Trước tình hình đó, đòi hỏi độingũ giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương phápsoạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo
Trang 1CHUYÊN ĐỀ THÁNG 11/2019
Người báo cáo: Phan Thị Thanh Thương
1
Trang 2“Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy - học Ngữ văn 9” nhằm nâng cao chất lượng dạy và
học môn ngữ văn 9.
Người báo cáo: Phan Thị Thanh Thương
Ngày báo cáo: 07/11/2019
Ngày hoàn thiện báo cáo sau khi thảo luận chuyên đề: 11/11/2019
A PHẦN MỞ ĐẦU:
Có người đã từng nói “tri thức của tuổi trẻ là diện mạo của đất nước trongtương lai”.Từ những năm 60 của thế kỉ trước đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng căn
dặn thầy giáo phải: “ gõ vào trí thông minh” của học sinh, giáo dục là đào tạo học
sinh thành những thế hệ thông minh sáng tạo Sự thông minh sáng tạo phải xuấtphát từ những hiểu biết rộng lớn, nó tạo cho nền tảng tư duy được vững vàng hơn.Phải hiểu rộng, biết nhiều mới có thể chuyên sâu, mới“ làm được cuộc trường chinhvạn dặm trên con đường học vấn” Do đó năm học 2019 - 2020 toàn ngành Giáodục và Đào tạo vẫn đang tiếp tục nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy, để đào tạo
ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sựnghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Trước tình hình đó, đòi hỏi độingũ giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương phápsoạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo luậnnhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ độngchiếm lĩnh kiến thức.Vì vậy,đòi hỏi mỗi giáo viên phải triệt để thực hiện theonguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, tựgiác và sáng tạo của học sinh trong hoạt động dạy học, trong đó sơ đồ tư duy là mộtcách dạy học mới dựa trên cơ sở sơ đồ hóa kiến thức mà từ trước đến nay chúng tavẫn vận dụng để phân tầng kiến thức, hệ thống chuỗi sự kiện hoặc thiết lập biểubảng ôn tập tổng kết…
Trong quá trình 4 năm học ở chương trình Trung học cơ sở, Ngữ văn là mộttrong những môn học chính và chiếm thời lượng lớn trong chương trình học củahọc sinh Việt Nam. Tuy nhiên xẩy ra một thực trạng đáng lo ngại trong thời giangần đây là học sinh ít thích học văn Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả cácbài kiểm tra ngữ văn, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lýchán học văn của học sinh Khi học sinh tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễdàng nhận ra những lỗi cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, chính tảsai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic Đặc biệt có những bài văn diễnđạt ngô nghê, tối nghĩa, … Hơn thế nữa, có tình trạng các em học bài nào biết bàiđấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức vớinhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phầnlớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép
để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Muốn khắc phụcthực trạng đó thì mỗi giáo viên phải tích cực đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạyhọc, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các em phương
2
Trang 3pháp học văn hiệu quả nhất Trong những kĩ thuật dạy học mới, bản thân tôi tâmđắc nhất là sử dụng bản đồ tư duy Có thể khẳng định rằng đây là một trong nhữngPhương pháp dạy học rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đangđược ngành giáo dục cả nước ta áp dụng.
