Bally, Oswld Ducrot 1972 đãkhái quát một cách ngắn gọn về hai thành phần ý nghĩa trong phát ngôn: “Các nhàlogic và các nhà ngôn ngữ luôn luôn cho là cần thiết phải phân biệt trong một hà
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Mai Phương
Trang 2BẢNG CHÚ THÍCH VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢN ĐỒ ĐIỀU TRA TTTTT CUỐI PHÁT NGÔN Ở NAM BỘ
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận án 4
6 Cấu trúc của luận án 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tình thái và TTTT cuối phát ngôn 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 21
1.2.1 Khái niệm “tiểu từ tình thái” và “tiểu từ tình thái cuối phát ngôn” 21
1.2.2 Lý thuyết hoạt động giao tiếp 24
1.2.3 Hành động ngôn ngữ 27
1.2.4 Phương ngữ Nam Bộ và vấn đề phân tích tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ 36
1.3 Tiểu kết chương 1 42
Chương 2 NHẬN DIỆN TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI PHÁT NGÔN VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CHÚNG TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ 44
2.1 Nhận diện TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ 44
2.1.1 Nhận diện tiểu từ tình thái trong phát ngôn về mặt chức năng 44
2.1.2 Nhận diện tiểu từ tình thái về phương diện từ loại 47
2.1.3 Tiêu chí cụ thể nhận diện TTTT và danh sách TTTT cuối phát ngôn 49
2.2 Ngữ nghĩa của tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ 56
2.2.1 Các TTTT đơn được dùng trong giao tiếp của người Nam Bộ 56
Trang 32.3 Tiểu kết chương 2 81
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI PHÁT NGÔN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ XÉT THEO HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 82
3.1 Mô tả chức năng ngữ nghĩa các nhóm TTTT 82
3.1.1 Phân loại các nhóm TTTT theo phạm trù HĐNT 82
3.1.2 Phân loại các nhóm TTTT theo từng tiểu phạm trù HĐNT 84
3.2 Mô tả các TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ theo tiêu chí lịch sự 101
3.2.1 Nguyên lí lịch sự 101
3.2.2 Mô tả cụ thể 104
3.3 So sánh nghĩa của các TTTT trong nhóm theo từng HĐNT 108
3.3.1 Các cặp TTTT trong cùng nhóm xuất hiện trong các HĐNT khác nhau 108
3.3.2 Các TTTT trong nhóm xuất hiện trong cùng một HĐNT 108
3.4 Hiện tượng từ hô gọi đi kèm TTTT 111
3.4.1 Từ hô gọi và hiện tượng từ hô gọi đi kèm TTTT 111
3.4.2 Vai trò của từ hô gọi xuất hiện trước và sau TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ 112 3.5 Tiểu kết chương 3 115
Chương 4 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI PHÁT NGÔN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ XÉT THEO PHÂN TẦNG XÃ HỘI VỀ GIỚI TÍNH 117
4.1 Giới thuyết về vấn đề giới tính và ngôn ngữ 117
4.2 Những khác biệt về tần số sử dụng TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp giữa nam và nữ ở Nam Bộ 119
4.2.1 Sự khác biệt giữa nam và nữ về tần số sử dụng TTTT đơn 119
4.2.2 Sự khác biệt giữa nam và nữ về tần số sử dụng TTTT kết hợp 123
4.3 Sự khác biệt giữa nam và nữ về sử dụng TTTT xét theo tính lịch sự 130
4.4 Sự khác biệt giữa nam và nữ về sử dụng TTTT gắn với một số nhóm hành động ngôn trung tiêu biểu 132
4.5 So sánh việc sử dụng TTTT cuối phát ngôn gắn với THG giữa nam và nữ 136
Trang 44.5.2 Sự khác nhau giữa nam và nữ trong việc dùng THG kèm trước và sau
TTTT 1404.6 Tiểu kết chương 4 144
Trang 5Kí hiệu viết tắt Nội dung viết tắt
Trang 6Bảng 2.1 Danh sách 40 TTTT cuối câu từ nghiên cứu của 10 tác giả 51
Bảng 2.2 Danh sách TTTT trong tiếng Việt toàn dân 54
Bảng 2.3 Danh sách TTTT đơn toàn dân được dùng ở Nam Bộ 57
Bảng 2.4 Tỉ lệ tần số sử dụng TTTT “ạ”, “nhé”, “đây”, “chứ”, “hả”, “vậy” 59
Bảng 2.5 Các TTTT biến âm của từ toàn dân 65
Bảng 2.6 Tần số và tỉ lệ % các tổ hợp TTTT toàn dân cuối phát ngôn 75
Bảng 2.7 Tần số và tỉ lệ % các TTTT kết hợp phương ngữ cuối phát ngôn 76
Bảng 3.1 TTTT xuất hiện theo nhóm HĐNT 82
Bảng 3.2 Sự xuất hiện của TTTT trong các HĐ điều khiển 89
Bảng 3.3 Sự xuất hiện của TTTT trong các HĐ biểu cảm 95
Bảng 3.4 Sự xuất hiện của TTTT trong các HĐ tuyên bố 97
Bảng 3.5 Sự xuất hiện của TTTT trong các HĐ trình bày 99
Bảng 3.6 Sự xuất hiện của TTTT trong các HĐ cam kết 101
Bảng 3.7 Bảng số lần và tỉ lệ THG đi kèm TTTT cuối phát ngôn trong một số HĐNT 112 Bảng 3.8 Bảng từ hô gọi xuất hiện trước và sau TTTT cuối phát ngôn 113
Bảng 4.1 Bảng tổng hợp so sánh tần số và tỉ lệ dùng TTTT đơn giữa nam và nữ 120
Bảng 4.2 Tần số sử dụng TTTT kết hợp cuối phát ngôn giữa nam và nữ 124
Bảng 4.3 Tần số sử dụng TTTT kết hợp trong giao tiếp giữa nam và nữ 124
Bảng 4.4 Những khác biệt giữa nam và nữ về sử dụng TTTT gắn với tính lịch sự 130
Bảng 4.5 TTTT thực hiện các hành động ngôn trong giao tiếp của nam và nữ 132
Bảng 4.6 Số lượng, tỉ lệ % TTTT thực hiện các HĐNT của nam và nữ trong
giao tiếp ở trường học 135
Bảng 4.7 Bảng so sánh nam và nữ sử dụng THG kèm TTTT cuối phát ngôn
trong giao tiếp của người Nam Bộ138
Bảng 4.8 So sánh tần số và tỉ lệ dùng THG kèm trước và sau TTTT giữa nam
và nữ 141
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt có hệ thống tiểu từ tình thái (TTTT) đa dạng phong phú Ngoàinhững TTTT toàn dân, trong mỗi vùng phương ngữ còn có những TTTT địa phương.Các TTTT địa phương được dùng trong giao tiếp, qua các ngữ cảnh sử dụng khôngnhững thể hiện các ý nghĩa tình thái đa dạng, tinh tế mà còn mang sắc thái phươngngữ Cho nên, tìm hiểu ý nghĩa tình thái tiếng Việt, ngoài nghiên cứu TTTT toàn dâncòn cần tìm hiểu ý nghĩa TTTT phương ngữ; điều này cần thiết không chỉ về ngôn ngữ
mà còn cả mặt văn hóa, xã hội Nghiên cứu tình thái trong phương ngữ là góp phầnvào việc làm cho bức tranh tình thái của tiếng Việt ngày càng đầy đủ hơn trong sự đadạng, phong phú của tiếng Việt
1.2 Là yếu tố mang chức năng ngữ nghĩa và chức năng dụng học nên khi đượcdùng trong giao tiếp, TTTT là một trong các nhân tố thể hiện thói quen vùng miền, ý thức
xã hội về giới, địa vị, tuổi tác, bối cảnh (gia đình hay xã hội),…của người giao tiếp CácTTTT cuối phát ngôn là một trong những phương tiện quan trọng để thực tại hóa câu, biếnnội dung mệnh đề dưới dạng nguyên liệu, tiềm năng trở thành một phát ngôn trong tìnhhuống giao tiếp nhất định Vì vậy, tìm hiểu số lượng TTTT cuối phát ngôn và
ý nghĩa của chúng trong giao tiếp của người Việt nói chung và người Nam Bộ (NB) nóiriêng là một việc làm cần thiết để bổ sung cho lí thuyết về từ loại trong đó có các TTTT
Các TTTT cuối phát ngôn trong phương ngữ Nam Bộ (PNNB) gắn với hành động giaotiếp đã tạo ra sắc thái ngữ nghĩa riêng, mang đậm dấu ấn của địa phương
1.3 Việc tìm hiểu ngữ nghĩa chức năng của TTTT giúp ta hiểu thêm một lớp từvốn tồn tại trong PNNB từ trước đến nay chưa được đi sâu nghiên cứu một cách đầy
đủ giúp hiểu rõ hơn đặc điểm văn hóa độc đáo của người dân phương Nam - vùng đấttuy non trẻ nhưng ẩn chứa nhiều nét văn hóa đặc sắc, riêng biệt mà các nhà khoa học
đã quan tâm nghiên cứu nhưng chưa phải đã được giải mã đầy đủ một cách căn bản, hệthống Nghiên cứu các TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB khôngnhững cho thấy đặc điểm ngữ nghĩa và cách dùng lớp từ này ở NB mà còn góp phầnlàm rõ hơn đặc trưng văn hóa độc đáo của người dân phương Nam - vùng sông nước
Trên đây là những lí do luận án đi sâu vào tìm hiểu đề tài “TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ”
Trang 92 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Đối tượng nghiên cứu là các TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của ngườiViệt NB, gồm:
- Các TTTT toàn dân được người NB dùng;
Trên tư liệu 8531 phiếu điều tra điền dã ghi âm, làm phiếu khảo sát trên googlefom chúng tôi đã tách các phát ngôn có TTTT đứng cuối câu để phân tích, mô tả,…các phát ngôn có TTTT mà chúng tôi khảo sát được thu thập theo giới, nhóm tuổi khácnhau trong xã hội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài của luận án hướng đến hai mục đích chính sau:
Làm rõ chức năng ngữ nghĩa của TTTT theo hành động ngôn trung và đặc điểm
sử dụng của TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB theo phân tầng xã hội
về giới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài này, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:
1) Điền dã khảo sát, thu thập thống kê số lượng, phân loại TTTT đối với nhữngphát ngôn có các TTTT đứng cuối qua các cuộc giao tiếp trực tiếp và một phần từ vănbản văn chương, từ điển, google fom;
2) Nhìn lại một cách tổng quan tình hình nghiên cứu TTTT nói chung và trongPNNB nói riêng; xác định các cơ sở lí thuyết của đề tài;
Trang 103) Tìm hiểu ý nghĩa khái quát của các TTTT tiếng NB trên cơ sở so sánh đối chiếu với những TTTT toàn dân để rút ra điểm chung cũng như nét riêng biệt củaTTTT cuối phát ngôn của người NB;
4) Mô tả và phân tích các TTTT tiếng NB trên hai phương diện: ngữ nghĩa chức năng gắn với hành động ngôn ngữ trong giao tiếp và đặc điểm sử dụng TTTT cuối phát ngôn theo phân tầng xã hội về giới của người NB
-4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp điều tra điền dã
Chúng tôi ghi âm, quay video trực tiếp các cuộc thoại trong sinh hoạt hàng ngàycủa các đối tượng và làm fom chia sẻ qua google drive, câu trả lời sẽ được gửi phảnhồi qua mail, qua zalo hoặc facebook, được phân biệt theo các điểm sau:
1) Hoàn cảnh phát ngôn: phát ngôn công khai và trực tiếp;
2) Nội dung phát ngôn: liên quan đến công việc thường ngày trong đời sống laođộng, sinh hoạt của cộng đồng, những suy nghĩ, tình cảm của các thành viên trongcuộc sống gia đình, bạn bè, đồng nghiệp với nhau;
3) Độ tuổi: thanh niên, trung niên, cao niên;
4) Nghề nghiệp: những người lao động chân tay (công nhân, nông dân), viênchức, sinh viên, các nhà doanh nghiệp….;
5) Mối quan hệ: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, làng xóm;
c Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này được dùng để phân tích các tham thoại gắn với các nhân tốhội thoại cụ thể, như nhân vật giao tiếp (tuổi tác, giới, nghề, quan hệ), không gian, thờigian trong từng ngữ cảnh giao tiếp để xác định chính xác, sát thực nghĩa tình thái theoloại phát ngôn và hành động ngôn ngữ
Trang 114.2 Thủ pháp nghiên cứu
a Thủ pháp thống kê phân loại
Chúng tôi quan sát, phân loại số lượng lớn ngữ cảnh có các TTTT để thống kêphân loại các TTTT và các hành động lời nói có sự xuất hiện của các TTTT trong lờithoại của người NB
b Thủ pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở thống kê phân loại, so sánh đối chiếu, chúng tôi tiến hành phân tích
và tổng hợp ý nghĩa cụ thể và ý nghĩa khái quát của các TTTT, ý nghĩa của chúngtrong các nhóm hành động lời nói, những đặc trưng giới tính thể hiện qua việc sử dụngTTTT cuối phát ngôn của người NB
c Thủ pháp so sánh
Với kết quả miêu tả, phân tích, chúng tôi tiến hành so sánh TTTT Nam Bộ vớiTTTT toàn dân và phương ngữ khác; so sánh các TTTT tiếng địa phương có âm gầnnhau, so sánh sự xuất hiện của các TTTT trong tham thoại giữa nam giới và nữ giới
và nữ trong việc sử dụng TTTT cuối phát ngôn
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm bốn chương
như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2: Nhận diện tiểu từ tình thái cuối phát ngôn và ngữ nghĩa của chúng
trong giao tiếp của người Nam BộChương 3: Đặc điểm sử dụng các tiểu từ tình thái cuối phát ngôn xét theo hành
động ngôn ngữChương 4: Đặc điểm sử dụng các tiểu từ tình thái cuối phát ngôn xét theo phân
tầng xã hội về giới tính
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tình thái và TTTT cuối phát ngôn
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1 Về tình thái
Charles Bally (1932), nhà ngôn ngữ học hàng đầu của Pháp, khi bàn về nghĩa
của câu, đã đưa ra hai thuật ngữ dictum (điều được nói ra - là thành phần cốt lõi của câu) và modus (phương thức nói - bày tỏ thái độ của người nói đối với điều được nói ra) để nói về hai thành phần cơ bản trong nội dung ngữ nghĩa của loại đơn vị này và
phân tích mặt logic của câu Charles Bally cho rằng, câu là hình thức đơn giản nhất cóthể có của việc thông báo ý nghĩ Và ý nghĩ là phản ánh biểu tượng cùng với việc xácnhận sự có mặt của nó là thuộc về sự phán đoán, sự đánh giá nó là thuộc về cảm tính,
sự mong muốn (không mong muốn) thuộc về ý chí Với quan niệm như vậy, ông lưu ý:không nên quy ý nghĩ về các biểu tượng một cách đơn giản, kiểu biểu tượng loại trừmọi sự tham gia tích cực từ phía chủ thể suy nghĩ Từ đó ông phát biểu một cách cụthể: câu hiển ngôn được làm thành từ hai bộ phận Một bộ phận tương liên quan với
quá trình tạo ra biểu tượng gọi là dictum Bộ phận thứ hai chứa phần chủ yếu của câu,
không có phần này thì nói chung không thể có câu được, đó chính là phần diễn đạt tính
tình thái, một thao tác tương liên quan được tạo ra bởi chủ thể có tư duy, gọi là modus.
