Từ vấn đề xã hội được rút ra, học sinh tiến hành làm bài nghị luận xã hội, nêu những suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề xã hội ấy: Vấn đề được yêu cầu bàn luận ở đây (cũng là vấn đề xã[r]
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến Thị xã Phổ Yên
1 Tôi ghi tên dưới đây :
tháng, năm sinh
Nơi công tác
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến
1 Nguyễn Thị Quý 8/3/1976 Trường
THCS Bắc Sơn
Giáo viên
Đại học Văn-Sử
100%
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số giải pháp trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 9 ở trường THCS Bắc Sơn.
2 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Quý Trường THCS Bắc Sơn –
Thị xã Phổ Yên - Tỉnh Thái Nguyên
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn
4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Sáng kiến của tôi được nghiên cứu và áp dụng tại Trường THCS Bắc Sơn từ tháng 9/2016 đến hết năm học 2019 – 2020
5 Mô tả bản chất của sáng kiến
5.1 Thực trạng
Trong nhiều năm qua ở trường THCS Bắc Sơn, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các môn, đặc biệt là môn Ngữ văn được nhà trường hết sức quan tâm Ban giám hiệu nhà trường đã phân công cho giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy, bồi dưỡng lên kế hoạch, thành lập đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi và tổ chức ôn luyện cho học sinh ngay từ đầu năm học Chính vì vậy trong những năm qua, nhà trường luôn có học sinh giỏi các cấp đối với môn học này Tuy nhiên qua thực tiễn giảng dạy, công tác này cũng còn một số khó khăn nhất định, đặc biệt là về phương pháp giảng dạy của giáo viên và phương pháp học tập, cách thức làm bài của học sinh nên số học sinh đạt giải cao ở môn Văn chưa nhiều Trong 5 năm học vừa qua, tôi được nhà trường giao nhiệm vụ ôn luyện cho đội
Trang 2tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn Qua kinh nghiệm tích lũy của bản thân và sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp, tôi đã mạnh dạn áp dụng những phương pháp mới trong quá trình bồi dưỡng và đã đạt được những kết quả nhất định
5.2 Một số giải pháp trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 9
5.2.1 Công tác phát hiện và tuyển chọn học sinh giỏi
Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cần được tiến hành từ đầu năm học Đây là công việc đầu tiên của người giáo viên dạy bồi dưỡng Giáo viên phải nắm được năng lực của từng học sinh trong đội tuyển: Có niềm say mê yêu thích văn chương; có tố chất, tiếp thu nhanh, có trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề; có vốn tri thức về tác phẩm văn học phong phú và hệ thống; giàu cảm xúc
và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề của cuộc sống; có vốn từ Tiếng việt dồi dào và có kỹ năng viết văn tốt
Việc tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi dựa trên cơ sở:
+ Kết quả học tập của học sinh ở các năm học trước
+ Đề nghị của giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp
+Tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra tại lớp Sau khi đã có bài, giáo viên
chấm chữa bài cho học sinh lấy kết quả Dĩ nhiên, một bài viết không thể đánh giá được năng khiếu học Văn, nhưng đó là sự khởi đầu để định hướng phát hiện,
bổ sung ở những bài viết tiếp theo, vì việc tuyển chọn học sinh giỏi không chỉ dừng lại ở một số bài viết mà phải theo dõi cả quá trình học tập
