1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Biện pháp rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học Trâm Vàng

20 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 266,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi hướng dẫn cho học sinh biết cách ngắt giọng theo một số quy tắc sau: - Ngắt giọng theo ngữ pháp: Trong mỗi bài Tập đọc cụ thể tôi chú cho học sinh tập phát hiện đến chỗ cần ngắt, ngh[r]

Trang 1

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Tên đề tài: “Biện pháp rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc

cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng”.

Họ và tên tác giả: Trần Thị Thanh Thúy

Đơn vị: Trường Tiểu học Trâm Vàng - Thanh Phước - Gò Dầu - Tây Ninh

1/ Lí do chọn đề tài:

- Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học

- Học sinh còn đọc sai từ, đọc chưa trôi chảy, chưa đúng, chưa hay, ngắt nghỉ tùy tiện,

- Đa số các em chưa đọc diễn cảm được bài văn, chưa hiểu nghĩa từ, vốn từ chưa phong phú

- Rèn cho học sinh kỹ năng đọc diễn cảm tốt, hiểu được nội dung tác phẩm nhằm giúp các em nhận thức được cái hay, cái đẹp trong Tiếng Việt

- Giúp học sinh học tốt và hứng thú trong học tập nhằm đạt được mục tiêu của môn học đề ra

2/ Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

- Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng

- Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài

- Khảo sát chất lượng học sinh lớp 4C

3/ Đề tài đưa ra giải pháp mới:

- Giáo viên tổ chức giờ dạy trên lớp bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm làm cho tiết học thêm sinh động để thu hút học sinh hơn

- Hướng dẫn học sinh thực hiện thành thạo các thao tác nghe, nói đọc viết trong Tiếng Việt

- Để tạo niềm say mê trong học tập, giáo viên rèn cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước qua các tác phẩm văn học

- Sử dụng các phương pháp nhẹ nhàng, thoải mái, linh hoạt nhằm giúp học sinh tiếp thu bài một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao hơn

4/ Hiệu quả áp dụng:

Áp dụng có hiệu quả trong việc giảng dạy môn Tập đọc ở Lớp 4C

5/ Phạm vi áp dụng:

Học sinh Lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng

Người thực hiện

Trần Thị Thanh Thúy

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Tiếng Việt là một trong những môn học ở bậc Tiểu học góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Môn Tiếng Việt còn giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp của cuộc sống xung quanh, bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính trong sáng như: Tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước, yêu con người…Muốn học sinh học tốt môn Tiếng Việt để sau này các em biết sử dụng Tiếng Việt thành thạo và có khả năng giao tiếp tốt hơn thì học sinh phải học tốt phân môn Tập đọc

Trong phân môn Tập đọc, đọc là khâu quan trọng nhất Đọc là hoạt động ngôn ngữ làm cho con người mở rộng khả năng tiếp nhận thông tin và thông báo thông tin Do đó đọc là một trong những kĩ năng chính của học sinh Tiểu học

Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy kĩ năng đọc của các em chưa đáp ứng yêu cầu

mà giáo viên mong muốn Các em còn đọc chậm, đọc nhỏ, ngắt nghỉ hơi tùy tiện, chưa biết đọc diễn cảm nên các em chưa cảm nhận được tâm tư, tình cảm của tác giả muốn gửi gắm trong từng tác phẩm Chính vì những vấn đề trên tôi nhận thấy việc rèn cho các em

có kĩ năng đọc là rất cần thiết và quan trọng Vậy làm thế nào để giúp các em đọc tốt, cảm thụ tốt các tác phẩm? Chúng ta cần thực hiện quy trình giảng dạy bài Tập đọc ở Lớp

4 như thế nào để giúp các em đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm được tác phẩm Đồng thời đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nhằm kích thích hứng thú học

tập cho học sinh? Chính vì vậy, tôi chọn giải pháp “Rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng”.