Để tiến đến sử dụng sơ đồ tư duy lâu dài và đem lại hiệu quả tối ưu, tôi tiếnhành tìm hiểu, nghiên cứu những cơ sở khoa học của nó và vận dụng cho phù hợpvới đặc trưng của bộ môn Ngữ văn Do đó, trong bài viết này tôi đã chọn đề tài :
“Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy- học Ngữ văn 9” nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học môn ngữ văn 9
B PHẦN NỘI DUNG
1 Những vấn đề chung về sơ đồ tư duy:
* Để sử dụng một cách có hiệu quả Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học,trước hết, ta cần nắm vững những tri thức về nó:
1.1 Khái niệm:
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy là phương phápdạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đàosâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằngcách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự
tư duy tích cực Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiếtchặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi em cóthể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từdiễn đạt khác nhau, Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nódưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình Do đó, việc lập Sơ đồ tư duyphát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
1.2 Cấu tạo:
- Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề
- Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm
1.3 Các bước thiết kế một Sơ đồ tư duy:
Để thiết kế một Sơ đồ tư duy dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trênphần mềm máy tính, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình
ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
3
Trang 4Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ
chủ đề, thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặttiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm
rõ mỗi ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khaithành mạng lưới liên kết chặt chẽ
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý,
- Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn
- Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồđồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ
- Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nêndùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn
- Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiếtgóp phần làm rõ các ý, chủ đề
- Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp
- Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết,
tô màu
- Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài
- Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình
4
Trang 52 Quy trình tổ chức hoạt động vẽ Sơ đồ tư duy trên lớp:
Hoạt động 1: Cho học sinh lập Sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân thôngqua gợi ý của giáo viên
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo,thuyết minh về Sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện Sơ đồ tưduy về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp họcsinh hoàn chỉnh Sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một Sơ đồ tư duy mà giáo viên đãchuẩn bị sẵn hoặc một Sơ đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh,cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
3 Các hình thức sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học:
3.1 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ:
Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đềcủa kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ Sơ đồ tư duythông qua câu hỏi gợi ý Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợpvới câu hỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hìnhđược cách vẽ Sơ đồ tư duy theo yêu cầu
* Ví dụ:
Sau khi các em học xong bài “Các phương châm hội thoại”(Tiết 1,2), trước khitìm hiểu các kiến thức mở rộng có liên quan đến phương châm hội thoại ở Tiết 3(Tiết 13 trong PPCT), giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em lập sơ đồ tưduy để củng cố, hệ thống kiến thức đã học ở hai tiết học trước thông qua câu hỏisau: Ta đã học qua những phương châm hội thoại nào? Em hãy lập Sơ đồ tư duy để
hệ thống kiến thức về chúng? Sau đó, giáo viên ghi cụm từ khóa lên giữa bảng phụ
“Phương châm hội thoại”, rồi gọi một em xung phong lên bảng vẽ Học sinh sẽ dễdàng vẽ được Sơ đồ tư duy theo nội dung yêu cầu
5
Trang 6Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhậnxét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.
Lưu ý:
Giáo viên có thể cho cả lớp cùng lập Sơ đồ tư duy trên giấy theo cách hoạtđộng cá nhân trong một thời gian nhất định để lôi cuốn tất cả học sinh vào việc ônkiến thức đồng thời rèn luyện kĩ năng tạo lập Sơ đồ tư duy và thói quen tư duy chocác em Hết thời gian quy định, giáo viên chọn sơ đồ của một vài em (có thể vẽ
6
Trang 7xong trước, có thể cần lấy điểm, ), chấm, nhận xét và ghi điểm cho các em; biểudương, khen ngợi những em vẽ tốt để khích lệ các em nhằm tạo không khí học tậpsôi nổi Đây là việc làm rất cần thiết của chúng ta.
