Các giải pháp phát triển trang trại vùng đồng bằng kinh tế sông Hồng năm 2010
Trang 1Lời nói đầu
Trong số những thành tích đạt đợc của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nớc,trong thời gian qua, có thể nói nông nghiệp là một ngành đã có những bớc đột phángoạn mục Thu nhập của nông dân không ngừng tăng lên, bộ mặt nông thôn đợc cảithiện đáng kể Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an toàn lơng thực cho đời sống xãhội
Thế nhng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trong thời kìcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tếmạnh mẽ nh hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé Cho đến bây giờ, nông nghiệpViệt Nam vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và thiếu tính hợp lý Cần phải hìnhthành và phát triển những hình thức sản xuất phù hợp hơn, mà trong đó, kinh tế trangtrại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu này
Đã manh nha từ rất lâu, nhng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây, vai trò củakinh tế trang trại mới thực sự đợc công nhận và đợc quan tâm chú ý, đặc biệt là sau khinghị quyết số 03/2000-CP của Chính phủ ngày 02/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời,thì kinh tế trang trại mới có đợc một sự trợ giúp của Nhà nớc về cơ chế, chính sách nh
là hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông thờng của nền kinh tế thị trờng Sự tăng nhanh về
số lợng, gia tăng về giá trị sản lợng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chức sản xuấtnông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thôn nớc ta, giúp nông dânlàm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội
Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô đất đailớn nh ở vùng trung du miền núi phía Bắc hay vùng đồng bằng phía Nam, nhng đồngbằng sông Hồng vốn là vùng có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, trình độthâm canh cao nhất cả nớc Nhng để ngành nông nghiệp của vùng đáp ứng đợc yêu cầuphát triển trong thời kì mới thì phải hợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nông nghiệpnhằm khai thác một cách triệt để tiềm năng về đất đai cũng nh khả năng lao động củacon ngời vùng châu thổ này, và mô hình kinh tế trang trại là phù hợp hơn cả Nhữngnăm qua kinh tế trang trại vùng đồng bằng sông Hồng đã có nhiều thành tích đángkhích lệ, nhng thật sự vẫn cha phát triển tơng xứng với tiềm năng của nó Câu hỏi đặt
ra là: khả năng phát triển kinh tế trang trại của vùng đến đâu? Làm sao để mô hình đợc
áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất? Trả lời cho câu hỏi này chính làmục đích của đề tài: “Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại vùng đồng bằng sôngHồng đến năm 2010”
*Đối tợng nghiên cứu: các trang trại vùng Đồng bằng Sông Hồng
*Phạm vi nghiên cứu: thực trạng phát triển kinh tế trang trại và các yếu tố ảnhhởng, cùng các biện pháp nhằm thúc đẩy qt phát triển của các trang trại
*Phơng pháp nghiên cứu:
+Phơng pháp thống kê+Phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng+Phơng pháp quan sát vĩ mô
Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển kinh
tế trang trại
I Khái niệm, đặc trng và tiêu chí phân loại
Xuất hiện cách đây khoảng hơn 200 năm, cho đến những năm cuối thế kỷ 20,kinh tế trang trại mà đặc biệt là trang trại gia đình đã trở thành mô hình sản xuất phổbiến nhất của nền nông nghiệp các nớc phát triển, chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất
Trang 2đai cũng nh khối lợng nông sản, đặc biệt ở các nớc Anh, Pháp, Nga- nơi bắt đầu cuộccách mạng khoa học kĩ thuật đầu tiên của nhân loại.
Trải qua hàng mấy thế kỉ, đến nay, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển ở nhữngnớc t bản chủ nghĩa lâu đời cũng nh các nớc đang phát triển, các nớc công nghiệp mới
và đi vào những xã hội chủ nghĩa với cơ cấu và quy mô sản xuất khác nhau
Tại Việt Nam, kinh tế trang trại phát triển muộn, chỉ từ sau Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đợc thừa nhận và đặc biệt là từ saukhi có nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/98) về đổi mới quản lý kinh tế nhà nớc, kinh
tế hộ nông dân mới từng bớc phục hồi và phát triển, phần lớn họ trở thành những chủthể tự sản xuất Cùng với các hộ gia đình công nhân viên chức làm nông nghiệp, lại cótích luỹ về vốn, kinh nghiệm sản xuất và kinh nghiệm quản lý, tiếp cận đợc với thị tr-ờng, thì sản xuất nông nghiệp mới thoát khỏi cái vỏ tự cấp tự túc và vơn tới nền sảnxuất hàng hoá Kinh tế trang trại ra đời
Cho đến nay, quan điểm về kinh tế trang trại vẫn đợc trình bày theo nhiều khíacạnh khác nhau
1 Khái niệm về kinh tế trang trại
a Trang trại
Có thể hiểu trang trại là một đơn vị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp với quy môlớn theo hớng sản xuất hàng hoá
b Kinh tế trang trại
PGS.PTS Lâm Quang Huyên, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp chorằng: “Kinh tế trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp, hình thành và pháttriển trong nền kinh tế thị trờng từ khi phơng thức này thay thế phơng thức sản xuấtphong kiến Trang trại đợc hình thành từ các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp
tự túc khép kín, vơn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trờng, từngbớc thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh”(1)
Khái niệm này đã chỉ đúng bản chất sản xuất hàng hoá của kinh tế trang trại
nh-ng lại sailầm khi cho rằnh-ng nh-nguồn gốc cuả các tranh-ng trại chỉ là xây dựnh-ng từ kinh tế củacác hộ tiểu nông
Trong nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại.Chính phủ ta đã thống nhất nhận thức về kinh tế trang trại nh sau: “Kinh tế trang trại làhình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộgia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồngtrọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụnông- lâm- thuỷ sản”
Khái niệm này khá đầy đủ, nêu ra đợc cơ sở, chức năng, hình thức sản xuất củatrang trại nhng cha hớng đến tính chất hàng hoá hớng ra thị trờng của trang trại
Theo quan điểm của trờng Đại học Kinh tế Quốc dân: “Kinh tế trang trại là hìnhthức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông- lâm- ng nghiệp, có mục đích chủ yếu là sảnxuất hàng hoá, t liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay thuộc quyền sử dụng của mộtchủ thể độc lập, sản xuất đợc tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất
đợc tập trung đủ lớn với cách tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao, hoạt
động tự chủ và luôn gắn với thị trờng
(1) Báo cáo chuyên đề: “Chính sách phát triển trang trại và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao động nông thôn”, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002.
Trang 3Đây là một khái niệm đầy đủ về kinh tế trang trại.
c Tiêu chí xác định một trang trại
Không phải nhà nớc bỏ qua hình thức tổ chức sản xuất này, nhng vì đến trớcnhững năm 2000, do cha có một sự thống nhất về khái niệm cũng nh tiêu chí xác địnhtrang trại nên mang đầy đủ đặc điểm của một đơn vị sản xuất kinh doanh nhng chủtrang trại vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin hởng các chế độ hỗ trợ của nhà n-
ớc Thông thờng các nhà thống kê vẫn sử dụng những chỉ tiêu định tính hoặc chỉ tiêu
định lợng mà tính định lợng không cao, và các chỉ tiêu này không đợc thống nhấttrong cả nớc
*Tiêu chí định tính:
Có thể dùng tiêu chí này để nhận dạng thế nào là một trang trại, tức là căn cứvào mức độ sản xuất nông sản hàng hoá của trang trại để phân biệt kinh tế trang trạivới kinh tế hộ gia đình
*Tiêu chí định l ợng :
Dùng để phân biệt rõ ràng trang trại và không phải trang trại, và để phân loạicác trang trại khác nhau Ngày 23/6/2000, Liên bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn- Tổng cục Thống kê đã ra thông t số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK hớng dẫn tiêuchí để xác định kinh tế trang trại Cụ thể nh sau:
I.Các đối tợng và ngành sản xuất đợc xem xét để xác định là kinh tế trang trại
Hộ nông dân, hộ công nhân viên nhà nớc và lực lợng vũ trang đã nghỉ hu, cácloại hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôitrồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêm nhiệm các hoạt động dịch
vụ phi nông nghiệp ở nông thôn
II.Tiêu chí định lợng để xác định là kinh tế trang trại:
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đợc xác định làtrang trại phải đạt đợc cả hai tiêu chí định lợng sau đây:
1.Giá trị sản lợng hàng hoá và dịchvụ bình quân 1 năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
2.Quy mô sản xuất phải tơng đối lớn và vợt trội so với kinh tế nông hộ tơng ứng
với từng ngành sản xuất và với từng vùng kinh tế
a.Đối với trang trại trồng trọt:
(1)Trang trại trồng cây hàng năm:
- Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
(2)Trang trại trồng cây lâu năm:
- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
- Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
Trang 4- Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên.