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Nội dung và phương pháp dạy phân môn Tập đọc lớp 4

- Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi học sinh Lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng, huyện Gò Dầu năm học 2013 – 2014

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để hoàn thành đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

a/ Phương pháp đọc tài liệu:

Phương pháp này giúp tôi thu thập những thông tin có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu làm cơ sở lí luận để thực hiện đề tài

b/ Phương pháp quan sát:

Quan sát cách học của học sinh và thường xuyên dự giờ hữu nghị các tiết Tập đọc của giáo viên trong đơn vị để rút kinh nghiệm

Trang 3

c/ Phương pháp đàm thoại:

Tôi luôn trao đổi với bạn bè đồng nghiệp để học hỏi cách giảng dạy, thường xuyên trò chuyện với học sinh để thấy được những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy và học

d/ Phương pháp thực hành:

Học sinh cần được thực hành nhiều thì mới rèn kĩ năng đạt hiệu quả cao

e/ Phương pháp phân tích tổng hợp:

So sánh, đối chiếu đánh giá thực trạng và thực tế áp dụng

f/ Giả thiết khoa học:

Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập đọc nói riêng đều mang nhiệm vụ chung là hình thành và phát triển ngôn ngữ cho học sinh, rèn kĩ năng giao tiếp, làm giàu vốn từ, trau dồi về ngữ pháp Tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét, so sánh, đối chiếu, liên tưởng, ghi nhớ, )

Vì thế, nếu chúng ta tìm được biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc, học tốt môn Tiếng Việt là chúng ta đã góp phần thực hiện được một trong những mục tiêu giáo dục của bậc Tiểu học, giúp các em tự tin hơn khi giao tiếp, đồng thời học tốt các môn học khác trong chương trình

Trang 4

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN:

Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là:

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học môn Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy của học sinh

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết

sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa của Việt Nam và nước ngoài

- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Phân môn Tập đọc lớp 4 giúp học sinh củng cố và phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở lớp dưới Đồng thời tăng cường tốc độ đọc, khả năng đọc lướt

để chọn thông tin nhanh và bồi dưỡng thêm khả năng đọc diễn cảm cho học sinh Phân môn Tập đọc còn xây dựng cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở thư viện, sử dụng sách công cụ (từ điển, sổ tay từ ngữ ngữ pháp) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc Chức năng của phân môn Tập đọc là luyện đọc: rèn cho học sinh đọc đúng, đọc trôi chảy, tiến tới đọc diễn cảm để học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm văn học Đồng thời giúp học sinh nhận ra được những tin hoa văn hóa của dân tộc trong mỗi bài tập đọc Mỗi một bài tập đọc là một văn bản, là một bức tranh thu nhỏ về hiện thực cảnh đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người, xã hội…là một lời dạy sâu sắc đối với học sinh

II CƠ SỞ THỰC TIỂN:

1/ Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:

Lớp 4C của Trường Tiểu học Trâm Vàng với tổng số học sinh là 32/22 em nữ có những thuận lợi và khó khăn như sau:

1.1 Thuận lợi:

- Được sự quan tâm hỗ trợ của Ban giám hiệu nhà trường và sự giúp đỡ nhiệt tình của Tổ chuyên môn

- Giáo viên được trang bị đầy đủ kiến thức về đổi mới phương pháp dạy học, được cung cấp đủ tài liệu, sách giáo khoa phục vụ tốt việc giảng dạy

- Học sinh đi học đều có động cơ học tập đúng đắn

1.2 Hạn chế về phía học sinh:

- Học sinh còn đọc chưa trôi chảy, chưa đúng, chưa hay, ngắt nhịp còn tùy tiện

- Đa số các em chưa biết cách đọc diễn cảm, chưa hiểu nghĩa từ, vốn từ chưa phong phú

- Trình độ học sinh chưa đồng đều

Trang 5

- Các em còn phát âm sai các phụ âm đầu d/v/gi, s/x,…chưa phân biệt thanh hỏi/ thanh ngã