Charles Bally đi đến đánh giá khái quát vai trò của tình thái: “Tình thái như linh hồncủa câu; cũng như ý nghĩ, nó được tạo thành chủ yếu do kết quả của một thao tác tíchcực của chủ thể nói Cho nên, không thể đem lại cái giá trị “câu” cho một phát ngôn,nếu trong nó không phát hiện được một chút nào cách diễn đạt tính tình thái” (dẫn theo[131, tr.27])
Charles Bally đã rất đúng khi cho tình thái là linh hồn của phát ngôn; nếu không
có tình thái thì nội dung phản ảnh hiện thực của câu chỉ là những mảnh hiện thực vôhồn như vật liệu rời rạc, khô cứng Tình thái là phần vô cùng quan trọng không thểthiếu được của câu, không có tình thái thì không có câu, chỉ có biểu tượng về sự việc.Tình thái phải được diễn đạt bằng một phương tiện, ngôn ngữ nào đó có thể nhận biếtđược (ít nhất là trật tự từ trong câu) Modus được làm thành từ động từ tình thái vớichủ thể tình thái Tình thái của câu là sự đánh giá của người nói về sự việc được phảnánh, hai thành phần nội dung này gắn chặt với nhau
Trang 13Mặc dù đánh giá tình thái là thành phần ý nghĩa quan trọng của phát ngônnhưng nhiều nhà nghiên cứu cũng chỉ ra tính phức tạp của phạm trù tình thái.
Benveniste (1966) cho rằng, tình thái “là một phạm trù rộng lớn, khó có thểphạm trù hóa được , nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ củangười nói đối với nội dung phát ngôn, với người đối thoại, với những kiểu mục đíchphát ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật v.v và có thể được thể hiện bằng những phươngtiện đủ loại: thức của động từ, quán ngữ v.v.” (dẫn theo [43, tr.17,18])
Tán đồng với quan niệm về tình thái của Ch Bally, Oswld Ducrot (1972) đãkhái quát một cách ngắn gọn về hai thành phần ý nghĩa trong phát ngôn: “Các nhàlogic và các nhà ngôn ngữ luôn luôn cho là cần thiết phải phân biệt trong một hànhđộng phát ngôn, một nội dung thuộc về sự biểu hiện, đôi khi được gọi là dictum (đặttrong mối quan hệ của vị ngữ đối với chủ ngữ) và một thái độ của chủ thể nói đối vớinội dung đó (đó là modus), hay là modalité - tính tình thái)” Đồng thời tác giả cũngkhông quên nêu lên tính phức tạp trong việc nhận diện, phân định rạch ròi tình thái vớinội dung có liên quan: “Trong nhiều trường hợp không có những tiêu chuẩn xác định
để phân biệt những gì gắn với vị ngữ (và là cái nằm trong dictum), với những gì là cáithái độ có liên quan đến sự vị ngữ hóa (và vì thế mà thuộc về modus)” (dẫn theo [131,tr.28])
Sau khi nêu một cách ngắn gọn quan niệm của mình về tình thái, J.Lyons
(1977) định nghĩa: “Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề màcâu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả” [207, tr 425] Tác giả còn phântình thái làm hai loại (tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm) và phân biệt: “Tínhthái nhận thức liên quan đến các vấn đề về sự hiểu biết và niềm tin, tình thái tráchnhiệm, về phần mình, liên quan đến tính cần thiết và tính khả năng của các hành độngđược thực hiện bởi những tác thể có trách nhiệm về luận lí” [207, V.5 ; tr 2516]
Cũng nhìn nghĩa tình thái từ góc nhìn chức năng, M.V.Liapol (1980) nhấnmạnh mối quan hệ phát ngôn với thực tế và thái độ đánh giá của người phát ngôn Tácgiả đã cho rằng: “Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa - chức năng thể hiện các dạng quan
hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khácnhau đối với điều được thông báo”(dẫn theo [53, tr.12-13])
Đồng quan điểm với M.V.Liapol, nói đến tình thái, B.Gak (1986) cũng đề cậptới tới hai quan hệ, thái độ người nói đối nội dung được phản ánh và nội dung phátngôn với thực tế và nhấn mạnh thêm tính chủ quan của chủ thể phát ngôn trong việcphản ánh thực tế thể hiện trong phát ngôn Tác giả quan niệm: “Phạm trù tình thái phảnánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn
Trang 14đối với thực tế Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn: đó là sự khúc xạcủa một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói” [192, tr.133].
F.R.Palmer (1986) cũng cho rằng tình thái là một phạm trù phức tạp, nên khibàn đến khái niệm này, tác giả đã đưa ra nhiều đối lập để làm sáng tỏ nó Trước hếtông phát biểu quan điểm của mình: “Khái niệm tình thái, tuy thế, vẫn chỉ là một kháiniệm hết sức mơ hồ tuy nhiên xét về đại thể thì (cách hiểu tình thái là) “quan điểm
thái độ của người nói của Lyons (1977) [207, tr 452] tỏ ra có nhiều hứa hẹn” Ông
cho rằng không phải bao giờ cũng có thể vạch được một sự phân biệt rõ ràng giữa thức
và hệ thống tình thái Theo sự phân loại của ông, hệ thống tình thái bao gồm tình tháimệnh đề và tình thái sự kiện; trong mỗi loại như vậy, Palmer lại phân ra hai loại tìnhthái chính Cụ thể, tình thái mệnh đề bao gồm hai loại tình thái chính là tình thái nhậnthức và tình thái hữu chứng; tương tự, tình thái sự kiện cũng được chia thành hai kiểutình thái chính là tình thái đạo nghĩa và tình thái trạng huống
Palmer đi đến định nghĩa: “Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện
thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu” [217, tr 14].
Đứng trước tính phức tạp, không hề rõ ràng của phạm trù tình thái, F.Kiefer(1994) đã cố gắng phân tích chỉ ra cái thực chất, bản chất của tình thái cũng như nhữngvấn đề quan trọng khác, khi nhìn rộng ra những mối liên quan Nói về tình thái, tác giả
nêu mặt “giá trị”có được của tình thái chính là mối quan hệ giữa nghĩa sự việc được
nói đến trong câu và cái môi trường (thế giới thực tại cũng như không thực tại) mà câu
đó được ứng dụng vào, chứ không quy nó về mặt “nghĩa” như cách hiểu thông thường.
Ông cho rằng liên quan đến tình thái là có thể rất nhiều thứ, và ông gọi đó là “thếgiới” Các thế giới liên quan đến tình thái có thể là thế giới vật lí, hoặc thế giới nhậnthức, hoặc thế giới các quan hệ trừu tượng Tình thái chỉ là một phương diện trong sựtạo lập tương đối Trong sự tạo lập tính tương đối còn có thể có các mặt khác nữa.Kiefer cũng lưu ý rằng, chỗ quan trọng là cần phân biệt tình thái trong câu với việcdiễn đạt một trạng thái tinh thần của người nói; tình thái được tạo thành bởi một ngữ
và động từ tình thái đứng trước một mệnh đề chỉ sự việc; còn câu diễn đạt cái trạngthái tinh thần cần được miêu tả của người nói thì đứng trước một danh từ hay một cụmdanh từ (danh từ này có thể có một mệnh đề làm thành tố phụ) Tác giả cho rằng:
“Thực chất của tình thái là sự thiết lập mối quan hệ về các giá trị của các ý nghĩa củacâu với một tập hợp thế giới có thể có” [202, tr V.5; tr 2515]
Halliday (1994) là người xem tình thái không phải là một thành phần đơn lẻ mà
là một hệ thống (Modality System) Hệ thống tình thái này bao gồm các thành tố đượctác giả đặt trong mối quan hệ mang tính phân cực (poliraity) Tính phân cực đó được
Trang 15lăm thănh do cực “dương tính” (positive) vă cực “đm tính” (negative) Vă ông cho
rằng, tính phđn cực tâc động đến cả hai lĩnh vực, lĩnh vực thông tin vă lĩnh vực hănghóa vă dịch vụ, giữa hai cực đó lă thang độ của câc tình thâi khâc nhau Theo tâc giả:
“Tình thâi liín quan đến miền nghĩa nằm giữa hai cực có “yes” vă không “no” - khuvực trung gian giữa cực khẳng định vă cực phủ định” [199, tr.356]
Hệ thống tình thâi theo quan niệm của của Halliday gồm có hai kiểu lớn lă tìnhthâi hóa (Modalization) vă biến thâi hóa (Modulation) Mỗi kiểu như vậy lại được ôngchia thănh hai kiểu nhỏ hơn, theo nội dung khâi quât của chúng Kiểu tình thâi hóagồm có tính khả năng (probality) vă tính thường (usuality - hằng tính) Kiểu biến thâihóa gồm có sự bắt buộc (obligation) vă sự mong muốn (inclination) Kiểu tình thâi hóa
được tâc giả quan niệm lă kiểu cđu thực hiện chức năng “thông tin” (information), nó
lă một mệnh đề (proposition - trong câch phđn biệt của chính tâc giả), thuộc kiểu thức
chỉ định (indicative) Kiểu biến thâi hóa lă kiểu cđu thực hiện chức năng “hăng hóa vă dịch vụ” (goods and service), nó lă một đề nghị (proposal - phđn biệt với mệnh đề),
thuộc kiểu thức cầu khiến Chúng ta có thể thấy rằng, so với quan niệm của nhiều nhănghiín cứu khâc thì kiểu tình thâi hóa của Halliday tương tự với kiểu tình thâi nhậnthức, còn kiểu biến thâi hóa thì tương tự với kiểu tình thâi trâch nhiệm mă nhiều tâcgiả đê níu Điều chú ý nữa lă, khi xem xĩt tình thâi, Halliday không chỉ quan tđmphương diện giâ trị diễn đạt của yếu tố tình thâi, mă còn đặt tính tình thâi trong mốiquan hệ với ngữ phâp của cđu, có tính đến thức của động từ (hoặc thức của cđu) Chonín, kiểu tình thâi hóa của ông được liín hệ với câch diễn đạt bằng thức chỉ định, kiểubiến thâi hóa được liín hệ với câc diễn đạt bằng thức mệnh lệnh của động từ hoặc củacđu Một điểm chốt quan trọng nữa trong nhìn hệ thống về tình thâi của Halliday lẵng cũng quy tình thâi về hai loại lă tình thâi nhận thức vă tình thâi trâch nhiệm, nhưquan niệm của nhiều tâc giả khâc Ông đê cho rằng: “Trong ngữ nghĩa học xĩt theotriết học, tính khả năng đê được nhắc đến như lă tình thâi “nhận thức”, còn sự bắt buộcthì như lă tình thâi “trâch nhiệm” [199, tr 357]
Trong băi mở đầu tuyển tập Tình thâi trong ngữ phâp vă trong diễn ngôn
(1995), sau khi dẫn ra một số lí do, John Bybee đê đưa ra đề nghị về tín gọi vă câc nội
dung của ba kiểu tình thâi mă ông đê đề cập từ năm 1985 lă:
“Tình thâi hướng tâc thể bao gồm tất cả câc kiểu nghĩa tình thâi đặt câc điềukiện trín cơ sở một tâc thể liín quan đến việc hoăn tất một hănh động được níu rabằng vị ngữ chính, chẳng hạn như sự bắt buộc, sự hăi lòng, năng lực, sự được phĩp vătính khả năng, trâch nhiệm Tình thâi nhận thức thì vẫn theo định nghĩa truyền thốngcủa nó: câc câch nhận thức lă câc chỉ tố có tầm cđu níu sự đoân chắc của người nói đối
Trang 16với tính đúng của mệnh đề Các yếu tố đánh dấu các câu điều khiển, như là câu mệnhlệnh, câu mong mỏi hoặc được phép, những câu giới thiệu các hành động nói mà thôngqua chúng một người nói cố gắng điều khiển một người nghe hành động, được gọi làtình thái hướng người nói” [187, tr 4].