Như vậy, bằng những biện pháp trên, giáo viên có thể tuyển chọn được những học sinh có đủ những yêu cầu cần thiết để chuẩn bị cho đội tuyển học sinh giỏi môn Văn của nhà trường
DANH SÁCH ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI
5.2.2 Công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi
Sau khi tuyển chọn được đội tuyển, giáo viên sẽ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng sẽ giúp cho người giáo viên nắm chắc
Trang 3về nội dung cơ bản cần truyền đạt cho học sinh, xác định cụ thể nhiệm vụ của mình Do vậy, muốn cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được tốt, người giáo viên cần xây dựng kế hoạch cụ thể cho công việc này Trong quá trình dạy, giáo viên bán sát và làm theo kế hoạch đó để đảm bảo thời gian, đảm bảo đủ nội dung kiến thức
Kiến thức Ngữ văn ở chương trình THCS bao gồm nhiều kiến thức nhằm nâng cao hứng thú, giúp học sinh lập luận giải quyết vấn đề mạch lạc, rõ ràng, khoa học, phát huy được những nét sáng tạo, hình thành cách nói, cách viết có giọng điệu riêng Muốn vậy thì phải bồi dưỡng kiến thức văn học cho các em có tính hệ thống, có chiều sâu theo từng vấn đề, từng chủ đề (chủ đề về người phụ
nữ, chủ đề về người lính, về tình cảm gia đình, về người lao động mới,…) Bên cạnh đó cung cấp kiến thức về văn học sử ở từng giai đoạn rồi sâu chuỗi tác phẩm đó vào một hệ thống nhất định
C n c v o ă ứ à đề thi c p th xã, c p t nh trong nh ng n m qua, tôi nh nấ ị ấ ỉ ữ ă ậ
th y n i dung ấ ộ đề có hai ph n ki n th c rõ r t: Ngh lu n xã h i v ngh lu nầ ế ứ ệ ị ậ ộ à ị ậ
v n h c Chính vì v y tôi ã xây d ng k ho ch b i dă ọ ậ đ ự ế ạ ồ ưỡng cho h c sinhọ
nh ng ki n th c sau:ữ ế ứ
tiết
Thời gian
ôn tập
Nghị luận
xã hội
- Nghị luận về nhận thức cuộc sống (lý tưởng, mục đích sống)
- Nghị luận về phẩm chất con người
- Nghị luận về nguyên tắc ứng xử trong cuộc sống
35
Từ ngày 10/9/2019 đến ngày 7/5/2020
Nghị luận
văn học
(Tác phẩm
1 Nghị luận về truyện trung đại: tập trung ôn
theo các chủ đề:
- Chủ đề phản ánh hiện thực xã hội phong kiến
- Chủ đề người phụ nữ trong xã hội phong kiến
- Chủ đề người anh hùng
- Giá trị nghệ thuật của từng truyện (yếu tố kì ảo; nghệ thuật xây dựng nhân vật; bút pháp ước lệ tượng trưng; bút pháp tả cảnh ngụ tình)
10
2 Nghị luận về truyện hiện đại Việt Nam
- Đời sống xã hội và con người Việt Nam:
Tình yêu làng, yêu nước; tình yêu lao động;
tình cha con
- Vẻ đẹp của hình ảnh con người Việt nam qua
Trang 4văn học lớp
9)
các tác phẩm truyện: Vẻ đẹp của người nông dân; vẻ đẹp của người lao động mới; vẻ đẹp của người lính
(Có sự liên hệ, tích hợp với các tác phẩm truyện sáng tác trước CM tháng Tám- đã học
ở lớp 8, có cùng chủ đề).
20
3 Nghị luận về thơ hiện đại Việt Nam
- Đất nước và con người Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến
- Công cuộc xây dựng đất nước và những quan hệ tốt đẹp của con người
- Tình cảm yêu nước, tình yêu quê hương
- Tình đồng chí, sự gắn bó với cách mạng, lòng kính yêu Bác Hồ
- Những tình cảm gần gũi, bền chặt của con người: Tình mẹ con, bà cháu trong sự thống nhất với tình cảm chung rộng lớn
* Ngoài ra ôn luyện cho học sinh các dạng đề liên kết giữa nhiều tác phẩm để học sinh linh hoạt hơn khi làm bài:
- Chùm thơ về hình ảnh người lính: Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Ánh trăng.
- Chùm thơ về hình ảnh người bà, người mẹ:
Bếp lửa, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Con cò.
- Chùm thơ về quan niệm sống: Nói với con, Mùa xuân nho nhỏ.
- Chùm thơ về hình ảnh người lao động mới:
Đoàn thuyền đánh cá.