(3)Trang trại lâm nghiệp:
- Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nớc
b.Đối với trang trại chăn nuôi:
(1)Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,v.v
- Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thờng xuyên từ 10 con trở lên
- Chăn nuôi lấy thịt có thờng xuyên từ 50 con trở lên
c.Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:
- Diện tích mặt nớc có để nuôi trồng thuỷ sản từ 2 ha trở lên (riêng đối vớinuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d.Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất
đặc thù nh: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thuỷ
đặc sản, thì tiêu chí xác định là sản lợng hàng hoá
2 Đặc trng của kinh tế trang trại
Hầu hết các ý kiến đều thống nhất về đặc trng của kinh tế trang trại ở 3 điểmsau đây:
2.1.Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất nông- lâm- thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn
Knh tế trang trại là kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa, khác với kinh tế tiểunông tự cấp tự túc K.Marx đã phân biệt chủ trang trại với ngời tiểu nông nh sau:
- Chủ trang trại bán ra thị trờng toàn bộ sản phẩm làm ra
- Ngời tiểu nông dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càngtốt
Đây là điểm khác biệt lớn nhất của kinh tế trang trại so với kinh tế cá thể sảnxuất nông nghiệp trớc đây Sản xuất hàng hoá đòi hỏi các trang trại phải có quy môlớn để giảm chi phí đầu vào, tạo ra sản phẩm hàng hoá với giá thành cạnh tranh, chất l-ợng cao Đến lợt nó, sản xuất quy mô lớn lại càng đòi hỏi phải làm ra sản phẩm hànghoá để trao đổi trên thị trờng vì rõ ràng ngơì chủ trang trại không thể tiêu dùng hết đ-ợc
Trang 5Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay kiểu tiểunông Nó đợc đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá trị sản lợng làm ratrong một năm hoặc đo bằng tỉ suất hàng hoá của trang trại.
2.2.Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu t dẫn đến chuyên môn hoá và hình thành các vùng chuyên canh
Bất kì một hình thức sản xuất nông nghiệp nào cũng cần có sự tập trung đất đai
và vốn ở mức độ nhất định Do tính chất sản xuất hàng hoá quy mô lớn, quá trình pháttriển kinh tế trang trại sẽ dần tạo ra những vùng, tiểu vùng sản xuất nông nghiệp với cơcấu sản xuất khác nhau:
- Cơ cấu sản xuất độc canh: là mức phát triển thấp của kinh tế trang trại Trangtrại chỉ sản xuất kinh doanh một loại cây (con) nhất định, tính chuyênnghiệp, chuyên môn và tính chất hàng hoá cha cao
- Cơ cấu sản xuất đa dạng: trang trại kết hợp nhiều loại cây trồng vật nuôi đểtận dụng mọi năng lực sản xuất của mình
- Cơ cấu sản xuất chuyên môn hoá: đây là giai đoạn trang trại đã tích luỹ đủ về
đất đai, vốn, năng lực và kinh nghiệm quản lý để tham gia vào hệ thống phâncông lao động xã hội Khác với cơ cấu độc canh, sản xuất chuyên môn hoá
đòi hỏi ứng dụng rộng rãi những tiến bộ khoa học kĩ thuật và đạt đến trình
độ, tính chất sản xuất hàng hoá cao Dần dần, nhiều trang trại cùng chuyênmôn hoá một loại cây trồng, vật nuôi có thể hình thành nên những vùngchuyên canh rộng lớn
2.3.Tổ chức và quản lý sản xuất theo phơng thức tiến bộ
Dựa trên cơ sở thâm canh, chuyên môn hoá sản xuất, các trang trại phải có cơchế tổ chức và quản lý sản xuất nh là các đơn vị kinh doanh khác, tức là phải hạchtoán, điều hành sản xuất hợp lý và thờng xuyên tiếp cận với thị trờng, khác với lối sảnxuất “làm tới đâu thì tới” của kinh tế tiểu nông ở đây hiệu quả kinh tế đợc đặt lênhàng đầu nên tất cả các hoạt động sản xuất đều phải tính toán lợi ích- chi phí bỏ ra
Lao động trong trang trại có hai bộ phận: lao động quản lý (thờng là chủ trangtrại) và lao động trực tiếp (lao động gia đình và lao động làm thuê) Số lợng lao độngthuê mớn thay đổi tuỳ loại hình trang trại và quy mô trang trại khác nhau
Chủ trang trại là ngời có kiến thức và kinh nghiệm, trực tiếp điều hành sản xuất,biết áp dụng khoa học công nghệ Thu nhập của trang trại vợt trội so với kinh tế hộ
3 Phân loại kinh tế trang trại
3.1 Theo quy mô đất sử dụng, có thể chia 4 loại:
- Trang trại nhỏ: dới 2 ha
- Trang trại vừa: 2-5 ha
- Trang trại khá lớn: 5-10 ha
- Trang trại lớn: trên 10 ha
3.2 Phân loại theo cơ cấu sản xuất, chia thành:
* Trang trại trồng trọt:
Trang 6- Trang trại trồng rừng: thờng có quy mô lớn và đợc phát triển ở các vùng núiphía Bắc Loại hình trang trại này không chỉ đòi hỏi lợng vốn lớn mà thờigian thu hồi vốn lại dài (5-10 năm hoặc hơn) cho nên để ngời kinh doanhtrang trại có điều kiện nhận thì phải có cơ chế chính sách hỗ trợ về lâu dài.