Tình thái hướng tác thể, theo cách gọi thường dùng đó là tình thái trách nhiệm, tìnhthái hướng người nói, cách gọi quen thuộc ở Việt Nam là tình thái của hành động nói
Cùng trong cuốn sách trên, Jennifer Coates có bài “Cách diễn đạt tính khả năng của tình thái cội nguồn và tình thái nhận thức” (“The expression of Root àn Epistemic
Possiblity in English”) Ông đã phân biệt tình thái cội nguồn và tình thái nhận thức:
“Tình thái nhận thức liên quan đến các tiền ước hoặc cách đánh giá của ngườinói về các tính khả năng, và trong đại đa số trường hợp, nó chỉ ra niềm tin hoặc sựthiếu vắng niềm tin của người nói vào tính đúng của mệnh đề được diễn đạt Tình tháicội nguồn bao gồm các thứ ý nghĩa như là sự được phép và sự bắt buộc, và có cả tínhkhả năng, tính tất yếu” [187, tr.55]
Như vậy, tuy hướng tiếp cận, quan niệm, phạm vi nghiên cứu tình thái rộng hẹpkhác nhau nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu nước ngoài đều cho rằng, tình thái làthành phần nghĩa thể hiện thái độ của người nói đối với hiện thực được phản ánh, hoặcvới đối tượng giao tiếp Tình thái là một phạm trù phức tạp, luôn gắn với thức; cónhiều kiểu loại khác nhau và giữa chúng không có ranh giới rõ ràng
1.1.1.2 Về tiểu từ tình thái và tiểu từ tình thái cuối phát ngôn
Có nhiều tác tác giả nước ngoài đã nghiên cứu TTTT Ngoài việc bàn về tìnhthái trong ngôn ngữ nói chung, khi viết về ngữ pháp tiếng Việt (bằng tiếng Nga), cáctác giả I I Glebova, V.M Solntsev, Yu Lekomtsev, Bystrov, đã có đề cập đếnTTTT Họ phân loại TTTT theo tiêu chí ngữ nghĩa như: TT có tính chất nghi vấn, TTnhấn mạnh, TT chỉ ra sự đối lập Nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu chuyên sâu vềtình thái cũng như những phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt
Theo Vinogradov, “Thuật ngữ tiểu tố, cũng như những thuật ngữ ngữ pháp khác
đã được ngữ pháp Nga mượn lại của các nhà ngữ pháp cổ điển, được dùng theo hainghĩa, nghĩa chung và nghĩa riêng” “Tiểu tố của lời nói” trong đó có cả liên từ và giới
từ, khác với các từ loại khác Đó là nghĩa chung Theo nghĩa này, khái niệm tiểu tố baogồm toàn bộ các loại được gọi là trợ từ, hình thức từ , nghĩa là những từ thườngkhông có một nghĩa độc lập, không có nghĩa “thực”, nghĩa vật chất mà chủ yếu là đónggóp những sắc thái bổ sung vào nghĩa của các từ ngữ khác, hoặc giả được dùng để biểuđạt những mối quan hệ ngữ pháp, logic, hay biểu cảm khác nhau” (dẫn theo WalterArdnt 1995 [185,324])
Trang 17Còn theo D.Hartmann, ở cuối thể kỷ XX có ba cách hiểu TT: “Theo nghĩarộng, TT là “các yếu tố không thể biến đổi được theo nguyên tắc hình thái học”; theonghĩa hẹp: “Các yếu tố bất biến không phải là giới từ, liên từ, hoặc phụ từ nói cáchkhác, đó là các TTTT (modal particles), và TT nhấn mạnh (focus particles); theo thựctiễn phân loại: một tiểu nhóm nằm trong khối các yếu tố bất biến như phụ từ, liên từ,
và giới từ” [200, 2953 -2958]
Theo Kiefer: Việc nghiên cứu về TTTT kể từ những năm đầu của thập kỉ 90 tậptrung vào những vấn đề sau: Ngữ pháp và ngữ nghĩa của TTTT: “Cụ thể là đi tìm câutrả lời thỏa đáng cho những câu hỏi đại loại như: Thái độ cú pháp của TTTT liên quantới cấu trúc cú pháp nói chung của ngôn ngữ như thế nào? Liệu có thể xác định một ýnghĩa thực sự cho mỗi TTTT hay không? Nếu có thể xác lập một ý nghĩa đích thực chomỗi TTTT, làm sao có thể giải thích việc quan sát được hàng loạt những ý nghĩa khác?Tìm kiếm một đặc điểm loại hình học cho TTTT liệu có phải là một nhiệm vụ khả thikhông?” [202, 2525]
Về TTTT cuối câu, cũng theo Kiefer: tác giả đã chỉ ra, khác các TTTT khác,TTTT cuối câu là yếu tố không tham gia vào cấu trúc câu nên có ý nghĩa tình thái hóacâu chứ không phải là tình thái hóa cho bộ phận nào đó trong câu Tác giả viết: "Themain synatic problem with modal particles, however, is connected with the fact thatthese particles can not be easily intergrated into sentence structure They are certainlynot constituents and they do not enter into any modifier-head relation And they are notconjuctions either Perhaps they can best described as "sentence operator" which mapsentences into modalized sentences." (Kiefer 1992) [202, 2519] (“TTTT cuối câukhông có quan hệ chính phụ với bất cứ từ nào trong câu, là một “tác tử câu” khôngtham gia vào cấu trúc ngữ đoạn, xét về ý nghĩa thì tình thái hóa cả câu chứ không tìnhthái hóa ngữ đoạn đi trước nó”)
Như vậy, vị trí, chức năng, vai trò của TTTT cuối câu trong quan hệ với cấutrúc câu ít nhiều cũng đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài bàn đến, trong đó vấn
đề TTTT trong tiếng Việt đã được một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Nga nói tớinhưng chưa được nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Về tình thái
Ở Việt Nam, tuy tình thái chỉ mới bắt đầu được đề cập đến từ những năm 60của thế kỷ XX, nhưng cho tới nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trực tiếpđến vấn đề này ở bình diện lí thuyết cũng như những nghiên cứu trường hợp cụ thể
Trang 18Cũng như các công trình ở nước ngoài, ở Việt Nam, thời kì đầu nghiên cứu tìnhthái chịu ảnh hưởng của logic học; nằm trong xu hướng chung đó, ngữ pháp truyềnthống tiếng Việt cũng có những bất cập trong nghiên cứu tình thái.
Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng: “Trong logic học, nội dung của một mệnh đề đượcchia làm hai phần Phần thứ nhất gọi là ngôn liệu (lexis hay dictum), tức các tập hợp gồm
sở thuyết (vị ngữ logic) và các tham tố của nó được xét như một mối liên hệ tiềm năng, vàphần thứ hai gọi là phần tình thái (modalité) là cách thức thực hiện mối liên hệ ấy, chobiết mối lên hệ là có thật (hiện thực) hay là không có (phủ định nó, coi là phi hiện thực), làtất yếu hay không tất yếu, là có thể hay không có thể có được” [61, tr 50]
Trong Việt ngữ học, thời kì đầu, tình thái chưa được nghiên cứu hiệu quả mộtphần là do chịu ảnh hưởng của ngữ pháp cấu trúc - ngữ pháp truyền thống Cao XuânHạo phát biểu: “Ngữ pháp truyền thống, với sự thiên vị cố hữu đối với hình thức diễnđạt, rất ít khi miêu tả các phương tiện tình thái một cách có hệ thống nhiều khi,những từ biểu đạt tình thái được liệt vào loại hư từ, nghĩa là những từ công cụ không
có nghĩa từ vựng mặc dầu nghĩa của các từ tình thái, nếu không muốn dùng các từ này,phải được diễn tả bằng cả một câu hay một tiểu cú gồm nhiều thực từ” [61, tr 52]
Theo hướng nghiên cứu chức năng - nghĩa, tình thái trong tiếng Việt càng ngàycàng được nghiên cứu rộng rãi và chuyên sâu Đã có nhiều công trình của nhiều tác giả
công bố về tình thái trong tiếng Việt; công trình Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại (2003)
của Phạm Hùng Việt là một trong số đó Trong cuốn sách này, như một tổng kết, ởchương I, tác giả đã trình bày kỹ lưỡng phần lí thuyết về tính tình thái và đã tổng hợp,đánh giá, phân những nghiên cứu tình thái hiện nay thành ba hướng: 1) Hướng thu hẹpkhái niệm tình thái trong ngôn ngữ học, tổ chức nó bởi ba kiểu phán đoán tình thái:khả năng hiện thực, cần yếu - là những kiểu ở lô gic hình thức; 2) Mở rộng quá mứckhái niệm tình thái thành một phạm trù tổng hợp đa chiều; 3) Cho tình thái là toàn bộquan hệ của nội dung của câu nói đối với thực tế [175, tr 30]
Cùng với Phạm Hùng Việt, Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (2003) là một trongcác tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về tình thái trong tiếng Việt nhất, hai tác giảcũng đã khái quát các quan điểm nghiên cứu về tình thái trong ba kết luận cơ bản Ởđây, chúng tôi xin được rút gọn nhận xét, ý kiến của hai tác giả như sau: “a/ Khôngnên quy các kiểu quan hệ tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên vào một số phạm trù logiccủa tình thái cổ điển” “b/ Cũng không nên quy tình thái vào những kiểu phương tiệnchỉ nằm trong cơ cấu hình thái cú pháp (chẳng hạn thức)” “c/ Đặt trong sự đối lập nềntảng, giữa tình thái và nội dung mệnh đề, bản thân thuật ngữ này chưa đủ xác định, và
Trang 19do đó, có nhiều cách hiểu rộng hẹp khác nhau” [43, tr 25-26] Hai tác giả này đã hiểukhái niệm tình thái theo nghĩa rộng Tình thái thể hiện mối quan hệ giữa người nói, nộidung miêu tả trong phát ngôn và thực tế Một phạm trù những hiện tượng ngữ nghĩa -chức năng rộng lớn, đa dạng và phức tạp mà đặc trưng chung nhất của chúng là phảnánh những mối quan hệ khác nhau của một nội dung thông tin miêu tả trong phát ngônvới thực tế, cũng như những quan điểm thái độ đánh giá và định tính khác nhau củangười nói đối với nội dung miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe,với hoàn cảnh giao tiếp.
Về khái niệm tình thái, trong các công trình nghiên cứu của mình, hầu hết cáctác giả đều dựa theo quan niệm mang tính chung, phổ biến của các nhà nghiên cứu
nước ngoài, nhưng có sự diễn giải thêm để phù hợp hơn với tiếng Việt Chẳng hạn, Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học (1996) cho rằng: “Tính tình thái là phạm trù
ngữ pháp - ngữ nghĩa biểu thị quan hệ của người nói đối với phát ngôn, và quan hệ củanội dung phát ngôn với hiện thực khách quan Tính tình thái là một phổ niệm ngônngữ, nó thuộc phạm trù cơ bản của các ngôn ngữ tự nhiên Nội dung của phát ngôn cóthể hiểu như hiện thực, mong muốn hoặc không mong muốn, có thể hoặc không có thể,tất yếu hoặc ngẫu nhiên Tính tình thái được biểu hiện bằng các phương tiện ngữpháp và từ vựng (hình thái “thức”, từ tình thái, tiểu từ, ngữ điệu) Tính tình thái có thểchia ra tình thái khách quan và tình thái chủ quan” [178, tr 297]
Đi kèm với việc nêu lên quan niệm về nghĩa tình thái, các nhà nghiên cứu cũngthường đồng thời chỉ ra tính đa dạng về phương tiện biểu thị tình thái Nguyễn VănHiệp đã khái quát: “Có thể nói các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ tựnhiên rất đa dạng có thể chia làm hai nhóm lớn là các phương tiện ngữ pháp và cácphương tiện từ vựng” [67, tr.128] Tác giả đưa ra một danh sách cụ thể gồm 12 nhómchính bao quát được các phương tiện từ vựng biểu thị tình thái trong tiếng Việt thườnggặp (Chúng tôi dẫn không đầy đủ, xin lược bớt ví dụ):
“1 Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng, vừa,…
2 Các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, cố,…
3 Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: tôi e rằng, tôi sợ rằng, tôi nghĩ rằng…
4 Các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào,…
5 Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (…) như: ra lệnh, van, xin, đề nghị,…
6 Các thán từ: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ…
Trang 207 Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết,…
8 Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái (là),…
9 Các trợ từ: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, đã, mới, chỉ,…
10 (… ) Những đại từ nghi vấn được dùng trong những câu phủ định – bác bỏ
(p làm gì ?, p thế nào được ?), các liên từ dùng trong câu hỏi (Hay p ?, Hay là p?).
