Trên đây là ba bài khó được tôi đưa ra từ thực tế trong quá trình dạy học.Từ việc tìm hiểu và dạy học trực tiếp HS trong năm học qua, tôi đã nghiên cứu kĩ các bài về mở rộng vốn từ và tì[r]
Trang 1A: ĐẶT VẤN ĐỀ I.LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM :
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông , tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Bởi thế , dạy Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi con người Những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ,văn hoá giáo dục, thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học nói chung đã dẫn tới những yêu cầu đổi mới trong việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường.Chương trình môn Tiếng Việt trong các hệ thống chương trình môn học của chương trình mới được ra đời nhằm đáp ứng các yêu cầu nói trên Vậy chương trình môn Tiếng Việt tiểu học mới gồm các mục tiêu sau:
1 Mục tiêu môn Tiếng Việt
a/ Về kĩ năng
*Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( đọc, nghe, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
* Thông qua việc dạy học Tiếng Việt , góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản( phân tích, tổng hợp, khái quát , hệ thống ) và góp phần nâng cao phẩm chất tư duy, năng lực nhận thức
b/ Về kiến thức
*Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp
* Cung cấp cho học sinh các hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người,
về văn hoá, văn học Việt Nam và nước ngoài
c/ Về thái độ
*Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt
* Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Dạy Tiếng Việt trong đó có phân môn Luyện từ và câu thông qua hoạt động giao tiếp nhằm đạt được mục tiêu đề ra Vậy để đạt được mục tiêu đề ra phân môn Luyện từ và câu có các nhiệm vụ sau:
2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
a/ Làm giàu vốn từ cho HS và phát triển năng lực dùng từ đật câu của các em.
- Dạy nghĩa từ: Làm cho học sinh nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết , làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩavà sự chuyển nghĩa của từ Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ , phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết , làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau
- Hệ thống hoá vốn từ : Dạy cho học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ
Trang 2thống trong trí nhớ của mình để tích luỹ từ được nhanh chóng và tao ra tính thường trực của từ , tạo điều kiện cho các từ đi vài hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này được hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ htống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởngcùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo , tức là kĩ năng liên tưởng
để huy động vố từ
- Tích cực hoá vốn từ: Dạy cho học sinh sử dụng từ , phát triển kĩ năng sử dụng
từ trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ vào trong vốn từtích cực được học sinh dùng thường xuyên Tích cực hoá vốn từ tức là dạy học sinh biết dùng
từ ngữ trong hoạt động nói năng vủa mình
b/ Cung cấp một số kiến thức về từ và câu:
- Trên cơ sở vốn từ ngữ có được trước khi đến trường , từ những hiện tượng cụ thể của tiếng mẹ đẻ , phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số kiến thức về câu cơ bản , sơ giản , cần thiết và vừa sức với các em Luyện từ và câu trang bị cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ , câu , quy luật hành chức của chúng.Cụ thể đó là kiến thức về cấu tạo từ , nghĩa của từ , các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu , các kiểu câu , dấu câu , các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp
- Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh
3 Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Hiện nay ,dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học phân môn Luyện từ và câu nói riêng đã được đặc biệt quan tâm và đã đạt được kết quả khá khả quan Tuy nhiên việc dạy học về phân môn Luyện từ và câu , nhất là về “ Mở rộng vốn từ” vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như : có những giáo viên chưa chuyển tải hết kiến thức trong SGK đến cho học sinh , có giáo viên còn lúng túng khi giải nghĩa từ cho học sinh, do vậy việc truyền tụ kiến thức cho học sinh , phương pháp, hình thức tổ chức dạy học còn gặp nhiều khó khăn Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, vốn ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế ,nên khi gặp những dạng bài tập về đặt câu có chứa các thành ngữ , tục ngữ và những dạng bài tập về hiểu nghĩa các thành ngữ , tục ngữ các em rất lúng túng không giải quyết được
Xuất phát từ những lí do nêu trên nên tôi đã chọn “Kinh nghiệm dạy một
số bài khó về dạng bài mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4” làm đề tài nghiên cứu trong quá trình dạy học của mình Nếu khả thi thì đó là
hành trang quan trọng giúp bản thân tôi dạy tốt phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn tiếng Việt nói chung đồng thời góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học
Đây cũng là sáng kiến nhỏ trong dạy học , sáng kiến này nghiên cứu và hoàn thành trong thời gian : Từ tháng 9 năm 2012đến tháng 3 năm 2013 Với
Trang 3trình độ có hạn , nên không tránh khỏi thiếu sót nhưng tôi vẫn mạnh dạn đưa ra
để đồng nghiệp tham khảo , đồng thời rất mong được sự góp ý của cấp trên
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
1.Nắm được phân môn Luyện từ và câu lớp 4 và thực trạng của học sinh lớp 4 khi học các bài về mở rộng vồn từ trong phân môn Luyện từ và câu
2.Mở rộng vốn hiểu biết để phục vụ trong quá trình dạy học
3.Khảo sát thực trạng dạy học Luyện từ và câu lớp 4 ở lớp 4A ,Trường Tiểu học Nguyệt Ấn 1 để phát hiện những bất cập gây ra , những hạn chế cản trở đến quá trình dạy học Tiếng Việt nói chung và Luyện từ và câu lớp 4 nói riêng
4.Đề xuất kinh nghiệm dạy một số bài khó trong phân môn Luyện từ và câu lớp
4 góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt trong trường Tiểu học
5.Ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dạy học
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
- Đối tượng là học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nguyệt Ên I - Ngọc Lặc -
Thanh Hoá có học lực trung bình và trung bình (ngưỡng dưới)
- Những nguyên nhân và giải pháp đề cao chất lượng dạy học
- Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013
IV THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU :
1: Phân môn Luyện từ và câu Lớp 4
1.1 Chương trình và sách giáo khoa.
1.a1.Chương trình môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có các ưu điểm sau:
- Chương trình môn Tiếng Việt đã thực sự chú trọng cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho HS Đặc biệt là chương trình rất chú trọng việc hướng dẫn HS vào hoạt động giao tiếp Tạo điều kiện để HS phát triển các kĩ năng và vận dụng thực hành các kĩ năng vào cuộc sống
- Nội dung của các phân môn trong Tiếng Việt có sự gắn kết chặt chẽ với nhau trên quan điểm tích hợp vì thế có tác dụng hỗ trợ , bổ sung cho nhau
- Cách biên soạn chương trình giúp GV dễ tổ chức các hoạt động dạy học , tạo điều kiện cho HS tích cực tham gia học tập
1.a2: SGK là tài liệu dạy học chính thức trong nhà trường , mỗi bộ sách giáo
khoa của chương trình Tiểu học mới đã được dạy thử nghiệm , được điều chỉnh nhiều lần và có sự thẩm định kĩ càng của Hội đồng Quốc gia Thẩm định SGK để đảm bảo thể hiện nguyên lí giáo dục, nội dung chương trình và phương pháp dạy học mới Vậy chương trình và SGK lớp 4 được phân bố như sau : Đối với phân môn Luyện từ và câu gồm : 62 tiết (32 tiết học kì 1- 30 tiết học kì 2) bao gồm các nội dung sau :
+ Mở rộng vốn từ : 19 tiết
+ Tiếng , cấu tạo từ : 5 tiết
+ Từ loại : 9 tiết
+Câu : 26 tiết
Trang 4+Dấu câu : 3 tiết.