- Trang trại trồng cây ăn quả: Đây là loại hình trang trại phổ biến không chỉ ởmiền núi mà còn rất thích hợp với vùng đồng bằng, đặc biệt là Đồng bằngBắc Bộ và Đồng bằng Nam Bộ Tuỳ điều kiện đất đai, khí hậu và ý tởng kinhdoanh mà chủ trang trại có thể lựa chọn trồng một hay nhiều loại cây ăn quảkhác nhau
- Trang trại trồng cây công nghiệp: Loại hình này thờng chỉ phù hợp vớinhững vùng đất có tính chất đặc thù Có lẽ đây là loại hình trang trại ra đời ởViệt Nam sớm nhất, bắt đầu từ những đồn điền cao s của các ông chủ ngờiPháp Đến nay, cây công nghiệp đợc trang trại lựa chọn rất đa dạng, bao gồmcả cây công nghiệp dài ngày (cà phê, tiêu, điều ) và cây công nghịp ngắnngày (đay )
- Trang trại trồng cây lơng thực, thực phẩm: quy mô đất nhỏ Rất phù hợp với
điều kiện đất đai và khí hậu vùng đồng bằng Trong nhóm này, cây lúachiếm một vị trí đáng kể
- Trang trại kinh doanh đặc thù: đó là các trang trại trồng hoa cảnh, cây cảnh,hoặc nuôi vật cảnh, cung cấp giống cho nông dân Loại này không đòi hỏidiện tích đất đai lớn, vốn lớn nhỏ tuỳ loại sản phẩm nhng phải có trình độkhoa học kĩ thuật Rất phù hợp với các vùng đồng bằng vốn đất đai hạn chế
*Trang trại chăn nuôi:
Loại hình trang trại này cũng rất đa dạng Nếu là vùng núi trung du rộng lớn, ờng chăn nuôi các loại đại gia súc (bò, dê ) còn ở vùng đồng bằng là các loại gia súcnhỏ (lợn, đà điểu, ) và gia cầm
th-*Trang trại thuỷ sản: loại hình trang trại này rất đặc thù, nhất thiết phải có mặt nớcnuôi trồng thuỷ sản với một diện tích nhất định Ven biển Đồng bằng Sông Hồng córất nhiều yếu tố để phát triển ngành này Tuy nhiên, các trang trại thủy sản cũng rất th-ờng xuyên phải đối mặt với những rủi ro về khí hậu do những đặc trng riêng củangành
*Trang trại kinh doanh tổng hợp: chủ trang trại có thể kết hợp trồng trọt với chăn nuôi,trồng trọt với nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất với dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp hoặcthậm chí tất cả các hình thức miễn sao có lợi
3.3 Phân loại trang trại theo chủ thể kinh doanh
Chủ trang trại có thể sở hữu hoặc đi thuê t liệu sản xuất Trờng hợp phổ biến làchủ trang trại sở hữu quyền sử dụng đất nhng phải đi thuê máy móc, thiết bị, chuồngtrại, kho tàng ở Việt Nam, ngời chủ trang trại chỉ có quyền sử dụng đất (t liệu sản xuấtchủ yếu) chứ không có quyền sở hữu nên tốt nhất không phân loại theo loại hình sởhữu về t liệu sản xuất
Theo chủ thể kinh doanh, có thể chia kinh tế trang trại thành:
Trang 7-Trang trại nhà nớc: nh nông trờng quốc doanh, công ty nông nghiệp nhà nớc,thờng có quy mô lớn nên hình thành nên nhiều cấp trung gian Các nông trờng cáccông ty này lại khoán cho gia đình công nhân lập trang trại gia đình.
-Các hợp tác xã nông nghiệp: sau khi luật hợp tác xã ra đời, nhiều hợp tác xãnông nghiệp chuyển thành hợp tác xã dịch vụ đầu vào, đầu ra cho các hộ gia đình nôngdân Hợp tác xã nông nghiệp cũng có thể hình thành nhờ sự hợp tác sản xuất của cácxã viên Hình thức này ngày nay rất ít tồn tại
-Trang trại của công ty hợp doanh: Là loại hình kinh doanh nông nghiệp quy môlớn theo hớng sản xuất hàng hoá của các công ty hợp doanh Họ có thể trực tiếp sảnxuất hoặcgiao cho các hộ gia đình hay một đơn vị kinh tế khác làm, hùn vốn hay gópphần lớn vốn góp
-Trang trại gia đình: Đây là loại hình phổ biến nhất của kinh tế trang trại trênthế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Loại hình này thực chất là các hộ nôngdân từ kinh tế tiểu nông sản xuất tự túc, tiến lên kinh tế trang trại sản xuất hàng hoávới các mức độ khác nhau Trang trại gia đình rất đa dạng về quy mô, về sở hữu và sửdụng ruộng đất, về chủng loại và số lợng lao động với số lợng khác nhau, về nguồnvốn và khoa học công nghệ, về ngành nghề, mặt hàng sản xuất.Trong hình thức này,mỗi gia đình là một chủ thể kinh tế, họ bỏ vốn và sức lao động để sản xuất, tự lo cả
đầu vào và đầu ra cho sản phẩm
-Trang trại t nhân kinh doanh nông nghiệp: là loại trang trại của cá nhân các nhà
t bản, công thơng gia, hoặc công ty cổ phần , hoặc thuê đất đai, thuê lao động sản xuấtkinh doanh nông nghiệp nghĩa là họ hoàn toàn sử dụng lao động làm thuê nh cácdoanh nghiệp t nhân kinh doanh công nghiệp, dịch vụ khác của nền kinh tế
II Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế-xã hội vùng
Bất kì một hình thức sản xuất nào cũng gây ảnh hởng đến đời sống kinh tế xãhội nói chung Là một thực thể kinh tế, các trang trại hình thành và phát triển đã cónhững đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trởng kinh tế và phát triển xã hội, làm thay
đổi bộ mặt nông nghiệp- nông thôn
1 Phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu của quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp- nông thôn
Các ngành sản xuất đều có xu hớng tích luỹ về vốn và các yếu tố sản xuất khác:
t liệu, lao động, kinh nghiệm, trình độ quản lý Trong nông nghiệp cũng vậy Nhữngnăm cuối thế kỷ 17 ở các nớc bắt đầu công nghiệp hoá, đã có chủ trơng thúc đẩy cácquá trình tập trung ruộng đất, xây dựng các xí nghiệp nông nghiệp t bản quy mô lớnvới hi vọng mô hình này sẽ tạo ra nhiều nông sản tập trung với giá rẻ hơn sản xuất gia
đình phân tán Lúc đầu Marx cũng cho rằng đây là điều tất yếu trong qúa trình côngnghiệp hoá nền nông nghiệp t bản chủ nghĩa nhng trong tác phẩm cuối cùng của mình,
ông đã viết: “Ngay ở nớc Anh nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợinhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đìnhkhông dùng lao động làm thuê”.(2) Sở dĩ nh vậy là vì sản xuất nông nghiệp có đặc trngkhác với công nghiệp ở chỗ là phải tác động vào những vật sống (cây trồng, vật nuôi)nên không phù hợp với hình thức tổ chức sản xuất tập trung quy mô quá lớn
Trang 8Công cuộc đổi mới kinh tế và đổi mới nông nghiệp của Việt Nam mới bắt đầucách đây gần hai chục năm Cơ chế thị trờng không chỉ tác động mạnh mẽ đến hoạt
động của các ngành công nghiệp, dịch vụ mà còn làm thay đổi căn bản mục đích và do
đó thay đổi cả phơng thức sản xuất trong nông nghiệp Sự phát triển của trao đổi hànghoá đặt ra yêu cầu làm ra sản phẩm phải là hàng hoá với giá cả hợp lý và chất l ợng
đảm bảo hơn Không chỉ là các nông trại lớn, ngay cả các đơn vị sản xuất nhỏ nh hộgia đình cũng hiểu rõ mục đích sản xuất của mình: sản phẩm để bán chứ không phải
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của kinh tế trang trại trong phát triển kinh tếnói chung, phát triển nông nghiệp- nông thôn nói riêng, Chính phủ đã có khá nhiềuvăn bản quan trọng về các vấn đề: đất đai cho trang trại, vốn sản xuất cho trang trại, hỗtrợ khâu cung ứng đầu vào, đầu ra Có thể nói, cha bao giờ kinh tế trang trại đợc quantâm đúng mức nh những năm gần đây
Tuy vậy, kinh tế nớc ta đang trong qúa trình chuyển từ một nền kinh tế tự cung
tự cấp sang một nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng, sự quá độ củanền kinh tế lại quy định tính đa dạng của nó, về trình độ phát triển của lực lợng sảnxuất, về sở hữu t liệu sản xuất Tính không đồng đều về trình độ sản xuất, một mặtdẫn tới những hình thức tổ chức sản xuất khác nhau, mặt khác, dẫn tới sự không thốngnhất của mỗi hình thức tổ chức sản xuất Do vậy trang trại nớc ta cũng không thể thuầnnhất khi mà kinh tế còn trong thời gian quá độ Đó cũng là một quy luật phát triển nhquy luật phát triển của các mô hình sản xuất khác mà thôi
Nh vậy, kinh tế trang trại là một thực thể khách quan, xuất hiện nh là kết quảcủa quá trình tích luỹ về vốn, kinh nghiệm, năng lực của ngời chủ sản xuất, do tác
động của cơ chế thị trờng, mà trong đó, trang trại gia đình (với một số u thế riêng sẽ
đ-ợc xem xét ở phần sau) là mô hình đđ-ợc lựa chọn số 1
2 Tác động của kinh tế trang trại đến sự phát triển của ngành sản xuất nông nghiệp
2.1 Góp phần chuyên môn hoá sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp- nông thôn, phát triển kinh tế hàng hoá
Nh đã nói, đặc trng của kinh tế trang trại là mức độ tập trung cao về đất đai vàtích luỹ lâu dài về vốn, đã dần tạo nên một quy mô vợt trội so với sản xuất của hộ gia