1.3 Hạn chế về phía giáo viên:

- Việc rèn đọc cho học sinh trong giờ Tập đọc còn ít, do đó giáo viên không có thời gian rèn đọc cho học sinh nhiều khi các em phát âm sai, ngắt nghỉ chưa đúng

- Việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh còn mang tính hình thức, giáo viên còn chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu nội dung bài

- Số lượng học sinh đọc bài còn ít

2/ Sự cần thiết của đề tài:

Nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong phân môn Tập đọc Rèn cho học sinh từ chỗ đọc đúng, đọc hay, biết ngắt nghỉ, biết đọc diễn cảm, hiểu được nội dung tác phẩm giáo viên cần khắc phục những hạn chế trên để giúp học sinh phát triển khả năng đọc của mình

III NỘI DUNG VẤN ĐỀ:

1 Vấn đề đặt ra:

Trong quá trình giảng dạy từ đầu năm tôi nhận thấy việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học phân môn Tập đọc là tạo điều kiện để giáo viên đạt được mục tiêu dạy học của mình và thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học trong đó giáo viên đóng vai trò người tổ chức hoạt động

1.1 Khảo sát chất lượng đọc của học sinh ở các tiết Tập đọc đầu năm học:

TSHS

1.2 Nguyên nhân:

a/ Về phía học sinh:

Học sinh yếu thì lười học, không chú ý trong giờ học, không nghe bạn và giáo viên đọc để sửa chữa cho bạn điều chỉnh cho mình

Các em chưa chuẩn bị bài kĩ ở nhà, không luyện đọc trước ở nhà

Những học sinh đọc đúng thì chưa rèn đọc diễn cảm

b/ Về phía giáo viên:

Trong giờ Tập đọc giáo viên chưa chú ý nhiều đến học sinh đọc sai

Nặng nề về nội dung bài đọc

Giáo viên thường gọi các em đọc đúng, đọc hay vì vậy các em đọc tốt sẽ càng tốt hơn

Trang 6

Khi rèn đọc diễn cảm cho học sinh giáo viên chưa quan tâm nhiều chỉ gọi 2 – 3 em đọc cho cả lớp nghe Ít cho học sinh nhận xét cách đọc của bạn, học sinh còn nhận xét chung chung là bạn đọc hay hoặc chưa hay mà giáo viên chưa nhấn mạnh và chỉnh sửa cụ thể hay ở chỗ nào? chưa hay ở chỗ nào ?

2 Giải pháp thực hiện:

3.1 Để tiết Tập đọc đạt kết quả, đạt mục tiêu cần đạt giáo viên và học sinh cần chuẩn bị một số công việc sau:

* Đối với giáo viên:

- Tham khảo kĩ nội dung sách hướng dẫn giảng dạy để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với học sinh lớp mình

- Chuẩn bị đồ dùng dạy học phong phú gây hứng thú học tập cho học sinh

- Chú ý rèn đọc nhiều cho học sinh; quan tâm nhiều hơn đến học sinh đọc yếu; sửa dứt điểm, nhanh chóng, kịp thời việc phát âm sai, đọc không đúng tiếng hoặc ngắt nghỉ chưa đúng của học sinh

* Đối với học sinh:

- Học sinh cần chuẩn bị bài kĩ ở nhà, đọc bài trước nhiều lần

- Có thói quen đọc sách thường xuyên, rèn đọc đúng ở bất kì văn bản nào

3.2 Để thực hiện tốt mục đích yêu cầu của việc “Rèn kĩ năng đọc cho học sinh” trong giờ Tập đọc tôi chú ý các vấn đề sau:

3.2.1 Giải pháp 1: Rèn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh.

* Đọc đúng các âm dễ lẫn:

Đọc đúng là phát âm đúng hệ thống ngữ âm chuẩn Nói cách khác là phải đọc đúng chính âm (không đọc theo cách phát âm của địa phương, cách phát âm có sự sai lệch so với âm chuẩn) Phát âm đúng tiếng Việt là yêu cầu cần thiết Đọc đúng đòi hỏi thể hiện chính xác âm vị Để học sinh đọc đúng trong quá trình giảng dạy tôi đã cho các em phát hiện, so sánh, phân biệt để từ đó các em phát âm đúng hay đọc đúng các âm đầu trong các bài đọc và trong giao tiếp

+ Ví dụ 1: Khi dạy bài “Dế mèn bênh vực kẻ yếu” - Tiếng Việt lớp 4 ( phần I).

Là bài học đầu tiên của chương trình, tôi đã tiến hành hướng dẫn cho học sinh phát hiện, phân biệt để đọc đúng các phụ âm đầu hay đọc lẫn như sau: (Các tiếng có phụ âm đầu “d/ v/ gi”)

- Học sinh đọc bài một lượt - Toàn lớp đọc thầm

- Học sinh đưa ra các từ hay đọc lẫn ở trong bài đó là:

“Đi vài bước nữa, tôi gặp chị Nhà Trò ngồi gục đầu… ”

- Gọi một học sinh đọc các từ đó

- Cho học sinh khác nhận xét xem bạn đọc đúng, sai

- Nếu học sinh đọc vẫn sai - Giáo viên đọc mẫu - Học sinh đọc lại

Trang 7

Mặt khác cho học sinh có thể so sánh phân biệt để đọc cho đúng.

“Vài” ở đây là chỉ số lượng, khác “dài” chỉ khoảng cách

Hoặc trong bài Mẹ Ốm – Trần Đăng Khoa:

“Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi.”

- Học sinh thường phát âm sai “ gió” thành “dó”; “giường” thành “dường”

Như vậy chúng ta cần chỉ rõ cho học sinh khi nào phát âm là “d”, khi nào phát âm

là “v” hoặc “gi” trên cơ sở học sinh hiểu nghĩa của từ

+ Ví dụ 2: Khi dạy bài “Người ăn xin” - Tiếng Việt lớp 4 - phần 1

- Tôi tiến hành hướng dẫn học sinh đọc đúng phụ âm đầu (d/ v/ gi) như sau:

- Gọi học sinh lần lượt đọc bài

- Học sinh khác chú ý lắng nghe bạn đọc, phát hiện những tiếng bạn đọc chưa đúng

phụ âm đầu

- Giáo viên ghi lên bảng chẳng hạn (già, giàn giụa, giọng, vẫn )

- Gọi những học sinh đọc chưa đúng đọc lại - Học sinh khác nhận xét bạn đọc

được chưa không được đọc là “dà”; “dàn dụa”, “dọng”, “dẩn”

Đối với phụ âm s/x tôi cho học sinh phát âm như sau: y sĩ, ngủ say, sừng sững, xả

thân, sững sờ, xưởng sửa chữa, sao sớm, sâu xa…

+ Ví dụ 3: Khi dạy bài “Tre Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy - Tiếng Việt lớp 4

Tôi thường lắng nghe và quan sát kĩ cách phát âm của học sinh để nhắc nhở và uốn nắn

kịp thời khi các em phát âm sai một số từ như: tre xanh, bao giờ, sao, sỏi, siêng, sương,…

* Đọc đúng các vần:

Không những yêu cầu học sinh đọc đúng phụ âm đầu như trên mà cần rèn cho các

em đọc đúng cả những vần khó, tiếng khó, vần có nguyên âm đôi mà các em hay phát âm

sai, tôi đã hướng dẫn cụ thể như sau:

- Cho các em đọc bài giáo viên cùng học sinh theo dõi, nếu học sinh đọc sai ghi lên

bảng và sửa cho học sinh

Ví dụ 1: Đối với các tiếng kết thúc bằng n/ ng: “quãng” vần “ang” không đọc là

“quãn” vần “an”; “chán ngán” không đọc là “cháng ngáng”; “thịnh vượng” không đọc

“thịnh vượn”;…

Ví dụ 2: Đối với các tiếng kết thúc bằng t/ c: lũ lụt, gặm nát, nắm chặt, vàng bạc,

nặc nô,…

Ví dụ 3: Đối với các nguyên âm đôi: “thí nghiệm” không đọc “thí nghịm”; “uống

rượu” vần “ươu” không đọc là “uống riệu” vần “iêu” hoặc cho học sinh phát hiện các

tiếng có vần khó như “tuyết, khuyết, khúc khuỷu, đêm khuya, ngoằn ngoèo, ngọ

nguậy, ”

- Gọi học sinh đọc lại những từ, tiếng có vần khó

Trang 8

- Giáo viên uốn nắn sửa luôn cho học sinh.

Bên cạnh hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần như trên tôi còn luyện đọc đúng dấu thanh

* Đọc đúng dấu thanh.

Học sinh tiểu học vẫn còn có em chưa phát âm đúng, đọc đúng dấu thanh do nhiều yếu tố mang lại Trong đó có yếu tố do đặc điểm khu vực vùng miền mà các em sinh sống Các em còn phát âm sai ở dấu thanh như thanh ngã (~) phát âm thành thanh hỏi (’) hoặc thanh sắc (') như tiếng “mãi” thành “mải” hoặc “mái” là sai nghĩa của câu

Chính vì thế chúng ta cần rèn cho các em đọc đúng dấu thanh trong các bài tập đọc như:

+ Ví dụ: Khi dạy bài “Chú Đất Nung” - Nguyễn Kiên (Tiếng Việt lớp 4 – tập 1)

- Giáo viên đưa ra các tiếng mà có dấu thanh hay lẫn

- Giáo viên gọi một số học sinh đọc

- Học sinh khác nhận xét bạn đọc đúng dấu thanh chưa

- Nếu vẫn còn học sinh đọc chưa đúng

- Giáo viên đọc mẫu và phân tích cho học sinh

Chẳng hạn như:

“Kị sĩ” thanh ngã không đọc là “kị sỉ” thanh hỏi hoặc “kị sí” thanh sắc

“Cưỡi ngựa tía” thanh ngã không đọc là “Cưởi ngựa tía” thanh hỏi hoặc “Cưới ngựa tía” thanh sắc

Hoặc từ “Dũng cảm” thanh ngã không đọc là “Dủng cảm” thanh hỏi hoặc “Dúng cảm” thanh sắc

Việc rèn cho học sinh phát âm đúng giáo viên cần lưu ý sửa sai triệt để ở lớp và bất

kì tiết học nào Đồng thời nhắc nhở học sinh đọc đúng tốc độ, cường độ và giọng đọc cũng rất cần thiết

3.2.2 Giải pháp 2: Rèn đọc đúng tốc đọc, cường độ và giọng đọc

Khi học sinh đã phát âm đúng, chuẩn nhưng còn đọc chậm tôi luyện đọc cho học sinh đọc nhanh, đọc rõ ràng, đọc trôi chảy bằng cách cho học sinh lắng nghe giáo viên đọc mẫu, bạn đọc Giáo viên phải điều chỉnh tốc độ học của các em nếu các em đọc nhanh cần nhắc đọc vừa tốc độ (không phải đọc nhanh là hay, là đúng) nếu học sinh đọc chậm chúng ta cần động viên các em cố gắng đọc nhanh hơn, đọc đúng tốc độ

Tùy thuộc vào nội dung và nghệ thuật của từng bài tập đọc mà tôi hướng dẫn học sinh có cách thể hiện giọng đọc sao cho phù hợp Có bài đọc với giọng vui tươi trong sáng, có bài đọc với giọng âu yếm dịu dàng đầy tình thương, có bài đọc với giọng nhẹ nhàng suy tư, có bài đọc với giọng hóm hỉnh, có bài đọc với giọng châm biếm, có bài đọc với giọng tha thiết tự hào

