tại nhà thuốc, quầy thuốc hiện nay ra sao? Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bán kháng sinh không đơn của NBT tại nhà thuốc, quầy thuốc như thế nào? Trên
cơ sở đó đề xuất và triển khai các can thiệp phù hợp để giảm thiểu việc bán kháng sinh không đơn tại CSBLT Dựa trên nền tảng và phát triển
từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ y tế, luận án “Nghiên cứu kiến
thức, thái độ, thực hành bán kháng sinh của người bán thuốc tại cơ
sở bán lẻ thuốc ở Việt Nam” được thực hiện
2 Mục tiêu của luận án
- Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người bán thuốc đối với hoạt động bán kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn một
số tỉnh, thành phố ở Việt Nam giai đoạn 2017-2018
- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn một
số tỉnh, thành phố ở Việt Nam
3 Những đóng góp mới của luận án
Theo hiểu biết của chúng tôi, đây là nghiên cứu đầu tiên cung cấp bằng chứng vừa tổng thể vừa chi tiết về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành bán kháng sinh và sự ảnh hưởng của một số yếu tố đến thực hành bán kháng sinh không đơn của NBT tại CSBLT trên địa bàn 9
Trang 5Nghiên cứu đã xây dựng được bộ công cụ đo lường kiến thức, thái
độ của người bán thuốc đối với hoạt động bán kháng sinh Trong đó, thang đo được đánh giá tính giá trị về mặt nội dung bằng việc tham vấn
ý kiến chuyên gia và thử nghiệm; đánh giá độ tin cậy (sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha) Nghiên cứu đã kết hợp các thông tin từ tiếp cận định tính để khám phá và xây dựng bộ công cụ đo lường yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bán kháng sinh không đơn của NBT, trên cơ sở áp dụng lý thuyết hành vi có dự định để kiểm định giả thuyết về các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thực hành bán kháng sinh không đơn của NBT
- Kiến thức của NBT về kháng sinh dao động từ mức kém đến mức tốt với điểm trung bình là 14,0 ±2,94/20 điểm tối đa Điểm trung bình thái
độ đạt 21,2±2,99/30 điểm tối đa Tuy nhiên một số nội dung kiến thức
và thái độ chưa phù hợp Điểm trung bình kiến thức, thái độ của NBT tại TPTW đặc biệt (Hà Nội, TPHCM) cao hơn so với các tỉnh/thành phố khác (p<0,05) NBT có trình độ đại học dược có điểm kiến thức cao hơn nhóm trình độ dưới đại học (p<0,05)
- Thực hành bán kháng sinh không đơn dễ dàng khi được yêu cầu (100%) NBT tự chỉ định kháng sinh trong tình huống kể bệnh, triệu chứng (ARI trẻ em) khá cao (73,9%), tại quầy thuốc cao hơn so với nhà thuốc, tại các tỉnh/địa phương cao hơn TPTW đặc biệt (Hà Nội, TPHCM) Khi xử lý ARI trẻ em, NBT tự bán kháng sinh dưới 5 ngày sử dụng (86,1%), kết hợp nhiều loại thuốc cùng với kháng sinh (trung bình
4 thuốc), với các thuốc bán kèm không có thông tin (51,6%) Kỹ năng khai thác thông tin và tư vấn rất hạn chế, đặc biệt trong trường hợp khách hàng yêu cầu kháng sinh cụ thể
Trang 64
- Có 4 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến thực hành bán kháng sinh không đơn của NBT được xếp hạng như sau: khả năng thực hiện việc bán KSKĐ dễ dàng > niềm tin về lợi ích và an toàn khi
sử dụng kháng sinh điều trị cho người bệnh > yếu tố thúc đẩy bên ngoài
từ phía khách hàng > niềm tin về lợi ích thương mại