đình Với riêng mỗi trang trại, trong giai đoạn đầu do còn thiếu vốn và khả năng sảnxuất cũng nh kinh nghiệm quản lý, họ thờng kết hợp sản xuất nhiều loại nông sản khácnhau nhng sau đó, do sự tích luỹ về các yếu tố trên, trang trại sẽ hớng theo một vài loạisản phẩm dođó quy mô của loại sản phẩm này cũng lớn lên Do ảnh hởng của các lợithế về quy mô, ta sẽ thấy các trang trại ở trong cùng một vùng có điều kiện tự nhiêngiống nhau sẽ trồng hay nuôi cùng một loại cây, con nh nhau, xây dựng các mô hìnhthâm canh, chuyên canh, tiếp cận các biện pháp canh tác hiện đại, từ đấy các vùngchuyên canh, vùng chuyên môn hoá hình thành, trở thành vùng cung cấp nguyên liệurộng lớn cho các cơ sở chế biến
Trang 9Đến lúc này, sản xuất quy mô lớn lại đòi hỏi áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuậtvào sản xuất để làm ra sản phẩm với chi phí thấp, chất lợng cao và đồng đều Vì mục
đích của kinh tế trang trại là thị trờng: sản xuất cái gì, khối lợng bao nhiêu, chất lợng ởmức độ nào, đều phải bắt kịp các tín hiệu của thị trờng Và vì xu hớng của trang trại
là ngày càng đòi hỏi sản phẩm có chất lợng cao hơn, nên cơ cấu sản xuất của trangtrại cũng thay đổi, hàm lợng khoa học kĩ thuật trong sản phẩm nông nghiệp thậm chítăng lên Nhìn chung, kinh tế trang trại sẽ tăng tỉ lệ chăn nuôi, giảm tỉ lệ trồng trọt,một số tiểu ngành nh sản xuất thực phẩm cao cấp, hoa kiểng ngày càng phát triển,
đem lại nguồn thu lớn
2.2 Góp phần làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
Lợi thế về quy mô của các trang trại (quy mô đất đai, quy mô lao động ) giúpcác trang trại tạo ra một khối lợng sản phẩm lớn Trang trại có điều kiện thuận lợitrong cả việc giảm giá thành các yếu tố đầu vào và cả trong quản lý, tiêu thụ sản phẩm,
đặc biệt là dễ dàng hơn khi áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, sử dụng máy móc,trang thiết bị hiện đại trong hoạt động sản xuất Với các hộ gia đình, chi phí cho cácthiết bị này chiếm tỉ lệ quá lớn so với thu nhập và giá trị sản phẩm làm ra, nên thôngthờng họ phải đi thuê, tỉ suất lợi nhuận vì thế cũng thấp, khiến cho giá trị của cả ngànhnông nghiệp giảm theo
Cũng nhờ quy mô lớn, chuyên môn hoá cao, cùng với tính chất sản xuất hànghoá mà sản phẩm của trang trại là những sản phẩm có giá trị cao Thông thờng thì ngờilàm trang trại hiểu rõ mục đích sản xuất của mình là cung cấp cho thị trờng, nên họ chỉchọn kinh doanh những loại cây, con sao cho có hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng đúngyêu cầu mà thị trờng đòi hỏi Hơn thế nữa, sản phẩm làm ra thờng có giá thành cạnhtranh, chất lợng đồng đều, có khả năng cung cấp với khối lợng lớn nên thờng dễ đợccác cơ sở chế biến và ngời tiêu dùng chấp nhận Giá trị sản phẩm cao không chỉ đemlại thu nhập cho chủ trang trại mà trong phạm vi toàn ngành, nó sẽ là phần đóng góp
đáng kể để gia tăng giá trị ngành sản xuất nông nghiệp
2.3 Góp phần vào sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp- nông thôn
Sản phẩm nông nghiệp là đầu vào quan trọng của các ngành công nghiệp, đặcbiệt là công nghiệp chế biến Rõ ràng là khối lợng, chất lợng, giá cả nông sản cung cấpcho một nhà máy chế biến thực phẩm nào đó sẽ quyết định tính cạnh tranh của sảnphẩm nhà máy này Không những thế, sản phẩm của trang trại sẽ góp phần thúc đẩycác ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp năng lợng trong các mối liên hệ ngợc vớicác ngành này Để làm ra sản phẩm, các trang trại cần sử dụng máy móc, cần tiêudùng năng lợng, cần đợc cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu Đó là không kểnhững trang trại kinh doanh tổng hợp còn tự sơ chế, chế biến ngay tại chỗ Yêu cầunày cần đợc sự giúp đỡ của ngành công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm Mốiquan hệ qua lại này chỉ ra rằng: sự phát triển của ngành này là động lực phát triển củangành kia
Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho một bộphận nông dân, tiêu dùng của khu vực nông nghiệp- nông thôn tăng lên kéo theo sựkhởi sắc của ngành dịch vụ theo đúng quy luật của nền kinh tế thị trờng
Nh vậy, kinh tế trang trại không chỉ là lực lợng xung kích đi đầu trong lĩnh vựcsản xuất nông sản hàng hoá, mà còn là lực lợng đi đầu trong ứng dụng khoa học côngnghệ nông nghiệp, do đó là nhân tố cơ bản cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp- nông thôn nớc ta Điểm yếu của công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông
Trang 10thôn là tính chất lạc hậu, manh mún, phân tán của sản xuất nông nghiệp nớc ta nóichung và vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng (cho dù vùng Đồng bằng sông Hồngvẫn là vùng có trình độ thâm canh cao nhất cả nớc) nên đã hạn chế khả năng thay đổicách thức sản xuất từ thủ công sang lao động bằng máy móc hiện đại Quy mô đất đai
và vốn lớn của các trang trại sẽ khắc phục nhợc điểm này
Nói chung, trong điều kiện kinh tế thị trờng, với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, mô hình kinh tế trang trại là một hớng đi đầy triển vọng cho nôngnghiệp Việt Nam Chắc chắn trong tơng lai, sự phát triển của nông nghiệp vùng Đồngbằng Sông Hồng phải bao gồm cả sự phát triển của mô hình kinh tế trang trại
3 Tác động về mặt xã hội và môi trờng
3.1 Góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Cho đến nay Đồng bằng Sông Hồng vẫn còn đến hơn 70% lao động là ở nôngthôn Tính chất mùa vụ của hoạt động sản xuất nông nghiệp cùng với việc mở rộngdần phạm vi ứng dụng của máy móc hiện đại càng làm tăng tỉ USD lệ thất nghiệp tráhình Theo ớc tính, lao động ở khu vực nông thôn mới chỉ sử dụng hết khoảng 3/4 thờigian lao động nông nghiệp, nh vậy là đã lãng phí một lợng lớn lao động nông thôn.Trong số đó thậm chí nhiều ngời thậm chí còn hoàn toàn không có cả việc làm Mộtphần lao động d thừa ấy sẽ đợc giải quyết khi các trang trại hình thành vì trang trạikhông chỉ giải quyết việc làm cho bản thân chủ trang trại cũng nh ngời nhà của họ màcòn thu hút đợc một lực lợng đáng kể lao động làm thuê
3.2 Phát triển lựclợng sản xuất và quan hệ sản xuất
Tác động của kinh tế trang trại tới sự phát triển của lực lợng sản xuất xét ở 3khía cạnh:
Một là, nhờ cách làm ăn hiệu quả hơn, kinh tế trang trại đem lại nguồn thu nhậpcao hơn cho ngời lao động tham gia sản xuất và trong thực tế, rất nhiều nông dân đãgiàu lên thực sự bằng con đờng này Không những thế, những lao động làm thuê cũng
đợc hởng một mức thu nhập cao hơn trớc đây, nhờ đó đời sống đợc cải thiện cả về mặtvật chất và tinh thần
Hai là, dựa vào u thế của kinh tế trang trại trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học
kĩ thuật mà trình độ kĩ thuật, trình độ thâm canh, chuyên môn hoá nông nghiệp củavùng nói chung đợc nâng lên rõ rệt Trong thời đại này, máy móc là bộ phận vô cùngquan trọng của lực lợng sản xuất nông nghiệp, và sự phát triển của máy móc (xét cả về
số lợng và chất lợng) chính là sự phát triển của lực lợng sản xuất
Ba là, kinh tế trang trại phát triển kéo theo sự phát triển của các mối quan hệgiữa nông dân- nông dân trong việc hợp tác, hỗ trợ sản xuất, thuê nhân công, đồng thời
đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa các khâu sản xuất- chế biến- tiêu thụ của quytrình sản xuất hàng hoá Tiếp theo đó là mối liên hệ giữa các chủ trang trại và nhàcung cấp, cũng đợcnâng lên thông qua các loại hình dịch vụ và chuyển giao kĩ thuật
3.3 Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Rõ ràng là để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá của mình, các trang trại cầnphải đợc đảm bảo bằng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại Nhằm nâng caohiệu quả và khả năng cạnh tranh, các trang trại có thể kết hợp với các địa phơng, cùngcác doanh nghiệp khác để giải quyết những vấn đề chung này (giao thông, điện, nớc,thuỷ lợi, hệ thống tiêu thụ sản phẩm ), các công trình giao thông, kho tàng, bến bãi,các phơng tiện vận tải đợc mở rộng và xây dựng mới để phục vụ cho sản xuất hàng hoá
Trang 11của các trang trại Và vì không phải trang trại nào cũng có khả năng tự xây dựng hệthống này nên cần có những sự giúp đỡ của nhà nớc.