Hướng dẫn học sinh chuyển sắc thái giọng đọc qua các bài tập đọc là thể loại truyện: học sinh biết phân biệt lời của người dẫn chuyện với lời của nhân vật

Trang 9

Ví dụ 1: Bài “Những hạt thóc giống” – Truyện dân gian Khmer (Tiếng Việt 4, tập 1) cần đọc chậm rãi, lời cậu bé Chôm lo lắng, lời nhà vua thì dõng dạc Bài “Nỗi vằn dặt của An – đrây – ca” của tác giả Xu-khôm-lin-xki cần đọc chậm với giọng trầm, buồn; còn đối với bài “Chị em tôi” – Liên Hương cần đọc với giọng nhẹ nhàng, hóm

hỉnh,…

Ví dụ 2: Bài Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – Tô Hoài (Tiếng Việt 4, tập 1) Tôi nhắc

nhở học sinh đọc toàn bài với giọng chậm rãi, chuyển giọng linh hoạt phù hợp với diễn biến của câu chuyện, với lời lẽ và tính cách của từng nhân vật (lời Nhà Trò – giọng kể lể đáng thương; lời Dế Mèn an ủi động viên Nhà Trò – giọng mạnh mẽ, dứt khoát, thể hiện

sự bất bình, thái độ kiên quyết)

Ví dụ 3: Bài Chú Đất Nung – Tô Hoài (Tiếng Việt 4, tập 1) cần đọc toàn bài với

giọng hồn nhiên; đọc phân biệt lời người kể với lời nhân vật: chàng kị sĩ (kênh kiệu), ông Hòn Rấm (vui, ôn tồn), chú bé Đất (chuyển từ ngạc nhiên sang mạnh dạn, táo bạo, đáng

yêu – thể hiện rõ ở câu cuối: Nào, nung thì nung ! )

Khi rèn cường độ đọc cần rèn cho học sinh đọc vừa phải (không quá to hay quá nhỏ) từ đó xác định cường độ đọc và giọng đọc cho từng câu, từng bài cụ thể

Ví dụ: Bài Trong quán ăn “Ba cá bống” của tác giả A-lếch- xây Tôn-xtôi Giáo

viên hướng dẫn học sinh đọc cả bài với giọng rõ ràng, nhanh, bất ngờ, hấp dẫn; đọc phân biệt lời người dẫn chuyện với lời của nhân vật (Lời người dẫn chuyện: chậm rãi – phần đầu truyện, nhanh hơn, bất ngờ, li kì – phần sau; lời Bu-ra-ti-nô: thét, dọa nạt; lời lão Ba-ra-ba: lúc đầu hùng hổ, sau ấp úng, khiếp đảm - Ở…sau bức tra…anh trong nhà bác

Các-lô ạ; lời cáo A-li-xa: chậm rãi, ranh mãnh.)

3.2.3 Giải pháp 3: Rèn học sinh cách ngắt giọng

Hướng dẫn học sinh biết ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ cũng là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên cách đọc diễn cảm Tôi hướng dẫn cho học sinh biết cách ngắt giọng theo một số quy tắc sau:

- Ngắt giọng theo ngữ pháp:

Trong mỗi bài Tập đọc cụ thể tôi chú cho học sinh tập phát hiện đến chỗ cần ngắt, nghỉ hơi cho phù hợp với quy tắc ngữ pháp bằng cách dùng bút chì gạch một gạch (/) đối với chỗ cần ngắt hơi, gạch hai gạch (//) đối với chỗ nghỉ hơi dựa trên những vốn kiến thức đã học từ phân môn Luyện từ và câu về cách ngắt, nghỉ giọng khi gặp dấu câu, giữa trạng ngữ và thành phần chính của câu, giữa chủ ngữ và vị ngữ,…

Ví dụ: Cho học sinh thảo luận tự phát hiện những chỗ cần ngắt giọng theo đúng quy tắc ngữ pháp trong đoạn văn sau:

Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn// để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời/ và bao giờ cũng hy vọng khi tha thiết cầu xin//: “Bay đi diều ơi!// Bay

đi!//” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi/ mang theo nỗi khát khao của tôi.// ( Cánh diều tuổi thơ – Tạ Duy Anh).

Trang 10

- Ngắt nghỉ theo cụm từ và cách giữ hơi ở những câu văn dài: Đây là việc làm khó

nên tôi thường hướng dẫn học sinh bằng cách tôi đọc mẫu để cho học sinh phát hiện ra chỗ ngắt, nghỉ hơi

Ví dụ: Nhưng ai nấy đều nói là đòi hỏi của công chúa không thể thực hiện được/

vì mặt trăng ở rất xa/ và to gấp hàng nghìn lần đất nước của nhà vua.// (Rất nhiều mặt trăng – Ma Văn Kháng)

- Ngắt theo nhịp thơ: Nhịp vần tạo nên nhạc điệu và là đặc trưng của thơ ca Muốn

vậy ngay từ bước đầu giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách nhận biết thể thơ tìm ra nhịp thơ phổ biến từ đó có cách ngắt giọng phù hợp

Ví dụ: Thơ lục bát thì nhịp thơ phổ biến là 2/4 và 4/4 Vì vậy khi đọc bài Mẹ Ốm – Trần Đăng Khoa học sinh phải biết phát hiện và ngắt đúng nhịp thơ ở mỗi dòng trong

khổ thơ sau:

Cánh màn/ khép lỏng cả ngày Ruộng vườn vắng mẹ/ cuốc cày sớm trưa.//

Nắng mưa/ từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ/ đến giờ chưa tan.//

Hoặc trong thể thơ thất ngôn thì nhịp phổ biến là 4/3

Chẳng hạn trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”của nhà thơ Huy Cận Từ việc

nắm vững nhịp của thể thơ là nhịp 4/3 mà học sinh có thể ngắt đúng từng dòng thơ như sau:

Mặt trời xuống biển/ như hòn lửa

Sóng đã cài then/ đêm sập cửa.//

Đoàn thuyền đánh cá/ lại ra khơi Câu hát căng buồm/ cùng gió khơi.//

Nhịp thơ có thể được ngắt rất linh hoạt tuỳ thuộc vào ý nghĩa ngữ pháp của mỗi dòng thơ, câu thơ, đặc biệt là trong thể thơ tự do học sinh khó có thể tìm ra nhịp thơ phổ biến vì vậy cần có sự hướng dẫn gợi mở của giáo viên Tôi đặc biệt lưu ý hướng dẫn học sinh cách lấy hơi và ngắt hơi khi đọc thơ sao cho có cách ngắt nhịp mà vẫn giữ ngữ điệu mượt mà tự nhiên Đoạn thơ tuy có nhiều câu thơ, dòng thơ nhưng ý thơ vẫn liền một mạch từ đầu đến cuối không bị gián đoạn Như vậy phải đọc sao cho nhịp thơ rõ mà ý thơ vẫn liền một mạch theo cảm xúc Lưu ý học sinh cách đọc thơ với giọng chậm rãi, thong thả, tự nhiên và có sức rung động từ bên trong

- Ngắt giọng biểu cảm : Thông qua hiểu nội dung, cảm thụ bài sâu sắc giáo viên

hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp biểu cảm tạo cho người nghe sự tập trung chú ý và góp phần tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao hơn cho văn bản

Ví dụ: Câu thơ “Mẹ/ là đất nước tháng ngày của con.//” (Mẹ Ốm -Trần Đăng Khoa).

Ngày đăng: 03/04/2021, 04:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w