Giáo viên chỉ cần dựa vào Sơ đồ tư duy chấm và ghi nhận điểm cho học sinh
mà không cần phải yêu cầu gì thêm ở các em, vì ta đã chọn dạng đề khá đơn giản,nên những gì cần trả lời, các em đã thể hiện trong Sơ đồ tư duy, hơn nữa thời giankiểm tra bài cũ có hạn
3.2 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học bài mới và ghi bảng:
Lâu nay, việc sử dụng Sơ đồ tư duy như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việcdạy học bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng Tuy nhiên,việc sử dụng Sơ đồ tư duy vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự tìm hiểu, khámphá, chiếm lĩnh kiến thức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi bảng cô đọng kiếnthức tiết dạy, bài dạy của giáo viên thì quả là việc làm còn hết sức mới mẻ Bấy lâunay tôi luôn xem Sơ đồ tư duy là công cụ, phương tiện, là một thứ “bảng phụ” hỗtrợ, minh họa cho tiết dạy mà thôi, không thể dùng Sơ đồ tư duy thay cho phần ghibảng của giáo viên được nhưng qua một quá trình thử nghiệm chúng trong một sốtiết dạy, tôi nhận thấy rõ ràng vẫn có thể thực hiện kết hợp chúng trong quá trìnhdạy học bài mới Không những thế, việc kết hợp sử dụng Sơ đồ tư duy trong việc tổchức dạy học bài mới với việc sử dụng nó để cô đọng kiến thức thay cho việc ghibảng lại tiết kiệm được rất nhiều thời gian trên lớp, lại vừa có tác dụng hình thànhcho học sinh có thói quen ghi chép bằng Sơ đồ tư duy Đây cũng là việc làm rất cầnthiết góp phần rèn luyện kĩ năng vẽ Sơ đồ tư duy cho các em, nhất là những bài họcnhằm giới thiệu, cung cấp kiến thức Sau đây là ví dụ minh họa:
Khi dạy bài “Truyện Kiều cuả Nguyễn Du”(Tiết 26,27), sau khi giới thiệubài mới, giáo viên cho học sinh thảo luận tìm hiểu phần I về tác giả với từ khóa là
“NGUYỄN DU” với các câu hỏi gợi ý tìm hiểu về Tên hiệu, Xuất thân, Thời đại,Cuộc đời, Sự nghiệp văn học của nhà thơ Tìm hiểu đến đâu, giáo viên phát triểnnhánh, cô đọng kiến thức đến đó Sau khi dẫn dắt các em tìm hiểu xong phần tácgiả, giáo viên cho học sinh thảo luận tìm hiểu phần II về Tác phẩm với từ khóa là
“TRUYỆN KIỀU” với các câu hỏi gợi ý Nguồn gốc, Thể loại, Kết cấu, Giá trị (nộidung, nghệ thuật) của tác phẩm Tìm hiểu đến đâu, ta sẻ phát triển nhánh đến đó.Kết thúc 2 tiết học, ta có sơ đồ tư duy giới thiệu một cách cô đọng, khái quát, lô-gic những tri thức cơ bản về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều” trênbảng đen như sau:
7
Trang 10Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp trong việcdạy học bài mới với dùng chính nó để cô đọng kiến thức của bài học cho học sinhghi Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học bài mới sẽ giúp học sinhtừng bước phát hiện, tiếp cận và chiếm lĩnh toàn bộ kiến thức bài học một cáchkhoa học, có hệ thống, lô-gic Bắt đầu bài học bằng từ, cụm từ trung tâm thể hiệntrọng tâm kiến thức, thông qua sự định hướng dẫn dắt của giáo viên, các em tựkhám phá, tìm hiểu các đơn vị kiến thức của bài học (các ý lớn, nhỏ) một cách liềnmạch, có hệ thống, đến khi tiết học kết thúc cũng là lúc toàn bộ kiến thức của bàihọc được cô đọng và trình bày một cách sinh động, khoa học và sáng tạo trên bảngđen (hoặc trên màn hình) sơ đồ tư duy ấy không chỉ cung cấp cho các em “bứctranh tổng thể” về kiến thức của bài học mà nó còn giúp cho các em dễ dàng nhận
ra mạch lô-gic kiến thức của bài học Do đó, chúng ta có thể dùng nó như phần nộidung ghi bảng của giáo viên để học sinh ghi chép
Tuy nhiên, chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy chophép chứ không nên lạm dụng sơ đồ tư duy để khỏi phải ghi bảng ở tất cả các tiếtdạy Mặt khác, việc sử dụng kết hợp này càng thuận lợi hơn khi chúng ta sử dụngphần mềm Mind Map và soạn giảng bằng bài giảng điện tử Chúng ta cũng nênđánh số thứ tự vào các khâu lên lớp (tìm hiểu bài, bài học, luyện tập), các ý chínhtrong mỗi đơn vị kiến thức của bài học để học sinh thuận tiện trong việc theo dõi,ghi chép vào vở Giáo viên cũng cần dành ít phút cuối tiết học, cho học sinh quansát sơ đồ tư duy và thuyết trình - “đọc hiểu” lại toàn bộ nội dung kiến thức của bàihọc