11 Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó
cho rồi,…
12 Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì, giá…thì, cứ thì, ”[67, tr 140-141]
Về chức năng nghĩa của từ tình thái (tình thái từ), hầu như các tác giả đều gặp
nhau về quan niệm và nhận thức chung Các tác giả sách Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996) cho rằng, từ tình thái “đã mất ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ
pháp cụ thể, có chức năng như một công cụ biểu thị tình thái” [178, tr.395] Đinh VănĐức cũng nhìn nhận về nghĩa tình thái như vậy nhưng nói rõ hơn vai trò nghĩa chứcnăng dụng học của chúng Ông cho rằng, tình thái từ “Đó là một tập hợp rất nhỏ vềmặt số lượng từ, nhưng tập hợp ấy lại có một đặc trưng riêng về bản chất ngữ pháp.Tình thái từ không có ý nghĩa từ vựng và cũng không có ý nghĩa ngữ pháp Ý nghĩacủa các từ tình thái diễn đạt mối quan hệ giữa người nói với thực tại, nhờ đó góp phầnlàm hình thành mục đích phát ngôn” [44, tr.43]
Cũng nói về tình thái, Đỗ Thị Kim Liên (2005) đã đặt thành phần nghĩa tìnhthái trong quan hệ với nghĩa mệnh đề và nhấn mạnh tính đa dạng trong biểu hiện củatình thái không tách rời người nói và tình huống giao tiếp cụ thể Theo tác giả, “Cầnchỉ rõ nghĩa trong phần nội dung mệnh đề (nghĩa miêu tả) và nghĩa tình thái biểu hiệntrong phát ngôn gắn với lời nói của người nói trong tình huống giao tiếp cụ thể Nghĩatình thái trong lời nói cá nhân hết sức đa dạng và tinh tế, mà nhiệm vụ của người nghe,người tiếp nhận phát ngôn cần phải nắm bắt những biểu hiện tinh tế đó” [92, tr 281]
Từ đó, tác giả đã định nghĩa tình thái trong mối quan hệ của người nói với hiện thựcđược thông báo: “Tình thái là một bộ phận trong cấu trúc nội dung ngữ nghĩa của phátngôn (bên cạnh nghĩa miêu tả) biểu thị cảm xúc, thái độ, sự đánh giá của người nói đốivới hiện thực được thông báo” [92, tr.285]
Như vậy, qua ý kiến của các tác giả, có thể thấy tình thái là một phạm trù phứctạp, có lịch sử nghiên cứu lâu dài và sâu rộng Tình thái liên quan đến nhiều nhân tố,được biểu hiện trên nhiều phương tiện Vì vậy, việc các nhà nghiên cứu gặp nhau trongquan niệm, có được một cách nhìn nhận thống nhất, đơn giản và khái quát về
Trang 21tình thái là vô cùng khó khăn Đúng như nhận định của F.Palmer (1986): “Việc cáchọc giả khác nhau đề cập đến tình thái từ và tình thái tính theo rất nhiều cách khácnhau là một biểu hiện rõ ràng về sự phức tạp của những vấn đề liên quan và về cái khócủa việc đạt tới bất cứ một sự phân tích nào vừa hoàn hảo vừa hoàn toàn đơn giản màlại vừa mang tính thuyết phục” [217, tr 24].
Qua phần điểm lại khuynh hướng, quan niệm, kết quả nghiên cứu tình thái nhưtrên, chúng ta thấy rằng mặc dù có nhiều cách quan niệm và định nghĩa khác nhau vềtính thái, nhưng nhìn chung ý kiến của các tác giả đều xoay quanh đặc trưng cơ bảncủa tình thái, xem tình thái là một phạm trù của những hiện tượng ngữ nghĩa - chứcnăng rộng lớn, đa dạng và phức tạp mà đặc trưng chung nhất của chúng là phản ánhnhững mối quan hệ khác nhau của một nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn vớithực tế, cũng như những quan điểm, thái độ đánh giá và định tính khác nhau của ngườinói đối với nội dung miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe, vớihoàn cảnh giao tiếp Tình thái được biểu hiện trên nhiều phương tiện ngữ pháp vàphương tiện từ vựng, chúng khác nhau về tính chất cấu tạo,`vị trí, chức năng nghĩa tìnhthái trong câu Có thể thấy, vấn đề nghĩa tình thái cũng như đặc điểm chức năng sửdụng của chúng còn rất cần được nghiên cứu bổ sung và điều chỉnh, cụ thể hơn
1.1.2.2 Về tiểu từ tình thái và tiểu từ tình thái cuối phát ngôn
Các TTTT còn được gọi là tiểu từ diễn ngôn (discourse particles) Khảo sát cáctài liệu viết về ngữ pháp tiếng Việt theo dòng thời gian từ năm 1952 đến nay, chúng tôinhận thấy TTTT được nghiên cứu theo những hướng khác nhau và được gọi tên khônghoàn toàn giống nhau giữa các nhà nghiên cứu Việt ngữ học
Trước hết, về tên gọi, những đơn vị mà hiện nay được nhiều người gọi là TTTTthì trước đến nay trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, chúng được gọitên khác nhau Sỡ dĩ có trình trạng đó, vấn đề không chỉ đơn giản là cách đặt tên gọi
mà trước hết do quan niệm Như ta đã biết, tình thái là một phạm trù rất rộng, đượcbiểu hiện trên nhiều phương tiện ngôn ngữ Cũng vậy, đối với TTTT đã được hiểu vậndụng với mức độ rộng hẹp khác nhau Có tác giả tách TTTT thành nhóm riêng nhưng
có tác giả nhập chung với tiểu loại từ khác Vì thế, tiểu loại này được các tác giả gọirất khác nhau Bùi Đức Tịnh (1952) gọi TTTT là ngữ khí thán từ; Trương Văn Chình –
Nguyễn Hiến Lê (1963) gọi là trợ từ; các tác giả sách Ngữ pháp tiếng Việt (1983, Uỷ
ban Khoa học và Xã hội), Đỗ Hữu Châu (1993), Nguyễn Hữu Quỳnh (1996), NguyễnThiện Giáp (1998), Nguyễn Tài Cẩn (1999), Lê Biên (1996), Hoàng Phê (2003), PhạmHùng Việt (2003), Đặng Thanh Hòa (2004),…gọi là trợ từ
Trang 22Các tác giả: Lê Cận - Phan Thiều (1983), Đinh Văn Đức (1986), Mai Ngọc Chừ
- Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến (1997), Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung(1998), Đỗ Thị Kim Liên (1999) gọi loại từ này là tình thái từ TTTT được Lê Văn Lý(1968) gọi là phụ từ cảm thán; Cao Xuân Hạo (1991), Trần Thị Ngọc Lang (1995),Hoàng Trọng Phiến (2003) thì gọi là ngữ khí từ; Nguyễn Kim Thản, Nguyễn HữuQuỳnh (1981) gọi là từ đệm; còn Hồ Lê (1993) lại gọi là hậu trợ từ Các tác giả sách
“Từ điển phương ngữ Nam Bộ” (1994), (Nguyễn Văn Ái - chủ biên) và các tác giảsách giáo khoa Ngữ Văn 8 (2004) (Nguyễn Khắc Phi - chủ biên) gọi lớp từ này là thán
từ, còn Diệp Quang Ban - Hồng Dân (2000) lại gọi là ngữ thái từ
Không những có tên gọi khác nhau mà giữa các công trình của các tác giả cũng
có có cách xử lí và miêu tả TTTT ít nhiều khác nhau
Lê Văn Lý (1868) gọi các từ “ạ, chứ, nhé, nhỉ…” là phụ từ “Những phụ từ cảm
thán là những phụ từ được dùng để diễn tả một tình cảm, một cảm tưởng, như: vui,buồn, tức, giận: ngạc nhiên, thỏa mãn, v.v… trong ngôn ngữ tình cảm.” [102, tr 147]
Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê (1963), trong phần trợ từ, tác giả có nói
đến những từ “nhỉ, à, ạ, nhé, ư,…” và gọi chúng là “trợ từ hoặc là tiếng thêm vào lời
ứng đối, nghi ngờ, v.v.” [29, tr.181]
Nhóm các tác giả sau đây cùng xem lớp từ “nhỉ, à, ạ, nhé, ư,…” là trợ từ, dù
rằng ở mỗi tác giả có cách kiến giải riêng
Nguyễn Tài Cẩn (1999) cho rằng lớp từ “à, ư, nhỉ, nhé,…” là trợ từ, có thể “đưatình thái lại cho đoản ngữ, biến đoản ngữ thành câu” [19, tr.333]
Sách Ngữ pháp tiếng Việt do Ủy ban Khoa học và Xã hội biên soạn (1983), trong phần các từ loại của tiếng Việt, các tác giả cho rằng, lớp từ “nhỉ, ạ, à, hử,…” là
trợ từ Các tác giả viết “trợ từ là từ biểu thị thái độ… là yếu tố gia thêm vào cho câu đểbiểu thị sự ngạc nhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vui mừng, lễ phép hay sự khẳng định đặcbiệt” [171, tr.72]
Nguyễn Hữu Quỳnh (1996) thì có cách kiến giải nghĩa ít nhiều khác, ông cho
rằng lớp từ này (“chăng, hử, hà, à,…; nhỉ, ư,….; cơ, kia, nhé,…”) là trợ từ; là trợ từ
cho câu biểu thị “thái độ hoài nghi; ngạc nhiên; nũng nịu,…” [136, tr.177 – 178]
Nguyễn Thiện Giáp (1998) đã chỉ ra vị trí cụ thể và khái quát nghĩa của chúng
đối với câu Ông cho lớp từ “à, ư, nhỉ, nhé,…” là “trợ từ đứng sau, biểu thị nhiều loại ý
nghĩa tình thái” [19, tr.251]
Phạm Hùng Việt cũng gọi lớp từ mà nhiều người gọi là TTTT là trợ từ [176]như cách gọi của Phan Mạnh Hùng [73], Lê Biên [12] và nhiều tác giả khác Tuy tác
Trang 23giả cũng đồng tình chia lớp trợ từ thành hai nhóm là “trợ từ tình thái và trợ từ nhấnmạnh” như cách chia của Phan Mạnh Hùng [73] và nhiều tác giả khác, song ông không
tán đồng với Phan Mạnh Hùng “dùng thuật ngữ tình thái để làm tên gọi cho nhóm trợ
từ thứ nhất” (trợ từ câu ) “trong sự đối lập với thuật ngữ nhấn mạnh để làm tên gọi cho nhóm trợ từ thứ hai” (trợ từ nhấn mạnh), vì theo tác giả, “nhấn mạnh cũng cần được
coi là một dạng cụ thể của tình thái” [176, 83]
Đinh Văn Đức (1986) cũng dùng thuật ngữ “trợ từ” nhưng phân biệt với “tiểutừ” theo cách chia từ tình thái làm hai loại Theo cách phân loại của Đinh Văn Đức,
“trợ từ” chính là loại mà Phan Mạnh Hùng [73] gọi là “trợ từ nhấn mạnh”, còn “tiểutừ” chính là “trợ từ tình thái” -“trợ từ câu” Tác giả phân biệt rõ ràng về ý nghĩa vàchức năng của hai nhóm này Trong khi “các trợ từ biểu đạt ý nghĩa tình thái với mụcđích nhấn mạnh, tăng cường (…), thì “các tiểu từ biểu đạt ý nghĩa tình thái trong mốiquan hệ với mục đích phát ngôn biểu thị cảm xúc của người nói” [44, tr 187 - 191]
Trong khi đó, các tác giả, Cao Xuân Hạo [61], Trần Thị Ngọc Lang [85] lại gọi
lớp từ “à, ư, nhỉ, nhé, hở, nghen, v.v,…” là ngữ khí từ.