Riêng về phần mở rộng vốn từ : phần này mở rộng và hệ thống hóa từ ngữ theo chủ điểm của từng đơn vị học cụ thể là :
*ở học kì 1: ( 9 tiết) từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa theo các chủ điểm:
- Nhân hậu- Đoàn kết (Tuần 2,3)
- Trung thực – Tự trọng ( Tuần 5,6)
- Ý chí – Nghị lực ( Tuần 12,13)
- Đồ chơi – Trò chơi ( Tuần 15,16)
*ở học kì 2: ( 10 tiết) từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa theo các chủ điểm:
- Tài năng (Tuần 19)
- Sức khỏe ( Tuần 20)
- Cái đẹp ( Tuần 22,23)
- Dũng cảm( Tuần 25,26)
- Du lịch – Thám hiểm ( Tuần 29,30)
- Lạc quan – Yêu đời ( Tuần 33,34)
Thông qua các bài tập:
- Tìm hiểu từ ngữ theo chủ điểm
- Tìm hiểu , nắm nghĩa của từ ngữ
- Phân loại từ ngữ
- Tìm hiểu nghĩa của từ ngữ , tục ngữ , thành ngữ theo chủ điểm
- Luyện sử dụng từ ngữ
1.2 Thuận lợi:
- Các bài về mở rộng vốn từ được thực hiện ở tất cả các phân môn như tập đọc, Chính tả , Kể chuyện , Tập làm văn Nhiệm vụ của bài mở rộng vốn từ chỉ là giúp học sinh hỗ trợ lẫn nhau , huy động và sắp xếp lại vốn từ mà các em đã thu thập được từ các bài học trong SGK và từ đời sống
- Sách giáo khoa sắp xếp nội dung tương đối hợp lí , phù hợp với các chủ điểm
- Nội dung tương đối phù hợp với trình độ học sinh như: Để mở rộng vốn từ cho học sinh ,SGK yêu cầu học sinh tự tìm từ theo các nghĩa cho trước
VD: Bài1- Mở rộng vốn từ - Nhân hậu - Đoàn kết
SGK- Tiếng Việt 4- tập 1- trang 17
Bài1- Mở rộng vốn từ - Nhân hậu - Đoàn kết (tiết2)
SGK- Tiếng Việt 4- tập 1- trang 33
1.3 Khó khăn:
- Qua quá trình giảng dạy ở lớp 4 nhiều năm và là người trực tiếp dạy bồi dưỡng HS nhiều năm về Tiếng Việt , đặc biệt phân môn Luyện từ và câu , nhất
là dạng bài về mở rộng vốn từ tôi gặp một số khó khăn sau :
+Về học sinh:
- Vốn từ ngữ của học sinh còn nghèo nàn , không được giao lưu nhiều nên ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế , dẫn đến học sinh tìm ví dụ gặp nhiều khó khăn ,
Trang 5nên khi gặp những dạng bài tập về giải nghĩa từ , đặt câu có chứa các thành ngữ , tục ngữ và những dạng bài tập về hiểu nghĩa các thành ngữ, tục ngữ các em rất lúng túng không làm được hoặc làm nhưng không đạt yêu cầu
VD: *Nội dung bài tập 4- Mở rộng vốn từ- Nhân hậu- Đoàn kết
* Em hiểu nghĩa của các thành ngữ , tục ngữ dưới đây như thế nào?
a ) Môi hở răng lạnh
b)Máu chảy ruột mềm
c)Nhường cơm sẻ áo
d) Lá lành đùm lá rách
SGK- Tiếng Việt 4- tập 1- trang 34
* Nội dung bài tập 4 : Mở rộng vốn từ : MRVT: Ý chí- Nghị lực
Mỗi câu tục ngữ sau khuyên người ta điều gì?
a) Lửa thử vàng gian nan thử sức
b) Nước lã mà vã nên hồ
Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan
c) Có vất vả mới thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho
SGK- Tiếng Việt 4- tập 1- trang118
* Nội dung bài tập 5 : Mở rộng vốn từ : Dũng cảm
Đặt câu với một trong các thành ngữ vừa tìm được ở bài tập 4
SGK- Tiếng Việt 4- tập 2- trang 83
- Có một số bài tập đưa ra quá cao so với trình độ tư duy của các em , không gắn với thực tế , nội dung bài trìu tượng nhất là đối với học sinh nông thôn và miền núi
VD: * Nội dung bài tập 3 : Mở rộng vốn từ : Đồ chơi- Trò chơi
SGK- Tiếng Việt 4- tập 1- trang 157
* Nội dung bài :MRVT: Du lịch - Thám hiểm -SGK- Tiếng Việt 4- tập 2- trang 105,116,117
- Có một số từ được giải nghĩa bằng tập hợp các nét nghĩa là cách dạy đầy đủ nhất nhưng lại khó đối với học sinh tiểu học
VD: *“ Tự trọng là coi trọng và giữ gìn những phẩm giá của mình.”
Bài 3: MRVT: Trung thực- Tự trọng -SGK- Tiếng Việt 4- tập 1- trang 49
*“Nghị lực là sức mạnh tinh thần làm cho con người kiên quyết trong hành động không lùi bước trước mọi khó khăn.”
Bài2: MRVT: Ý chí- Nghị lực -SGK- Tiếng Việt 4- tập 1- trang 118
*“Thám hiểm là thăm dò , tìm hiểu những nơi xa lạ , khó khăn có thể gây nguy hiểm.”
Bài 2: MRVT: Du lịch - Thám hiểm -SGK- Tiếng Việt 4- tập 2- trang 105
+ Về Giáo viên:
Trang 6- Thời lượng dạy một bài về Mở rộng vốn từ ở Tiểu học quá ít mà yêu cầu lại quá cao như việc giải nghĩa từ bằng định nghĩa , giải nghĩa bằng cách phân tích
từ thành các tiếng( từ HánViệt), những dạng bài tập về đặt câu có chứa các thành ngữ , tục ngữ và những dạng bài tập về hiểu nghĩa các thành ngữ , tục ngữ các
em rất lúng túng không giải quyết được Đây là khó khăn lớn cho GV trong việc lựa chọn các phương pháp dạy học
- GV nhiều khi cũng còn lúng túng khi hiểu và phân biệt, giải nghĩa từ, các từ Hán Việt , do vậy việc truyền thụ kiến thức cho HS còn gặp nhiều khó khăn
2 Thực trang.
2.1 Đặc điểm tình hình chung
Trường Tiểu học Nguyệt Ấn I thuộc xã Nguyệt Ấn, nằm ở phía nam của huyện Ngọc Lặc Người dân trong xã chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt Do vậy , đời sống của nhân dân gặp nhiếu khó khăn thiếu thốn, số học sinh thuộc hộ nghèo của trường Tiểu học Nguyệt Ấn I chiếm tỉ lệ rất cao trong toàn xã (250 / 391 học sinh).Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đế việc hoàn thành mục tiêu giáo dục mà cấp học đã đề ra
2.2.Về giáo viên:
- Đội ngũ giáo viên nhìn chung có trình độ từ THSP trở lên ; (GV khối 4: gồm
4 đ/c),đã nắm được những kiến thức cơ bản, có nghiệp vụ sư phạm , tất cả các đ/c giáo viên đã đào tạo trên chuẩn ,chịu khó đổi mới phương pháp , yêu nghề mến trẻ Đây là điều kiện tốt để nâng cao chất lượng dạy học
- Công tác chuẩn bị và dạy học trên lớp:
+ Tất cả GV lên lớp đếu có bài soạn , thiết kế được các hoạt động dạy học của thầy và trò
+ Tuy nhiên một số GV còn lệ thuộc vào SGV, sách thiết kế , bài soạn ít sáng tạo; chưa chú ý đến việc thiết kế xây dựng hệ thống bài tập cho phù hợp với trình
độ từng đối tượng HS ; Đồ dùng dạy học nhất là băng giấy , bảng phụ chưa được sử dụng thường xuyên ;chưa dự kiến được các tình huống sư phạm nảy sinh trong quá trình dạy học
2.3 Về học sinh:
- Trường Tiểu học Nguyệt Ấn I gồm học sinh ở các làng : Lương Bình , Minh Thạch , Đồng Thuận , Làng Rềnh , Làng Mới , Làng Bảng Lãng , Đồng Trại, Làng Xăm , Làng Yêu , Làng Mót , Liên Cơ I , II ,III Đội 4
- Năm học 2012- 2013 Trường Tiểu học Nguyệt Ấn I gồm 19 lớp: Tổng số học sinh toàn trường là: 391em
Khối 1: 4 lớp : 76 em
Khối 2: 4 lớp : 83em
Khối 3: 4 lớp : 73em
Khối 4: 3 lớp : 72 em
Khối 5: 4 lớp : 87 em
Trang 7Riêng khối lớp 4 có 72 học sinh.
Chủ yếu học sinh khối lớp 4 là học sinh thuộc con em dân tộc Mường ; học sinh hộ nghèo 56 em chiếm 77.7 %.Điều kiện kinh tế gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn trong học tập.Chất lượng học sinh còn thấp.Tiếng mẹ đẻ cũng có phần hạn chế trong việc học Tiếng Việt của các em : Vốn ngôn ngữ của các em không phong phú , khả năng giao tiếp hạn chế Đây là vấn đề cực kì khó khăn cho giáo viên khi thực hiện mục tiêu dạy học
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi thấy khi học sinh gặp các dạng bài về những dạng bài tập về đặt câu có chứa các thành ngữ , tục ngữ và những dạng bài tập về hiểu nghĩa các thành ngữ , tục ngữ các em chưa hiểu và kết quả đạt được tương đối thấp , chưa theo mong muốn , chính vì thế mà tôi luôn băn khoăn trăn trở , suy nghĩ , tìm cách tham khảo , đọc tài liệu ,hỏi ý kiến đồng nghiệp thì tất cả đồng nghiệp đếu trả lời là khi gặp các dạng bài tập về những dạng bài tập vềgiải nghĩa từ , đặt câu có chứa các thành ngữ , tục ngữ và những dạng bài tập
về hiểu nghĩa các thành ngữ, tục ngữ học sinh chỉ đạt khoảng 68- 75% Điều đó chứng tỏ việc dạy học các bài về mở rộng vốn từ của phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng việt chưa đạt mục tiêu của chương trình
Khi trực tiếp giảng dạy trên lớp và dạy bài : “ Mở rộng vốn từ :Nhân hậu -Đoàn kết ” tôi đã tham khảo tài liệu và Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 , Sách thiết
kế bài dạy Tiếng Việt 4 Tôi tự thiết kế hai tiết dạy đó theo cách dạy truyền thống thường áp dụng và tiến hành hướng dẫn học sinh thông qua tiết dạy để xem xét kết quả giờ dạy của mình đạt ở mức độ nào?
Theo cách dạy truyền thống thì kết quả thu được ở bài tập 4(SGK- trang 34- TV4- tập 1) như sau:
Hiểu đúng thành ngữ Chưa hiểu đúng thành ngữ
Số HS làm bài
Kết quả đạt được như trên là chưa cao Tôi chưa thực sự tin vào kết quả
đó Tôi tiến hành chọn riêng 16 em có học lực trung bình để tiến hành kiểm tra khảo sát lần 2
Thời gian làm bài : 20 phút
Đề bài
Em hiểu nghĩa của các câu thành ngữ sau như thế nào?
a) Lửa thử vàng gian nan thử sức
b) Có chí thì nên
Sau khi học sinh làm bài kết quả thu đượcở bài tập 1 như sau:
Số HS
làm bài
3 Nguyên nhân - Kết quả của thực trạng :
Trang 8Nguyên nhân dẫn đến kết quả trên là :
* Tỉ lệ là con em nông dân chiếm trên 95 % trong đó hơn 80% là hộ nghèo, không có điều kiện quan tâm chăm sóc đến việc học tập của con em
* Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh: Hiếu động , thiếu tính kiên trì trọng học tập
*Trình độ ngôn ngữ khả năng nhân thức của HS : học sinh lười suy nghĩ , còn thiếu hụt về kiến thức như : chưa giải nghĩa được từ ( nhất là từ Hán Việt), chưa hiểu nghĩa của các thành ngữ ; tục ngữ , đặt câu chứa các thành ngữ , tục ngữ còn lúng túng
Về phía gia đình : chưa có điều kiện quan tâm đến con cái coi việc học của học
sinh là nhiệm vụ , trách nhiệm của nhà trường
Về phía giáo viên :
- GV nhiều khi cũng còn lúng túng khi hiểu và giải nghĩa từ ,do vậy việc truyền thụ kiến thức cho HS còn gặp nhiều khó khăn
- GV chỉ truyền đạt giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong SGK và SGV ,
thường để học sinh học tập một cách thụ động , Giáo viên chưa tập trung thời gian và trí tuệ vào việc soạn bài và đồ dùng dạy học , chưa linh động sáng tao , cải tiến nội dung và phương pháp dạy học để phù hợp với đối tượng học sinh, các hoạt động dạy học chưa phù hợp , đơn điệu nghèo nàn vì thế kết quả dạy học chưa cao
- Với những nguyên nhân và kết quả khảo sát như trên ,Tôi nhận thấy rằng hoàn cảnh , điều kiện cũng như đặc điểm ngôn ngữ của học sinh đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học.Bên cạnh đó , chương trình SGK lại dùng chung cho cả nước nên không tránh khỏi những bài tập còn khó so vói trình độ chung của học sinh ở địa phương , đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy học phải có biện pháp ,cách tháo gỡ giúp học sinh đạt được mục tiêu của chương trình
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I/ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
1 Cơ sở ban đầu:
Để làm được việc này giáo viên không nên chỉ truyền đạt , giảng giải theo các tài liệu có sẵn trong SGK , SGV ,sách thiết kế bài học.Không làm việc máy móc và ít quan tâm đến khả năng sáng tạo của học sinh Không nên để học sinh học tập một cách thụ động chủ yếu là nghe giảng , ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu
Vì thế ít học sinh hứng thú học tập Năng lực và vốn có của cá nhân học sinh , giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh có cơ hội phát triển
Tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu những khó khăn và tìm cách tháo gỡ từng bài trong từng tiết dạy nhất là thời gian ở phần luyện tập để học sinh hiểu được, nắm và giải nghĩa từ , hiểu các thành ngữ , tục ngữ một cách dễ ràng
* Như vậy khi dạy dạng bài về “Mở rộng vốn từ”mà có các bài tập về :
Trang 9+ Giải nghĩa từ : Tôi đưa ra 5 biện pháp để giải nghĩa từ ( tuỳ vào từng bài tập
để tôi đưa ra những biện pháp giải nghĩa cho phù hợp) như sau:
a) Giải nghĩa bằng trực quan
b) Giải nghĩa bằng cách so sánh đối chiếu với từ khác
c) Giải nghĩa từ bằng các từ đồng nghĩa , trái nghĩa
d) Giải nghĩa bằng cách phân tích từ thành các thành tố (tiếng) và giải nghĩa từng thành tố này
e) Giải nghĩa bằng định nghĩa
+ Hiểu nghĩa của các thành ngữ,tục ngữ: Trước hết học sinh phải:
- Hiểu được cả nghĩa đen và nghĩa bóng.Nghĩa bóng của thành ngữ , tục ngữ
có thể được suy ra từ nghĩa đen của các từ
II/ ĐỀ XUẤT CÁCH DẠY MỘT SỐ BÀI KHÓ TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU :
2.1 Một số ví dụ bài khó và cách dạy bài khó về “Mở rộng vốn từ ” trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4
2.1.1 Bài Mở rộng vốn từ : Nhân hậu - Đoàn kết Tuần 3 tiết 2 (SGK trang 33)
Đây là dạng bài thực hành
*Mục đích của bài giúp HS nắm được nghĩa của từ, hiểu được các thành ngữ, tục ngữ thuộc bài MRVT : nhân hậu- Đoàn kết
A) Nội dung bài học gồm có 3 bài tập
- Bài tập 1 : Tìm các từ :
a) Chứa tiếng hiền M : Dịu hiền , hiền lành
b) Chứa tiến ác M : Hung ác , ác nghiệt
- Bài tập 2 :Xếp các từ sau vào ô thích hợp trong bảng : Nhân ái, tàn ác , bất hoà , lục đục, hiền hậu , chia rẽ, cưu mang, che chở , phúc hậu, hung ác ,độc
ác ,đôn hậu ,đùm bọc , trung hậu , nhân từ , tàn bạo
( Cột có dấu + để nghi các từ thể hiện lòng nhân hậu hoặc tinh thần đàon kết Cột có dấu - để ghi các từ có nghĩa trái với nhân hậu , đoàn kết )
-Nhân hậu M: nhân từ, M: độc ác, Đoàn kết M: đùm bọc , M: chia rẽ,
- Bài tập 3: Em chọn từ ngữ nào trong ngoặc đơn ( đất , cọp , bụt, chị em gái )
điền vào ô trống để hoàn thành các thành ngữ dưới đây ?
a) Hiền như
b) Lành như
c) Dữ như
d) Thương nhau như
Trang 10-Bài tập 4.Em hiểu nghĩa của các câu thành ngữ ,tục ngữ dưới đây như thế nào ?
a) Môi hở răng lạnh
b ) Máu chảy ruột mền
c) Nhường cơm sẻ áo
d) Lá lành đùm lá rách
B) Khó khăn:
Theo tôi ở phần bài tập này có 2 bài tập khó đó là bài tập 2 và bài tập 4
* Cái khó ở bài tập 2 là :Học sinh chưa hiểu hết nghĩa của các từ đã cho vì vậy khi xếp các từ học sinh xếp không đúng Mà cột ghi dấu + học sinh chưa hiểu đó
là điền những từ cùng nghĩa với nhân hậu- đoàn kết
* Cái khó ở bài tập 4 là: Học sinh không hiểu nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ trong khi các em không hiểu được cả nghĩa đen, nghĩa bóng.Chính vì vậy mà các
em không làm được
C) Cách tháo gỡ:
* ở bài tập2: GVcho HS nhắc lại:
+ Nhân hậu : Có lòng thương người và ăn ở có tình nghĩa.
VD: Con người nhân hậu; Tấm lòng nhân hậu
+ Đoàn kết: Kết thành một khối thống nhất cùng hoạt động vì mục đích chung.
VD: Đoàn kết với nhau; Toàn dân đoàn kết
- GV cho HS tìm những từ cùng nghĩa và những từ trái nghĩa với nhân hậu , đoàn kết mà yêu cầu đề bài đã cho
- HS phải hiểu nghĩa của từng từ vừa tìm được.Khi HS đã hiểu nghĩa của từng từ thì những từ nào thể hiện lòng nhân hậu thì các em ghi cùng hàng với từ nhân hậu( cột dấu +) , nhừng từ nào thể hiện tình đoàn kết thì ghi thẳng hàng với từ đoàn kết (cột dấu-)
VD: Cưu mang : là đùm bọc , giúp đỡ lẫn nhau
Tàn ác: độc ác và tàn nhẫn
-Nhân hậu
nhân từ nhân ái hiền hậu phúc hậu đôn hậu Trung hậu
tàn ác hung ác độc ác, tàn bạo
Đoàn kết
Cưu mang Che chở đùm bọc
Chia rẽ Lục đục Bất hoà
* ở bài tập 4:
- Đối với bài tập này GV phải giúp HS hiểu được các thành ngữ, tục ngữ Muốn