Đi đôi với việc phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất là hệthống cơ sở phục vụ đời sống nhân dân, hệ thống trờng học, trạm xá, chợ, các côngtrình văn hoá, thể thao Một số thị tứ đã hình thành cùng với sự phát triển của kinh tếtrang trại
Đồng bằng Sông Hồng, đóng góp của kinh tế trang trại sẽ là góp phần xây dựngmới, tu sửa va mở rộng mạng lới thuỷ lợi, hệ thống đờng sá nối khu vực nông thôn vớithành thị và các khu vực nông thôn với nhau, nhất là các vùng ngoại thành xa trungtâm đô thị, thúc đẩy sự ra đời và hoạt động của các trung tâm nghiên cứu khoa học
3.4.Khai thác hiệu quả các nguồn lực
Thực tế cho thấy trong các mô hình kinh tế trang trại các yếu tố nguồn lực thờng
đợc sử dụng hiệu quả hơn so với kinh tế hộ Không còn mang tính chất tự sản tự tiêu,cơ chế thị trờng buộc các “doanh nghiệp trang trại” phải hạch toán kinh doanh do đóvì lợi nhuận, các yếu tố đầu vào nh đất đai, chi phí mua giống, phân bón, trang thiết bịmáy móc, thuê mớn nhân công, đều đợc tính toán sao cho đem lại tỉ suất lợi nhuậncao Rộng hơn, kinh tế trang trại còn góp phần tích cực vào việc huy động tiền vốn
đọng trong một bộ phận lớn nông dân lâu nay vào sản xuất nông nghiệp
3.5 Những lợi ích về môi trờng:
Đối với vùng Đồng bằng Sông Hồng, các trang trại trồng rừng gần nh không
đáng kể, nhng số lợng số lợng các trang trại còn lại đã góp phần đáng kể vào côngcuộc xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng, sinh thái, bền vững
Tóm lại, mô hình kinh tế trang trại không chỉ là một mô hình thích hợp với sảnxuất nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng mà nó còn phù hợp với cơ chế thị trờng
và đem lại những lợi ích to lớn cả về kinh tế và xã hội Tuy nhiên, nhận thức về vai tròcủa nó cha đủ để chúng ta xây dựng đợc hệ thống các giải pháp hiệu quả, bởi vì ta cònphải xem xét các yếu tố ảnh hởng đến phát triển kinh tế trang trại nữa
III Các nhân tố ảnh hởng đến phát triển kinh tế trang trại vùng
Đồng bằng Sông Hồng
1 Nhóm các nhân tố tài nguyên thiên nhiên
1.1 Đất đai
Quan trọng nhất đối với sản xuất nông nghiệp là yếu tố đất đai Dù áp dụng bất
cứ hình thức sản xuất nào, kinh doanh bất cứ loại nông sản nào, chủ trang trại cũngphải phát triển trêncơ sở một diện tích đất đai nhất định ảnh hởng của đất đai đếnphát triển kinh tế trang trại quyết định bởi:
- Quy mô đất đai: tức là diện tích cần thiết để tạo ra một khối lợng nhất định sảnphẩm Nói chung, một quy mô đất sản xuất rộng lớn là một điều kiện thuận lợi chokinh tế trang trại
- Đặc điểm của đất đai: Đây là một yếu tố đặc biệt quan trọng cần phải tính đếnkhi tiến hành sản xuất, nhất là với các trang trại trồng trọt Nh ta đã biết, Đồng bằngSông Hồng vốn là một vùng châu thổ, đất phù sa bồi lắng hàng nghìn năm màu mỡ,nhng theo tiến trình khai thác mộtcách lạc hậu và không tính đến hậu quả lâu dài chonên đến nay, nhiều vùng đất đã trở nên bạc màu, muốn trồng trọt phải chi phí cải thiện
Trang 12đất rất tốn kém Bên cạnh đó còn các vùng đất mặn, đất phèn, đất nhiều khoáng sản, rất khó canh tác, nhng cũng còn nhiều đất màu thuận lợi chocác loại cây trồng pháttriển Nếu là một trang trại chăn nuôi thì đất đai cha phải là một yếu tố quan trọnglắm.
Tuy rằng một trang trại phát triển trên vùng đất đai rộng lớn thì thờng có khảnăng phát đạt nhanh, nhng thực tế, vẫn có những trang trại nhỏ mà hiệu quả kinhdoanh lại lớn Vấn đề là ở chỗ chủ trang trại biết và vận dụng những sự hiểu biết vềkhoa học kĩ thuật, sử dụngmáy móc để tiến hành thâm canh, chuyên canh sao cho thậthiệu quả, nhất là trong điều kiện đất đai ngày càng trở nên khan hiếm, khi đó kinh tếtrang trại mới thực sự chứng tỏ tính u việt của mình so với kinh tế hộ gia đình
1.2 Thời tiết, khí hậu
Yếu tố thời tiết ảnh hởng mạnh mẽ đến cơ cấu sản xuất của cả trang trại chănnuôi và trang trại trồng trọt, bởi lẽ chúng là những “đối tợng sống” đợc đặt trong một
“môi trờng sống” ảnh hởng trực tiếp đến khả năng sinh trởng và sinh sản So với cácvùng trong cả nớc, khí hậu của vùng Đồng bằng Sông Hồng có thể xếp vào bậc nhất vềmức độ thuận lợi và đa dạng, thích hợp với rất nhiều loài động, thực vật khác nhau.Nhờ số giờ nắng cao, tính chất nóng ẩm của mùa hè và không khí lạnh của mùa đông,vùng Đồng bằng Sông Hồng có điều kiện để đa dạng hoá cơ cấu cây trồng của mình,cả các loài cây nhiệt đới và cây ôn đới Không những thế, sự phong phú của khí hậu ởcác vùng, miền khác nhau, ở các độ cao khác nhau cũng tạo điều kiện để có một cơcấu chăn nuôi đa dạng cho cả vùng
2 Các nhân tố kinh tế xã hội
2.1 Lao động của trang trại
Bao gồm lao động quản lý và lao động sản xuất trực tiếp, xét trên 2 khía cạnh: số lợng
-Chất lợng lao động phụ thuộc: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kinh nghiệm,tay nghề, mức độ tận tuỵ của ngời lao động Nhìn chung, lao động cung cấp cho cáctrang trại thờng là nông dân (ngay cả bản thân chủ trang trại cũng thờng xuất thân nhvậy) nên mức độ linh hoạt để thích ứng với cơ chế thị trờng còn thấp Phần vốn lớnnhất mà họ có là kinh nghiệm và những hiểu biết truyền thống về sản xuất nôngnghiệp Dù sao, Đồng bằng Sông Hồng cũng là vùng mà nông nghiệp đợc cơ giới hoánhanh và sớm nhất cả nớc, tiếp cận với sản xuất hàng hoá sớm nhất nên ít nhiều khảnăng đáp ứng của ngời lao động cũng có phần nhỉnh hơn những vùng khác
Sự phát triển của kinh tế trang trại còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức và quản lýcủa chủ trang trại Họ là những ngời có kinh nghiệm hoặc ít ra cũng là những ngờimạnh dạn, có hiểu biết về thị trờng, về kinh tế hàng hoá, về cách thức sản xuất hiện
đại
Trong điều hiện hiện nay, có rất nhiều lao động có kinh nghiệm, có trình độ,
am hiểu khoa họckĩ thuật, và lựclợng này cung cấp cho trang trại một đội ngũ nhà
Trang 13nghiên cứu, những kĩ s nông nghiệp chính họ bằng lao động chất xám của mình sẽgóp phần nâng cao sản lợng và chất lợng của nông phẩm.