Nguyễn Hữu Quỳnh (1981), trong phần “Từ loại và phân loại các từ loại” gọi
các từ: chăng, nhỉ, nào, cơ, thôi,… là từ đệm dùng để nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ
khác nhau của người nói, của lời nói,… [136, tr.74] Tương tự, tác giả Nguyễn KimThản (1996) cũng có cách gọi như trên [145, tr 96]
Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (1998), Đỗ Thị Kim Liên (1999) gọi lớp từ
“ạ, ư, hả, hử, chứ, chăng,…; đi, nào, với,…; thay, sao,…; ạ, nhé, cơ, mà,…” là “tìnhthái từ nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, biểu thị sắc thái tình cảm” [89, tr.69] Diệp
Quang Ban, trong Ngữ pháp tiếng Việt (2005), tiếp tục phân nhỏ lớp TT thành nhiều
nhóm nhỏ, trong đó các từ mà nhiều người gọi là TTTT thì ông gọi là “ngữ thái từ”.Theo tác giả “ngữ thái từ là những từ dùng để diễn đạt ý của người nói (như: hỏi, ralệnh) và thái độ của người nói đối với người nghe Những ngữ thái từ thường gặp là “à,thế, đấy, nhé, ư, há,…” [9, tr 30]
Không chỉ nghiên cứu chung TTTT để chỉ ra các nghĩa và phân loại về mặt từloại đối với lớp từ này trong hệ thống từ loại tiếng Việt, trong Việt ngữ học, TTTTtiếng Việt toàn dân cũng đã được một số công trình nghiên cứu tương đối chuyên sâu,trên bình diện chung, hệ thống Ngoài luận án tiến sĩ của Phan Mạnh Hùng (1982)nghiên cứu “Tiểu từ tình thái trong tiếng Việt”, một số tác giả khác như Ngô Thị Minh(2001), Phạm Thị Ly (2003), …cũng đã nghiên cứu một số phương tiện biểu đạt tìnhthái tiếng Việt, trong đó có đề cập đến TTTT
Trang 24Vừa nghiên cứu bao quát về tình thái, vừa có những nghiên cứu sâu nhữngphương diện cụ thể của TTTT tiếng Việt là các nghiên cứu được công bố liên tục củaNguyễn Văn Hiệp và Lê Đông Năm 2001, Nguyễn Văn Hiệp đưa ra khung miêu tảTTTT cuối câu tiếng Việt [64] Năm 2003, Lê Đông - Nguyễn Văn Hiệp đã đi sâumiêu tả bản chất ngữ nghĩa - ngữ dụng đích thực của lớp từ TTTT [43] Đến năm
2005, Nguyễn Văn Hiệp [66] đã có những phân loại tiểu từ tình thái cụ thể, trong đó cóTTTT cuối phát ngôn Kết quả nghiên cứu của các tác giả này đã trở thành một trongnhững cơ sở để các nghiên cứu về sau của người khác tham khảo, vận dụng
Một trong những kết quả nghiên cứu về TTTT tiếng Việt là việc phân loạiTTTT Có những cách phân loại cụ thể khác nhau, số đơn vị trong mỗi loại cũngkhông giống nhau nhưng nhìn chung các tác giả thường dựa trên một trong hai cơ sở:chức năng nghĩa đối với các loại phát ngôn hoặc vị trí của các từ trong phát ngôn Lầnđầu tiên, 1949, TTTT tiếng Việt được Trần Trọng Kim [82] dựa vào mục đích giao
tiếp, phân chia một cách cụ thể thành 9 loại, với tổng 14 đơn vị: “1) Để hỏi: a, à, ư, nhỉ, tá, hử; 2) Để dặn hay nhắc lại điều gì: nhé; 3) Để rủ làm việc gì: nào; 4) Để cùng làm việc gì: hè; 5) Đề khoe cái gì mình có là nhiều, là tốt, là đẹp: kia; 6) Để tỏ ý kính trọng khi đáp lại người trên nói: à; 7) Để tỏ ý hoài nghi: ru; 8) Để tỏ ý quyết chắc: vay; 9) Để làm cho tròn câu: vậy.” Cách phân loại của Trần Trọng Kim và các cộng sự
là một đóng góp đối với nghiên cứu tình thái tiếng Việt, vì đây là lần đầu tiên nhóm từnày được phân loại cụ thể chi tiết như vậy Bây giờ nhìn lại, chúng ta có thể thấy cáchphân loại đó không hoàn toàn nhất quán, vì các tiểu loại 1, 2, 3 ,4, 9 chủ yếu dựa vàochức năng tạo câu, còn các tiểu loại khác lại chủ yếu dựa vào chức năng ngữ nghĩa, âuđiểm chưa thỏa mãn đó cũng là do lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, không thể đặt chúngvào cùng kết quả nghiên cứu thời điểm hiện nay
Về sau, 1963, Nguyễn Kim Thản [145] đã dựa vào tác dụng của TTTT (mà tác
giả gọi là ngữ khí từ) trong câu, phân nhóm TT này thành hai lọai là: “1) Những ngữ
khí từ phục vụ sự cấu tạo loại hình câu” (bao gồm 3 tiểu nhóm: “a) ngữ khí từ phục vụ
việc cấu tạo câu nghi vấn: à, nhỉ, ư; b) ngữ khí từ phục vụ việc cấu tạo câu mệnh lệnh:
đi, thôi, nào; c) ngữ khí từ phục vụ việc cấu tạo câu cảm thán: thay” Thực ra, vai trò
của các TT ở đây không hoàn toàn là để tạo câu mà là chức năng tham gia, thực tại hóanghĩa của câu, như các nhà nghiên cứu thường nói Theo hướng này, năm 2003, Phạm
Hùng Việt, trong công trình Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại [176], xuất phát từ chức
năng của trợ từ đối với câu, ông chia trợ từ thành hai nhóm: “nhóm thứ nhất (một số
tác giả gọi là trợ từ tình thái) là trợ từ câu, nhóm thứ hai (nhóm được một số tác giả
Trang 25gọi là trợ từ nhấn mạnh) là trợ từ bộ phận câu” [176, tr.83] Dựa vào khả năng hoạt
động trong các kiểu câu, TTTTT (Phạm Hùng Việt gọi là trợ từ câu) gồm 64 đơn vị,tác giả chia tiếp nhóm này thành 4 tiểu nhóm:
“Tiểu nhóm 1: Những trợ từ được sử dụng trong câu tường thuật, gồm các trợ
từ: à, ạ, ấy, chắc, chăng, cho, chứ, cơ, đâu, đây, đấy, đó, hết, khối, kia, là, mà, mất, nào, này, nhé, nhỉ, nữa, rồi, sao, sất, thế, thôi, vào, vậy,…Tiểu nhóm 2: Những trợ từ được sử dụng trong câu nghi vấn: à, chắc, chăng, chứ, hả, kia, nhỉ, phỏng, ru, ta, thế,
ư, vậy…Tiểu nhóm 3: Những trợ từ được sử dụng trong câu cầu khiến: cho, đi, lên, nào, này, vào, với…Tiểu nhóm 4: Những trợ từ được sử dụng trong câu cảm thán: mất, ru, ta, thay…”[176, tr 85 - 86] Có thể thấy cách phân loại này tương đối sát thực
tế tiếng Việt, và danh sách TTTT cũng đầy đủ, mang tính mở, bao gồm cả những từ
nằm ở vùng biên, như tác giả giải thích “vừa mang tính chất của một trợ từ lại vừamang tính chất của một từ loại khác như phụ từ, kết từ”[176, tr 87]
Bên cạnh sự phân loại TTTT theo chức năng - nghĩa là sự phân loại theo vị trí củachúng trong phát ngôn Dựa vào đặc điểm thường xuất hiện của các TTTT trong phátngôn, Đinh Văn Đức đã chia TTTT (tác giả gọi là tiểu từ) tiếng Việt thành ba nhóm:
“a Những tiểu từ có thiên hướng đứng đầu các phát ngôn, thường gặp là à, à
mà, thế, ấy thế, thế mà, ấy thế mà, đấy, ấy đấy, đấy nhé, này, này nhé, ái chà, ôi chao, than ôi, hỡi ơi.
b Những tiểu từ có thiên hướng đứng ở cuối các phát ngôn: ư, nhỉ, nhé, ấy, vậy,
hả, hử, đấy (ư, à, ạ), cơ, kia (cơ mà, cơ đấy)…
c Những tiểu từ cả ở đầu cả ở cuối phát ngôn thường gặp là: ấy, đấy, đó, kia, à vậy…” [44, tr 191].
Có thể thấy, sự phân chia TTTT tiếng Việt như vậy là phản ánh sát thực thực tếtiếng Việt và danh sách các đơn vị mà tác giả dẫn ra đều là những TTTT thường xuấthiện ở các vị trí trong phát ngôn như tác giả nói
Về nghiên cứu TTTT cuối phát ngôn trong tiếng Việt, có thể nói, cho tới nay,
công trình nghiên cứu về nhóm TTTT đứng cuối phát ngôn như là một đối tượngnghiên cứu độc lập chưa có nhiều
Một trong những công bố sớm trong tiếng Việt về nghiên cứu TTTT cuối phátngôn là luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Thị Lương (1996) [99] Tác giả luận án đã dựavào nguồn cứ liệu khảo sát trong tác phẩm văn học là các câu có TTTT kết thúc câu,phân tích chỉ ra nghĩa của các từ tình thái và vai trò của chúng đối với câu trong việcbiểu thị các hành vi ngôn ngữ Do giới hạn của đề tài, chỉ khảo sát TTTT trong một
Trang 26dạng câu cụ thể là câu hỏi, như tên gọi của luận án “Tiểu từ tình thái dứt câu dùng đểhỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt” nên loại đơn vị này trongcác loại câu khác còn là mảng trống chưa được làm rõ Cũng nghiên cứu về TTTT cuốicâu, năm 2001, Lê Thị Hoài Dương đã thực hiện luân văn cao học “Tiểu từ tình tháicuối câu tiếng Việt với việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” [39] Luận văn đãmiêu tả nghĩa các TTTT gắn với các kiểu câu với mục đích hướng đến việc dạy nhómtiểu từ cuối câu này trong tiếng Việt cho người nước ngoài nên tác giả chủ yếu miêu tảngữ nghĩa từng từ tình thái theo dạng từ điển.
Trong một số công trình là luận án tiến sĩ ngôn ngữ của các tác giả khác, như “Tiểu
từ tình thái trong tiếng Việt”(1982) của Phan Mạnh Hùng [73], “Một số phương tiện biểuthị tình thái trong câu ghép tiếng Việt” (2001) của Ngô Thị Minh [106], hay “Đối chiếumột số phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt và tiếng Anh”(2003) củaPhạm Thị Ly [100],…do phạm vi nghiên cứu nên nhìn chung, nên trong các công trìnhnày, các TTTT cuối câu không được khảo sát đầy đủ trên các phương diện chức năngnghĩa gắn với từng loại câu, với các hành động ngôn ngữ cụ thể hoặc chỉ được nhắc đếnnhư một phương tiện tình thái nằm trong các phương tiện được miêu tả
Cùng với việc nghiên cứu TTTT toàn dân, TTTT cuối phát ngôn trong cácphương ngữ cũng được một số tác giả nghiên cứu Năm 2008, với luận án tiến sĩ “Tiểu
từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh” của Hoàng Thúy Hà[53], lần đầu tiên trong tiếng Việt, TTTT được khảo sát trong phạm vi một phươngngữ Tác giả đã nêu danh sách các TTTT toàn dân và địa phương được người NghệTĩnh dùng cuối phát ngôn cùng với những miêu tả nghĩa và cách dùng các TT phươngngữ khá cụ thể, tỉ mỉ Năm 2013, Lê Xinh Tươm khảo sát TTTT sử dụng cuối phátngôn của người Nam Bộ [170] Tác giả luận văn đã miêu tả nghĩa của các TTTT đượcdùng phổ biến nhất cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ Do ít nhiều hạnchế về ngữ liệu điều tra và quy mô, phạm vi nghiên cứu của một luận văn cao học nênchức năng nghĩa của các TTTT gắn với các hành động ngôn ngữ cũng như đặc điểm sửdụng xét theo vai xã hội của chúng chưa được miêu tả làm rõ Ngoài các công trìnhtrên, một số luận văn cao học, bài viết khác cũng đã khảo sát TTTT cuối phát ngônnhưng theo hướng nghiên cứu việc sử dụng loại đơn vị này trong một số tác phẩm của
một nhà văn cụ thể, như luận văn “Tiểu từ tình thái cuối câu trong truyện ngắn Sơn Nam”(2017) của Huỳnh Ngọc Cẩm, bài báo “Vài nét về tiểu từ tình thái cuối phát
ngôn trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư” (2011) của Ngô Thúy Nga và NguyễnHoàng Linh [111]
Trang 27Như vậy, tuy TTTT trong các phương ngữ, trong đó có phương ngữ NB bướcđầu đã được một số tác giả chú ý nhưng các công trình nghiên cứu về chúng còn ít.TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB cũng chưa được nghiên cứu quy
mô, hệ thống, nghĩa chức năng cũng như đặc điểm sử dụng của chúng chưa được miêu
tả một cách cụ thể, toàn diện trên các phương diện khác nhau
Từ các tổng quan, dẫn dụ trên, có thể nói, việc nghiên cứu các TTTT của các tácgiả đi trước đã có những kết quả đáng kể, tuy vậy vẫn có một số vấn đề cần phải tiếptục xem xét:
Thứ nhất, như ta biết, việc xem xét nghĩa của từ không chỉ là trong hệ thống màcòn được đặt trong mối quan hệ của con người - chủ thể sử dụng, thái độ của ngườinói, mục đích nói, hoàn cảnh nói năng TTTT lại là loại tín hiệu rất đặc biệt, thườngđược xem là mang tính “động”, hoạt động luôn gắn với các phát ngôn hiện thực hơn làmang tính “tĩnh”, có thể tồn tại phân lập và dễ dàng miêu tả trong từ điển, nhưng việcdựa vào ý nghĩa của phát ngôn cụ thể để xác định ý nghĩa của các TTTT được dùngtrong ngữ cảnh, đó là việc rất phức tạp song lại cần thiết, không những có thể phát hiện
ra tính đa sắc thái nghĩa tình thái của các yếu tố mà còn là cơ sở để khái quát hóa
ý nghĩa khái quát của các TTTT
Thứ hai, mặc dù đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm nhưng trongmột thời gian dài, các TTTT là phương tiện để thực tại hoá câu, bị đẩy về phía “lờinói”, trong khi đó các sự kiện thuộc về “lời nói” thường bị xem nhẹ, không được coi làđối tượng ưu tiên nghiên cứu của ngôn ngữ học Vì vậy, cần có sự điều chỉnh trongviệc nghiên cứu lớp TTTT này gắn với các phát ngôn diễn ra trong thực tế giao tiếpđời sống hơn nữa