3.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc hệ thống, củng cố kiến thức sau mỗi bài
học, mỗi phần của bài học:
Sau khi dạy xong mỗi phần của bài học, hay mỗi bài học, giáo viên cho họcsinh hình dung, nhớ lại và vẽ sơ đồ tư duy để củng cố, hệ thống phần kiến thức đó,hoặc toàn bộ kiến thức của bài học
Ví dụ 1:
Khi dạy tác phẩm truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Dữ, sau khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu xong phần một “Vũ Nương và câuchuyện oan khuất của nàng” giáo viên cho các em lập sơ đồ tư duy về nhân vật VũNương thông qua câu hỏi sau: Như vậy, qua phần tìm hiểu trên, em hãy lập sơ đồ tưduy để chứng minh Vũ Nương là một người mẹ đảm đang, một người vợ thủychung, một người dâu hiền hiếu thảo?
10
Trang 1111
Trang 12Ví dụ 2: Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu xong luận cứ 3: “Những điểm
mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam trong bài “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉmới” của Vũ Khoan, giáo viên cho học sinh lập sơ đồ tư duy về đặc điểm của con
người Việt Nam Các em sẽ nhớ lại những gì vừa được nghe, được thảo luận, được
ghi chép và vẽ sơ đồ tư duy Sau đây là sơ đồ tư duy minh họa:
3.4 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc ôn tập kiến thức:
Cũng như các cách làm trên, chúng ta có thể sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập
và hệ thống kiến thức đã học cho các em ở các bài ôn tập trong chương trình hoặc ởcác tiết dạy học ôn buổi chiều
Ví dụ: Cho học sinh lập sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức bài “Ôn tập Tiếng
Việt” học kỳ II như sau:
12
Trang 1313
Trang 14huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng Cách họcnày còn phát triển được năng lực riêng của từng em không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gìtrên sơ đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đóvào việc chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình
vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống
Sơ đồ tư duy còn là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả trong hoạt độngnhóm bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể Mỗi thành viên đềurèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sửdụng sơ đồ tư duy giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõràng và hệ thống Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìnvào Sơ đồ tư duy, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nộidung bài học
Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duymạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệthống, khoa học Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tíchcực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mớiphương pháp dạy học, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp trung học cơ sở
- Yêu nước: Tự hào và bảo vệ thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước
- Chăm chỉ: Chăm học, ham học, có tinh thần tự học
- Trung thực: Thật thà, ngay thẳng trong học tập
b.Năng lực:
- Năng lực tự chủ và tự học: Học sinh biết tự tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn nguồn tài liệu phù hợp với bài học; tự nhận thức, tự học và tự điều chỉnh việc học để đạt kết quả cao
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Hứng thú, tự do trong suy nghĩ; chủ
động nêu ý kiến; không quá lo lắng về tính đúng sai của ý kiến đề xuất; phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp Chủđộng và gương mẫu hoàn thành phần việc được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy
hoạt động chung; chia sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm
- Năng lực cảm thụ thẩm mĩ: Khám phá, cảm thụ và đánh giá cái đẹp trong văn
sống, biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết hành động hướng theo cái đẹp, cái
thiện
- Năng lực ngôn ngữ: Đọc phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu, hiểu nội dung chính
hay nội dung chi tiết văn bản Biết chia sẻ những cảm xúc, thái độ, ý tưởng của
mình đối với những vấn đề được nói đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc, đã
nghe có liên quan đến văn bản
14