2.2 Sự tích tụ vốn sản xuất:
Đây là điều kiện cần thiết để kinh tế hộ chuyển thành kinh tế trang trại Kinh tếtrang trại là một mô hình sản xuất lớn có tỉ suất hàng hoá cao, chấp nhận cạnh tranhngày càng gay gắt và đặc biệt là luôn vận động theo các quy luật khách quan của cơchế thị trờng, nên ngày càng cần phải đợc tăng nguồn vốn đầu t cho phát triển
Nguồn vốn cung cấp cho các trang trại bao gồm: sự hỗ trợ từ ngân sách địa
ph-ơng, từ phía nhà nớc, vốn tự có của chủ trang trại, vốn vay, vốn tín dụng, trong đó chủyếu là vốn của chủ trang trại, phần hỗ trợ từ phía nhà nớc là rất hạn hẹp, vì thế khảnăng tích luỹ vốn để mở rộng kinh doanh, đầu t trang trại thiết bị công nghệ tiên tiến
c thoát khỏi t duy kinh tế theo lối tiểu nông
Vì là sản xuất hàng hoá nên vấn đề cung ứng vật t (thị trờng đầu vào) là rất quantrọng Nó ảnh hởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của trang trại, và rõ ràng là mộtthị trờng đầu vào có sự độc quyền sẽ gây ra rất nhiều điều bất lợi, chủ trang trại sẽ phảimua vật t với giá cao mà chất lợng không đảm bảo Vì vậy cũng cần có sự quan tâmcủa nhà nớc trong lĩnh vực này
Còn thị trờng sản phẩm đầu ra là một trong những vấn đề các trang trại quantâm nhất, nó phát đi các tín hiệu định hớng cho các thị trờng nên sản xuất loại nôngsản nào, khối lợng, chất lợng ra sao, sản xuất nh thế nào thì hiệu quả Tuy vậy, hiệnnay có một hạn chế rất lớn là cho đến nay, hầu hết các trang trại là hình thành tự phát,hoạt động chủ yếu mới ở khâu sản xuất và mới chỉ tạo ra sản phẩm nguyên liệu nênthờng xuyên rơi vào tình trạng không có đầu ra hoặc tiêu thụ chậm, bị ép giá sảnphẩm (nhất là các sản phẩm tơi sống) làm ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh
2.5 Cơ sở hạ tầng nông thôn
Đây chính là “bầu không khí sống” của kinh tế trang trại, là yếu tố hỗ trợ chokinh tế trang trại và trong nhiều trờng hợp, nó mang tính quyết định Một hệ thốngthuỷ lợi tốt, một nạng lới điện và thông tin liên lạc đồng bộ, đầy đủ, giáo dục đào tạo
và một hệ thống thơng mại đáp ứng đúng nhu cầu, là điều kiện thuận lợi nh là sự thuậnlợi với các yếu tố đầu vào khác Một hệ thống đờng giao thông hoàn chỉnh nối vùngsản xuất- chế biến- tiêu thụ là một trong những điều kiện cần thiết để tạo ra một cơ chếsản xuất liên hoàn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại
Trang 14Những tác động phức tạp của các yếu tố kinh tế- xã hội sẽ đợc đơn giản hoá và
có lợi nếu các chủ trang trại linh hoạt, khéo léo tận dụng những thời cơ mà chúng đemlại, có phơng án phòng tránh rủi ro, đồng thời phải có sự can thiệp của một chủ thể mànhờ đó, mục tiêu kinh doanh của trang trại mới trở nên hoàn chỉnh: đó là Nhà nớc
3 Vai trò của Nhà nớc.
Trong một nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa nh nền kinh tế nớc
ta, những chính sách, thể chế mà nhà nớc ban hành luôn là yếu tố ảnh hởng trc tiếp vàmạnh mẽ đến các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, cũng nh đến sự phát triển củakinh tế trang trại ảnh hởng này thể hiện ở các điểm sau đây:
- Quy hoạch đất đai và các quy hoạch vùng chuyên môn hoá
- Các chính sách về đất đai
- Các chính sách về vốn đầu t, tín dụng và thuế
- Chính sách lao động
- Chính sách thị trờng
- Chính sách khoa học- công nghệ- môi trờng
- Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu t cho trang trại
- Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng
- Môi trờng pháp lý
Những chính sách này đã khuyến khích kinh tế trang trại phát triển đúng hớng,phát huy đợc các mặt mạnh và thuận lợi, hạn chế khắc phục khó khăn và trở ngại trong
điều kiện các mối quan hệ phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển của kinh
tế trang trại vốn rất đa dạng, tinh tế và phức tạp
IV Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số nớc châu á
1 Đặc điểm kinh tế trang trại ở các nớc châu á
Qua khảo sát tình hình phát triển kinh tế trang trại của các nớc ở khu vực Châu
á, có những đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội gần gũi với nớc ta, chúng ta có thể rút
ra những nhận xét, kinh nghiệm thực tế, bổ ích để tham khảo và vận dụng có chọn lọcvào điều kiện cụ thể của Việt Nam
Từ khi bắt đầu công nghiệp hoá, kinh tế trang trại ở các nớc Châu á đã hìnhthành và phát triển và đến khi đạt trình độ công nghiệp hoá cao, kinh tế trang trại vẫntồn tại, và đóng vai trò của lực trong nền công nghiệp sản xuất nông sản hàng hoá,giống nh ở các nớc công nghiệp phát triển Âu Mĩ Thực tế đã chứng minh kinh tế trangtrại là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, làlực lợng xung kích sản xuất nông sản hàng hoá
Đặc điểm của kinh tế trang trại các nớc Châu á là quy mô nhỏ bé, phổ biến quymô bình quân trên dới 1 ha chỉ bằng 1/20- 1/10 của các nớc Tây Âu và bằng 1/200-1/100 của các nớc Bắc Mĩ Nhng các trang trại quy mô nhỏ Châu á vẫn còn những tínhchất cơ bản của kinh tế trang trại, nh đảm bảo tỉ suất hàng hoá cao, khối lợng nôngsản nhiều (khi các trang trại sản xuất chuyên môn hoá từng mặt hàng ở vùng tập trung)
Trang 15vẫn dung nạp đợc các trình độ khoa học công nghệ nông nghiệp từ các trang trại nhỏtren dới 1 ha đã có cơ giới liên hoàn, đồng bộ các khâu sản xuất lúa, và nhiều câykhác Tất nhiên, quy mô đất đai của các trang trại lớn hay nhỏ không phải là điềukiện quyết định năng lực sản xuất nông sản hàng hoá và áp dụng khoa học công nghệtiên tiến.