Thứ ba, nội dung thường được gán cho các TTTT này lại rất phức tạp, gồmnhiều sắc thái nghĩa khác nhau: có nét nghĩa tiềm tàng trong bản thân TTTT, có nétnghĩa hình thành do sự kết hợp của TTTT với cả cấu trúc, lại có nét nghĩa do cả tìnhhuống giao tiếp mang lại khi cả cấu trúc được sử dụng Nói cách khác, ý nghĩa của cácphát ngôn hiện thực, tức lực ngôn trung hay hiệu lực tại lời của chúng, ở các mức độkhác nhau, bao giờ cũng biến động theo ngữ cảnh Vì vậy, nếu chỉ dựa vào ý nghĩa củaphát ngôn cụ thể để xác định ý nghĩa của TTTT được dùng trong phát ngôn đó, xem đó
là ý nghĩa khái quát của TTTT được dùng trong phát ngôn ấy thì chúng ta đã bỏ quanhiều ý nghĩa tinh tế do TTTT thể hiện
Cuối cùng, TTTT là loại từ thể hiện tập trung rõ nhất thái độ của người dùngđối với thực tại được phản ánh và với đối tượng giao tiếp Mỗi vùng miền, do thói
Trang 28quen sử dụng ngôn ngữ, quan hệ ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội mang nhữngnét văn hóa riêng trong bức tranh đa dạng sắc màu ngôn ngữ - văn hóa của người Việt,
vì vậy dấu ấn đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa phương ngữ từng miền thể hiện ở lớp từTTTT cũng sẽ rõ nét Do đó, việc nghiên cứu TTTT cần được mở rộng, đào sâu cả lớp TTTT trong các phương ngữ
Điểm lại ý kiến của những tác giả đi trước nghiên cứu vấn đề TTTT, chúng tôinhận thấy TTTT cuối phát ngôn trong tiếng Việt nói chung và TTTT cuối phát ngôntrong giao tiếp của người Nam Bộ nói riêng cần tiếp tục được nghiên cứu để góp phầnlàm phong phú thêm bức tranh TTTT cuối phát ngôn trong bức tranh đa dạng, nhiềumàu sắc của TTTT trong tiếng Việt
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1 Khái niệm “tiểu từ tình thái” và “tiểu từ tình thái cuối phát ngôn”
1.2.1.1 Khái niệm tiểu từ tình thái
“Tiểu từ” (partiles) thường được hiểu là “biệt loại của các hư từ, được hợp nhấtlại như một từ loại theo chức năng ngữ nghĩa - cú pháp chung, tạo cho câu hoặc từ cósắc thái nghĩa hoặc cảm xúc phụ, biểu thị quan hệ của người nói để tách biệt hoặcminh xác cho một thời điểm hoặc một mặt nào đó trong phát ngôn đó” [179, tr.292]
Nhấn mạnh nghĩa, TTTT được định nghĩa là “Từ dùng để diễn tả một tình cảm,một cảm tưởng, như: vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, thỏa mãn, trong ngôn ngữ tìnhcảm” [102, tr.147]
Vừa chú ý chức năng của TTTT trong cấu trúc câu, vừa chỉ ra nghĩa của nhóm
tiểu từ này, sách Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1993)
(gọi TTTT là trợ từ) đã định nghĩa: “Trợ từ là từ biểu thị thái độ Nó không làm phần
đề, phần thuyết của nồng cốt, cũng không làm chính tố, phụ tố của ngữ Nó là một yếu
tố thường được gia thêm vào cho câu để biểu thị sự ngạc nhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vuimừng, lễ phép, hay sự khẳng định đặc biệt” [171, tr.72]
So với các tiểu loại, từ loại khác, TTTT tiếng Việt có đặc điểm ngữ pháp, ngữ dụngriêng “Khác với các từ loại khác, tiểu từ tình thái gắn chặt với việc biểu đạt mục đích phátngôn, gắn với các kiểu phát ngôn - câu cho nên được sử dụng rất rộng rãi trong khẩu ngữ,
có tần số xuất hiện cao trong phong cách nói Ngay trong việc sử dụng, cũng có thể thấy làkhả năng hoạt động của các tiểu từ rất biến báo, cơ động” [44, tr.191] “Tiểu từ” (biểu thịtình thái của câu) được phân biệt với “trợ từ” (nhấn mạnh cho bộ phận câu): “Các tiểu từđược tách khỏi các trợ từ nhờ những đặc điểm về ngữ nghĩa và ngữ pháp trong khi cùng
có chung ý nghĩa tình thái với trợ từ” [41, tr.1- tr.17]
Trang 29Trong ngôn ngữ, TTTT được các nhà nghiên cứu xác định rõ vai trò chức năngcủa chúng về ngữ nghĩa và nghữ pháp đối với câu cũng như vai trò thể hiện tình cảmthái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn, với người nghe và thực tại đượcphản ánh Cụ thể:
“Về ngữ nghĩa, các tiểu từ, trong khi biểu đạt ý nghĩa tình thái, thiên về diễnđạt các cảm xúc của người nói trong mối quan hệ với thực tại, do đó tình thái ở đâygắn chặt với các dạng mục đích phát ngôn (tường thuật, nghi vấn, cảm thán, cầukhiến)” (…)
“Về mặt ngữ pháp các tiểu từ thường có vị trí ổn định, đối với cấu trúc câu, cáctiểu từ thường đứng đầu câu, hoặc cuối câu, ít chịu ảnh hưởng của những biến đổi củatrật tự từ và cấu trúc” (…)
“Các tiểu từ biểu đạt những mối quan hệ phức tạp giữa người nói với nội dungphát ngôn, với người nghe, với thực tại Chính những quan hệ này đã làm thành nộidung hết sức quan trọng của tính tình thái – điều kiện tạo thành câu” [44, tr 189- 190]
Về cấu tạo, các nghiên cứu về TTTT cũng chỉ ra loại TT này có hai loại, cấu tạo
đơn - một yếu tố (như à, ư, nhỉ, nhé, ) và cấu tạo phức - nhiều yếu tố tình thái kết hợp tạo nên (như đi chứ, đi mà, đi đã,…).
TTTT trong tiếng Việt rất phong phú và có vị trí trong phát ngôn khác nhau.Theo vị trí của TTTT trong phát ngôn, có thể xác định TTTT có ba nhóm: “1) Nhữngtiểu từ có thiên hướng đứng đầu các phát ngôn; 2) Những tiểu từ có thiên hướng đứng
ở cuối các các phát ngôn; 3) Những tiểu từ cả ở đầu và cả ở cuối phát ngôn” ([44,
tr.191]) Trong Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nguyễn Văn Hiệp đã chỉ ra
phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt rất phong phú, có 12 kiểu trong đó kiểu
thứ 7 là các tiểu từ thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết, ([67, tr 140 - 141]).
Như vậy, có thể hiểu TTTT là tiểu loại từ đặc biệt thuộc hư từ, được sử dụng đểbiểu đạt ý nghĩa tình thái trong mối quan hệ với mục đích phát ngôn, biểu thị cảm xúccủa người nói đối với nội dung, người nghe và thực tại phản ánh trong phát ngôn; nó làyếu tố đi kèm để thực tại hóa nghĩa của câu nhưng không làm thành tố của nồng cốtcũng như thành phần của cụm từ trong câu, vì thế TTTT không /hoặc ít chịu ảnhhưởng của những biến đổi của trật tự từ và cấu trúc
Phạm vi nghiên cứu của luận án là những TTTT khi chúng xuất hiện ở cuối phátngôn trong giao tiếp của người NB
1.2.1.2 Khái niệm tiểu từ tình thái cuối phát ngôn
Quá trình nghiên cứu TTTT cuối phát ngôn của các nhà Việt ngữ học thể hiệnqua các mốc thời gian như chúng tôi đã trình bày ở phần tổng quan (1.1) của đề tài
Trang 30Qua đó, các khía cạnh khác nhau liên quan đến TTTT cuối phát ngôn cũng đã đượccác nhà nghiên cứu chỉ ra như sau:
Như ở trên đã nói, phân loại TTTT theo vị trí trong phát ngôn, các nhà nghiêncứu ngôn ngữ đã phân TTTT thành ba nhóm: nhóm TT có thiên hướng đứng ở đầuphát ngôn, nhóm TT vừa có thể đứng ở đầu, vừa có thể đứng cuối phát ngôn và nhómcác TTTT có thiên hướng đứng ở cuối phát ngôn Các TTTT có thiên hướng đứng ở
cuối phát ngôn là những đơn vị như: ư, nhỉ, nhé, ấy, vậy, hả, hử, đấy (ư, à, ạ), cơ, kia (cơ mà, cơ đấy),…
TTTT cuối phát ngôn là “Từ biểu thị thái độ Nó không làm phần đề, phầnthuyết của nồng cốt, cũng không làm chính tố, phụ tố của ngữ Nó là một yếu tốthường được gia thêm vào cho câu để biểu thị sự ngạc nhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vuimừng, lễ phép, hay sự khẳng định đặc biệt”[171, tr.72]
“Ý nghĩa của các TTTT cuối câu diễn đạt mối quan hệ giữa người nói với thựctại, nhờ đó góp phần làm hình thành mục tiêu phát ngôn” [44, tr.189]
“Là tiểu từ chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thểphát ngôn với người nghe hay với nột dung phản ánh, hoặc ý nghĩa tình thái gắn vớimục đích phát ngôn”(dẫn theo [9, tr.148]
Các TTTT cuối phát ngôn tiếng Việt là một trong những phương tiện quantrọng để thực tại hoá câu (cùng với trật tự từ và ngữ điệu), biến nội dung mệnh đề dướidạng nguyên liệu, tiềm năng trở thành một phát ngôn có công dụng trong tình huốnggiao tiếp nhất định, mang đến cho câu nói cái phẩm chất là công cụ giao tiếp, công cụtương tác xã hội Đây là những thông tin có tác dụng làm chính xác hơn cấu trúc ngữnghĩa của câu và kiểu hành động lời nói mà câu nói thể hiện
Thử quan sát một số phát ngôn sau:
<1> Ba về <2> Ba về nhé!
<3> Ba về à? <4> Ba về đi!
<5> Ba đã về đâu.
Các phát ngôn vừa dẫn đều có chung một nội dung mệnh đề là Ba về, song mỗi
phát ngôn lại có một ý nghĩa tình thái riêng
Phát ngôn <1> không có TTTT đứng cuối, đó là phát ngôn miêu tả
Phát ngôn <2> có từ nhé thể hiện tình thái thông báo, ý chào, tạm biệt với sắc
thái tình cảm thân mật
Phát ngôn <3> có từ à thể hiện tình thái nghi vấn và sự quan tâm của người nói
đối với người nghe
Ở phát ngôn <4> có từ tình thái đi thể hiện mệnh lệnh, giục giã.
Trang 31Phát ngôn <5> có từ tình thái đâu nhằm phủ định đối với một nhận đinh đã
được đưa ra ở phát ngôn trước
Trên đây là một số diễn giải về khái niệm về TTTT cuối phát ngôn Nhìn vàocác phát biểu của tác giả vừa dẫn, chúng ta có thể thấy TTTT là một lớp từ vựng phứctạp Tùy theo cấu trúc, chức năng, ngữ nghĩa, ngữ dụng của phát ngôn mà TTTT cócách nhấn mạnh khác nhau TTTT cuối phát ngôn là những hư từ nằm ở cuối phátngôn nhằm thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ giữa người nói với người nghe hayđối với thực tại được phản ánh trong phát ngôn Các TTTT cuối phát ngôn tiếng Việt
là một trong những phương tiện quan trọng để thực tại hoá câu
1.2.2 Lý thuyết hoạt động giao tiếp
1.2.2.1 Khái niệm giao tiếp
Như đều biết, giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin Hình thức trao đổi thôngtin của con người diễn ra theo nhiều hình thức với phương tiện, hoàn cảnh khác nhau
Do vậy, “giao tiếp” cũng được định nghĩa, hiểu và vận dụng với mức độ rộng hẹp khác
nhau Hoạt động giao tiếp diễn ra rất đa dạng, trong đó, giao tiếp ngôn ngữ là hình thứcgiao tiếp cơ bản, thông dụng, thường xuyên, phổ biến, quan trọng nhất của xã hội loàingười Luận án này nghiên cứu việc sử dụng một phương tiện cụ thể của ngôn ngữtrong giao tiếp, nên chúng tôi dựa vào quan niệm chung của các nhà nghiên cứu vềkhái niệm giao tiếp ngôn ngữ để làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện đề tài
Theo Berge (1994): “Một cách đơn giản nhất và chung nhất, giao tiếp được hiểu làquá trình thông tin diễn ra giữa ít nhất hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một
số ngữ cảnh và một tình huống nhất định” (dẫn theo Diệp Quang Ban [10, tr.18])
Quan niệm trên được Diệp Quang Ban (2009) [10] dẫn và ông nhận xét: “Định nghĩanày sát với việc con người thực hiện các cuộc trao đổi bằng lời trong đời sống thường nhật,nên nó liên quan đến xã hội học và cũng tiện dụng trong nhà trường” [10, tr.18]
Theo Đỗ Hữu Châu, “Với cách hiểu bao quát nhất thì giao tiếp bằng ngôn ngữ
là hoạt động diễn ra khi ít nhất có hai người sử dụng một ngôn ngữ tự nhiên để tácđộng lẫn nhau” [24, tr.96]
Đỗ Kim Liên định nghĩa: “Hoạt động giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ Ađến B và theo chiều ngược lại trong một ngữ cảnh nhất định, nhằm một mục đích nhấtđịnh và bằng một phương tiện ngôn ngữ nhất định (gọi tắt là giao tiếp)” [92, tr.37]
Các quan niệm về giao tiếp của các tác giả dẫn trên tuy có cách diễn giải khácnhau, dùng thuật ngữ ít nhiều khác nhau nhưng đều có điểm chung cơ bản giống nhau.Giao tiếp ngôn ngữ là hoạt động trao đổi thông tin bằng phương tiện ngôn ngữ giữacác thành viên trong xã hội, diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định, nhằm mục đích nhấtđịnh Hoạt động giao tiếp bao gồm nhiều nhân tố
Trang 321.2.2.2 Các nhân tố giao tiếp
Hoạt động giao tiếp có nhiều nhân tố Theo Đỗ Hữu Châu, “các nhân tố giao
tiếp là ngữ cảnh, ngôn ngữ là diễn ngôn” [24, tr.96].
a) Khái niệm ngữ cảnh
Hiện nay nội dung khái niệm thuật ngữ “ngữ cảnh” được các nhà nghiên cứu
ngôn ngữ dùng với nội dung, nội hàm rộng hẹp khác nhau Theo Đỗ Hữu Châu, “Ngữcảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn.Ngữ cảnh là một tổng thể những hợp phần sau đây: (…) “nhân vật giao tiếp” và “hiệnthực ngoài diễn ngôn”[23, tr 15- 19]
Như vậy, nội dung khái niệm ngữ cảnh bao chứa hai khái niệm: “nhân vật giao tiếp” và “hiện thực ngoài diễn ngôn”.