- Chùm thơ về thiên nhiên: Sang thu
- Chùm thơ về lãnh tụ: Viếng lăng Bác.
25
5.2.3 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu các dạng đề thi thường gặp
5.2.3.1 Kiểu bài nghị luận xã hội: Thường có những dạng như sau:
- Dạng bài nghị luận xã hội về một câu nói, câu danh ngôn hoặc từ một câu ca dao, tục ngữ
+ Dạng đề này thường gặp trong các đề thi học sinh giỏi các cấp Đề thường đưa ra những câu nói, câu danh ngôn nổi tiếng hoặc những câu ca dao,
Trang 5tục ngữ bình dị nhưng đều có ý nghĩa sâu sắc, hướng tới những vấn đề xã hội Ở dạng đề này yêu cầu học sinh phải nắm bắt và hiểu được ý nghĩa bài học được gửi gắm qua câu nói, danh ngôn, ca dao, tục ngữ Từ đó đưa ra những ý kiến, quan điểm của mình và rút ra bài học về nhận thức, hành động
+ Ví dụ:
Đề 1: Suy nghĩ của em về câu nói của Nguyễn Thiếp: “Ngọc không mài không thành đồ vật Người không học không biết rõ đạo”
Đề 2: Tục ngữ có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, nhưng lại có ý kiến cho rằng “Gần mực mà không đen, gần đèn mà không rạng” Suy nghĩ của
em?
Đề 3: Trình bày suy nghĩ của em về câu danh ngôn: “Hãy hướng tới mặt trời, bóng tối sẽ ngã về phía sau lưng bạn”.
+ Giáo viên hướng dẫn cách làm: Học sinh cần tuân thủ các thao tác làm
dạng bài nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống, tư tưởng đạo lý Nhưng bên cạnh đó, học sinh cũng phải cần đánh giá sâu hơn về tính đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc của câu danh ngôn, câu tục ngữ, câu ca dao, đồng thời cũng chỉ ra những mặt hạn chế (nếu có) ở thời điểm hiện tại Giáo viên hướng dẫn học sinh triển khai theo các luận điểm sau:
Giải thích câu nói, câu danh ngôn, câu tục ngữ: Tùy theo yêu cầu của đề bài có thể có những cách giải thích khác nhau
Phân tích và chứng minh
Bình luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…)
Rút ra bài học nhận thức và hành động
Hướng dẫn cánh làm đề 1: (Phần thân bài)
.Giải thích câu nói: Giải thích từng vế của câu nói, trong đó trọng tâm là
để nhấn mạnh vế sau: “Người không học không biết rõ đạo” “Đạo” ở đây là lẽ đối xử hàng ngày giữa mọi người với nhau, tức là đạo đức, nhân cách của con người
Câu nói khẳng định một chân lý: Con người cần phải học để làm người
.Phân tích để làm rõ vai trò của việc học:
Học để tiếp thu kiến thức (Tri thức khoa học, kỹ năng, vốn sống) để hình thành nhân cách và đạo làm người
Học để biết về đạo làm người, để có lối sống và hành vi đúng mực
Học vừa thực hiện quyện lợi, vừa là trách nhiệm với gia đình, với đất nước Phân tích nếu không học sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường (nhận thức, tình cảm, hành động)
Trang 6.Bàn về cách thực hiện lời dạy:
Xác định mục đích học tập đúng đắn: Cho bản thân (kiến thức, kỹ năng để tạo dựng tương lai tốt đẹp); cho cuộc sống (phục vụ gia đình, cho cộng đồng); khẳng định bản thân
Phương pháp học tập: Tự học, học suốt đời Học kết hợp với hành, ứng dụng vào thực tế Học không chỉ ở trường lớp mà học ở mọi nơi, mọi lúc
.Liên hệ: Những việc cần làm, đã và sẽ làm
Phê phán những biểu hiện: Học tủ, học vẹt, học gạo
- Dạng bài nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện
+ Dạng bài này hay dùng để kiểm tra kiến thức, năng lực của học sinh giỏi hoặc thi chuyên Đề bài dưới dạng một câu chuyện mang một vấn đề, một triết lý
xã hội sâu sắc hướng tới người đọc Ở dạng đề này, học sinh phải có kỹ năng phân tích, đánh giá và cảm nhận để có thể tìm ra được chính xác nội dung câu chuyện ấy hướng tới là gì? Từ đó mới có thể định hướng cho mình cách làm bài trong toàn bài
+ Ví dụ:
Đề 1: Bài học giáo dục mà em nhận được từ câu chuyện dưới đây:
Con lừa già và người nông dân
Một ngày kia, con lừa của bác nông dân sảy chân ngã xuống cái giếng bỏ hoang Con vật kêu lên thảm thiết nhiều giờ liền trong lúc người chủ của nó nghĩ xem nên làm gì để cứu con lừa lên… Cuối cùng, ông quyết định rằng, vì con lừa cũng già rồi và cái giếng thì đằng nào cũng phải lấp, nên sẽ có cách để không phải bận tâm đến con lừa nữa.