Kinh tế trang trại ở các nớc Châu á đến nay vẫn có nhiều quy mô cực nhỏ (dới0,5 ha), nhỏ (trên dới 1 ha), vừa (3-5 ha) và lớn (8-10ha), cơ cấu quy mô khác nhaunay tiếp tục tồn tại lâu dài
Tiêu chí phân biệt kinh tế trang trại với kinh tế tiểu nông chủ yếu là dựa vào tiêuchí sản xuất hàng hoá tỉ suất cao, khối lợng và giá trị sản lợng nhiều, không phải dựavào quy mô lớn, vốn đầu t nhiều, số lợng lao động sử dụng nhiều
Kinh tế trang trại ở Châu á có hai loại hình phổ biến: trang trại sản xuất theo
ph-ơng thức gia đình và trang trại sản xuất theo phph-ơng thức t bản chủ nghĩa
Trang trại gia đình là loại trang trại phổ biến nhất ở các nớc Châu á cũng nh ởcác nớc Âu Mĩ Còn trang trại t bản t nhân chiếm số lợng và tỉ USD trọng không lớntrong tổng số trang trại, vì sản xuất kinh doanh nông nghiệp trực tiếp, thành phần đầu
t vốn nhiều, dài hạn, thu hồi chậm, lợi nhuận thấp, không hấp dẫn đối với các nhà đầu
t t bản t nhân
Kinh tế trang trại ở các nớc Châu á phát triển ở tất cả các vùng kinh tế: đồi núi,
đồng bằng, ven biển, nhng ở mỗi nớc có bớc đi cỵthể riêng, tuỳ thuộc vào đặc điểm tựnhiên- kinh tế- xã hội ở Nhật Bản đồi núi và đồng bằng đan xen nhau, nên ltr pháttriển đồng thời ở các vùng trong cả nớc ậ Thái Lan, phát triển trang trại trồng lúa vàchăn nuôi lợn gà, xuất khẩu tập trung ở đồng bằng trung tâm, trang trại trồng sắn xuấtkhẩu vùng đồi núi và trang trại nuôi tôm xuất khẩu ở vùng ven biển Malaysia,Indonesia thì tập trung phát triển kinh tế trang trại ở vùng đồi núi trớc là vùng sản xuấtcao su, cọ dầu, hồ tiêu, ca cao, là những nông sản xuất khẩu có giá trị còn ở đồng bằngthì trồng lúa, kinh tế trang trại phát triển chậm phát triển hơn vì ở đây quỹ đất hạn chế,sản lợng hàng hoá ít
2 Bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế trang trại vùng Đồng bằng Sông Hồng
-Trớc hết cần xoá bỏ ngay quan niệm về kinh tế trang trại là phải sản xuất trênnhững diện tích đất đai rộng lớn nhất là khi mà ở vùng Đồng bằng Sông Hồng, điềukiện này không dễ đáp ứng Chúng ta nên nhận định trang trại từ tính chất sản xuấthàng hoá của nó
-Phải nhanh chóng nâng cao trình độ cơ giới hoá trong các trang trại để sản xuấtkhông bị lạc hậu
-Trong giai đoạn đầu, cơ cấu sản xuất của các trang trại còn hỗn tạp để tận dụngmọi năng lực sản xuất hiện có, nhng sau dần chuyển sang cơ cấu mang tính chuyêncanh và một loại nông, lâm, hải sản nhất định
-Mô hình trang trại gia đình đang và sẽ là loại hình trang trại phổ biến và thíchhợp Nó bao gồm trang trại gia đình tiểu chủ vừa sử dụng lao động gia đình vừa thuêthêm lao động thời vụ và thờng xuyên với số lợng khác nhau, đợc nhà nớc chủ trơngkhuyến khích Chính loại lao động tiểu chủ là lực lợng lao động có nhiều tiềm năngsản xuất nông sản hàng hóa hiện nay Mô hình này có nhiều u điểm nổi bật:
+ Có khả năng dung nạp những trình độ sản xuất nông nghiệp khác nhau
Trang 16+ Có khả năng dung nạp các quy mô sản xuất khác nhau
+ Có khả năng dung nạp các cấp độ công nghệ khác nhau
+ Có khả năng liên kết các loại hình kinh tế khác nhau: kinh tế gia đình, kinh tếcá thể, kinh tế hợp tác, kinh tế nhà nớc
Các chính sách phát triển kinh tế trang trại của nhà nớc sẽ phải tạo điều kiệnthuận lợi để các hộ gia đình nông dân có thể sản xuất theo mô hình này
-Xuất phát từ đặcđiểm tự nhiên, kinhtế xã hội của vùng, từ yêu cầu đặt ra củacông nghiệp hoá, chúng ta có thể vận dụng một cách sáng tạo những bài học của cácnớc bạn, phát triển trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm, sản xuất thóc gạo hàng hoá ởnhững nơi có điều kiện xuất khẩu, trang trại trồng cây con cần ít đất, trồng hoa, câycảnh, nuôi cá cảnh, trăn rắn, baba có thể đạt hiệu quả kinh tế cao
-Về vấn đề phân hoá thu nhập: có nhiều ý kiến cho răngf kinh tế trang trại là
“lối làm ăn của ngời giàu”, bởi những nông dân nghèo thì khó mà có đủ vốn để làmtrang trại, đồng thời cho rằng không nên khuyến khích loại hình trang trại t bản t nhânvì nó có thể dẫn đến sự t bản hoá sản xuất nông nghiệp Đúng là nhờ kinh tế trang trại,một bộ phận dân c đã có mức thu nhập cao hơn hẳn và cũng làm phân hoá giàu nghèo,nhng thực tế là nó không làm cho những ngời nghèo nghèo đi và cũng không làm tăng
số ngời nghèo, trái lại còn giải quyết việc làm cho một phần đáng kể lực lợng lao dộngnữa Hơn thế, nông nghiệp Việt Nam còn quá lạc hậu, thu nhập của ngời nông dânViệt Nam thấp so với thu nhập của nông dân các nớc trong khu vực và trên thế giới, vìthế để đuổi kịp họ về trình độ sản xuất, về mức sống dân c, về khả năng cạnh tranh củanông sản, thì kinh tế trang trại là sự lựa chọn số một, sự lựa chọn đúng đắn và hiệuquả
Chơng II: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại
Đồng bằng Sông Hồng thời gian qua
I Khái quát những thành tựu đạt đợc
1 Kinh tế trang trại phát triển nhanh, đa ngành và đạt hiệu quả kinh tế cao
Do trớc đây cha có sự thống nhất về tiêu chí xác định kinh tế trang trại nên các
địa phơng thống kê số lợng các trang trại theo hệ thống tiêu chí riêng, tính định lợngcòn thấp, nên số liệu thống kê trớc và nay chênh lệch nhau đáng kể Tuy nhiên, có thể
đánh giá sự phát triển của kinh tế trang trại bằng hiệu quả sản xuất kinh doanh củacác trang trại
Trang 17Tính đến năm 2001, Đồng bằng Sông Hồng đã có khoảng 1829 trang trại (theotiêu chí mới), trong đó các địa phơng có số lợng trang trại nhiều nhất là Hải Phòng,Nam Định, Ninh Bình; tổng diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp, mặt nớc nuôi trồngthuỷ sản là 19.201 ha, chiếm 1,52% diện tích của toàn vùng, và bằng 2,67%diện tích
đất nông nghiệp Bình quân mỗi trang trại khoảng 10,5 ha Số trang trại của vùng
Đồng bằng Sông Hồng chỉ chiếm 3% tổng số trang trại của cả nớc nhng hiệu quả lạicao hơn