- Nhân vật giao tiếp thường được hiểu là “người tham gia giao tiếp” Khi giao
tiếp, ít nhất phải có hai người tham gia Nói như Đỗ Hữu Châu, nhân vật giao tiếp là:
“Ai nói với ai? Ai nói và nói cho ai?” [24, tr.96]
- “Hiện thực ngoài diễn ngôn (ngoài ngôn ngữ)”, theo Đỗ Hữu Châu, bao gồm
nhiều hợp phần (chúng tôi xin tóm lược trích nội dung cốt lõi mà tác giả diễn giải):
1) “Hoàn cảnh giao tiếp” (…): là tổng thể các nhân tố “môi trường xã hội - văn
hóa - địa lí cho các cuộc giao tiếp”;
2) “Thoại trường hay hiện trường giao tiếp”: “Đó là không gian, thời gian của
cuộc giao tiếp”;
3) “Hiện thực được nói tới hay hiện thực đề tài” là nội dung giao tiếp “nói về
một hoặc những cái gì đó trong hoàn cảnh giao tiếp”;
4); “Ngữ huống”: “thời điểm cụ thể của cuộc giao tiếp” [24, tr 106 -121] Trong
các khía cạnh biểu hiện của “ hiện thực ngoài diễn ngôn” theo cách dùng của
Đỗ Hữu Châu thì nội dung (1) “hoàn cảnh giao tiếp” và (2) “thoại trường hay hiện trườnggiao tiếp” thường được nhiều người gọi chung là hoàn cảnh giao tiếp (rộng và hẹp)
b) Khái niệm “diễn ngôn”: Cũng theo Đỗ Hữu Châu: “Diễn ngôn là tổ chức, là
chuỗi do các đơn vị của ngôn ngữ kết hợp với nhau theo quy tắc kết học, vừa là sản phẩm,vừa là phương tiện của giao tiếp Qua diễn ngôn mà người tham gia giao tiếp tác động lẫnnhau” [24, tr.96] Nhà ngôn ngữ học Bellert (1971) cũng viết:” Diễn ngôn là chuỗi liên tục
( lệ thuộc vào sự lí giải những phát ngôn trong chuỗi (…) Nói cách khác, sự giảithuyết tương đương một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước” (Dẫn theo Diệp Quang Ban [10, tr 199]
Trang 33Như vậy, có thể nói theo cách quen thuộc, đơn giản, diễn ngôn là ngôn ngữ,phương tiện được dùng khi giao tiếp ngôn ngữ Nhưng khi nói diễn ngôn là nói tớingôn ngữ sử dụng, trong quan hệ với ngữ cảnh, với mục đích sử dụng.
1.2.2.3 Khái niệm “phát ngôn”
Phát ngôn là khái niệm được đề cập tới khi nói về giao tiếp ngôn ngữ Như dẫn dụ
[10] về định nghĩa của Bellert (1971) về giao tiếp vừa nêu ở trên: “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn” trong giao tiếp, gắn với ngữ cảnh và mục đích phát ngôn
Theo Đỗ Hữu Châu: “Phát ngôn là sản phẩm của sự phát ngôn (énonciation)
Nó là đơn vị thực sự của thông điệp, tức đơn vị của giao tiếp…” [21, tr.12]
Trong ngôn ngữ học, khái niệm “phát ngôn” có liên quan mật thiết với kháiniệm “câu” “Câu” và “phát ngôn” là hai khái niệm có liên quan với nhau về nội dung,hiện nay chưa được phân biệt rõ ràng trong cách dùng của một số người Theo Đỗ ThịKim Liên, “Một lời của chúng ta nói ra ứng với một đơn vị câu được gọi là một phátngôn” [92, tr 74] Nói cách khác, “Phát ngôn là đơn vị của lời nói Nó được tách ratrong chuỗi lời nói dùng để giao tiếp hàng ngày hoặc tách từ dạng văn bản dùng để chỉlời nói trực tiếp của các nhân vật hội thoại” [90, tr.82]
Nói chung, phát ngôn được xây dựng trên câu; không có câu thì không có phátngôn “Nếu xét trên cấp độ hệ thống cấu trúc thì câu là cái trừu tượng còn phát ngôn làcái cụ thể, câu là bất biến thể, phát ngôn là biến thể, các phát ngôn làm chức năng hiệnthực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương thức tồn tại của mô hìnhđó…” [128, tr.14]
Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng: “Khái niệm phát ngôn không phủ định khái niệmcâu Nói chung phát ngôn được xây dựng trên câu Không có câu thì không có phátngôn Tuy nhiên câu không trùng với phát ngôn Một câu có thể ứng với một số phátngôn” [21, tr.12]
Nếu đặt câu cụ thể vào ngữ cảnh, thì một câu có thể do nhiều người nói, nóitrong những hoàn cảnh khác nhau, với những đích khác nhau trong những cuộc giaotiếp khác nhau thì thành những phát ngôn khác nhau Cùng một câu đồng nhất về cúpháp, về nghĩa của các từ nhưng do bao nhiêu người nói nói ra, nói trong bao nhiêungữ cảnh thì ta có bấy nhiêu phát ngôn Ví dụ: “Cái máy tính của tôi lại hỏng rồi.” Nếucâu đó nói trong ngữ cảnh hai bạn sinh viên đang làm bài tập cùng nhau thì nó là mộtphát ngôn (Có thể có những ý nghĩa: Đó là lí do tôi chưa gửi bài cho bạn, hay: bây giờtôi đem máy đi sửa, hoặc: bạn cho tôi mượn máy tính của bạn đi,…), trong ngữ cảnh
vợ nói với chồng, thì đó là một phát ngôn khác và nếu do sếp nói với nhân viên lại làmột phát ngôn khác nữa…
Trang 34Như vậy câu và phát ngôn có liên hệ, quan hệ với nhau Với cách dùng thôngthường, trong những trường hợp cụ thể, một câu nào đó có thể gọi là phát ngôn vàngược lại Nhưng về mặt thuật ngữ và nội dung khái niệm, câu và phát ngôn có sựphân biệt với nhau Căn cứ theo quan niệm của các tác giả nêu trên, trong luận án này,chúng tôi dùng khái niệm “phát ngôn” trong sự phân biệt với “câu” theo quan niệmngôn ngữ bao gồm hai phương diện chủ yếu: phương diện hệ thống những đơn vị trừutượng khái quát như âm vị, hình vị, từ, câu và phương diện hoạt động thực hiện chứcnăng hướng ngoại của hệ thống trong đó những quy tắc điều khiển hoạt động của ngônngữ, những hành động của ngôn ngữ đặc trưng và những sản phẩm cụ thể do các hoạtđộng của ngôn ngữ tạo ra như phát ngôn, văn bản, diễn ngôn và các đơn vị của hộithoại Nói tới phát ngôn là nói tới những “câu” cụ thể trong giao tiếp, xuất hiện trongmột ngữ cảnh nhất định, gắn với người phát ngôn và có tính mục đích nhất định.
1.2.3 Hành động ngôn ngữ
1.2.3.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ
Cũng như mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống ngôn ngữ được sinh ra để thực hiệnchức năng hướng ngoại - chức năng làm công cụ giao tiếp Khi ngôn ngữ được sử dụng đểgiao tiếp, tức là ngôn ngữ đang hành chức, hay ngôn ngữ hành chức khi con người nóinăng Nói năng là một loại hành động (HĐ) tương tự như các HĐ vật lí khác
Trong ngôn ngữ học, theo truyền thống, từ Jakobson, Benveniste đến Ducrot,
Todorov, Searle , thuật ngữ “Hành động phát ngôn” thường được hiểu như là HĐ của
người nói, là sử dụng ngôn ngữ vào lúc mà anh ta nói, và kết quả sản sinh ra phátngôn Các đặc tính cơ bản của HĐ phát ngôn mà người nói thể hiện được phản ánh vàophát ngôn nhờ một bộ máy những công cụ, những chỉ dẫn thuộc phạm vi ngữ dụng,những toán tử tình thái (trước hết đó là những phương tiện tình thái gắn với cáí tôi củangười nói, chỉ ra mục đích, ý đồ của anh ta, thái độ đánh giá của anh ta đối với nhữngđiều anh ta nói ra, với người đối thoại, với không gian, thời gian giao tiếp v.v ) Do
đó, tất cả các ý nghĩa gắn với người nói vào lúc anh ta phát ngôn đều là thuộc HĐ phátngôn, xác định đặc tính của HĐ phát ngôn J R Searle cho rằng: “sự tạo sinh ra cái sởchỉ của câu trong những điều kiện nhất định chính là hành động ngôn trung, và hànhđộng ngôn trung là đơn vị nhỏ nhất của sự giao tiếp bằng ngôn ngữ” [140, tr 89] ĐỗHữu Châu cũng phát biểu một cách rõ ràng: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hànhđộng, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ.Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết Sp1 nói ra mộtphát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C.” [23, tr 88] Từ
Trang 35các định nghĩa của các tác giả nêu trên, luận án rút ra cách hiểu cụ thể về hành độngngôn ngữ để làm cơ sở cho việc phân tích miêu tả các TTTT theo các phát ngôn chứacác hành động ngôn ngữ khác nhau Hành động ngôn ngữ là hành động con người sửdụng ngôn ngữ để thực hiện một trong các mục đích: kể, hỏi, yêu cầu, đề nghị, nhậnxét, bày tỏ tình cảm, cảm xúc,…của mình trong một ngữ cảnh cụ thể.
1.2.3.2 Phân loại hành động ngôn ngữ
J L Austin là người đầu tiên xây dựng lý thuyết về HĐ lời nói, sau này được
J.R Searle và một số tác giả khác kế thừa và phát triển Ông đã chỉ ra: Nói năng tức là một hành động Theo Austin, HĐ nói gồm ba loại lớn:
HĐ tạo lời (locutionary act) là hành động vận động các cơ quan phát âm, sửdụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp theo những quan hệ
cú pháp thích hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc) rồi tổchức các phát ngôn thành diễn ngôn Nhờ HĐ tạo lời, chúng ta hình thành nên nhữngbiểu thức có nghĩa
Hành động ở lời (cũng gọi hành động ngôn trung (HĐNT)), (illocutionary act)
là những HĐ người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng gây những
sự tác động trực tiếp, tác động trực tiếp ấy thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với ngườinghe Sở dĩ ta gọi là HĐNT hay HĐ ở lời vì khi ta nói là đồng thời thực hiện luôn một
HĐ nói trong lời, được gọi là đích ngôn trung hay đích giao tiếp Nhờ đích giao tiếp
mà các HĐNT được phân biệt với nhau
HĐ mượn lời (perlocutionary act) là HĐ mượn phương tiện ngôn ngữ, hay nóicách khác, là mượn các phát ngôn để tạo ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào
đó đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất ở những người nghe khác nhau
Ba HĐ này được thực hiện theo cách thống hợp khi tạo ra một diễn ngôn Ngữdụng học chủ yếu nghiên cứu các HĐNT (ở lời) Do đó, nói các HĐ lời nói cũng là nóiđến HĐNT
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chấp nhận lý thuyết HĐ lời nói củacác nhà ngôn ngữ học phương Tây để nghiên cứu tiếng Việt, như Đỗ Hữu Châu,Nguyễn Đức Dân, Lê Đông Theo Hoàng Tuệ: “Hành động nói là hành động đượcthực hiện bằng cách nói ra một cái gì đấy, chẳng hạn như là một sự hứa hẹn, nêu một
câu hỏi, đưa ra một tên gọi ” [166, tr.136].
Chẳng hạn, khi ra cần hỏi ai một việc gì, nhờ ai làm một việc gì, hứa làm mộtviệc gì thì ta đều sử dụng lời nói, có nghĩa là ta đang thực hiện HĐ hỏi, HĐ sai khiến,
HĐ hứa tương ứng Khi ta dùng lời nói, có nghĩa là ta đang thực hiện HĐ trình bày,
Trang 36nhận xét, phủ định Còn chẳng hạn khi gặp người quen biết ta nói “Chào cô!” hay
“Chào anh!” là ta thực hiện HĐ chào ngay trong lời nói đó Khi nói lời “Cảm ơn”,
“Xin lỗi” là ta thực hiện HĐ cảm ơn, xin lỗi, v.v
HĐ được thực hiện trong khi nói như vậy, được gọi là HĐ nói hay HĐ ngôn từ.Nói năng là một dạng HĐ đặc biệt của con người - HĐ lời nói Khác với các HĐ vật lí củacon người như vác gạo, cuốc đất, đẩy xe, đóng đinh, xây nhà, tưới cây để thực hiện một
HĐ lời nói cần phải có ít nhất là hai người hoặc nhiều người, gọi là người nói và ngườinghe Khi nói một nội dung gì như ý muốn, xác lập quan hệ cá nhân, tỏ thái độ, ngườinói phải hướng đến người nghe và sau đó đến lượt người nghe có phản ứng hồi đáp, chúngtạo thành chuỗi diễn ngôn liên tục gồm các cặp thoại nói - nghe Như vậy, giao tiếp là mộtdạng HĐ xã hội của con người được thực hiện bằng ngôn ngữ
HĐ nói mà con người thực hiện trong giao tiếp hàng ngày có số lượng rất phongphú và hình thức biểu hiện rất đa dạng Trong các hoạt động xã hội bằng ngôn ngữ đó,
người nói có thể sử dụng ngôn ngữ để: a) miêu tả lại một hiện tượng, ví dụ: Bầu trời hôm nay thoáng đãng, b); thuật lại một sự việc, như: Hôm nay tại quốc lộ 1A, đoạn qua địa phận Long An, người dân đã giúp tài xế xe tải gom gần ba tấn cá rô bị đổ xuống đường; c) bày tỏ một sự nghi vấn, ví dụ: Anh làm được cái này không?; d) khẳng định, ví dụ: Chắc chắn nó sẽ đến; đ) đưa ra yêu cầu, ví dụ nói: Anh lên tòa nhà A2 trước nhé!; e) khuyên nhủ, ví dụ: Bạn hãy để Lan suy nhĩ; g) khen ngợi, ví dụ: Bức tranh này đẹp quá; h) đe dọa, ví dụ: Nhà ngươi hãy đợi đấy! Ứng với mỗi ví dụ
trên ta có HĐ miêu tả (a), kể (b), (c) nghi vấn, (d) khẳng định, (đ) yêu cầu, (e) khuyênnhủ, (g) khen ngợi, đe dọa (h) - đó là những HĐ bộ phận trong giao tiếp nói chung,
HĐ bằng ngôn ngữ
Có nhiều tham tố giúp ta nhận biết một HĐ nói cụ thể, một trong số đó và chủyếu là thái độ của người nói trong lời nói thể hiện mục đích của họ Mục đích củangười nói trong lời nói của họ là đích ngôn trung, tức là cái đích mà người nói muốnthực hiện bằng cách nói ra một lời nào đó Trong các cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữbình thường, người nói thường để lộ ý định trong HĐ nói của mình để người nghe nắmbắt được
1.2.3.3 Hành động ngôn trung (hành động ở lời)
Như đã nói ở trên, hành động ngôn trung (HĐNT), (illocutionary act) là những
HĐ người nói thực hiện ngay khi nói năng Đó là HĐ tạo ra một lời tuyên bố, một lờihứa, một lời chào , khi phát ra một câu nhờ hiệu lực của những quy ước liên quan tới
nó Hầu như, chúng ta không thể tạo ra những phát ngôn được xem là hợp thức mà
Trang 37chúng lại không có mục đích gì Chúng ta tạo ra một phát ngôn nhằm một chức năngnào đó trong ý nghĩ Đó chính là HĐNT HĐNT được thực hiện nhờ hiệu lực giao tiếpcủa phát ngôn.