Ông mời hàng xóm đến giúp ông một tay Mỗi ngưởi cầm một cái xẻng xúc đất đổ vào giếng Nhận ra sự thật phũ phàng, con lừa rên rỉ thảm thiết Sau khi hứng những xẻng đất đầu tiên, nó hoàn toàn tuyệt vọng, nhìn lên với đôi mắt đầy
ai óan Chỉ đến khi đất ngập đến gần hết chân, nó mới bừng tỉnh, nó cảm nhận điều gì đó đang và sẽ xảy ra đối với nó Nó không nhìn lên nữa mà cố gắng xoay
sở để trồi lên Bác nông dân và mọi người chăm chú nhìn xuống giếng, họ kinh ngạc trước những gì đang diễn ra Cứ mỗi xẻng đất đổ lên lưng, con lừa lại lắc mình cho đất rôi xuống chân và bước lên lớp đất ấy Cứ thế, từng xẻng đất, rồi từng lớp đất Và chẳng bao lâu, chú lừa đã có thể bước lên miệng giếng, mệt nhọc chạy ra ngoài trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người.
(Theo: Hạt giống tâm hồn – Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ, NXB Tổng hợp
TP Hồ Chí Minh, 2011))
Trang 7+ Hướng dẫn học sinh cách làm: Ở dạng đề này, học sinh làm bài phải
tuân thủ hai bước quan trọng là:
Bước 1: Phân tích hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện để rút ra ý nghĩa
của vấn đề
Bước 2: Thực hiện các thao tác nghị luận (Thao tác này giống như nghị
luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý, hiện tượng đời sống):
Hướng dẫn cánh làm đề 1:(Phần thân bài)
Bước 1: Phân tích, hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện để rút ra ý nghĩa
vấn đề: Thông qua chuyện con lừa, tác giả nêu lên bài học về cách ứng xử đối với khó khăn hoạn nạn của con người trong cuộc sống
Bước 2: Thực hiện các thao tác nghị luận: chứng minh, bình luận vấn đề .Chứng minh - Bình luận:
Trong cuộc sống, bạn có thể bị thất bại do nhiều nguyên nhân, thậm chí có thể gặp hoạn nạn bất cứ lúc nào…
Điều quan trọng là đứng trước thất bại, chúng ta không bỏ cuộc, dũng cảm đương đầu với thử thách, biết đứng dậy để vươn lên
Mạnh dạn đối mặt với những thử thách của cuộc đời, đó là sức mạnh tinh thần lớn lao có thể giúp con người vượt qua được những giới hạn của cuộc sống
Điều quan trọng là bạn phải nhạy bén, sáng tạo, thông minh….để vượt qua những thử thách đó
.Rút ra bài học cho bản thân:
Về nhận thức: Hãy dũng cảm, lạc quan Bản lĩnh thép sẽ dẫn bước thành công
Về hành động: Hãy làm lại sau mỗi lần thất bại, không bỏ cuộc, nỗ lực vươn lên, không đầu hàng số phận…
- Dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học
+ Đây là dạng đề nói về một vấn đề xã hội, một triết lý nhân văn sâu sắc nào
đó được rút ra từ trong tác phẩm văn học Vấn đề xã hội này có thể học sinh đã được học ở trong chương trình sách giáo khoa của mình hoặc chưa được học Đề bài đặt ra trong dạng đề này thường là các vấn đề xã hội sâu sắc, nhân văn từ trong tác phẩm văn học như: lòng yêu nước, mục đích sống, trách nhiệm của thanh niên trong xã hội hiện nay, ý chí nghị lực trong cuộc sống, đức tính khiêm tốn, lý tưởng sống,…Vì là dạng đề kết hợp và vận dụng nhiều thao tác khác nhau: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…Kiểu văn bản này đòi hỏi học sinh phải linh hoạt trong từng thao tác làm bài của mình
+ Ví dụ:
Trang 8Đề 1: Từ đức tính khiêm tốn của nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn
Lặng lẽ SaPa của Nguyễn Thành Long, em có suy nghĩ gì về tính khiêm tốn của
giới trẻ hiện nay?
Đề 2: Trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, tác giả đã thể hiện
ước nguyện chân thành muốn cống hiến một phần công sức của mình vào mùa xuân của đất nước Em có suy nghĩ gì về lý tưởng sống của giới trẻ hiện nay
+ Hướng dẫn học sinh cách làm:
Dạng đề này, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo yêu cầu sau:
Bước 1: Xác định vấn đề nghị luận:
Học sinh phải vận dụng kĩ năng đọc - hiểu văn bản để trả lời các câu hỏi: Vấn đề đó là gì? Được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?
Tác phẩm văn học chỉ là cái cớ để nhân đó mà bàn bạc, nghị luận về vấn đề
xã hội, vì thế không nên đi quá sâu vào việc phân tích tác phẩm mà chủ yếu rút ra vấn đề có ý nghĩa xã hội để bàn bạc
Bước 2: Nghị luận xã hội (phần trọng tâm)
Từ vấn đề xã hội được rút ra, học sinh tiến hành làm bài nghị luận xã hội, nêu những suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề xã hội ấy: Vấn đề được yêu cầu bàn luận ở đây (cũng là vấn đề xã hội mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm văn học)
có thể là một tư tưởng đạo lí, có thể là một hiện tượng đời sống Vì vậy học sinh chỉ cần nắm vững cách thức làm các kiểu bài nghị luận xã hội (về tư tưởng đạo lí,
về một hiện tượng của đời sống) để làm tốt phần này
Hướng dẫn cách làm đề 1:
Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định vấn đề xã hội trong tác phẩm là đức
tính khiêm tốn Học sinh sẽ giải thích khiêm tốn là gì? Sau đó phân tích, chứng minh các vấn đề của khiêm tốn Bình luận về đức tính khiêm tốn của thanh niên hiện nay và rút ra bài học nhận thức và liên hệ bản thân
5.2.3.2 Kiểu bài nghị luận văn học
Thông thường, nghị luận văn học có 2 dạng cơ bản: Nghị luận về tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Tuy nhiên đối với
học sinh giỏi, đề không chỉ dừng lại ở đó, mà thường gắn với những dạng đề sau:
- Kiểu bài phân tích một tác phẩm có kèm giải quyết một nhận định, một ý kiến
+ Đây là dạng bài thường xuyên gặp trong các đề thi học sinh giỏi, thi chuyên Học sinh cần xác định rõ ý kiến bàn về phương diện nào của tác phẩm văn học: nội dung hay nghệ thuật, tình huống truyện hay chi tiết truyện, nhân vật hay nghệ thuật xây dựng nhân vật…Sau đó học sinh bám sát vào tác phẩm để tìm
Trang 9những chi tiết nổi bật và làm rõ ý kiến, nhận định Ở dạng đề này thường xuất
hiện các từ ngữ “làm sáng tỏ nhận xét trên”, “làm sáng tỏ nhận định trên”, “làm sáng tỏ ý kiến trên”.
+ Ví dụ:
Đề 1: “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”.
(Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9, tập hai, NXB
Giáo dục – 2016, trang 15)
Bằng việc cảm nhận bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy), em hãy làm sáng tỏ ý
kiến trên
Đề 2: “Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945-1975, ngoài hình ảnh người chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc còn mang nhịp thở của con người lao động mới”.
Bằng những hiểu biết về văn học giai đoạn này, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên
+ Hướng dẫn học sinh cách làm:
Học sinh nắm vững kỹ năng làm bài nghị luận văn học Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm được cách thức tìm hiểu đề bằng cách đọc kỹ từ ngữ trong đề bài, chú ý những từ ngữ quan trọng để xác định vấn đề cần nghị luận Dạng đề này, học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau:
.Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, khái quát về tác giả, tác phẩm Từ đó nêu ra
ý kiến nhận định của đề bài (tùy theo từng đề)
.Giải thích nhận định, ý kiến
.Phân tích, chứng minh tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định
.Đánh giá, mở rộng vấn đề
Hướng dẫn cách làm đề 1 (Phần thân bài)
.Giải thích ý kiến: Giáo viên hướng dẫn học sinh giải thích 2 ý trong ý kiến: Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác: Tác phẩm văn
chương là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ, là nơi chuyên chở, lắng đọng những tâm tư, tình cảm của tác giả trước cuộc sống
Tác phẩm vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng: Tác phẩm văn học là phương tiện kết nối tâm hồn người nghệ sĩ với
tâm hồn người đọc, đưa tiếng lòng riêng của tác giả đến với người tiếng lòng chung của bao người
Trang 10Ý kiến của Nguyễn Đình Thi đã khẳng định giá trị của tác phẩm trong việc thể hiện tâm hồn tác giả và truyền tải sự sống của tâm hồn ấy đến với người đọc
.Phân tích bài thơ Ánh trăng để làm rõ ý kiến:
Ánh trăng là bài thơ chất chứa tâm sự sâu kín trong tâm hồn Nguyễn Duy –
một người lính vừa bước ra khỏi cuộc chiến , trở về với cuộc sống thời bình
Ánh trăng là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà người nghệ sĩ mang
trong lòng
.Đánh giá, nâng cao:
Bài thơ đã giúp ta hiểu rõ về giá trị của tác phẩm trong việc thể hiện tâm hồn tác giả và đưa sự sống của tâm hồn ấy đến với mọi người
Từ ý kiến của Nguyễn Đình Thi, ta có thể khẳng định rằng chừng nào tâm hồn con người còn khát khao sự đồng cảm, sẻ chia của tâm hồn khác, chừng ấy tác phẩm văn chương sẽ còn cần thiết
- Kiểu bài nghị luận hai ý kiến bàn về văn học
+ Dạng đề này thường có hình thức bao gồm hai nhận định tách rời Các ý kiến/vấn đề bao giờ cũng có liên quan và thường được đặt trong mối quan hệ hoặc tương đồng, hoặc bổ sung, hoặc tương phản - trái chiều với nhau Dạng đề này đòi hỏi học sinh phải sử dụng tổng hợp các thao tác nghị luân một cách linh hoạt, bao gồm các thao tác: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ
+ Ví dụ: Về hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu,
có ý kiến cho rằng: “Người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thủa trước”.
Ý kiến khác thì nhấn mạnh: “Hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp”.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, em hãy làm sáng tỏ những ý kiến trên
+ Hướng dẫn cách làm: Nắm vững kỹ năng làm bài nghị luận văn học Học
sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các nội dung
cơ bản sau:
.Giải thích ý kiến: Học sinh giải thích từng ý kiến, sau đó đánh giá, nhận xét khái quát về hai ý kiến
.Phân tích, chứng minh để làm sáng tỏ 2 ý kiến: mỗi ý kiến nhận xét về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
.Đánh giá về mối quan hệ giữa hai ý kiến
- Kiểu bài nghị luận về một vấn đề văn học mang tính chất so sánh, đối chiếu