Về cơ cấu sản xuất, phần lớn các trang trại mới ở mức độ kinh doanh tổng hợp,tức là kinh doanh nhiều loại cây, con cùng một lúc Các trang trại chăn nuôi phát triểnmạnh mẽ và là một thế mạnh của vùng (chiếm tới 82,7% trong cơ cấu sản xuất trangtrại năm 2000), trong đó chăn nuôi gia súc nhỏ và gia cầm chiếm u thế vì các loại nàykhông đòi hỏi đất nhiều, thậm chí bắt đầu xuất hiện hình thức các hộ nông dân chănnuôi gia công theo mô hình kinh tế trang trại Trang trại trại chăn nuôi đã hình thành ởtất cả các ngnàh sản xuất sản phẩm chăn nuôi hàng hoá: thịt lợn, thịt gia cầm, thịt trâubò một số mặt hàng đặc sản Trang trại chăn nuôi thờng có quymô vừa và nhỏ,chẳng hạn, với gà: 1000- 5000 con; lợn: 50- 100 con; 300- 500 con; các trang trại chănnuôi đặc sản, sử dụng từ 500- 1000 m2 nhng đầu t nhiều vốn và chất xám tạo thu nhậpcao Đây là một ngành chăn nuôi chú trọng đến thị trờng tiêu thụ sản phẩm và có rấtnhiều tiềm năng phát triển
Ngoài ra còn có các trang trại trồng cây công nghiệp ngắn ngày, trồng cây lơngthực, thực phẩm (ngô, lạc, mía ) cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến rauquả và các sản phẩm xuất khẩu khác
Biểu1: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2000 của trang trại
Đơn vị: triệu đồng
Tỉnh, thành phố Số
trang trại
Tổng thu
Giá trị hàng hoá và dịch
vụ bán ra
Tỉ suất giá trị hàng hóa(%)
Giá trị hàng hoá
và dvụ bình quân
1 trang trại
Thu nhập
Thu nhập bình quân 1 trang trại
Trang 182 Thu nhập của trang trại
Tổng thu nhập của trang trại là phần thu nhập sau khi lấy tổng thu trừ chi phí vậtchất, trừ tiền công thuê lao động và trừ các chi phí khác Nh vậy phần thu nhập củatrang trại bao hàm : tiền công của chủ trang trại (tiền công quản lý và tiền công lao
động trực tiếp), tiền công của các thành viên và tiền lãi ròng của các trang trại Đây làmột chỉ tiêu phù hợp, vừa phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh vừa là hiệu quả hoạt
động kinh doanh của trang trại
Xem biểu 1 có thể thẩyrằng thu nhập bình quân 1 trang trại của vùng Đồngbằng Sông Hồng là cao nhất cả nớc (46,9 triệu đồng/trang trại/năm, cao hơn mức trungbình chung 1,49 lần và bỏ xa những vùng khác (trừ duyên hải Nam Trung Bộ và ĐôngNam Bộ) từ 17-23 triệu/trang trại Tổng thu của 1.829 trang trại năm 2000 là 260.393triệu đồng, chiếm 4,85% tổng thu cả nớc từ kinh tế trang trại (Diện tích trang trại củavùng bằng 3,18% diện tích trang trại cả nớc), trong đó giá trị hàng hoá và dịch vụ bán
ra là 246.048 triệu đồng, đạt mức tỉ USD suất giá trị hàng hoá là 94,5%, cao hơn mứctrung bình của cả nớc Nhờ thu nhập trang trại tơng đối cao nên chi tiêu cho đời sốngvật chất và tinh thần của trang trại tơng đối cao so với nông dân trong vùng
3 Tạo việclàm cho ngời lao động
Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các trang trại vùng Đồng bằng SôngHồng chiếm 4,1% tổng số lao động trang trại của cả nớc, và bằng 0,03%lao động nôngnghiệp của vùng So với lợng lao động d thừa ở nông thôn, thì tỉ lệ này vẫn còn nhỏ
4 Đóng góp vào tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự gia tăng giá trị sản xuất hàng hoá của kinh tế trang trại trực tiếp tác động đến
sự gia tăng giá trị của cả ngành sản xuất nông nghiệp và do đó đóng góp vào tăng tr ởng của cả nền kinh tế nói chung Nhờ trang trại, giá trị sản xuất hàng hoá của ngànhnông nghiệp đợc cải thiện rõ rệt Năm 2000, GDP của ngành tính theo giá so sánh năm
Trang 19-1994 là 63717 tỉ đồng(2), thì trong đó phần đóng góp của kinh tế trang trại là 710,4%,của vùng Đồng bằng Sông Hồng là 0,4%.
Trong bối cảnh nông nghiệp nớc ta đang tích cực chuyển đổi cơ cấu vật nuôi câytrồng cho phù hợp với những nhu cầu của thị trờng và cải thiện cuộc sống dân c, thìcác sản phẩm của trang trại cũng là một nhân tố tích cực, tuy sự đóng góp cha nhiềulắm Nhng có thể nói rằng, nhờ tính chất sản xuất hàng hoá, các trang trại đã tự chọnlọc hớng đi thích hợp, không kể những trang trại tiến hành sản xuất kinh doanh theo
đúng quy hoạch của nhà nớc có gắn liền với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu, mà nôngnghiệp vung Đồng bằng Sông Hồng đã dần dần có những sự chuyển biến tích cực: tỉ lệtrồng trọt giảm xuống, chăn nuôi tăng dần, năng suất ngày càng cao Các loại giống cóchất lợng cao ngày càng đợc đa vào sản xuất đại trà (lúa, ngô, lợn nạc, cây côngnghiệp, rau xanh ) Tuy nhiên để có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa thì bản thânhoạt động sản xuất tựphát của các chủ trang trại không làm đợc, mà cần có quy hoạchlâu dài trên diện rộng, chủ trơng và các phơng án khả thi của nhà nớc
Có thể nói, kinh tế trang trại là bớc phát triển mới của kinh tế hộ gắn với mụctiêu sản xuất hàng hoá quy mô lớn, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấukinh tế nông nghiệp theo hớng tăng nhanh tỉ trọng hàng hoá tạo ra các vùng sản xuấttập trung, làm tiền đề cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, đa công nghiệp và cácngành nghề dịch vụ vào nông thôn, tăng độ phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môitrờng sinh thái
II Đánh giá tình hình sử dụng các yếu tố nguồn lực
1 Đất đai
Bởi đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu của trang trại nên kinh tế trang trại trớc hết
đợc phát triển ở các vùng trung du, miền núi, ven biển, những nơi mà quỹ đất có khảnăng khai phá còn lớn để phát triển kinh tế nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá lớn Vùng
Đồng bằng Sông Hồnglà vùng hạn chế về đất sản xuất nông nghiệp do nhu cầu pháttriển công nghiệp ngày càng tăng mạnh Hiện nay, vùng mới sử dụng khoảng gần 90%quỹ đất, phần còn lại vì nhiều lý do mà cha đợc đa vào sử dụng
Qua biểu 2 có thể thấy, phần lớn diện tích đất làm kinh tế trang trại của vùng làmặt nớc nuôi trồng thuỷ sản (52,3%), trong đó Hải Phòng 39,4%, Nam Định 22,8%;các tỉnh có quỹ đất lớn để phát triển kinh tế trang trại là Hải Phòng (4980ha), NinhBình (3198ha), Vĩnh Phúc (1897ha), Nam Định (2449ha), Hải Dơng (2125ha)
Tuy vậy vẫn còn một diện tích đáng kể đất cha đợc giao, cha sử dụng Cho đếnnăm 2000, cả nớc vẫn còn khoảng 30% sốhộ làm kinh tế trang trại cha đợc giao đất.Diện tích đất cha sử dụng còn lớn (12%), trong đó có cả phần đất dành cho các hoạt
động phi nông nghiệp nh xây dựng nhà máy, cơ sở hạ tầng, nhà ở nhng dù sao trong
điều kiện thiếu đất nh hiện nay thì đó là một sự lãng phí đáng kể