- Phần lớn khách hàng mua thuốc không đơn, không đi khám bởi bệnh/triệu chứng nhẹ, đỡ tốn thời gian, bệnh/triệu chứng đã từng gặp trước đây Chỉ 47,3% khách hàng trả lời đồng ý để mua kháng sinh bắt buộc khám bác sĩ Các triệu chứng bệnh khách hàng có nhu cầu điều trị
đã sử dụng kháng sinh không đơn chủ yếu thuộc bệnh lý hô hấp
- Yếu tố dẫn đến tình trạng giám sát hoạt động bán kháng sinh tại CSBLT kém hiệu quả của cơ quan quản lý dược bao gồm: thiếu nguồn lực, khó khăn khi giám sát trong bối cảnh vi phạm quy định bán kháng sinh không đơn rất phổ biến, khó xử phạt
4 Ý nghĩa của luận án
Nghiên cứu đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái
độ của NBT về kháng sinh và bộ công cụ đo lường yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bán kháng sinh không đơn theo quan điểm của NBT đã được đánh giá độ tin cậy và đạt yêu cầu
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách và quản lý xây dựng các giải pháp can thiệp, triển khai trong một số nội dung Đề án kiểm soát kê đơn và bán thuốc kê đơn
5 Bố cục của luận án
Luận án nghiên cứu có tất cả 143 trang Bao gồm: Đặt vấn đề (3 trang), Chương 1: Tổng quan (34 trang), Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (25 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu (45 trang), Chương 4: Bàn luận (32 trang), Kết luận và kiến nghị (3 trang) Luận án có 145 tài liệu tham khảo trong đó có 33 tài liệu tiếng Việt, 109 tài liệu tiếng Anh và 3 tài liệu từ các website Ngoài ra, trong nội dung trình bày của của luận án có tất cả 39 bảng, 15 hình và 16 phụ lục kèm theo
Trang 75
B NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Quản lý kháng sinh tại các cơ sở bán lẻ thuốc
1.1.1 Quản lý kháng sinh tại CSBLT trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế thế giới, kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt bởi xuất hiện hiện tượng đề kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn thay đổi đáp ứng với thuốc, việc sử dụng kháng sinh không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người bệnh mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng Nhân loại đang đối mặt với mức độ đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng Do
đó, kháng sinh luôn được quan tâm và quản lý bởi các quy định, chính sách nhằm đảm bảo sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn, giảm thiểu tỷ lệ
đề kháng kháng sinh
Quy định bán kháng sinh tại CSBLT: tại hầu hết các quốc gia,
kháng sinh được quản lý là thuốc phải kê đơn, chỉ được bán cho người bệnh khi có đơn của bác sĩ
Yêu cầu trách nhiệm của dược sĩ - người bán lẻ thuốc trong quản lý
sử dụng kháng sinh tại cộng đồng: Theo tổ chức y tế thế giới, do có
nhiều ưu thế trong tiếp cận, dược sĩ cộng đồng- người bán lẻ thuốc cần thực hiện cung ứng thuốc có trách nhiệm, tư vấn sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý cho người bệnh trong cộng đồng
1.1.2 Quản lý kháng sinh tại CSBLT tại Việt Nam
Quy định bán kháng sinh tại CSBLT: Kháng sinh là thuốc kê đơn,
việc bán lẻ kháng sinh không có đơn là hành vi nghiêm cấm Theo quy định từ năm 2013, cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000
đồng đối với hành vi bán lẻ thuốc kháng sinh mà không có đơn