HĐNT có nhiều dạng, có nhiều cách thức thể hiện nên có nhiều cách để phân loại
Có hai hướng chính phân loại HĐ lời nói Hướng phân loại từ vựng hay phân loại theođộng từ ngữ vi mà Austin đã đề nghị và hướng phân loại theo HĐ lời nói của Searle
HĐNT không phải được thực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân thủ một sốđiều kiện nhất định
Theo Austin, các điều kiện sử dụng HĐNT là những điều kiện “may mắn” (felicitousconditions) nếu chúng được bảo đảm thì HĐ đó mới “thành công”, đạt hiệu quả
a Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả cótình chất quy ước; hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiện quy định trong thủ tục
b Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ
c Thông thường thì những người thực hiện HĐNT phải có ý nghĩ tình cảm, ýđịnh giống như đã được đề ra trong thủ tục, và khi hành động diễn ra thì ý nghĩa tìnhcảm, ý định đúng như nó đã có (dẫn theo [24, tr.112])
Theo đó, các ngôn ngữ được chia thành 5 nhóm là: 1 Phán định (verditifs); 2.Hành xử (exercitifs); 3 Ước kết (conmissifs); 4 Ứng xử (behabitives); 5 Trình bày(expositifs)
J.R Searle gọi điều kiện sử dụng HĐNT là các điều kiện thỏa mãn Mỗi HĐNT
có một hệ những điều kiện thỏa mãn Rearle đưa ra 4 điều kiện sau: a) Điều kiện nộidung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành vi Nội dung mệnh đề có thể là mộtmệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàmmệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín), tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời
“có” hoặc “không” ; “Phải”, “không phải”, v.v Nội dung mệnh đề có thể là một HĐcủa người nói (như hứa hẹn) hay một HĐ của người nghe (lệnh, yêu cầu); b) Điềukiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ýđịnh của người nghe; c) Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứngcủa người phát ngôn: nếu là HĐ xác tín; khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều xáctín; mệnh lệnh: đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn: đòi hỏi ý định của người nói v.v d).Điều kiện căn bản: đưa ra sự khiển trách trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bịràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra [22, tr 247 - 248]
Các HĐNT thường được phân chia theo các phạm trù ngữ nghĩa - hành động.Trong đó, cách phân loại của Searle cho đến nay được các nhà nghiên cứu đánh giá
Trang 38cao hơn so với cách phân loại của Austin, thậm chí coi là điển hình nhất Vì vậy,chúng tôi chọn bảng phân loại của Searle làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình.
Các HĐNT được Searle chia ra thành năm phạm trù (còn gọi là lớp) Mỗi phạmtrù lại gồm những nhóm lớn nhỏ khác nhau Đó là các phạm trù:
Trình bày (còn gọi là biểu hiện, miêu tả, xác tín) Các HĐNT này có đích là miêu
tả, kể lại, trần thuật lại một sự tình làm cho người nghe biết sự tình đó Trạng thái tâm lí làngười nói tin rằng nội dung phát ngôn là đúng Phạm trù trình bày gồm những hành động
như: kể, tự sự, miêu tả, tường thuật, báo cáo, thuyết minh, lập biên bản, tường trình, tố
cáo, khai, khai báo, khoe, kết luận, quy nạp, tổng kết, tóm tắt, dặn, nhắc,
Điều khiển: Đích ở lời của phạm trù này là đặt người nghe vào trách nhiệm thực
hiện một HĐ nào đó trong tương lai: trạng thái tâm lí là người nói thực sự mong muốnngười nghe thực hiện HĐ trong tương lai được đưa ra Nội dung mệnh đề nói đến HĐtrong tương lai mà người nghe phải thực hiện Trong phạm trù này có các HĐNT như
ra lệnh, sai khiến, bảo, yêu cầu, đề nghị, xin phép, chỉ, khuyên, chỉ thị, kiến nghị, khuyến nghị, chỉ định, hỏi, cho phép, tra,
Cam kết (ước kết) Đích ở lời của phạm trù này là nhằm đặt người nói vào trách
nhiệm thực hiện HĐ trong tương lai được nêu ra trong biểu thức ngữ vi Trạng thái tâm
lí là người nói thực sự có ý định thực hiện HĐ trong tương lai đó Nội dung mệnh đềnói đến HĐ trong tương lai mà người nói đưa ra Thuộc phạm trù này là các HĐNT
hứa, cam đoan, cam kết, giao ước, bảo đảm, thỏa thuận,
Biểu cảm Phạm trù này có đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lí của người nói
như bày tỏ sự vui mừng, sự bực dọc, sự buồn rầu v.v Trạng thái tâm lí thay đổi tùytừng HĐNT cụ thể nhưng cơ bản là người nói thực sự có, thưc sự cảm thấy các trạngthái tâm lí được bày tỏ Nội dung mệnh đề là một trạng thái tâm lí nào đó của người
nói trước một tình trạng nào đó của chính mình Phạm trù này gồm các HĐNT cảm thán, than thở, thán phục, trầm trồ, cảm ơn, xin lỗi, khen, chê
Tuyên bố Phạm trù này có đích ở lời là làm cho có hiệu lực điều được nêu ra
trong nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi Trạng thái tâm lí là người tuyên bố tinrằng mình có thẩm quyền tuyên bố và điều mình tuyên bố có hiệu lực ngay khi đượctuyên bố Nội dung mệnh đề là điều mà hiện thực (kể cả người nghe) phải thay đổi Đó
là các HĐNT như tuyên bố, tuyên án, buộc tội.
Chúng tôi chọn bảng phân loại của Searle làm cơ sở cho việc nghiên cứu củaluận án vì cách phân loại của ông đến nay được các nhà nghiên cứu đánh giá cao
Về mặt hiệu lực của HĐNT, có thể chia ra HĐNT trực tiếp và HĐNT gián tiếp
Trang 39HĐNT trực tiếp: HĐNT trực tiếp là những HĐ thực hiện đúng điều kiện sử
dụng, đúng với các đích ở lời của chúng Hay nói cách khác, các HĐ có sự tương ứnggiữa cấu trúc bề mặt với hiệu lực mà nó gây nên Những HĐNT được nhận diện mộtcách trực tiếp qua nội dung mệnh đề của phát ngôn, thực hiện đúng với điều kiện thỏamãn, đúng với các đích ở lời của chúng, thuộc vào các loại HĐNT trực tiếp, nằm ởtầng nghĩa hiển ngôn (tường minh) của phát ngôn
Chẳng hạn, muốn thực hiện HĐ cầu khiến, phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Phát ngôn có chứa nội dung mệnh đề: là một HĐ tương lai của người nghe(đảm bảo điều kiện nội dung mệnh đề)
- Người nói biết rằng người nghe có khả năng thực hiện HĐ mình nêu ra (điềukiện chân thành)
- Mục đích của người nói là nhằm hướng người nghe đến việc thực hiện lời đềnghị của mình (điều kiện căn bản)
Chẳng hạn có một HĐ cầu khiến là:
Mẹ ơi, mẹ cho con hai trăm ngàn để mua hai quyển sách nhé! Muốn thực hiện
HĐ cầu khiến này cần phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:
- HĐ tương lai của người mẹ: cho con hai trăm ngàn (điều kiện nội dung mệnh đề)
- Người con cho rằng người mẹ có khả năng thực hiện được HĐ tương lai, tức
là có hai trăm ngàn để cho con Nếu biết rằng người mẹ không có khả năng thực hiện
HĐ tương lai (cho con tiền) thì người con sẽ không nói ra biểu thức trên Và người contin rằng người mẹ sẽ thực hiện HĐ cho mình tiền (điều kiện chuẩn bị)
- Người con chân thành muốn người mẹ thực hiện HĐ cho tiền (điều kiện chânthành)
- Người con nói ra biểu thức trên đã ràng buộc người nghe vào trách nhiệm(hướng người mẹ vào thực hiện HĐ cho tiền) (điều kiện căn bản)
HĐNT gián tiếp: HĐNT gián tiếp là HĐ không có sự tương ứng giữa các cấu
trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực mà nó gây nên, hay nói một cách khác, HĐ màtrên cấu trúc bề mặt là A nhưng gây một hiệu lực là B
Trong thực tế, do nhiều lí do người nói sử dụng HĐ lời nói này nhưng nhằm đạtđến hiệu lực của lời của một HĐ khác Như vậy, hiệu lực ở lời gián tiếp là cái “thêmvào” cho một hiệu lực trực tiếp
Searle cho rằng cơ chế của HĐNT gián tiếp là ở các điều kiện sử dụng của cácHĐNT Chẳng hạn, đối với trường hợp “hỏi” có hiệu lực gián tiếp là yêu cầu haymệnh lệnh thì chúng ta có thể phát biểu thành quy tắc như sau:
Trang 40Nếu chúng ta có mong muốn B thực hiện hành động C (điều kiện chân thành)
và chúng ta thấy B hội đủ điều kiện chuẩn bị (tức B có khả năng thực hiện C) thì ta hỏi
B về khả năng thực hiện C, có nghĩa là ta yêu cầu B thực hiện C
Như vậy, một phát ngôn ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tốngôn ngữ kết hợp trên bề mặt còn có thể gợi ra nhiều ý nghĩa khác mà người nghe phảidùng đến thao tác suy ý và dựa vào những yếu tố ngoài ngôn ngữ, văn cảnh, các quytắc điều khiển HĐ lời nói, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại,…mới nắm bắtđược chính là ý nghĩa gián tiếp Ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại gọi
là ý nghĩa tường minh (hiển ngôn) Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ýnghĩa hàm ẩn
Ngôn ngữ học, trong đó đặc biệt là Ngữ dụng học, quan tâm trước hết đếnnhững ý nghĩa hàm ẩn mà người nói có ý định thông báo cho người đối thoại biết, vìnhững lí do nào đấy không nói rõ ra một cách tường minh
1.2.3.4 Sự hành chức của tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong
HĐNT a Tiểu từ tình thái cuối phát ngôn thực hiện các HĐNT trực
tiếp
TTTT tiếng Việt có thể tham gia vào thực hiện các cấu trúc một số loại HĐ lờinói như: xác tín (khảo nghiệm, miêu tả), điều khiển (ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép),biểu cảm,…
a.1 Các TTTT xuất hiện trong các cấu trúc hành động hỏi: à, ừ, hả, hử, chứ,…
Ví dụ:
<6> Ừ, nhưng con cũng phải lấy vợ đi đã chứ? (Nam Cao, Đời thừa, tr 35)
<7> Con Mực, vẫn con chó ngày ấy đây à? (Nam Cao, Đời thừa, tr 8)
<8> Bà không biết một tí gì ư? (Nam Cao, Đôi mắt, tr 37)
a.2 Các TTTT xuất hiện trong các cấu trúc hành động cầu khiến: đã, đi, nhé,
Ví dụ:
<9> Ấy, ông ngồi chơi đã! (Nam Cao, Đôi mắt, tr 85)
<10> Không tiêu được thì vứt đi! (Nam Cao, Đôi mắt, tr 87)
<11> Một cái chổi cùn tôi cũng không để nhé! (Nam Cao, Đôi mắt, tr 134)
a.3 Các TTTT xuất hiện trong các cấu trúc hành động trần thuật: đấy, kia
Ví dụ:
<12> Kiểu tóc này hợp với cưng đấy (Tập truyện ngắn Đôi mắt, Trẻ con
không được ăn thịt chó, tr 165)
b Các TTTT cuối phát ngôn thực hiện các HĐNT gián tiếp
TTTT có thể tham gia biểu thị một số kiểu sau đây: