Để thực hiện mục tiêu “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học” theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCHTW khó[r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN DỰ ÁN PHÁT TRIỂN THPT GIAI ĐOẠN 2
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
Môn: Ngữ văn
(Tài liệu dùng cho giáo viên)
Hà Nội, 2019
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 Những vấn đề chung về hoạt động trải nghiệm 2
1.5 Điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm 71.6 Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm 8
Chương 2 Tổ chức dạy học chủ đề thông qua hoạt động trải
nghiệm trong môn Ngữ văn
9
2.1 Các nguyên tắc lựa chọn, xây dựng chủ đề dạy học trải
nghiệm môn Ngữ văn
9
2.2 Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học
chủ đề môn Ngữ văn
11
2.3 Định hướng kiểm tra-đánh giá các chủ đề thông qua hoạt động
trải nghiệm môn Ngữ văn
20
Chủ đề 1: Đọc hiểu truyện dân gian Việt Nam 30
Lời nói đầu
Trang 3Để thực hiện mục tiêu “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếutrang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học”theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCHTW khóa XI và mục tiêu “chuyểnnền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàndiện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốtnhất tiềm năng của mỗi học viên” và yêu cầu “đổi mới toàn diện mục tiêu, nộidung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánhgiá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực họcviên; khắc phục tình trạng quá tải; tăng cường thực hành và gắn với thực tiễncuộc sống” theo Nghị quyết 88/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông, căn cứ chương trình và sách giáo khoahiện hành, các nhà trường lựa chọn các chủ đề, rà soát nội dung các bài họctrong sách giáo khoa hiện hành tương ứng với chủ đề đó để sắp xếp lại thànhmột số bài học tích hợp của từng môn học hoặc liên môn; từ đó, xây dựng kếhoạch giáo dục cho từng môn học, hoạt động giáo dục theo định hướng pháttriển năng lực, phẩm chất học viên phù hợp với điều kiện thực tế của nhàtrường.
Ngày 26/12/2018, Bộ GDĐT ban hành Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT
về chương trình giáo dục phổ thông - chương trình tổng thể, trong đó, hoạt
động trải nghiệm trở thành hoạt động giáo dục bắt buộc trong nhà trường.Theo đó, trong dạy học từng môn học, cần xây dựng các chủ đề và tổ chứcdạy học theo hướng tăng cường các hoạt động trải nghiệm nhằm phát triểnnăng lực người học
Với tinh thần đó, tiếp theo bộ tài liệu hướng dẫn giáo viên xây dựng cáchoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người
học thông qua các chủ đề dạy học, Tài liệu Hướng dẫn dạy học theo chủ đề thông qua hoạt động trải nghiệm môn Ngữ văn được biên soạn nhằm giúp
giáo viên lựa chọn, xây dựng các chủ đề phù hợp; thiết kế, tổ chức hiệu quảcác hoạt động trải nghiệm và chủ động thực hiện khi có chương trình, sáchgiáo khoa mới
Chúng tôi rất mong nhận được góp ý của các đồng nghiệp để tài liệuhoàn chỉnh hơn, phục vụ hiệu quả trong quá trình bồi dưỡng giáo viên
Trân trọng
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 5CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
1.1 Khái niệm “Hoạt động trải nghiệm”
Khái niệm “Trải nghiệm” dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một số ýnghĩa sau:
- Trải nghiệm gắn với một hệ thống kiến thức và kỹ năng có được trongquá trình giáo dục và đào tạo chính quy
- Trải nghiệm cũng gắn với hệ thống kiến thức, kỹ năng mà HV nhận đượcbên ngoài các cơ sở giáo dục: Thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn,hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường…
- Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phươngpháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặcminh họa cho một quan điểm lý luận hay lý thuyết cụ thể
Nếu xem xét thuật ngữ trải nghiệm qua khái niệm “thực hành” (practice),nghĩa là, xem xét nó trong quá trình đào tạo, cũng như kết quả của nó, thì theonghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình đào tạo vàgiáo dục Phân định sự khác biệt giữa trải nghiệm và thực hành, thì trải nghiệmmang hàm nghĩa rộng hơn thực hành vì nó đóng một vai trò là nền tảng của trithức và là tiêu chí để nhận biết sự thật, nhận biết tính đúng/sai
- Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện hoặc một chủ đềbằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó
Thực hành (practice, practicum), thực tập (tập làm, learning by doing); trảinghiệm (experiencing) đều là những cách thức học tập gắn với thực tiễn, lànhững phương thức học tập hiệu quả Tuy nhiên, việc học trong ba dạng hoạtđộng này không hoàn toàn giống nhau, mặc dù liên quan đến nhau
Thực hành là việc vận dụng những kiến thức lý luận được học vào một ngữcảnh mới của thực tiễn Thông qua việc thực hành người học chính xác hóa vàcủng cố kiến thức thu được, hiểu kiến thức lý luận sâu sắc hơn và đồng thờichiếm lĩnh được một số kỹ năng thực hiện
Thực tập (tập làm) là việc chiếm lĩnh tri thức hay hình thành kỹ năng chủyếu thông qua các thao tác hành vi, hành động trực tiếp của người học với đốitượng cần chiếm lĩnh trong một môi trường xác định Trong quá trình thực tập
Trang 6(tập làm), người học tự rút ra kinh nghiệm, dần hình thành hiểu biết mới, nănglực mới Thực tập, tập làm thường được sử dụng khá đa dạng, nó có thể được
sử dụng với một số nội dung học tập có tính kỹ thuật (học đi xe, học bơi ); vàđược sử dụng khi tập làm nghề sau một thời gian được trang bị tri thức lý luận
và kỹ năng cho một lĩnh vực nhất định (thực tập nghề)
Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường được hiểu là hoạt động có động cơ,
có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học viên,được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường.Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, ngườihọc có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ cóđược khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩnăng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theochuẩn đã có Đặc biệt, sự trải nghiệm tạo ra và tăng cường cảm xúc, ý chí, tìnhcảm đồng thời lấy nó làm động lực cho các hoạt động học tập
1.2 Vai trò của hoạt động trải nghiệm
Hoạt động trải nghiệm là môi trường học tập để học viên phát triển nănglực sáng tạo UNESCO cho rằng, hoạt động học tập dựa trên sự trải nghiệm của
HV sẽ tạo môi trường học tập suốt đời cho HV Kết quả nghiên cứu và thực tế
đã chứng minh vai trò tác động tích cực của hoạt động trải nghiệm đối với hoạtđộng dạy học nói riêng và nền giáo dục nói chung Cụ thể như sau:
Tác giả Vai trò của hoạt động trải nghiệm
- Học viên có tâm lí an toàn, có ý thức cao trong họctập
Waldie (1981) Hình thành thái độ, ý thức về quản lí, kiềm chế bản
Trang 7Maynes, Maclntosh,
Mappin (1992)
Hình thành năng lực tự kiểm soát bên trong bản thân, cócảm nhận và thể hiện trách nhiệm với các hoạt động, hành động của mình
1.3 Phân loại các hoạt động trải nghiệm
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học tâm lý đã phân biệt một số loại trảinghiệm khác nhau như: trải nghiệm vật chất, trải nghiệm trí truệ, trải nghiệmtình cảm, trải nghiệm tinh thần, trải nghiệm gián tiếp và trải nghiệm mô phỏng
* Trải nghiệm vật chất (Physical Experiences)
Trải nghiệm vật chất xảy ra bất cứ khi nào đối tượng hay môi trường thayđổi Nói cách khác, trải nghiệm vật chất liên quan đến những trải nghiệm có thểquan sát và tác động được Nó là hình thức bên ngoài của hoạt động để chiếm
Trang 8lĩnh đối tượng Triết lí “trăm nghe không bằng một thấy” hay “Đi một đàng họcmột sàng khôn” chính là đề cao trải nghiệm của con người và có thể xếp vào loạitrải nghiệm vật chất…
Các hoạt động trải nghiệm gắn với các môn học liên quan đến thế giới tựnhiên, gắn với tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học) để qua đó phát triển năng lựchoạt động thực tiễn thuộc loại trải nghiệm này
* Trải nghiệm tinh thần (Mental Experiences)
Trải nghiệm tinh thần liên quan đến các khía cạnh trí tuệ và ý thức, là sựkết hợp giữa tư duy, nhận thức, trí nhớ, cảm xúc, ý chí và tưởng tượng
Trải nghiệm tinh thần bao gồm cả các quá trình nhận thức vô thức Trảinghiệm này thường được sử dụng trong việc học tập các môn học (đặc biệt làcác môn khoa học) hoặc việc học được một khái niệm nào đó không có chủ định(Ví dụ như làm nhiều một dạng bài toán nào đó rồi sẽ phát hiện ra nguyên líchung của việc giải những bài toán này)
Có thể nói, trải nghiệm tinh thần là hình thức bên trong của hoạt động đểchiếm lĩnh đối tượng
* Trải nghiệm tình cảm (Emotional Experiences)
Trải nghiệm tình cảm được diễn ra khi yêu hay kết bạn Yêu là trải nghiệmtình cảm Khái niệm trải nghiệm tình cảm cũng xuất hiện trong khái niệm đồngcảm
Khi dạy học các môn học thuộc các lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, giáo dụcđạo đức, lối sống, trẻ cần được trải nghiệm tình cảm thì hiệu quả mới tốt
* Trải nghiệm xã hội (Social Experiences)
Lớn lên, sinh sống trong xã hội, con người hình thành trải nghiệm xã hội.Trải nghiệm xã hội cho con người kĩ năng và thói quen cần thiết để sống trong
xã hội của mình, chia sẻ kinh nghiệm, hình thành các chuẩn mực, phong tục,truyền thống, giá trị, vai trò xã hội, biểu tượng và ngôn ngữ
Trong học tập, việc cho người học tham gia vào các hoạt động tập thể, hoạtđộng thực tế tại nhà máy, trang trại, câu lạc bộ, hoạt động trao đổi, thảo luận…giúp người học có trải nghiệm xã hội, hình thành nhân cách Lúc này, hoạt độngcủa cá nhân không còn là của riêng một cá nhân, mà là của một cộng đồngngười, trong một thời điểm xác định
Trang 9* Trải nghiệm mô phỏng (Virtual and Simulation Experiences)
Sử dụng máy tính cũng có thể giúp con người có trải nghiệm Đóng vaicũng giúp ta trải nghiệm Sử dụng trò chơi video cũng giúp trải nghiệm, trảinghiệm có tính chất mô phỏng cuộc sống thực
Loại trải nghiệm này thể hiện phương thức trải nghiệm, còn nội dung trảinghiệm là các tình huống giả định với cuộc sống thực nhằm giúp trẻ giải quyếtcác vấn đề đặt ra
Thuật ngữ “experience” là động từ thì mang nghĩa “trải nghiệm”, là danh từthì mang nghĩa “kinh nghiệm” Kinh nghiệm có được có hai loại: Kinh nghiệmnói lên bản chất của sự vật, hiện tượng hoặc kinh nghiệm chỉ miêu tả đượcnhững dấu hiệu bên ngoài của sự vật, hiện tượng Quá trình diễn ra trải nghiệm
có thể cho sản phẩm chắc chắn hay không, có chiếm lĩnh được đối tượng haykhông phụ thuộc vào quá trình trải nghiệm Có thể có trải nghiệm theo phươngpháp mày mò, thử và sai Có thể có trải nghiệm chủ động, mục đích rõ ràng và
có các thao tác cụ thể đi đến mục đích, từ thao tác vật chất đến thao tác mô hìnhhóa, bằng lời nói và cụ thể hóa Có thể có những trải nghiệm bị động mà sau khitrải nghiệm con người mới rút ra được bài học cho mình Theo chúng tôi, “trảinghiệm chủ động” có thể tương đồng với khái niệm “hoạt động”
Việc phân chia các loại trải nghiệm như trên chỉ có tính chất tương đối.Thực tế là với mỗi đối tượng hoạt động, khi con người tương tác với thế giới đểtồn tại và phát triển thì thường thực hiện đồng thời nhiều loại trải nghiệm nêutrên với các mức độ khác nhau Trong khuôn khổ nhà trường phổ thông, cần cốgắng để tạo cơ hội cho học viên được thực hiện càng nhiều trải nghiệm có ýnghĩa giáo dục càng tốt
1.4 Đặc điểm của học tập qua trải nghiệm
Việc học tập được thực hiện trong quá trình hoạt động
- Học tập là một quá trình mà các khái niệm, quy luật, định luật, quy tắc…được rút ra, chỉnh sửa một cách liên tục Nhờ vậy, kinh nghiệm của bản thânngười học được hình thành
- Nhờ quá trình hoạt động trải nghiệm sẽ thúc đẩy quá trình thắc mắc- tưduy phản biện và hình thành kỹ năng trong quá trình tìm kiếm tri thức, khôngphải để nhớ bản thân tri thức: “tri thức là quá trình, không phải là sản phẩm”
Trang 10- Tri thức chỉ có thể có thông qua phát minh và tái phát minh, thông qualàm việc chăm chỉ, kiên nhẫn, liên tục và gợi mở hi vọng con người chiếm lĩnhthế giới, với thế giới và với nhau
Học tập là quá trình liên tục khởi nguồn từ kinh nghiệm
- Tri thức được tiếp nhận và thử nghiệm liên tục qua kinh nghiệm củangười học Học là quá trình liên tục cập nhật, điều chỉnh kinh nghiệm trên nềntảng kinh nghiệm Tất cả học tập là quá trình học lại, ôn cũ biết mới
- Nhờ các trải nghiệm có ý nghĩa, các kinh nghiệm cũ được điều chỉnh đểthay thế mới cho phù hợp Con người điều chỉnh hành vi và kinh nghiệm củabản thân qua trải nghiệm tích cực
Quá trình học tập đòi hỏi giải pháp cho những mâu thuẫn (xung đột) để người học “thích nghi” với thế giới thực
Học tập là kết quả của sự giải quyết các mâu thuẫn (xung đột) giữa kinhnghiệm rời rạc (concrete experience) và các khái niệm trừu tượng, mâu thuẫngiữa quan sát và hành động Nói cách khác, là giải quyết xung đột giữa mô hình
lý thuyết được thu thập bằng nhiều cách (tự thu thập và từ học tập) từ lúc sinh
ra và lớn lên với cuộc sống thực tiễn
Học tập qua trải nghiệm tăng cường sự tương tác giữa con người và môi trường
Thay vì việc học trong phòng, chỉ qua tương tác với giáo viên, với bảngđen phấn trắng và vài đồ dùng học tập rất hạn chế Không gian học tập của HVđược mở rộng gần với môi trường thực Điều này giúp việc học tập trở nên có ýnghĩa Môi trường tạo ra bối cảnh thực, là phương tiện thực hiện hoạt động họctập, là nơi để đánh giá hiệu quả của trải nghiệm
Học tập trải nghiệm là quá trình tạo ra tri thức
Học tập là quá trình kiến tạo ra tri thức, nó là kết quả của sự chuyển hóagiữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân
Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo rathông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm (theo Kolb, 1984), là quá trình xâydựng ý nghĩa trực tiếp từ kinh nghiệm
Học tập qua trải nghiệm dựa trên sự quan tâm, cảm xúc của người học
và làm thay đổi cảm xúc, tình cảm, thái độ của người học đối với quá trình họctập
Trang 11Bản chất của dạy học qua trải nghiệm là tạo một môi trường thực tế phù hợp để học viên tự trải nghiệm và khám phá những điều thú vị vốn có của bản thân và của tự nhiên, xã hội, từ đó phát huy tối đa khả năng tự học của mình nhằm chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển các năng lực hoạt động.
1.5 Điều kiện tổ chức dạy học qua các hoạt động trải nghiệm
Với tinh thần đổi mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bảnhướng dẫn thực hiện cũng như tạo cơ chế để các địa phương, các cơ sở giáo dục,giáo viên thực hiện đổi mới dạy học theo định hướng hình thành và phát triểnnăng lực HV:
- Công văn 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013 hướng dẫn phát triển chươngtrình giáo dục nhà trường phổ thông của Bộ GDĐT: Chương trình nhà trườnggắn với phát triển nghề nghiệp, gắn với định hướng nghề nghiệp, kĩ năng sốngcủa học sinh Nội dung cơ bản là: Xây dựng các chủ đề dạy học liên môn với nộidung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước để bổsung vào kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục của nhà trường
- Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 8/10/2014 hướng dẫn sinh hoạtchuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức vàquản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm giáo dụcthường xuyên qua mạng
- Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT ngày 26/8/2016 về nhiệm vụ chủ yếu nămhọc 2016-2017 của ngành giáo dục Trong đó nhấn mạnh: Gắn với văn hóa, đờisống, xã hội và đặc điểm truyền thống của địa phương
- Công văn số 1290/BGDĐT-GDTrH ngày 29/3/2016 Bộ GDĐT hướngdẫn triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học và tổ chức Cuộc thi khoa học kĩthuật cấp quốc gia học viên trung học năm học 2016-2017
- Công văn số 4325/BGDĐT-GDTrH ngày 1/9/2016 về hướng dẫn thựchiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2016-2017, trong đó nhấn mạnh việc
đa dạng hóa các hình thức dạy học, chú ý các hoạt động trải nghiệm
- Công văn 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 về việc thực hiệnchương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực
và phẩm chất cho học viên từ năm học 2017-2018, tiếp tục tăng cường đổi mớidạy học theo hướng tăng cường các hoạt động học của HV thông qua thực hiện
Trang 12các chủ đề dạy học theo hướng mở, gắn với thực tiễn, để thực hiện cả ở trong vàngoài nhà trường.
1.6 Quy trình xây dựng chủ đề dạy học trải nghiệm trong môn học
Bước 1 Lựa chọn chủ đề
Căn cứ vào kế hoạch thực hiện nội dung môn học; căn cứ vào khả năng tổchức, điều kiện vật chất; căn cứ vào điều kiện thời gian…Các tổ chuyên mônthảo luận để lựa ra các chủ đề dạy học trải nghiệm hợp lí để thực hiện trongnăm học
Bước 2 Xác định các hoạt động chính của HV
Mô tả sơ bộ các hành động chính của HV theo diễn tiến thời gian: HV xemxét vấn đề gì? HV làm gì? viết gì? đọc gì? báo cáo gì ….?
Bước 3 Viết các mục tiêu dạy học
Bao gồm các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, tình cảm thái độ và các mụctiêu năng lực
Bước 4 Xác định thiết bị, vật tư dành cho việc dạy học
Bao gồm tất cả các thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, dụng cụ hỗ trợ (máychiếu, máy tính máy…)
Bước 5 Xác định các cá nhân và tổ chức phối hợp, hỗ trợ thực hiện chủ đề
Xác định rõ cách thức và mức độ tham gia của các bên liên quan: GV bộmôn-GV chủ nhiệm-Đoàn thanh niên-Phụ huynh- Các chuyên gia, nghệ nhân-Các hiệp hội, tổ chức, đoàn thể xã hội…
Bước 6 Xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học
Đề ra một chuỗi hoạt động dạy học, bao gồm các bước cụ thể ứng với mỗihoạt động
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
MÔN NGỮ VĂN
Trang 132.1 Các nguyên tắc lựa chọn, xây dựng chủ đề dạy học trải nghiệm môn Ngữ văn
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, kế hoạch giáo dục baogồm các môn học, các chủ điểm và các hoạt động trải nghiệm Trong đó, hoạtđộng trải nghiệm chính là hoạt động giáo dục được thiết kế theo hướng tích hợpnhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hình thức vàphương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về khônggian thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng… để HV có nhiều cơ hội tự trảinghiệm và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình
Với các môn học, để lựa chọn và xây dựng chủ đề dạy học trải nghiệm phùhợp, cần tuân thủ một số nguyên tắc chung, cụ thể như sau:
- Nội dung hoạt động về cơ bản phù hợp với nội dung và mức độ kiến thức được quy định trong chương trình Nguyên tắc này nhằm đảm bảo không gây ra
sự xáo trộn quá lớn hoặc làm khó cho việc thực hiện chương trình của môn họctheo quy định Đặc biệt là cần chú ý không gây khó khăn cho GV và phụ huynhtrong việc chuẩn bị và thực hiện
- Nội dung hoạt động có sự gắn kết nổi bật, cơ bản giữa thực tiễn với kiến thức môn học Nguyên tắc này để đảm bảo để HV thấy được sự phù hợp giữa
nội dung chương trình với các hoạt động được tổ chức, tạo ra các hoạt động họctập có ý nghĩa, các trải nghiệm tích cực
- Bối cảnh hoạt động phù hợp với đặc điểm vùng miền Nguyên tắc này tạo
ra sự phù hợp, thuận lợi khi tổ chức thực hiện tại mỗi vùng miền Điều này cũngđảm bảo cho sự thành công trong tổ chức dạy học
- Mức độ yêu cầu trong mỗi chủ đề cần phù hợp với khả năng, trình độ của
HV, thời gian thực hiện và điều kiện tổ chức ở trường hay địa phương Yêu cầu
này nhằm đảm bảo tính khả thi khi thực hiện, cần cho mọi HV đều có cơ hộiđược hoạt động, thực hiện nhiệm vụ từ dễ đến khó Đồng thời, tạo khả năng huyđộng nhiều lực lượng tham gia theo điều kiện, khả năng thực tiễn tại địaphương
- Đảm bảo được sự an toàn hoặc giám sát được sự an toàn khi học viên thực hiện các hoạt động trải nghiệm Cần tính toán kĩ các hành động, thao tác
của HV để có các khuyến cáo, chỉ dẫn nhằm đảm bảo sự an toàn cho các HV,cho người xung quanh, cho thiết bị, cho môi trường…
- Có ý nghĩa, lợi ích với gia đình, nhà trường và cộng đồng Điều này sẽ tạo ra sự quan tâm và hứng thú ở học viên Các chủ đề thực hiện đem lại được
Trang 14lợi ích cho HV, cho gia đình HV, cho cộng đồng, cho xã hội Cần chú ý là cáclợi ích dù nhỏ vẫn cần được chỉ ra và phân tích để HV thấy được ý nghĩa củaviệc học tập, ý nghĩa của “sự biết”.
Đối với môn Ngữ văn ở trường phổ thông nói chung và bậc trung học phổthông nói riêng, việc dạy học chủ đề qua các hoạt động trải nghiệm ngoài việcđảm bảo các nguyên tắc chung như trên, cần chú ý đến những nguyên tắc riêng,mang tính đặc thù bộ môn Giáo viên căn cứ chương trình hiện hành, lựa chọn
và sắp xếp các đơn vị kiến thức, các bài học cụ thể thành các chủ đề học tập Từ
đó, tổ chức dạy học chủ đề và thiết kế các HĐTN phù hợp, hiệu quả
Môn Ngữ văn được tích hợp bởi ba bộ phận kiến thức cơ bản là tiếng Việt,
Đọc - hiểu văn bản và Làm văn, nhằm hình thành và phát triển ở học viên năng lực tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản Trong nhà trường phổ thông, môn
Ngữ văn là môn khoa học mang tính nghệ thuật Kiến thức khoa học và nghệthuật là hai phạm trù khác biệt về cách huy động kinh nghiệm, quan sát, suynghĩ và hoạt động thực tiễn để hình thành các nhận thức mới, giá trị mới, xúccảm mới Vì vậy, khi thiết kế và tổ chức các hoạt động trải nghiệm dạy học chủ
đề môn Ngữ văn, giáo viên cần quan tâm đến mức độ tương thích giữa nội dungchương trình môn Ngữ văn với HĐTN, từ đó lựa chọn những HĐTN thực sựphù hợp với từng bộ phận kiến thức
Trong quá trình tổ chức HĐTN dạy học chủ đề, giáo viên cần đảm bảo vaitrò chủ thể, hạt nhân của học viên trong cảm thụ, đọc hiểu văn bản và tạo lậpvăn bản Giáo viên không “cảm thụ hộ”, học viên không ghi nhớ một cách máymóc, thụ động mà chủ động tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện để khámphá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật trong các văn bản dưới sự hướng dẫn, hỗ trợcủa GV và sự cộng tác, giúp đỡ của bạn bè Ở mức độ cao hơn, người học chủđộng, độc lập giải quyết các vấn đề đặt ra, chủ động tìm kiếm những cách giảiquyết khác nhau cho cùng một vấn đề Ở mức độ lí tưởng, người học chủ độngvận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để sáng tạo ra cách giải quyết mới,độc lập và có hiệu quả hơn
Thông qua các tình huống dạy học, bối cảnh thực tiễn, học viên cần đượcvận dụng, phối hợp các thao tác, kĩ năng, kĩ xảo để bồi dưỡng, phát triển nănglực đặc thù của môn học như năng lực đọc hiểu, năng lực thưởng thức, cảm thụvăn chương, năng lực đánh giá cái hay, cái đẹp của văn chương, năng lực vậndụng… Từ đó có thể tham gia vào quá trình giao tiếp văn học, giao tiếp đời sốngmột cách có hiệu quả
Trang 15Đối với bộ môn Ngữ văn, việc chủ động, tích cực tham gia các hoạt độngtrải nghiệm đã phát huy được sự trải nghiệm thế giới nghệ thuật trong tác phẩmvăn học ở chính học viên, giúp học viên có được những cảm nhận riêng, mới mẻ
và bổ ích, có những cách nhìn nhận về cuộc sống, về con người khác nhau Mỗibài học trải nghiệm sẽ giúp học viên hoàn thiện và phát triển nhân cách, làmphong phú hơn vốn sống, vốn hiểu biết xã hội của bản thân, hình thành động cơ,niềm tin và giá trị sống
2.2 Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học chủ
đề môn Ngữ văn
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HV năng lựcgiao tiếp ngôn ngữ, năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ là một trongnhững mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù củamôn học
Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, đọc hiểu văn bản, HVđược hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệuquả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HV được luyện tập những tình huốnghội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từngbước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp
Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HV được giaotiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khảnăng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học Đây cũng là mục tiêu chi phối trongviệc đổi mới PPDH Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khảnăng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt, văn học trong những bốicảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống
Chính vì vậy, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm để học viên đượctrực tiếp tham gia có ý nghĩa tích cực đối với việc hình thành, phát triển nănglực cho người học
Trong bối cảnh hiện nay, đối với môn Ngữ văn nói riêng và các bộ mônnói chung trong trường phổ thông, việc xây dựng các chủ đề học tập và tổ chứccác hoạt động trải nghiệm thể hiện sự chủ động, sáng tạo của mỗi cán bộ, giáoviên, tổ bộ môn và mỗi nhà trường trong việc xây dựng kế hoạch dạy học, pháttriển chương trình nhà trường nhằm tích cực chuẩn bị cho việc thực hiện chươngtrình mới trong thời gian tới
Trang 16Khi tổ chức dạy học và thiết kế các hoạt động trải nghiệm, căn cứ vào đặcthù bài học, đặc điểm đối tượng và điều kiện dạy học cụ thể, giáo viên có thể lựachọn các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học chủ đề mônNgữ văn như sau:
* Tích hợp trong các bài học nội khóa
Hoạt động trải nghiệm tích hợp trong các bài học nội khóa chủ yếu đượcgiáo viên và học sinh được tiến hành trong giờ học trên lớp, gắn với những yêucầu, nội dung của môn học nhằm giúp HV củng cố, tích lũy, mở rộng, khắc sâukiến thức, nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội và giá trịtruyền thống và nhân loại, những kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềmnăng sáng tạo của cá nhân học sinh, làm tiền đề cho mỗi cá nhân trong cuộcsống sau này
Hoạt động trải nghiệm trong bài học nội khóa có nhiệm vụ tổng hợp làmsáng tỏ, sâu sắc và phong phú kiến thức của HV, đồng thời góp phần gây hứngthú trong học tập môn Ngữ văn Điều quan trọng là tổ chức dạy học thông quahoat động trải nghiệm trong bài học nội khóa sẽ giúp HV phát huy những nănglực của bản thân và rèn luyện những năng lực đó để sau này có thể vận dụngnhững kinh nghiệm tích lũy được vào trong đời sống hằng ngày
Để phát huy tích cực được điều đó giáo viên cũng phải xác định nhữngyêu cầu và lập kế hoạch bài dạy cho hoạt động trải nghiệm trong bài học nộikhóa phù hợp với nội dung chính khóa Giáo viên sẽ là người định hướng vàhướng dẫn học sinh thiết kế chương trình và lên kế hoạch cho hoạt động sao chophù hợp để cho bài học được hấp dẫn, lôi cuốn, khoa học nhưng vẫn phải đảmbảo điều kiện thực tế
Trong dạy học tác phẩm văn chương, việc tăng cường tính tích cực, chủđộng sáng tạo của học viên không chỉ thể hiện ở hệ thống câu hỏi, bài tập, màcòn thể hiện ở các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học như: quan sát, đóngvai, đọc diễn cảm, ngâm, bình, phát biểu, thuyết trình, kể chuyện, hóa thân,…
Trong quá trình diễn ra HĐTN trong bài học nội khóa, giáo viên cần phảixây dựng quy định, quản lý HV không để ảnh hưởng đến bài học của các lớp
Trang 17bên cạnh Sau hoạt động trải nghiệm trong bài học nội khóa, giáo viên thực hiệncác hình thức kiểm tra đánh giá đa dạng, rèn luyện cho HV cách nhìn nhận vấn
đề, giải quyết vấn đề, hình thành những năng lực theo mục tiêu của HĐTN
* Tích hợp trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong nhà trường
Cùng với hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp trong nhàtrường tạo điều kiện cho giáo viên có nhiều sự lựa chọn cho việc tổ chức hoạtđộng trải nghiệm Giáo viên Ngữ văn cần chủ động đề xuất ý tưởng, xây dựng
kế hoạch, phương pháp tiến hành và phối hợp với tổ bộ môn và các bộ phận liênquan tổ chức HĐTN
Xuất phát từ đặc trưng phản ánh của văn chương với tư cách là một loạihình nghệ thuật đa giá trị, giáo viên rèn cho học viên chủ động diễn đạt, diễn tảtình cảm, cảm xúc, cảm nhận của mình thông qua một số hình thức tổ chức đadạng như: Tổ chức dưới hình thức các câu lạc bộ văn học như: Câu lạc bộ Văn
học dân gian, Nguyễn Du và Truyện Kiều; Tinh hoa thơ mới, Âm vang thơ
kháng chiến, Văn học sau 1975, … Đây là hình thức sinh hoạt ngoại khóa vănhọc của học viên dưới sự định hướng của giáo viên Với hoạt động này, học viên
có cơ hội được chia sẻ những kiến thức, những hiểu biết của mình về các lĩnhvực chuyên sâu Học viên được thực hành các quyền trẻ em của mình như quyềnđược học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa,văn nghệ, quyền được tự do biểu đạt, được tìm kiếm và tiếp nhận, xử lí nhữngthông tin Qua đó rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển cho học viên các năng lựcnhư năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực làm việc nhóm, năng lực giảiquyết vấn đề, năng lực Ngữ văn…… Thông qua hoạt động câu lạc bộ, giáo viênhiểu và quan tâm hơn đến những nhu cầu, nguyện vọng, những mục đích chínhđáng của học viên
Tổ chức dưới hình thức là các sân chơi, trò chơi văn học Trò chơi là mộthoạt động vừa có tính chất giải trí, thư giãn nhưng cũng đồng thời là một hoạt
động giáo dục “học mà chơi, chơi mà học” Đây chính là món ăn tinh thần mang
lại nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi con người nóichung, học viên nói riêng Hình thức này có thể sử dụng trong nhiều tình huống,nhiều lĩnh vực khác nhau Trò chơi giúp học viên phát huy tính sáng tạo, tínhtích cực, chủ động và gây hứng thú cho học viên; giúp học viên tiếp nhận kiếnthức, rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực một cách nhanh nhất Và hơn thếcòn trang bị cho các em có những tác phong nhanh nhẹn, tạo được bầu không
Trang 18khí thân thiện, môi trường giao lưu cởi mở, tích cực giữa các học viên với nhau,giữa học viên với các thầy cô giáo Một số hình thức trò chơi giáo viên có thể tổchức cho học viên như: Hái hoa dân chủ, Không gian văn học, Rung chuôngvàng, Đố thơ, …
Giáo viên bộ môn Ngữ văn cũng có thể phối hợp với nhà trường, các cơquan báo đài, Hội văn học nghệ thuật ở địa phương… tổ chức các diễn đàn vănhọc nghệ thuật như: tọa đàm, nói chuyện với các nhà văn, nhà thơ trong chươngtrình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông; các diễn đàn tương tác như: tập làm thơ,viết văn, thi sáng tác theo các chủ đề gắn với những ngày lễ hội… Có thể xemđây là những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực từ mônNgữ văn Thông qua các diễn đàn, học viên có cơ hội bày tỏ những suy nghĩ, ýkiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nảy sinhtrong văn học, qua văn học Và đây cũng là một dịp để các em biết lắng nghe ýkiến, học tập lẫn nhau và biết tự trang bị cho mình những tri thức, những nănglực Ngữ văn
Sân khấu hóa tác phẩm văn học là một hình thức nghệ thuật tương tác dựatrên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tìnhhuống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễnchính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả,trong đó đề cao sự tương tác, sự tham gia của khán giả Thông qua hình thức nàytăng cường sự nhận thức, thúc đẩy học viên để học viên đưa ra những quanđiểm, suy nghĩ và những cách xử lí tình huống, khả năng ứng phó với nhữngthay đổi của cuộc sống… Qua hình thức này, học viên cũng nhận thức được sựkhác nhau, khoảng cách từ văn bản văn chương đến nghệ thuật sân khấu Có thể
chuyển thể sang kịch bản văn học một số trích đoạn như trích đoạn trong Tấm Cám, Chí Phèo; trích đoạn trong Hồn Trương Ba da hàng thịt; trích đoạn trong Rômêo và Juliet; …
Một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học viêntham gia và đạt hiệu quả cao trong việc học tập, giáo dục và rèn luyện Ngữ văn
đó là tổ chức các cuộc thi, hội thi Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cánhân, nhóm và tập thể mong muốn vươn lên để đạt được mục tiêu đặt ra Cuộcthi là cơ hội tranh tài, đọ sức đáp ứng nhu cầu của học viên, thu hút tài năng và
sự sáng tạo không ngừng của học viên; phát triển khả năng hoạt động tích cực,chủ động và sự tương tác của học viên; góp phần bồi dưỡng cho các em động cơhọc tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức Hội thi, cuộc thi
Trang 19có thể thực hiện một cách linh hoạt, phong phú hấp dẫn như: thi sáng tác văn, thi
vẽ tranh qua thơ, thi tìm hiểu về văn, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi
kể chuyện, đọc thơ, tham gia các sự kiễn, diễn đàn, các buổi giao lưu,…Nhưvậy, bồi dưỡng năng lực Ngữ văn cho học viên không chỉ dừng lại ở những giờhọc trên lớp mà còn thông qua những hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp.Khuyến khích, tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho học viên tham gia các chươngtrình, các dự án, các hoạt động để tìm hiểu, để chia sẻ và trải nghiệm….là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng của giáo viên Ngữ văn
* Tổ chức các hoạt động trải nghiệm ngoài nhà trường
Giáo viên tổ chức cho học viên những buổi tham quan dã ngoại nhằm khích
lệ, thu hút đông đảo học viên tham gia Đây được xem là một hình thức học tậpthực tế hấp dẫn đối với học viên Mục đích của các chuyến đi là để các em được
đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa
đã được in dấu trong văn học; giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế,
sự trải nghiệm và từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em Các lĩnhvực tham quan dã ngoại thường được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: Thămquan các Viện bảo tàng như: Bảo tàng văn học, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảotàng dân tộc… ; các Khu di tích lịch sử - văn hóa như: Khu di tích Nguyễn Du,Côn Sơn Kiếp Bạc, Khu Di tích Hồ Chí Minh, Thành Cổ Quảng Trị, Ngã baĐồng Lộc, đèo Khế, đèo Lũng Lô,…; tham quan, dã ngoại theo các chủ đề họctập…
Ngoài ra, giáo viên có thể cân nhắc lựa chọn một số hình thức tổ chứcHĐTN ngoài nhà trường sau:
Hoạt động giao lưu :
Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cầnthiết để cho HV được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhânvật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó Qua đó, giúp các em có tìnhcảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên tronghọc tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách Hoạt động giao lưu rất phù hợp vớicác HĐTN theo chủ đề Hoạt động giao lưu dễ dàng được tổ chức trong mọiđiều kiện của lớp, của trường
Hoạt động chiến dịch:
Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức không chỉ tác động đến HV màtới cả các thành viên cộng đồng Nhờ các hoạt động này, học sinh có cơ hội
Trang 20khẳng định mình trong cộng đồng, qua đó hình thành và phát triển ý thức "mình
vì mọi người, mọi người vì mình"
Việc HV tham gia các hoạt động chiến dịch nhằm tăng cường sự hiểu biết
và sự quan tâm của HV đối với các vấn đề xã hội như vấn đề môi trường, antoàn giao thông, an toàn xã hội, giúp HV có ý thức hành động vì cộng đồng;tập dượt cho HV tham gia giải quyết những vấn đề xã hội; phát triển ở HV một
số kĩ năng cần thiết như kĩ năng hợp tác, kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năngđánh giá và kĩ năng ra quyết định
Mỗi chiến dịch nên mang một chủ đề để định hướng cho các hoạt độngnhư: Chiến dịch giờ trái đất, Chiến dịch ngày thứ 7 tình nguyện, Phong cáchngôn ngữ tuổi teen Để thực hiện hoạt động chiến dịch được tốt cần xây dựng
kế hoạch để triển khai chiến dịch cụ thể, khả thi với các nguồn lực huy độngđược và học sinh phải được trang bị trước một số kiến thức, kĩ năng cần thiết đểtham gia vào chiến dịch
Hoạt động nhân đạo:
Hoạt động nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồngcảm của học sinh trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Thôngqua hoạt động nhân đạo, HV biết thêm những hoàn cảnh khó khăn của ngườinghèo, người nhiễm chất độc da cam, trẻ em mồ côi, người tàn tật, khuyết tật,người già cô đơn không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,những đối tượng dễ bị tổn thương trong cuộc sống, để kịp thời giúp đỡ, giúp
họ từng bước khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, vươn lên hòa nhập vớicộng đồng Đồng thời, giúp HV kết nối với những kiến thức đã học trong các tácphẩm văn học, nhân vật văn học (như người bất hạnh trong truyện cổ tích, ngườiphụ nữ trong xã hội phong kiến, người lính, người nữ thanh niên xung phongtrong các cuộc kháng chiến,…)
Việc phối hợp các hình thức trên giúp học viên có cơ hội được tham gianhiều dạng trải nghiệm như: trải nghiệm tinh thần, trải nghiệm tình cảm, trảinghiệm xã hội, trải nghiệm chủ quan, trải nghiệm mô phỏng
Dựa vào lý thuyết phân loại trên, có thể thấy, môn Ngữ văn cấp trung họcphổ thông có khả năng thực hiện trải nghiệm trên hầu hết các dạng được đề xuất.Đây cũng chính là cơ sở khoa học cần thiết để triển khai các dạng HĐTN phùhợp với nội dung bộ môn Ngữ văn
Trang 21Trải nghiệm vật chất: Trải nghiệm vật chất là những trải nghiệm “có thể
quan sát được” Hoạt động này phù hợp trong môn Ngữ văn vì nó bắt đầu từ cácquan sát của học viên về các hiện tượng tự nhiên, xã hội khi các em tham giavào đời sống cộng đồng; những cảm xúc được hình thành từ những điều nhìnthấy; các đồ dùng trực quan hay những âm thanh, hình ảnh được trình chiếubằng các phương tiện khoa học kỹ thuật; mẫu (bài tập, tình huống…) trong dạyhọc; cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả văn học hay những người nổi tiếng;
… Dù hoạt động của học viên có thể trực tiếp hay gián tiếp qua những phươngtiện cụ thể nhưng hầu hết nó đều là sự tương tác trực tiếp của người học với mộthoàn cảnh hay tình huống cụ thể Dạng trải nghiệm này có thể tạo cảm xúc trựctiếp ngay trong thời điểm đang diễn ra hoạt động trải nghiệm, để lại ấn tượngmạnh làm xuất hiện các động lực tích cực để hoàn thành nhiệm vụ học tập
Trải nghiệm tinh thần: Trải nghiệm tinh thần có thể xem là dạng trải
nghiệm phù hợp với những giá trị đặc trưng mà môn Ngữ văn có thể mang lạicho người học Hoạt động trải nghiệm này “liên quan đến các khía cạnh trí tuệ
và ý thức; là sự kết hợp giữa tư duy, nhận thức, trí nhớ, cảm xúc, ý chí và tưởngtượng Nó bao gồm cả quá trình nhận thức và vô thức” Như chúng ta đã biết,những tác phẩm nghệ thuật được giới thiệu trong nhà trường thường là nhữngtác phẩm tiêu biểu cho một nền văn học, một thể loại văn học, một khuynhhướng văn học hoặc là sự nghiệp sáng tác của một tác giả Những tác phẩm đóchắc chắn là những tác phẩm có nhiều giá trị bởi nhận được sự sàng lọc khắt khecủa thời gian và bạn đọc qua nhiều thế hệ Mỗi tác phẩm đều có những vùng trờiriêng để thể hiện những sắc thái độc đáo, không lặp lại của thế giới hình tượngnghệ thuật cũng như những thông điệp mà tác giả muốn chuyển tải Không phải
là duy nhất, nhưng hình tượng nghệ thuật vẫn có thể được xem là yếu tố cơ bảntrung tâm để bạn đọc có thể bắt đầu bằng kinh nghiệm và trải nghiệm ở kết thúc.Những trải nghiệm đã bao gồm cả thao tác phân tích, tổng hợp và kết nối chúngtrong hình thức đúc rút kinh nghiệm đưa nó trở thành những nhận thức phổ quát
và khách quan hơn Sở dĩ phải huy động những thao tác của tư duy trong quátrình tiếp nhận văn bản bởi nhờ nó mà những chân lý chỉ tồn tại trong nghệthuật, trong thế giới tinh thần phức diệu của con người mới được chiếu sáng và
lý giải Từ cách hiểu về quá trình tiếp nhận của người học có thể thấy trảinghiệm tinh thần là một hoạt động không thể thiếu trong tiếp nhận và cảm thụ và
ở hoạt động trải nghiệm này nó buộc người học phải huy động hầu hết nhữngphương diện cần thiết để hình thành kiến thức mới Để trải nghiệm, trước hếtngười học cần phải tưởng tượng ra những bức tranh hiện thực được mô tả và mã
Trang 22hóa bằng ngôn ngữ hình tượng thông qua năng lực liên tưởng và tưởng tượng.
Vì vậy trải nghiệm tinh thần trong trường hợp này tập trung cơ bản vào nhữnghoạt động như “ướm thử số phận”; “nếm trải nghệ thuật” trong quá trình dạyhọc Dạng trải nghiệm này ngoài việc huy động kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm, trình độ thẩm mỹ cá nhân, quan niệm sống… nó còn đưa lại phẩm chấtquí giá trong hành trình sống của con người đó chính là sự chia sẻ Đây là phẩmchất khởi đầu để xây dựng đời sống tinh thần khoan dung, trí đức, có tác dụngchi phối và điều chỉnh các hành vi khiến con người trở nên thân thiện
Trải nghiệm tình cảm: Đối với bộ môn Ngữ văn, việc hình thành những xúc
cảm và tình cảm thẩm mỹ là mục tiêu quan trọng được định dạng trong chươngtrình môn học Các văn bản được sử dụng dạy học cho học viên đều gắn liền vớinhững lĩnh vực cụ thể của đời sống Văn bản nhật dụng, văn bản nghệ thuật, vănbản khoa học… đều có những giá trị nội dung và nghệ thuật khác nhau Hầu hếtcác văn bản hoặc chủ quan hoặc khách quan đều thể hiện thái độ của người viếttrước những sự vật và hiện tượng Đặc biệt trong các văn bản nghệ thuật thế giớitình cảm càng trở nên phong phú đa dạng và nhiều chiều Sự phát triển về tâm lý
và đời sống tinh thần của con người được chuyển tải trong văn học một cách chânthực và rõ nét Đặc điểm riêng của thời đại, những giá trị chân lý đạo đức đượctôn vinh hay hạ thấp đều được các tác giả mã hóa vào trong hành vi, bản chất củatừng cá nhân tham gia vào hiện thực được đặt ra trong văn bản nghệ thuật.Thếgiới tình cảm của con người bắt đầu từ lòng biết ơn, sự rung động, những xúc cảmhay thậm chí là những ấn tượng được thu nhận thông qua trực giác cá nhân Tìnhcảm nếu được nhìn một cách khách quan không chỉ là vấn đề cá nhân mà đã bịchi phối và tự điều chỉnh bởi các chuẩn mực đạo đức và giá trị xã hội Hơn nữa,tình cảm là góc nhìn khách quan nhất để đánh giá các mối quan hệ giữa cá nhânvới cá nhân; cá nhân với cộng đồng Những xung đột tình cảm trong văn học đôikhi dẫn các nhân vật rơi vào vực thẳm của sự tự ti, sợ hãi, đau đớn và đôi lúc nó
là những phản kháng cuồng nộ dẫn đến sự hủy diệt Không hề thiếu các cung bậctình cảm ấy trong những sáng tác của văn chương nhân loại từ cổ chí kim từ đôngsang tây Vì vậy, đặt vấn đề trải nghiệm tình cảm trong dạy học Ngữ văn có thểđược ví là gieo hạt trên mảnh đất màu mỡ Tính đa dạng của thổ nhưỡng sẽ là cộinguồn của sự phát triển cây trái tinh thần hay loài cây trái tinh thần đã làm cho thổnhưỡng trở nên trù phú, mối quan hệ thẩm thấu bên trong này thật khó mà lý giải.Điều quan trọng nhất của việc trải nghiệm tình cảm chính là việc hình thành lốisống mang tính lựa chọn chủ động và trên thực tế, một lần nữa nó lại quay về với
Trang 23tâm thế sẻ chia đồng cảm giữa con người với con người; giữa con người với môitrường sống.
Trải nghiệm xã hội: Tham gia vào các hoạt động xã hội được xem là nhu
cầu thiết yếu của con người Các hoạt động trải nghiệm xã hội “cho con người
kỹ năng và thói quen cần thiết để sống trong xã hội của mình, chia sẻ kinhnghiệm, hình thành các chuẩn mực, phong tục, truyền thống, giá trị, vai trò xãhội, biểu tượng và ngôn ngữ” Sự quan trọng của môi trường xã hội đối với quátrình hình thành và phát triển nhân cách học viên vì vậy những trải nghiệm xãhội trong dạy học Ngữ văn cũng được kỳ vọng không kém Trong thực tế, cáchình thức tham quan những danh thắng, lăng tẩm, sưu tầm văn học địa phương,câu lạc bộ sáng tác văn học, trại sáng tác văn học, tìm hiểu ca Huế trên sôngHương, tìm hiểu các thể loại dân ca, kịch, tuồng, chèo… và các hình thức biểudiễn hay sân khấu hóa… đều được xem là cơ hội để người học có dịp hóa thân,tham gia trực tiếp vào các hoạt động có chủ điểm gắn liền với hoạt động giáodục môn học trong nhiều loại trải nghiệm được đề xuất của các chuyên gia tâm
lý, trải nghiệm xã hội vẫn là hình thức trải nghiệm được tổ chức nhiều nhất ởnhà trường phổ thông Việt Nam Đối với môn Ngữ văn nó hầu như gắn liền vớicác hoạt động ngoài giờ lên lớp Trải nghiệm xã hội qua nội dung môn Ngữ văn
là cơ hội phát triển tâm lý nhận thức của học viên, cải thiện các kỹ năng sống,biến quan tâm chia sẻ thành phẩm chất, nhưng quan trọng hơn là các em có thể
tự xác định một số tiêu chí phát triển phù hợp với bản thân hài hòa trong mốiquan hệ với điều kiện sống cụ thể của từng cá nhân học viên
Trải nghiệm chủ quan: Đây là dạng trải nghiệm dựa trên sức mạnh của trực
giác cá nhân khi tương tác với môi trường Kết quả của trải nghiệm này đưa lạicho chủ thể những cảm xúc hay trạng thái tâm lý phù hợp với nội dung trảinghiệm Sự khởi dầu của trải nghiệm là sự huy động các kinh nghiệm rời rạc,sau đó nhờ vào năng lực cá nhân thể hiện thông qua một chuỗi các hành động vàthao tác để phân tích, tổng hợp và giải quyết tình huống Xuất phát từ kinhnghiệm nên kết quả của trải nghiệm có khả năng không chính xác Tuy nhiênnhờ vào những phản hồi người học có thể tiếp tục điều chỉnh nhận thức hoặckinh nghiệm để đạt đến những kết quả có khả năng phản ánh đúng các giá trịhay thuộc tính chung của cộng đồng Đôi khi trong thực tiễn, có trải nghiệm chủquan mang tính bị động và ngay trong những trường hợp như thế, người họcvẫn có thể rút ra bài học hay những kinh nghiệm quí giá cho bản thân
Trang 24Trải nghiệm mô phỏng: Các hoạt động mang tính chất mô phỏng và tái
hiện đời sống trong nội dung văn học đều được xem là cơ hội cho học viên trảinghiệm Theo cách này hầu hết việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy họccũng đáp ứng được yêu cầu học tập, trong đó hợp lý và hiệu quả nhất có thể là
sử dụng máy tính Sự cụ thể hóa các vấn đề trừu tượng thông qua xử lý của giáoviên khiến học viên có cách nhìn chính xác và rõ ràng hơn về đối tượng nhậnthức Cần lưu ý, ngôn ngữ của giáo viên cũng được xem là phương tiện môphỏng bên cạnh những hình ảnh, âm thanh, con số… Tồn tại song song với việc
sử dụng phương tiện nói chung, sắm vai hay những trò chơi trí tuệ có liên quanđến môn học cũng là cách trải nghiệm mô phỏng hiệu quả Thông qua trảinghiệm mô phỏng khiến học viên có cảm giác thật hơn khi sắm vai các nhân vật
để vượt rào cản tình huống Đây cũng là sự tập dượt để người học có khả năng
xử lý tốt một tình huống tương tự trong cuộc sống
Để HĐTN thực sự hiệu quả, khơi dậy ở học viên niềm đam mê hứng thútrong quá trình tìm kiếm tri thức bằng chính sự tham gia, tương tác của bản thânthì mọi khâu của quá trình tổ chức dạy học đều phải được đồng bộ Nói cáchkhác, kết quả của HĐTN không chỉ dừng lại ở sự phân tích và chỉ ra các dạngtrải nghiệm phù hợp Trên thực tế, nó còn yêu cầu kết hợp với các chủ điểm hợp
lý, hệ thống phương pháp phù hợp, hình thức tổ chức dạy học đa dạng, phươngpháp kiểm tra đánh giá tương thích và sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống phươngtiện mới có thể xác lập kết quả như mong muốn
Dựa trên các hoạt động học tập theo mục tiêu phát triển năng lực; dựa trêncác yêu cầu tăng cường những trải nghiệm của HV, hoạt động học tập của HVđược tổ chức theo tiến trình sau:
Bước 1 Tham gia và suy ngẫm sự kiện mở đầu, phát hiện vấn đề
Học viên tham gia vào các tình huống học tập do GV xây dựng: Giải bàitập mở đầu, mô tả các sự kiện trong đời sống có liên quan, tham gia trò chơi,
làm thí nghiệm, quan sát và đánh giá về một sự kiện vật lí…Để từ đó phát hiện được vấn đề nghiên cứu và diễn đạt được vấn đề bằng câu hỏi hay một bài toán
có đủ thông tin
Bước 2 Thu thập thông tin
Từ vấn đề đã xác định, học viên thảo luận để đi đến xác định các từ khóa
để tìm kiếm thông tin Phân công các thành viên tìm kiếm thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau: Sách, báo, Internet, người lớn hơn…
Trang 25Bước 3 Kiểm chứng và sắp xếp thông tin
Học viên trình bày và thảo luận để lựa chọn được các thông tin có ý nghĩa với chủ đề; thực hiện kiểm chứng tính xác thực, sự đúng đắn của các thông tin dựa trên các bằng chứng từ các tài liệu hoặc từ thí nghiệm Sau đó tiến hành sắp xếp chúng thành một hệ thống sử dụng được Hệ thống này nên để dưới dạng sơ
đồ hệ thống hay sơ đồ tư duy Các hành động bao gồm:
- Lựa chọn các bằng chứng là các tư liệu hợp thức, các tài liệu, dẫn chứng
lịch sử đã được thừa nhận, các văn bản quy định…
- Nêu ra các ý kiến, quan điểm của các nhân vật có uy tín về vấn đề đang
xem xét
- Xác nhận những ý kiến được nhóm cho là phù hợp liên quan đến vấn đề
nghiên cứu để chốt lại
Trong dạy học Ngữ văn, GV cần chú ý phát huy tính tích cực, chủ độngsáng tạo của học viên Đây chính là cốt lõi của đổi mới dạy và học, hướng tớihoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen thụ động của học viên Họcviên phải được đưa vào những tình huống thực tiễn của đời sống, được trực tiếpquan sát, thảo luận, trải nghiệm và giải quyết vấn đề theo những cách suy nghĩcủa mình Nói cách khác là được tạo điều kiện tối đa để phát huy hết các nănglực chủ quan của mình trong quá trình khám phá, chiếm lĩnh, tiếp nhận vàthưởng thức văn học dưới sự hỗ trợ, sự hướng dẫn của người giáo viên Phát huyđược tính tích cực, chủ động của học viên chính là tiền đề cho sự sáng tạo, sựphát triển tự giác và hứng thú trong học tập
Bước 4 Xây dựng sản phẩm hoạt động
Từ các thông tin và kết quả nghiên cứu đạt được, cần xây dựng một sảnphẩm hoạt động của nhóm Sản phẩm này sẽ thể hiện kết quả học tập có được từhoạt động tìm kiếm thông tin khi vận dụng vào tình huống cụ thể gắn với thựctiễn
Sản phẩm bao gồm: Hệ thống kiến thức - hệ thống vật chất hoặc/và hệthống tinh thần:
- Một hệ thống kiến thức rõ ràng, mạch lạc theo một logic hợp lí ứng vớinội dung kiến thức
Trang 26- Một số thiết bị, dồ dùng học tập; một thiết bị, dụng cụ hỗ trợ dùng trongcuộc sống; cũng có thể là một bài viết, một vở kịch, một kịch bản “sân khấuhóa”…
- Một bản hướng dẫn vận hành, sử dụng hợp lí, tối ưu các thiết bị hayhướng dẫn cách thức ứng xử, quy trình thực hiện trong tương tác xã hội…
Theo sự định hướng của GV, các HV xây dựng sản phẩm nhóm để báo
cáo, trao đổi và thảo luận Sản phẩm để báo cáo có thể là: báo tường, tập san bộsưu tậpảnh, poster, sơ đồ tư duy, tờ rơi, video clip, báo cáo power point, vở kịchsân khấu, đóng vai, …
Bước 5 Báo cáo sản phẩm, trao đổi, thảo luận
Từng nhóm báo cáo sản phẩm của nhóm đã xây dựng trước cả lớp; trao đổi để làm rõ các nội dung trong báo cáo hoặc chỉ ra những chỗ sai sót cần điều chỉnh; chia sẻ những điều tâm đắc…
Bước 6 Đánh giá hoạt động trải nghiệm
- Các cá nhân nộp các phiếu tự đánh giá, đánh giá các bạn trong lớp
- Giáo viên nêu các ý kiến đánh giá
- Trao đổi và kết luận
Dựa trên phân tích các giai đoạn hoạt động trên của HV, có thể tóm tắt cáchành động cụ thể của GV và HV trong dạy học trải nghiệm như Bảng 1.1
Bảng 1.1 Các giai đoạn hoạt động trải nghiệm trong dạy học
Hoạt động của GV Hoạt động của HV Công cụ,
phương tiện
1 Tổ chức sự kiện mở đầu
(chuyện kể, TN, bài tập, tham
quan trải nghiệm…): tạo một sự
kiện chứa đựng hiện tượng, quá
Sự vật, hiệntượng thực
Video, câuchuyện…
2 Yêu cầu, hướng dẫn thu thập 2 Thu thập thông tin có Sách, báo,
Trang 27thông tin: xác định từ khóa, cách
thức tìm kiếm, cách thức báo
cáo, thảo luận nhóm để giới
thiệu, trình bày về các thông tin
liên quan đến vấn đề, nhiệm vụ
Sách giáokhoa, chuyêngia, Internet
3 Yêu cầu lựa chọn, kiểm
chứng và sắp xếp thông tin để dễ
sử dụng trong quá trình nghiên
cứu
3 Sắp xếp thông tin theo cá nhân, trình bày tại nhóm để lựa chọn và sắp xếp thông tin hợp lí
Giấy, vở, máytính
4 Tổ chức xây dựng các sản
phẩm là sản phẩm kiến thức đã
thu thập được, sản phẩm vật
chất như thiết bị thí nghiệm,
máy móc, trang thiết bị và sản
Xây dựng sản phẩm hoạt động: hệ thống hóa kiến thức, giới thiệu các ứng dụng, các khuyến nghị, đề xuất mới…
Dụng cụ thínghiệm, máytính, máy ảnh,máy ghi âm
5 Tổ chức báo cáo sản phẩm:
thời gian, địa điểm, phương tiện,
khách mời…và thống nhất cách
đánh giá, làm trọng tài hoặc/và
cố vấn khi thảo luận
5 Báo cáo sản phẩm, trao đổi, thảo luận, các ứng dụng hoặc mở rộng
Bảng, máy chiếu, loa đài …
6 Tổ chức đánh giá dựa vào các
sản phẩm của HV và qua quá
trình hoạt động
6 Đánh giá hoạt động qua việc theo dõi sự đống góp của cá nhân với nhóm, sản phẩm nhóm, qua trình bày, thảo luận
Phiếu điểmcủa cá nhân
và đánh giá
nhóm
Trang 282.3 Định hướng kiểm tra-đánh giá các chủ đề thông qua hoạt động trải nghiệm
2.3.1 Đánh giá hoạt động trải nghiệm
Giáo viên tổ chức, đặt mục tiêu cho các hoạt động và đánh giá kết quả họctập, hoạt động của học viên Việc đánh hoạt động trải nghiệm sáng tạo chủ yếuthông qua quan sát hành vi, thái độ và sản phẩm học tập của học viên
Theo công văn 4325/BGDĐT-GDTrH ngày 01/9/2016 của Bộ GDĐT, việcđánh giá cần chú trọng đánh giá thường xuyên đối với tất cả học viên Việc đánhgiá qua:
+ Hoạt động trên lớp
+ Hồ sơ học tập (nhật kí nhóm, các bảng số liệu, bảng kết quả thí nghiệm,thiết bị thí nghiệm, vở học tập
+ Học viên báo cáo kết quả thực hiện dự án học tập, nghiên cứu khoa học,
kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm
+ Bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thựchiện nhiệm vụ học tập
+ Học viên trao đổi, thảo luận về sản phẩm học tập
2.3.2 Nội dung đánh giá
Đánh giá kết quả hoạt động học tập của HV được thể hiện ở hai cấp độđánh giá cá nhân và đánh giá tập thể lớp Vì vậy, nội dung đánh giá phải thiếtthực, có tiêu chí đánh giá rõ ràng thì việc đánh giá mới có tác động tích cực tớiHV
a) Nội dung đánh giá cá nhân
Đánh giá HV qua HĐTN là khẳng định khả năng tham gia hoạt động của
HV Khả năng tham gia hoạt động thể hiện ở các kĩ năng hoạt động, kĩ nănggiao tiếp của HV
Đánh giá HV qua HĐTN xét cho cùng chính là sự xem xét mức độ đã hoànthành các mục tiêu đã đề ra Căn cứ vào mục tiêu HĐTN ở trường phổ thông, nộidung đánh giá HV (cá nhân và tập thể HV) bao gồm những điểm sau đây:
(1) Đánh giá mức độ hiểu biết của các HV về nội dung các HĐTN
Trang 29Muốn đạt được những kĩ năng hoạt động, muốn có thái độ tích cực tronghoạt động thì trước hết phải có sự hiểu biết đầy đủ về hoạt động này hay nói cáchkhác phải có trí thức về hoạt động Vì vậy, nội dung đầu tiên của đánh giá HVqua hoạt động chính là đánh giá những hiểu biết của các em về hoạt động đó.Những hiểu biết này được truyền tải tới HV bằng nhiều con đường khác nhau,nhiều cách thức khác nhau Có thể bằng con đường học tập văn hóa; hoặc bằnghoạt động tự sưu tầm, tìm hiểu của HV; hay có thể thông qua những thông tin thuđược từ hoạt động truyền thông đại chúng… Mỗi con đường, mỗi cách thức có ưuthế riêng của mình Song tất cả đều nhằm mục đích giúp HV nâng cao hiểu biết
về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
(2) Đánh giá trình độ đạt được các kĩ năng khi tham gia HĐTN
Khi nói về kỹ năng hoạt động, người ta thường đề cập tới kĩ năng bộ phậnnhư: kỹ năng giao tiếp trong hoạt động, kỹ năng đánh giá kết quả hoạt động,trong đó giao tiếp được xem là kỹ năng xuyên suốt trong các kỹ năng bộ phận.Đối với cá nhân HV, khi đánh giá trình độ đạt được về kĩ năng hoạt động, cầnchú ý tới các kỹ năng: thực hiện hoạt động (bao gồm: nhận nhiệm vụ, thực thinhiệm vụ được giao, tự điều chỉnh bản thân trong quá trình thực hiện); kỹ năng tựđánh giá kết quả đạt được cả về mặt nhận thức, thái độ và hành vi; kỹ năng giaotiếp… Mỗi HV, tùy thuộc vào đặc điểm cá nhân mà hình thành và phát triển hệthống các kỹ năng hoạt động tương ứng
(3) Đánh giá về thái độ, tình cảm của HV đối với HĐTN
Nội dung của đánh giá này xem xét sự hứng thú, khuynh hướng, nhu cầuđối với hoạt động, tâm lý sẵn sàng tham gia hoạt động một cách chủ động vàsáng tạo, thái độ tôn trọng lẫn nhau, cùng giúp đỡ nhau trong hoạt động và niềmtin vào những kết quả đạt được sau hoạt động
Tuy rất khó để đánh giá thái độ và tình cảm, còn nếu biết đưa ra những tiêuchí cụ thể, phù hợp lứa tuổi thì có thể đánh giá được kết quả đánh giá tích cực
Từ những phân tích ở trên, có thể phân loại các mức độ đánh giá HV nhưsau:
- Loại Tốt: Đó là những HV có nhận thức đầy đủ về nội dung hoạtđộng; có thái độ tích cực, hứng thú và say mê tham gia các hoạt động của tậpthể; biết chủ động cùng các bạn thực hiện theo đúng yêu cầu của hoạt động; kháthành thạo các kĩ năng tham gia và tổ chức hoạt động
Trang 30- Loại Khá: Là những HV tuy nắm nội dung hoạt động chưa thậtđầy đủ, song lại có ý thức tìm hiểu để bổ sung vốn hiểu biết về hoạt động củabản thân; tích cực tham gia hoạt động song hiệu quả còn chưa thật tốt; tự trang
bị cho mình một số kỹ năng hoạt động cơ bản
- Loại Trung bình: Là những em hiểu biết ít về nội dung hoạt động,
có cố gắng tìm tòi, học hỏi nhưng kết quả chưa cao; tham gia không thườngxuyên và chưa tích cực với hoạt động và kỹ năng hoạt động còn hạn chế
- Loại Yếu: Đây là những HV không nắm được nội dung hoạt động,thiếu ý thức tập thể, không tham gia vào bất kì một hoạt động nào, thậm chí còngây ra những tình huống phức tạp
b) Nội dung đánh giá tập thể lớp
Đánh giá kết quả hoạt động của tập thể lớp trên các phương diện:
- Số lượng HV tham gia hoạt động
2.3.3 Các hình thức đánh giá
Để đánh giá được khả năng tham gia hoạt động của HV cần căn cứ vàomục tiêu, nội dung của hoạt động, thời gian dành cho hoạt động, có thể tiến hànhnhiều hình thức và phương pháp đánh giá khác nhau Tuy nhiên, dù tiến hànhdưới hình thức và phương pháp đánh giá nào cũng đều phải tính đến sự phù hợpvới mục tiêu đánh giá Bởi vì mục tiêu đánh giá là đầu ra cụ thể phản ánh mức
độ đạt được của HV trong hoạt động Chính vì vậy, hình thức và phương phápđánh giá phải thích hợp cho mỗi đầu ra cụ thể đó Do vậy, có thể nói, hình thức vàphương pháp đánh giá HV qua hoạt động TN phải mang tính đa dạng, và phải phùhợp với đặc điểm HV của mình Dưới đây là một số hình thức và phương phápđánh giá phổ biến hiện nay
a) Đánh giá bằng quan sát
Trang 31Quan sát là quá trình tri giác trực tiếp đối tượng nhằm thu nhập thông tin vềđối tượng hoặc kiểm tra thông tin về đối tượng Quan sát được sử dụng như mộtphương pháp kiểm tra, từ đó đưa ra những nhận xét đánh giá bước đầu Có tínhchất định tính về kết quả của hoạt động Khi quan sát, GV sử dụng tổng hợp cácgiác quan (chủ yếu bằng mắt) để theo dõi, tri giác mọi diễn biến hoạt động của
HV và tập thể HV nhằm thu nhập những thông tin phản ánh về các biểu hiện củahành vi, thái độ, kỹ năng, tính tích cực hoạt động của HV làm cơ sở cho việcđánh giá
Quan sát được thực hiện trong suốt quá trình hoạt động, từ khâu chuẩn bị,diễn biến đến kết thúc hoạt động Những thông tin thu được từ quan sát mangtính sinh động, đa dạng, phong phú, chân thực nhưng đôi khi bị nhiễu do tínhchủ quan của chủ thể quan sát Do đó những thông tin thu nhập được từ quan sátcần được xử lý khách quan, có sự so sánh, đối chiếu với các thông tin thu được
từ các phương pháp khác nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá một cách khách quanHV
Khi quan sát, cần bảo đảm một số yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính khách quan của thông tin thu được; khắc phục tính chủquan của người quán sát
- Quan sát có chủ đích, có thể quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp
- Quan sát tự nhiên hoặc có bố trí để có thể thu được những thông tin kháchquan
- Phối hợp quan sát tập thể và quan sát cá nhân, quan sát quá trình và quansát thời điểm, quan sát theo kế hoạch và quan sát ngẫu nhiên để đảm bảo tínhchính xác của thông tin
- Cần ghi chép để lưu trữ thông tin, tạo cơ sở xác đáng cho việc đánh giá
b) Đánh giá bằng phiếu tự đánh giá
Mẫu phiếu tự đánh giá được thiết kế phù hợp với từng hoạt động tùy theonội dung hoạt động Nên có sự thống nhất mẫu phiếu cho tất cả mọi thành viêntrong tập thể Phiếu tự đánh giá có tác dụng giúp HV tự nhận biết bản thân, tựxem xét lại quá trình làm việc của mình Do đó cần thiết kế một cách khoa học, cẩnthận, bảo đảm giúp HV nắm được nội dung và cách đánh giá, giúp HV có thể tựđánh giá trung thực
c) Đánh giá bằng phiếu hỏi
Trang 32Phiếu hỏi sử dụng hệ thống câu hỏi để đánh giá mức độ nhận thức và thái
độ của HV đối với các nội dung hoạt động Hệ thống câu hỏi nhằm định hướnggiúp HV phát biểu trên giấy những thu hoạch của bản thân sau hoạt động; đưa ranhững nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động của nhóm, tổ chức, của tập thể lớp Câu hỏi dành cho đánh giá HV sau hoạt động phải ngắn gọn, cụ thể và rõràng, tránh sử dụng những câu rườm rà, không rõ nghĩa hoặc dập khuôn theomẫu câu hỏi của môn học
Câu hỏi trong phiếu hỏi có thể là: câu hỏi tự luận; câu hỏi dạng trắc nghiệmkhách quan
Trong việc đánh giá kết quả HĐTN có thể sử dụng phối hợp các loạicâu hỏi trắc nghiệm sau đây: câu hỏi hai phương án trả lời: đúng – sai,đồng ý hay không đồng ý ; câu nhiều lựa chọn (ít nhất có ba phương ántrả lời trở lên); câu điền khuyết
d) Đánh giá qua bài viết
Có các loại bài viết sau:
- Viết tường trình hoạt động: Mỗi HV viết một bản tường trình, liệt kê tất
cả những việc mà mình đã tham gia vào hoạt động của lớp Bản tường trình nhưmột thuyết minh cho việc thực hiện nhiệm vụ được giao mà trong đó các em nêu
rõ mức độ tham gia, tự đánh giá ý thức tham gia của bản thân và kết quả đạtđược Sau đó, bản tường trình sẽ được thông qua tổ để các bạn góp ý kiến bổsung GV đọc bản tường trình của HV sẽ có thể biết được khả năng tự đánh giácủa các em
- Viết bài thu hoạch: Cho HV viết bài thu hoạch là tạo ra các điều kiện mở
để HV thể hiện một cách trung thực những kiến thức đã lĩnh hội, những thái độ
đã được hình thành đối với những vấn đề được đề cập trong nội dung hoạt động.Bài thu hoạch cũng thể hiện đầy đủ các kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng tạo văn bản
Nó thể hiện một cách độc đáo cá tính, phong cách, tư tưởng, lối tư duy, ý thức
và thái độ học tập cá nhân Vì vậy, bài thu hoạch của HV là cơ sở xác đáng để
GV đánh giá trung thực kết quả hoạt động của HV và để HV tự đánh giá bảnthân
Để tạo điều kiện cho HV hoàn thành bài thu hoạch, GV cần phải chú trọngđến việc đưa ra những gợi ý, những yêu cầu cần phải đạt, hướng dẫn cách viếtthu hoạch hay gợi ý những tài liệu tham khảo GV cũng cần phải thường xuyên
Trang 33kiểm tra, nhắc nhở, đôn đốc, động viên để HV có thể hoàn thành các bài thuhoạch đúng thời gian và có hiệu quả, tránh qua loa, chiếu lệ.
Bài viết thu hoạch có thể được thể hiện dưới hai hình thức: Bài viết tự do;Bài viết theo hướng dẫn
e) Đánh giá qua sản phẩm hoạt động
Sản phẩm hoạt động của HV chính là kết quả được do sự cố gắng thực hiệntrách nhiệm của mình Nhìn vào sản phẩm hoạt động của HV, GV có thể đánhgiá được ý thức trách nhiệm của các em trong công việc được giao, nhận xétđược thái độ và tình cảm đối với hoạt động cũng như kỹ năng hoạt động Nếusản phẩm hoạt động có chất lượng thực sự thì chứng tỏ HV có ý thức tự giáctham gia vào hoạt động Ngược lại, sản phẩm hoạt động không thỏa mãn yêucầu của GV, của tập thể lớp có thể cho rằng HV chưa hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao
Vậy thế nào là sản phẩm hoạt động của HV? Có thể hiểu sản phẩm hoạtđộng của HV là các bài viết về một nội dung chủ đề; kết quả sưu tầm được theoyêu cầu của hoạt động; bản báo cáo thu hoạch sau hoạt động điều tra hoặc cácsản phẩm cụ thể như: một tập tranh ảnh, một bộ sản phẩm do chính các em HVlàm ra Nói cách khác, đó là sản phẩm vật chất được HV thực hiện trong quátrình hoạt động Khi tham gia vào quá trình làm ra sản phẩm, HV thể hiện được
cả về hiểu biết, kỹ năng hoạt động tập thể và thái độ của mình
f) Đánh giá bằng điểm số
Thông thường, điểm số phản ánh chất lượng và kết quả học tập của HV,trong đó bao hàm cả tinh thần, thái độ học tập GV sử dụng điểm số để đánh giákết quả học tập của HV dựa trên mức độ nắm kiến thức của các em
Đối với HĐTN; điểm số có thể sử dụng để đánh giá về mức độ nhận thứcnội dung hoạt động Về ý thức tham gia hoạt động của các em Lượng hóa bằngđiểm số trong hoạt động có thể áp dụng cho đánh giá cá nhân HV hoặc nhóm
HV Chẳng hạn như: điểm số dùng cho các cuộc thi của các đội tham gia thi,cho các nhân HV với tư cách là khán giả cuộc thi Thang điểm linh hoạt tùythuộc vào hình thức hoạt động Có thể cho điểm bậc 10, bậc 20 hoặc hơn thếnữa tùy thuộc theo sự quyết định, lựa chọn của GV và HV Điểm số trong hoạtđộng là một căn cứ giúp GV có thêm cứ liệu để đánh giá HV sau hoạt động
g) Đánh giá qua tọa đàm, trao đổi ý kiến và nhận xét
Trang 34GV có thể tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi ý kiến với cá nhân HV, một sốngười có mối quan hệ với HV để có những thông tin trực tiếp làm cơ sở cho việcđánh giá.
Tọa đàm là sự trao đổi ý kiến diễn ra đồng thời với nhiều người Ví dụ: GVvới nhóm HV, GV với ban cán sự lớp, GV với cách thành viên của Ban giámkhảo, GV với cha mẹ HV, GV chủ nhiệm với GV bộ môn Thông tin có tính đadạng, tạo cở sở cho sự đánh giá khách quan
Trao đổi ý kiến thường diễn ra theo cá nhân, giữa GV với người khác Ví
dụ, với từng các nhân HV, từng thành viên của Ban cán sự lớp, thành viên Bangiám khảo, GV với cha mẹ HV Thông tin thu được rất phong phú, có thể trungthực hay không trung thực, có độ tin cậy hay không có độ tin cậy Vì vậy, GVcần hết sức cẩn trọng trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin để có thể có đượcnhững thông tin chính xác nhất, tránh sự đánh giá sai, ấn tượng hay áp đặt HV Nhận xét của cá nhân có hai hình thức: tự nhận xét bản thân, nhận xét bạnmình và tập thể của mình Cá nhân tự nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động củamình theo các tiêu chuẩn cụ thể Sau đó, tập thể có ý kiến bổ sung và quyết định
Cá nhân nhận xét bạn mình và tập thể của mình trên cơ sở tự nhận xét của bạn
và của tập thể Như vậy, hình thức đánh giá này có hai chiều, quan hệ mật thiếtvới nhau
h) Đánh giá qua bài tập và trình diễn
Sử dụng bài tập thực hành hay bài tập lý thuyết và việc trình diễn của HV
để kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động TN là hình thức phù hợp Khi làm bài tập
và trình diễn, HV không chỉ bộc lộ hiểu biết và vận dụng lý thuyết mà còn thểhiện được mức độ thành thạo, đúng đắn của thao tác, của hành vi Kết quả làmbài tập và trình diễn cũng thể hiện rõ nét thái độ và khả năng định hướng giá trịHV
GV nên lựa chọn bài tập và hoạt động trình diễn phù hợp với mục tiêu đánhgiá, nội dung hoạt động và mức độ yêu cầu phù hợp với trình độ, điều kiện của
HV có thể đánh giá được toàn diện sự phát triển nhân cách
i) Đánh giá của giáo viên chủ nhiệm và các lực lượng khác
Tùy thuộc vào hoạt động cụ thể mà có thể phối hợp với các lực lượng giáodục khác như GV bộ môn, các tổ chức đoàn thể, gia đình HV, cộng đồng ở địaphương để đánh giá kết quả của hoạt động và sự trưởng thành, phát triển nhâncách HV được giáo dục thông qua các HĐTN
Trang 35Lực lượng tham gia đánh giá có vai trò hỗ trợ cho hoạt động đánh giá của
GV, họ có nhiệm vụ giúp đỡ cho đánh giá của GV bằng việc cung cấp thông tinnhận xét về những trường hợp đặc biệt, bày tỏ quan điểm đánh giá của mình.Những giúp đỡ của HV sẽ rất có ý nghĩa cho việc ra quyết định cuối cùng của
GV trong việc xếp loại HV Sự tập hợp đông đảo các lực lượng tham gia đánhgiá sẽ làm cho quá trình đánh giá khách quan hơn, có độ tin cậy hơn
Việc sử dụng hình thức đánh giá nào là do GV lựa chọn Tuy nhiên, khiquyết định lựa chọn hình thức đánh giá, GV cần chú ý tới đặc điểm của HV, tớinhững yêu cầu về hoạt động mà nhà trường đặt ra và đặc biệt phải bám vào mụctiêu của hoạt động Hình thức đánh giá được chọn cũng phải nhằm động viên,khích lệ hứng thú hoạt động của HV, hướng các em tham gia tích cực hơn vàonhững hoạt động tiếp theo
2.3.4 Quy trình đánh giá
Đánh giá HV qua HĐTN đòi hỏi phải tuân theo một quy trình chặt chẽ Thựctiễn của việc tổ chức hoạt động cho HV đã chứng minh rằng: nếu không có đánhgiá kết quả hoạt động và nếu công tác đánh giá không theo quy trình thì dễ tạo nênnhững chủ quan và sự thiếu hứng thú đối với hoạt động của HV Vì vậy, đánh giá
HV qua hoạt động theo một quy trình cần phải đảm bảo những yêu cầu được gợi ýdưới đây:
a) Những yêu cầu của quy trình đánh giá
- Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá: Tính khách quan củaquy trình đánh giá là sự phản ánh trung thực những nhận xét của cá nhân, nhóm
và tập thể lớp so với mục tiêu của hoạt động Nhận xét, đánh giá giữa các cấp độkhác nhau phải tuân theo tiêu chí nhất định Tiêu chí phải bám vào mục tiêu củahoạt động, thể hiện được mục tiêu đó
Tính khách quan của quy trình đánh giá thể hiện ở sự rõ ràng, tường minhtrong từng khâu, từng bước của quy trình Kết quả đánh giá ở khâu trước sẽ làđiểm tựa cho đánh giá ở khâu sau Ngược lại, kết quả đánh giá ở khâu sau sẽcùng cố đánh giá của khâu trước
- Đảm bảo tính hệ thống của quy trình đánh giá: Trong quá trình hoạt độngcủa HV, việc đánh giá phải được tiến hành thường xuyên và có hệ thống Cónhư vậy, GV mới thu được những thông tin ngược về kết quả hoạt động của HV
để có cở sở thực tiễn kịp thời đánh giá và điều chỉnh hoạt động của các em Tính
hệ thống của quy trình đánh giá hoạt động của HV thể hiện ở chỗ: kết quả hoạt
Trang 36động phải được đánh giá từ chính bản thân HV, của nhóm HV Sự nhất quán nàyphải diễn ra thường xuyên trong đánh giá hoạt động Nếu thực hiện không theo
hệ thống sẽ mang lại ít tác dụng cho việc động viên HV tham gia hoạt động
em đã rèn luyện được và sự hứng thú đối với hoạt động Từ đó, HV tự xếp vàoloại mà bản thân cho là hợp lý nhất Tự xếp loại chính xác sẽ giúp các em tự tinkhẳng định mình hơn, từ đó có quyết tâm cao hơn trong việc tham gia vào hoạtđộng của tập thể
Trong tự đánh giá, điều khó khăn đối với HV là việc tự xác định đúng khảnăng của mình trong hoạt động Khả năng thể hiện ở sự hiểu biết vấn đề, nắmbắt thông tin và bổ sung thêm cho vốn tri thức của mình; đồng thời khả năngcũng bộc lộ ở các kỹ năng giao tiếp trong hoạt động, kỹ năng giải quyết vấn đềcủa HV
GV cần hướng dẫn tự đánh giá để HV thực hiện bước này có hiệu quả hơn
Từ đó, đánh giá của tập thể HV sẽ có sở sở để thực hiện
- Bước 2: Nhóm HV đánh giá
Thông thường, nhóm HV là đơn vị cơ bản để đánh giá xếp loại cá nhân trên
cơ sở tự đánh giá của từng em và góp ý của các thành viên trong nhóm
Căn cứ vào tiêu chí đánh giá của các mức độ xếp loại ở trên, dựa vào tựđánh giá của từng em và góp ý của các thành viên trong tổ
Căn cứ vào tiêu chí đánh giá của các mức độ xếp loại ở trên, dựa vào tựđánh giá của cá nhân, các thành viên trong tổ nhận xét, bổ sung thêm thông tinnhằm khẳng định mức độ đạt được của từng HV trong nhóm mình
Điều rất quan trọng ở bước này là người chủ trì điều khiển đánh giá củanhóm phải chủ động, dẫn dắt để HV trong lớp đánh giá được chính xác và kháchquan hơn
Trang 37- Bước 3: GV đánh giá, xếp loại
Từ kết quả đánh giá HV, GV xem xét, phân loại và đi đến quyết định xếploại cho từng HV trong lớp Trong quá trình này, GV cần tham khảo, trao đổithêm về những trường hợp cụ thể, cần thiết Điều đó rất có tác dụng trong việcphát huy tính dân chủ ở HV, đồng thời tập dượt cho các em kỹ năng trao đổi mộtcách trung thực và thẳng thắn
2.3.5 Tiêu chí đánh giá
Đánh giá HV trong hoạt động TN cần căn cứ vào mục tiêu đã được xácđịnh về kiến thức, thái độ kỹ năng đã được xác định Cần lưu ý các khía cạnhđánh giá có tính chất đặc thù đó là sự trải nghiệm và sáng tạo của HV
a) Các tiêu chí đánh giá trải nghiệm
- HV được trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động TN, không phải
là chỉ thụ động ngồi nghe giảng hay quan sát các bạn HV khác thực hiện hoạtđộng
- HV được trải nghiệm tất cả các giác quan: mắt – nhìn, tai – nghe, mũi –ngửi, trải nghiệm bằng xúc giác, được hoạt động bằng đôi tay, cầm nắm và cảmnhận; được di chuyển trên đôi chân Đặc biệt là trải nghiệm cảm xúc khi thamgia các hoạt động: vui, buồn, lo lắng, an tâm, hạnh phúc, băn khoăn
- HV được hoạt động, tương tác trực tiếp với đối tượng hoạt động
- HV được trải nghiệm cả trên lớp và hoạt động thực tiễn bên ngoàiphạm vi lớp học
b) Các tiêu chí đánh giá sự sáng tạo của học viên
- Tính độc đáo: sản phẩm của HV (những câu trả lời, những vật dụng, đồdùng) thể hiện tính chất hiếm, lạ (chưa từng xuất hiện bao giờ đối với cá nhân HV,hoặc hãn hữu xuất hiện và quá khan hiếm đối với cá nhân HV cũng như tập thể) về
ý nghĩa, chức năng sử dụng, tính chất, hoặc vai trò và vị trí của nó trong hoàn cảnhvấn đề đặt ra
- Tính thành thục: số lượng ý tưởng, hoặc ý kiến, hoặc phương án đượcđưa ra với mỗi nhiệm vụ mà HV thực hiễn khi tham gia hoạt động học tập cụthể
- Tính mềm dẻo: số lượng các ý tưởng, các giải pháp, các phương án trả lời
và các thuộc tính được phát hiện của sự vật hiện tượng
Trang 38- Tính mới mẻ: sản phẩm của HV (câu trả lời, những vật dụng, đồ dùng)thể hiện tính chất không quen thuộc về ý nghĩa, chức năng sử dụng, tính chất,hoặc vị trí và vai trò của nó trong hoàn cảnh vấn đề được đặt ra.
- Tính hiệu quả: số lượng ý tưởng, phương án, sản phẩm được ghi nhận
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ CHỦ ĐỀ MINH HOẠ
CHỦ ĐỀ 1 ĐỌC HIỂU TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM
A NỘI DUNG CHỦ ĐỀ
I Căn cứ lựa chọn chủ đề
Trang 39Căn cứ vào các bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1) hiệnhành:
- Khái quát về Văn học dân gian Việt Nam (mục II Hệ thống thể loại củavăn học dân gian Việt Nam) (Tuần 2)
- Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy (Tuần 4)
- Tấm Cám (Tuần 7)
- Tam đại con gà; Nhưng nó phải bằng hai mày (Tuần 8)
Để giúp học viên lĩnh hội kiến thức về truyện dân gian Việt Nam và thựchành, luyện tập kĩ năng đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại và tạo lập vănbản, giáo viên có thể thiết kế chủ đề: Đọc hiểu truyện dân gian Việt Nam
II Nội dung chủ đề
Trên cơ sở hệ thống những kiến thức đã có về văn học dân gian đã học ởchương trình Ngữ văn THCS và những kiến thức đã được trang bị trong phầnkhái quát về văn học Việt Nam và văn học dân gian Việt Nam đã học ở phầnđầu chương trình Ngữ văn 10, từ đặc trưng và giá trị cơ bản của văn học dângian (trong đó bao gồm truyện dân gian) đến khái niệm và đặc điểm của các thể
loại (truyền thuyết; truyện cổ tích, truyện cười), giáo viên tập trung hướng dẫn
học viên đọc hiểu truyện dân gian Việt Nam qua một số văn bản
1 Hướng dẫn học viên đọc hiểu một số văn bản trong chương trình 1.1 Đọc hiểu truyền thuyết qua việc tìm hiểu một văn bản cụ thể về thành
Cổ Loa, mối tình Mị Châu – Trọng Thủy và nguyên nhân mất nước Âu Lạc;
nhận thức được bài học giữ nước ngụ trong một câu chuyện tình yêu (bài họclịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lý đúng đắn mối quan hệgiữa riêng với chung, giữa nhà với vước, giữa cá nhân với cộng đồng); hìnhtượng nhân vật và những chi tiết hư cấu trong truyện cho thấy mối quan hệ giữaphần cốt lõi lịch sử với phần tưởng tượng của dân gian
1.2 Đọc hiểu truyện cổ tích thần kì qua văn bản truyện Tấm Cám theo
bản kể của Nguyễn Đổng Chi (Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, NXBKhoa học xã hội, Hà Nội, 1975): Sự biến hóa của Tấm thể hiện sức sống, sứctrỗi dậy mãnh liệt của con người trước sự vùi dập của kẻ ác Đây là sức mạnhcủa thiện thắng ác Mâu thuẫn và xung đột trong truyện phản ánh mâu thuẫn vàxung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ Đặc sắc nghệ thuật của truyện thể
Trang 40hiện ở sự chuyển biến của hình tượng nhân vật Tấm: từ yếu đuối, thụ động đếnkiên quyết đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc cho mình.
1.3 Đọc hiểu truyện cười thông qua văn bản Nhưng nó phải bằng hai
mày (Theo Trương Chính - Phong Châu, Tiếng cười dân gian Việt Nam, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội,1986): thấy được thái độ của nhân dân đối với bản chấttham nhũng của quan lại địa phương và tình cảnh bi hài của người lao động lâmvào kiện việc kiện tụng trong xã hội nông thôn Việt Nam xưa, nắm được nghệthuật gây cười của truyện
1.4 Giáo viên hướng dẫn học viên tự đọc hiểu văn bản Tam đại con gà để
hiểu được mâu thuẫn trái tự nhiên trong cách ứng phó của nhân vật “thầy” trongtruyện, thấy được cái hay của nghệ thuật “nhân vật tự bộc lộ”
B TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ
I MỤC TIÊU:
Qua việc tổ chức dạy học chủ đề, giáo viên giúp người học:
Về kiến thức, kĩ năng:
- Nhận biết được truyện dân gian Việt Nam theo đặc điểm thể loại;
- Biết cách tóm tắt, đọc -hiểu truyện dân gian Việt Nam theo đặc trưngthể loại;
- Hiểu một số đặc điểm cơ bản của truyện dân gian Việt Nam qua một
số thể loại: truyền thuyết, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cười;
- Hiểu, cảm nhận được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật củamột số văn bản trong sách giáo khoa:
+ Văn bản Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy: Hiểu,
cảm nhận được những đặc sắc về nội dung (phản ánh lịch sử dân tộc qua lăngkính tưởng tượng, thái độ và cách đánh giá của nhân dân về các nhân vật lịch
sử; bài học giữ nước; mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu ) và nghệ
thuật (kể chuyện, yếu tố hư cấu) của tác phẩm
Lưu ý: Nhớ được cốt truyện, phát hiện được các chi tiết nghệ thuật,
nhận ra ý nghĩa và bài học lịch sử của văn bản; Phân biệt được truyền thuyết
và sử thi