Yêu cầu tuân thủ nguyên tắc sử dụng kháng sinh hợp lý trong cộng đồng: Chỉ được sử dụng kháng sinh bệnh lý nhiễm khuẩn; Lựa chọn
kháng sinh hợp lý, sử dụng đúng liều lượng và đủ thời gian của đợt điều trị; Kháng sinh có thể gây ra phản ứng có hại Phải khai thác tiền sử dị ứng, tiền sử dùng thuốc ở người bệnh Chỉ sử dụng theo đơn bác sĩ
1.1.3 Thực trạng sử dụng kháng sinh trong cộng đồng
Mặc dù có nhiều chính sách quản lý sử dụng kháng sinh tuy nhiên
thực trạng sử dụng kháng sinh không hợp lý trong cộng đồng diễn ra
Trang 86
phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, làm gia tăng tiêu thụ kháng sinh và mức độ kháng kháng sinh Lạm dụng kháng sinh trong điều trị khi chưa cần thiết, thói quen tự sử dụng kháng sinh và kém tuân thủ của người dân do nhận thức hạn chế là vấn đề đáng lo ngại Tổng quan hệ thống của Morgan và cộng sự cho thấy có 76% kháng sinh người bệnh
tự sử dụng được cung cấp từ CSBLT tại cộng đồng
Tại Việt Nam, tự sử dụng kháng sinh trong cộng đồng rất phổ biến
CSBLT là nguồn cung cấp kháng sinh không đơn Kháng sinh dễ dàng được bán không có đơn Để giải quyết thực trạng phức tạp trong cộng đồng, đặc biệt là việc tự sử dụng kháng sinh, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trước hết phải giảm bán KSKĐ tại các CSBLT - địa điểm cung cấp kháng sinh chủ yếu trong cộng đồng mà ở đó NBT đóng vai trò giám sát, quản lý sử dụng kháng sinh hợp lý
1.2 Kiến thức, thái độ, thực hành của NBT đối với hoạt động bán kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc
1.2.1 Phương pháp sử dụng khảo sát thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của NBT đối với hoạt động bán kháng sinh tại CSBLT
Nhằm đánh giá kiến thức, thái độ của NBT về kháng sinh, hầu hết
các nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thông qua phỏng vấn bộ câu hỏi có cấu trúc Một số nghiên cứu đánh giá độ tin cậy của
bộ công cụ thông qua hệ số tương quan nội hàm hoặc thông qua hệ số tin cậy Cronbach alpha Thực trạng thực hành bán kháng sinh được đánh giá thông qua phương pháp đóng vai khách hàng được đánh giá đáng tin cậy và nhiều nghiên cứu áp dụng
1.2.2 Nội dung kiến thức, thái độ, thực hành của NBT về kháng sinh Trên thế giới, tổng quan các nghiên cứu cho thấy nội dung kiến
thức được đánh giá bao gồm khía cạnh về quy định bán kháng sinh, nguyên tắc sử dụng kháng sinh, nguy cơ sử dụng kháng sinh, kháng kháng sinh và một số tình huống lâm sàng thường gặp tại CSBLT Nội dung thái độ được xem xét hầu hết liên quan việc bán kháng sinh không đơn và vai trò của NBT với vấn đề quản lý kháng sinh trong cộng đồng Nội dung thực hành bán kháng sinh tập trung phân tích thực trạng bán kháng sinh không có đơn tại CSBLT
Trang 97
Tại Việt Nam, theo rà soát y văn các nghiên cứu trước đây tiến
hành tại CSBLT chủ yếu ghi nhận thực trạng thực hành bán kháng sinh không đơn của NBT Tuy nhiên, kiến thức, thái độ của NBT về kháng sinh: quy định bán kháng sinh, nguyên tắc cơ bản sử dụng kháng sinh, nguy cơ sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh còn thiếu thông tin
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không đơn của NBT
Trên thế giới, tổng quan tài liệu từ nghiên cứu định tính, định
lượng, nghiên cứu kết hợp cho thấy có các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc bán kháng sinh không đơn của NBT bao gồm: (i) Lợi ích thương mại; (ii) Nhận thức/niềm tin của NBT về kháng sinh còn hạn chế; (iii)
cơ chế giám sát kém hiệu quả của cơ quan quản lý; (iv) Các yếu tố thúc
đẩy từ bên ngoài (khách hàng, bác sĩ, người bán thuốc khác)
Tại Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu ghi nhận thực trạng thực hành bán kháng sinh không đơn khi đánh giá kỹ năng thực hành nghề nghiệp của NBT chỉ ở một địa phương đơn lẻ, tập trung loại hình nhà thuốc với phương pháp tiếp cận định lượng Trong khi còn thiếu những nghiên cứu tổng thể phân tích yếu tố ảnh hưởng đến việc bán kháng sinh không đơn của NBT Để can thiệp hiệu quả, cần xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc thực hiện bán kháng sinh không đơn của NBT dựa trên cơ sở lý thuyết về hành vi là cần thiết
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: nhà thuốc, quầy thuốc tư nhân
- Đối tượng khảo sát: người bán lẻ thuốc, khách hàng mua thuốc và cán bộ quản lý dược tại địa phương
- Địa điểm: 9 tỉnh/thành phố: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Phú thọ; Khánh Hòa; Đắc Lắk; Bình Dương; Kiên Giang
- Thời gian nghiên cứu: Từ 1/2017 đến 3/2018
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, nghiên cứu kết hợp định
lượng và định tính
Trang 108
Hình 2.5.Nội dung nghiên cứu
Thu thập dữ liệu trong nghiên cứu được thực hiện thông qua kết hợp các phương thức: phỏng vấn theo bộ câu hỏi có cấu trúc (PV BCH),
quan sát (trực tiếp, đóng vai khách hàng) và phỏng vấn sâu (PVS) 2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Bảng 2.14 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu của các nghiên cứu
sở bán lẻ thuốc
20 nhà thuốc, 20 quầy thuốc tại 1 tỉnh/thành phố x 9 tỉnh, đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn, loại trừ Phương pháp: chọn mẫu nhiều giai đoạn
Cỡ mẫu: 360 cơ sở
Đóng vai KH
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành bán kháng sinh của
NBT tại CSBLT ở Việt Nam
Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bán KSKĐ của NBT
Đánh giá thực trạng KAP của NBT
đối với hoạt động bán kháng sinh
Xác định YTAH
Đo lường mức độ AHYT
Phân tích một
số YT
từ KH
Xác định một số
YT từ CQQL
PVS CBQL dược
PV BCH NBT
PV BCH
KH
PVS NBT
Trang 119
1.2 Đánh giá thực trạng
bán kháng sinh của
cơ sở bán lẻ thuốc thông qua phương pháp đóng vai khách hàng
20 nhà thuốc, 20 quầy thuốc tại 1 tỉnh/địa phương x 9 tỉnh, đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn, loại trừ Phương pháp: chọn mẫu nhiều giai đoạn
Cỡ mẫu: 360 cơ sở bán lẻ thuốc x
Phỏng vấn sâu người bán thuốc tại nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn
4 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Phú Thọ, TPHCM, Cần Thơ)
Phương pháp: chọn mẫu thuận tiện, có chủ đích
Cỡ mẫu: 18 NBT 2.2 Phân tích mức độ
ảnh hưởng của các yếu tố đến thực hành bán KSKĐ của người bán thuốc
Phương pháp: chọn 1NBT tại mỗi nhà thuốc, quầy thuốc tại thời điểm khảo sát
Cỡ mẫu: 360 NBT
Cỡ mẫu phân tích: 331 NBT 2.3 Phân tích một số yếu
tố từ phía khách hàng mua thuốc ảnh hưởng thực hành bán KSKĐ
360 khách hàng mua thuốc kháng sinh tại 360 cơ sở bán lẻ thuốc khảo sát
Phương pháp: chọn mẫu thuận tiện 1 khách hàng mua kháng sinh tại 1 CSBLT
Cỡ mẫu: 360 khách hàng mua kháng sinh
2.4 Xác định một số yếu
tố thuộc về công tác quản lý ảnh hưởng
Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý dược tại Sở y tế, Phòng y tế tại địa phương
Trang 1210
đến thực hành bán kháng sinh không đơn của NBT
Phương pháp: chọn mẫu thuận tiện, có chủ đích
Phân tích dữ liệu định tính theo nội dung chủ đề
2.2.6 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thông qua và cho phép bởi Hội đồng của Trường Đại học Dược Hà Nội Nghiên cứu được sự đồng ý của Sở y tế địa phương khảo sát, các nhà thuốc, quầy thuốc được giải thích rõ ràng về mục đích, nội dung và xác nhận đồng ý tham gia Thông tin thu thập được mã hóa, đảm bảo tính bí mật cho đối tượng cung cấp thông tin
2.2.7 Các biện pháp hạn chế sai số trong thu thập dữ liệu
Nghiên cứu kết hợp đồng thời nhiều biện pháp để hạn chế sai số trong thu thập dữ liệu Nghiên cứu viên thu thập dữ liệu được tập huấn
và giám sát
Trang 1311
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu khảo sát tại 360 CSBLT, ghi nhận có 37,8% CSBLT có
mặt người phụ trách chuyên môn Tỷ lệ này tại nhà thuốc và quầy thuốc tương ứng là 18,5% và 61,8% Trong 360 NBT tham gia nghiên cứu, nữ giới chiếm đa số (83,4%) với độ tuổi dưới 30 nhiều nhất (39,5%) Có 60,6% NBT có trình độ trung cấp dược, 23,5% cao đẳng và 13,3% đại học dược Khách hàng mua kháng sinh được khảo sát đa số là nữ giới (65,3%), phần lớn có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông và nghề nghiệp lao động kinh doanh tự do nhiều nhất (58,8%)
3.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA NBT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN KHÁNG SINH TẠI CSBLT
3.2.1 Kiến thức của NBT về kháng sinh
Kiến thức về quy định bán lẻ kháng sinh:
Bảng 3.1 Tỷ lệ NBT có kiến thức đúng về quy định bán kháng sinh
TT Nội dung Số lượng (%)
n=360
1 K1-Kháng sinh là thuốc kê đơn (khi bán lẻ có đơn
2 K2-Khi khách hàng cần thiết phải điều trị kháng
sinh, nên khuyên /thuyết phục khách hàng đi khám
bác sĩ để có đơn thuốc
326 (90,6)
3 K3-Dược sĩ đại học không được bán kháng sinh
4 K4-Người bán thuốc có thể bị phạt khi bán kháng
Điểm trung bình (TB, Độ lệch chuẩn) 3,14 (0,95)
Có 91,3%NBT nhận thức đúng về quy định kháng sinh là thuốc
kê đơn, khi bán lẻ phải có đơn của bác sĩ
Kiến thức về nguyên tắc cơ bản sử dụng kháng sinh:
Trang 1412
Chỉ có 55,6% NBT nhận thức được kháng sinh không có tác dụng đối với vi rút và 51,1% trả lời đúng việc sử dụng kháng sinh không giúp các triệu chứng sốt, cảm cúm, ho được chữa khỏi nhanh hơn
Bảng 3.2 Tỷ lệ NBT có kiến thức đúng về nguyên tắc cơ bản
sử dụng kháng sinh
n=360
1 K5-Chỉ sử dụng kháng sinh khi mắc nhiễm khuẩn 339 (94,2)
2 K6-Kháng sinh không có tác dụng diệt hoặc kìm
3 K7-Sử dụng kháng sinh không giúp triệu chứng
sốt, cảm cúm, ho được chữa khỏi nhanh hơn
184 (51,1)
4 K8-Thời gian sử dụng kháng sinh một đợt điều trị
Điểm trung bình (TB, Độ lệch chuẩn) 2,73 (1,10)
Kiến thức về nguy cơ sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh: Nguy
cơ khi sử dụng kháng sinh có thể gây dị ứng và sau đó có thể dẫn đến tử vong được 75,8% NBT trả lời đúng Có 77,2% NBT nhận thức đúng bán kháng sinh khi không có đơn là nhân tố thúc đẩy gia tăng kháng kháng sinh.Tổng điểm trung bình kiến thức về nguy cơ sử dụng kháng sinh, kháng kháng sinh của NBT đạt 5,04 điểm/6,0 điểm tối đa
Kiến thức của NBT khi xử trí một số tình huống cụ thể: Nhìn chung,
tỷ lệ NBT có hiểu biết đúng khi xử lý với một số tình huống cụ thể liên quan kháng sinh còn thấp Tỷ lệ NBT trả lời đúng về thời điểm nên uống viên amoxicillin/acid clavulanic so với bữa ăn và tương tác thuốc điển hình kháng sinh ciprofloxacin với sữa/sữa chua chỉ đạt tương ứng
là 42,2% và 51,7% Trong 3 tình huống với triệu chứng cụ thể của bệnh nhiễm trùng hô hấp trên ở trẻ 4 tuổi, có 10,8% NBT nhầm lẫn rằng cần thiết dùng kháng sinh đối với trẻ có các biểu hiện ho, sổ mũi, không kèm theo sốt; có 64,2% sẽ sử dụng kháng sinh để điều trị với trường hợp
ho, sổ mũi, có kèm theo sốt Tổng điểm trung bình kiến thức xử lý một
số tình huống cụ thể của NBT đạt được là 3,02 điểm/6,0 điểm tối đa
Nguồn thông tin cung cấp kiến thức cho NBT về kháng sinh: có
75,7% NBT cho biết nguồn kiến thức về sử dụng kháng sinh có được từ
Trang 1513
chương trình đào tạo ở trường Các nguồn thông tin khác là: tự học theo tài liệu có sẵn (54,1%), học theo đơn của bác sĩ (47,7%), học hỏi hoặc quan sát theo kinh nghiệm điều trị của NBT khác (37,4%) và 8,6% từ nguồn khác
Tổng điểm kiến thức chung của NBT về kháng sinh: trung bình đạt
14,0 điểm (SD=2,62), trung vị 14,50 điểm Phân loại kiến thức cho thấy
có 50,6% NBT có kiến thức tốt; 39,7% ở mức trung bình và 9,7% mức kém NBT có trình độ đại học có trung vị điểm kiến thức cao hơn so với nhóm dưới đại học (p<0,05) NBT được tập huấn quy định về bán thuốc
kê đơn có điểm trung bình kiến thức chung cao hơn so với NBT chưa được tập huấn (p<0,05).NBT của CSBLT trên địa bàn TPTW đặc biệt (Hà Nội, TPHCM) có trung vị điểm kiến thức cao hơn so với NBT ở nhóm các tỉnh khác đã khảo sát (p<0,05) NBT làm việc tại cơ sở có số lượng nhân viên từ 2 trở lên có trung vị điểm kiến thức cao hơn cơ sở có
ít hơn 2 nhân viên (p<0,05)
3.2.2 Thái độ của NBT về kháng sinh
Thái độ của NBT về vai trò của họ đối với sử dụng kháng sinh trong cộng đồng: hầu hết NBT (85,8%) có thái độ tích cực về vai trò quan
trọng trong việc cung cấp lời khuyên, tư vấn về sử dụng kháng sinh cho người dân Tuy nhiên, có 33,9% phản đối việc NBT có thể tác động hoặc trao đổi với bác sĩ nếu phát hiện đơn kê kháng sinh không hợp lý.
Thái độ của NBT về việc bán kháng sinh không đơn:
Có 30,6% đồng ý một phần và 11,7% đồng ý với quan điểm kháng sinh được người bán thuốc bán không có đơn cho người bệnh là hợp lý
Có 91,4% NBT đồng ý/đồng ý một phần rằng việc bán KSKĐ hiện nay đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Đáng chú ý chỉ có 44,7% NBT đồng ý, 42,8% đồng ý một phần rằng họ nên dừng việc bán KSKĐ (bảng 3.23)
Tổng điểm thái độ chung của NBT về kháng sinh: Trung bình tổng
điểm thái độ chung của NBT về kháng sinh là 21,19 điểm (SD=2,99), trung vị 21,0 điểm Tỷ lệ NBT thái độ phù hợp là 46,7% (168/360) và 53,3% (192/360) có thái độ chưa phù hợp về hoạt động bán kháng sinh