1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo án Ngữ văn lớp 10 tiết 25 Đọc văn: Tam đại con gà Nhưng nó phải bằng hai mày

5 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 140,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môc tiªu bµi häc: Gióp HS - Thấy được sự phê phán của nhân dân đối với nhân vật thầy Lí qua hình ảnh quan lại đại phương và thái đọ giễu cợt đối với Cải hình ảnh của những người nông dân[r]

Trang 1

Tuần 11

Ngày soạn: 11/10/2009 Ngày giảng: 13/10/2009 Tiết 25 Đọc văn

Tam đại con gà Nhưng nó phải bằng hai mày

A Mục tiêu bài học:

Giúp HS

- Thấy được sự phê phán của nhân dân đối với nhân vật thầy Lí (qua hình ảnh quan lại đại phương) và thái đọ giễu cợt đối với Cải (hình ảnh của những người nông dân khờ khạo khi lâm vào cảnh kiện tụng) Song, đối tượng chủ yếu là thầy Lí Nắm được đặc sắc của truyện

- Hiểu được thực chất của mâu thuẫn trái tự nhiên trong nhân vật thầy đồ

Nắm được nghệ thuật “tự bộc lộ” Đây chính là nét đặc sắc của truyện.

B Phương pháp + Phương tiện:

1 Phương pháp:

Nêu vấn đề + Phát vấn

2 Phương tiện:

Sgk.Sgv NV10(T1) + Giáo án

C Tiến trình lên lớp:

1 ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số.

2 Kiểm tra bài cũ:

CH: Tác giả dân gian miêu tả như thế nào về cuộc đấu tranh không khoan

nhượng của Tấm để giành lại hạnh phúc? Qua đó thể hiện ước mơ gì của nhân dân

ta xưa

3 Bài mới:

Giới thiệu bài:

Gv yêu cầu: Căn cứ vào tiểu dẫn

Sgk, nêu vài nét về truyện cười?

Hs nêu

Gv: Hai truyện hôm nay chúng

ta học thuộc loại truyện trào

phúng

Gọi Hs đọc văn bản

I Vài nét về truyện cười.

- Phân loại (2 loại): truyện khôi hài và truyện trào phúng

- Mục đích:

+ Truyện khôi hài: giải trí (còn có ý nghĩa giáo dục)

+ Truyện trào phúng: phê phán Đối tượng (các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội nông thôn Việt Nam xưa – thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân)

II Truyện “Tam đại con gà”.

Trang 2

Hs đọc.

Gv giải thích từ khó theo Sgk

? Anh (chị) hãy xác định đối

tượng gây cười trong truyện? Hai

dòng đầu có ý nghĩa gì? Theo anh

(chị), cái dốt có đáng cười không?

Vì sao? Vậy cáiđáng cười của

truyện là gì?

HS trả lời

? Toàn bộ phần sau có phải nói

về việc thầy đồ lên mặt văn hay

chữ tốt không? Vì sao?

Hs thảo luận và trả lời

Gv gợi dẫn:

- Tình huống 1 cho thấy điều gì

về trình độ của thầy đồ?

- Thầy đồ đã xử lí tình huống

này như thế nào? Việc xử lí như

vậy có ý nghĩa gì?

? Trước tình huống khó xử, thầy

đã suy nghĩ gì? Thầy đã xử lí tình

huống đó ra sao?

1 Cái cười.

* Đối tượng: thầy đồ

Là anh học trò đã dốt lại còn sĩ diện hão, hay nói chữ, hay khoe khoang và rất liều lĩnh

-> Bản thân cái dốt của cậu học trò không có gì đáng cười: Cái dốt của người thất học thì nhân dân dễ cảm thông, cái dốt của học trò thì nhân dân chỉ trách chứ không cười ở đây cười

kẻ dốt hay khoe khoang, hay nói chữ, cả gan dám nhận đi dạy trẻ Cái xấu đã thành cả hành

động

=> Không phải Thể hiện cái cười của nhân dân với thầy đồ:

+ Lần thứ nhất: Gặp chữ “kê” trong sách Tam

thiên tự, thầy không đọc được -> nói liều “Dủ

dỉ là con dù dì”

- Nói lên sự dốt nát đến thảm hại và liều lĩnh của thầy đồ Anh ta vừa dốt kiến thức sách vở, vừa dốt kiến thức thực tế: Dủ dỉ không phải là chữ Hán, trên đời không có con vật nào là dủ

dỉ, dù dì

- Cách xử lí:

Bảo học trò đọc khẽ bởi nếu sai thì xấu hổ

lắm -> Thể hiện sự thân trọng trong việc giấu dốt, dùng cái láu cá vặt để gỡ bí

Tìm đến thổ công, cái dốt ngửa ra 3 đài âm

dương Thầy đắc ý bảo học trò đọc to “Dủ dỉ là con dù dì” -> cái dốt được khuếch đại và nâng

cao

+ Lần thứ hai: khi bố của học trò hỏi thầy

- Thầy nghĩ: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa” Thầy đã tự nhận thức được sự

dốt nát của mình Thầy đã lòi cái đuôi dốt vẫn gượng gạo giấu dốt Mặt khác nhân dân còn ngầm châm biếm cả thổ công nhà ấy cũng dốt nát như thầy (ngầm ý khuyên mọi người đừng nên mê tín)

- Cách xử lí: “Dủ dỉ là con dù dì, con dù dì là chị con công, con công là ông con gà” -> dạy

học trò biết đến tận tam đại con gà => Thể hiện cái dốt nọ lồng vào cái dốt kia Bởi, làm gì có con dù dì, vả lại con công đâu phải có

Trang 3

? Qua việc tìm hiểu trên, hãy chỉ

ra ý nghĩa phê phán của truyện?

Hs trả lời

Gọi Hs đọc ghi nhớ

Hs đọc

Gọi Hs đọc văn bản

Hs đọc

Gv nêu vấn đề: ? Tác giả dân

gian đã chuẩn bị cho tình huống

mâu thuẫn như thế nào?

Hs trả lời

? Việc nêu số tiền lót tay, chè lá

của từng người cụ thể (Cải: 5

đồng, Ngô: 10 đồng) có mục đích

gì?

Hs trả lời

Gv dẫn: Trong vụ xử kiện của

thầy lí, tác giả dân gian kể rất

ngắn gọn, lược bỏ những chi tiết

thừa, không cần thiết, tập trung

vào việc đẩy cao tình huống mâu

thuẫn gây cười Thầy lí chỉ nói 2

câu, Cải chỉ nói 1 câu, Ngô hoàn

toàn im lặng

? Vậy, tại sao thầy lí lại phán

quyết ngay, không một câu hỏi bên

nguồn gốc với con gà

2 Bản chất cái cười.

-> Truyện phê phán thói giấu dốt – một thói hư tật xấu có trong nội bộ nhân dân ý nghĩa

đó toát lên từ hành động tức cười của một anh thầy đồ đã đốt mà lại còn muốn giấu dốt, nhưng càng ccố tình che giấu một cách liều lĩnh thì sự dốt nát lại càng lộ ra một cách ngây ngô Anh học trò này lại nđi dạy trẻ thì thói xấu đó càng có khả gây ra hậu quả khôn lường

Nhân dân còn khuyên răn mọi người – nhất

là những người đi học chớ nên giấu dốt, hãy mạnh dạn học hỏi không ngừng

 Ghi nhớ:

Sgk

III Truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày”.

1 Sự chuẩn bị.

- Giới thiệu về nhân vật: Thầy lí là người xử kiện giỏi để người đọc chờ xem thầy sẽ xử kiện giỏi như thế nào

- Sự kiện: Kể về việc Cải và Ngô đều tỏ ra khôn ngoan, đều muốn thắng kiện bằng cách

đút lót vì cả hai đều quá hiểu bản chất tham nhũng của thầy lí

-> Đó chính là cơ sở để người đọc chờ đợi việc xử kiện sẽ diễn ra theo chiều hướng nào Cả hai đều giấu nhau việc này, chỉ có thầy lí và người đọc biết số tiền của cả hai điieu nầy tạo

ra sự ngạc nhiên cho người đọc, Cải và Ngô

2 Xử kiện.

Trang 4

nguyên, bên bị?

Hs trả lời

? Anh (chị) có nhận xét gì về cử

chỉ, hành động và lời nói của Cải

và thầy lí trong cuộc nxử kiện

ngắn ngủi? Mối quan hệ giữa cử

chỉ xoè ngón tay của Cải và cử chỉ

úp ngón tay của thầy lí với câu nói

của Cải và thầy lí như thế nào?

Tác dụng nghệ thuật của các chi

tiết đó?

Hs suy nghĩ, thảo luận và trả lời

-> Vì thầy lí phán quyết không theo lí, theo pháp luật mà xử theo tiền

Nhân

Cải

Vội xoè năm ngón tay,

ngẩng mặt nhìn thầy lí,

khẽ bẩm

“Xin xét lại, lẽ phải về con mà” Con đx lót tay thầy 5 đồng Nghĩa là lẽ

phải, nhờ có số tiền

ấy, đã thuộc về Cải Thầy

Xoè 5 ngón tay trái úp lên

5 ngón tay phải “Tao biết mày phải … nhưng nó lại phải …

bằng hai mày”

Thàng Ngô lót tay thầy lí 10 đồng nên

“phải” bằng hai Cải

* Mối quan hệ giữa cử chỉ và lời nói trong

đoạn đối thoại.

+ Nhân vật Cải:

- Cử chỉ có trước, nghĩa là Cải muốn quan hiểu cái ý ngầm (đã đưa thầy 5 đồng- kí hiệu bằng xoè 5 ngón tay, lại ngẩng mặt nhìn thầy

lí để nhắc thầy đừng quyên)

- Lời nói có sau, nói to trước công đường, cho thầy lí nghe, cho Ngô và mọi người nghe Câu nói của Cải có hai nghĩa: nghĩa tường minh (lẽ phải thuộc về Cải); nghĩa hàm ẩn- kết hợp với

cử chỉ (lẽ phải thuộc về Cải vì Cải đã lót tiền) Như vậy: lẽ phải = 5 ngón tay xoè = 5 đồng = tiền đút lót, hối lộ

+ Nhân vật thầy lí:

- Cũng đáp ngay, trước hết bằng cử chỉ Hành

động xoè 5 ngón tay trái úp lên 5 ngón tay phải rồi mới nói cũng muốn để thằng dân cùng kia phải hiểu cái nghĩa ngầm cuae nó

- Câu nói của thầy lí trả lời đúng với câu vừa

Trang 5

? Qua đây cho ta hiểu gì về bản

chất của thầy lí?

Hs trả lời

? Sau câu trả lời và cử chỉ của

quan, Cải rơi vào tình trạng như

thế nào? Bình luận về nhân vật

Cải.

Hs trả lời

Gọi Hs đọc ghi nhớ

Hs đọc

? Qua 2 truyện vừa học, anh

(chị) có nhận xét gì vè truyện cười

dân gian?

Gọi Hs đọc ghi nhớ

Hs đọc

hỏi, vừa xin, vừa nhắc của Cải

Thầy cũng công nhận Cải có lẽ phải Nghĩa là thầy đã nhận tiền-5 đồng “Nhưng …” Không phải ngẫu nhiên mà thầy ngừng lời một chút, cốt để Cải phải tự nghĩ mà cố hiểu: “nó lại phải … bằng hai mày!” Phải bằng hai = 5.2 =

10 ngón tay = 10 đồng = tiền gấp hai Nghĩa là Ngô nhất định phải hơn Cải vì Ngô “biện chè lá” gấp đôi Cải Lẽ phải được đo đếm không phải từ cơ sở pháp luật công bằng mà từ số tiền lót thầy ít hay nhiều

-> Sự thật, thầy lí quen ăn của đút, xử kiện vì tiền, đã vừa kín đáo vừa trắng trợn bộc lộ ngay tại phiên toà xử kiện Cải-Ngô

Nhận xét về Cải:

+ Thái độ: Ngạc nhiên, bất ngờ trước sự thật, Cải rơi vào tình trạng bi hài, vừa chịu thua kiện, vừa mất tiền, lại phải chịu một chục roi phạt -> Tiền mất tật mang, mất cả chì lần chài + Cải vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, vừa

đàng thương, vừa đáng trách Hành động tiêu cực của anh ta đã thất bại thê thảm Đó là bài học cho người lao động nghèo: không thể tin bọn quan lại lớn nhỏ, càng không thể tự mình cúng không tiền bạc cho chúng để rồi chịu thiệt thòi mà chẳng biết kêu ai

 Ghi nhớ.

Sgk – 80

IV Tổng kết.

- Truyện cười dân gian ít nhân vật, bố cục chặt, rất ngắn gọn Cái cười tạo ra từ những mâu thuẫn giữa: cái có/không, bình thường/ không bình thường, đạo lí/ nghịch lí, ngoài/trong hiện tượng/bản chất

- Bản chất cái cười là ý nghĩa phê phán Tiếng cười là nguồn vui, động viên nhau trong cuộc sống

4 Củng cố - Nhận xét:

- Hệ thống nội dung: Theo bài học

- Nhận xét chung

5 Dặn dò:

- Học bài Soạn bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa

Ngày đăng: 03/04/2021, 02:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w