Hệ thống các văn bản pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoànthiện nhất là sự ra đời của Luật đất đai năm 2013, Bộ luật dân sự 2015, Luật Ngânhàng, Luật Tín dụng… đã quy định th
Trang 1Chuyên đề:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT ÁN TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN
LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự và giao lưu dân sự ngàycàng được mở rộng thì chế định tài sản và quyền sở hữu lại là chế định cơ bản,quan trọng và là xương sống trong Bộ luật Dân sự nhằm bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp của các chủ sở hữu tài sản, bảo đảm trật tự trong giao lưu dân sự.Trước yêu cầu thể chế hoá đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để côngnhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trongcác lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như các tư tưởng, nguyên tắc cơ bản củanền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu trong đó cóquyền sở hữu về tài sản, quyền bình đẳng giữa các chủ thể đã được ghi nhận trongNghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm
2015
Hệ thống các văn bản pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoànthiện nhất là sự ra đời của Luật đất đai năm 2013, Bộ luật dân sự 2015, Luật Ngânhàng, Luật Tín dụng… đã quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp cụ thể, làm
cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp các loại tài sản
có hiệu quả hơn, khắc phục những nhược điểm về thẩm quyền giải quyết tranhchấp, quy định trước đây chỉ mới dừng lại ở mức độ chung chung nên trên thực tếdẫn đến chồng chéo, đùn đẩy giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tranhchấp tài sản hiện nay là loại án khó khăn, phức tạp và quá trình thụ lý, giải quyếtthường kéo dài thời gian nhiều nhất trong công tác giải quyết các tranh chấp dân sựnói chung và kiểm sát việc giải quyết tranh chấp kiện đòi lại tài sản nói riêng Thựctiễn xét xử loại án này còn những vướng mắc, cách hiểu, cách áp dụng pháp luậtcủa hai ngành Tòa án, Kiểm sát đôi lúc còn chưa thống nhất về thẩm quyền, vềtrình tự, thời hiệu khởi kiện cũng khác nhau tùy thuộc vào từng loại tài sản tranhchấp
Trang 2Từ thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự cho thấy, các vụ
án tranh chấp quyền tài sản luôn rất phức tạp bởi loại án này thường liên quan đếnnhiều ngành, nhiều người; liên quan đến công tác quản lý nhà nước về tài sản, đấtđai, nhà ở… qua các thời kỳ lịch sử cũng như quy định pháp luật trong từng thời kỳlịch sử khác nhau Mỗi phán quyết của Tòa án đều ảnh hưởng, tác động trực tiếpđến quyền, lợi ích của các bên đương sự, bởi vậy việc giải quyết đòi hỏi phải kháchquan, toàn diện và thận trọng để tránh sai sót dẫn đến khiếu kiện phức tạp, kéo dài.Theo thống kê, các vụ án tranh chấp quyền tài sản, quyền sử dụng đất, quyền sởhữu nhà ở… cũng là loại án có tỷ lệ án bị hủy, sửa cũng như có đơn khiếu nại đềnghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chiếm tỷ lệ cao nhất 80 -90 %trong số các tranh chấp về dân sự Cho nên Phòng 9 lựa chọn chuyên đề: “Nâng
cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết án tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” để làm đề tài nghiên cứu
của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Việc phân tích, đánh giá quy định pháp luật trong việc giải quyết nhữngtranh chấp kiện đòi lại tài sản thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp nào, qua đó đềxuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tài sản và áp dụng pháp luật để giảiquyết các tranh chấp tài sản có hiệu quả hơn
Giải quyết các tranh chấp đòi lại tài sản là một lĩnh vực rộng với nhiều cơquan khác nhau có thẩm quyền tham gia Tuy nhiên, với khuôn khổ một chuyên
đề, Phòng 9 chỉ đi sâu nghiên cứu về thực trạng giải quyết án tranh chấp kiện đòilại tài sản là quyền sử dụng đất và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng công tác kiểm sát đối với loại án này trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi bài viết, Phòng 9 chỉ tập trung nghiên cứu vào những quy địnhcủa pháp luật để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ ántranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Tòa ánnhân dân
Phạm vi nghiên cứu việc giải quyết các vụ án tranh chấp kiện đòi lại tài sản làquyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh QuảngNgãi năm 2017, năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3Để giải quyết các vấn đề đặt ra người viết sử dụng phương pháp bình luận,được sử dụng trong khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về các vụ
án tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền củaTòa án nhân dân phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá, phântích, được sử dụng khi tìm hiểu quy định pháp luật và thực trạng chất lượng côngtác kiểm sát giải quyết tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất thuộcthẩm quyền của Tòa án nhân dân
5 Cơ sở lý luận
Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Pháp lệnh về Nhà ở năm 1991;Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự năm 1991; Pháp lệnh về Quyền tác giả năm 1994;Thông tư số 81/TANDTC ngày 24.7.1981 của Toà án nhân dân Tối cao (TANDTC)hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế được áp dụng từ ngày 24.7.1981đến ngày 10.9.1990; Pháp lệnh thừa kế được thi hành từ ngày 10.9.1990 đến ngày01.7.1996; Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 19.10.1990 của Hội đồng thẩm phánTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế; Bộ luật dân
sự năm 1995 có hiệu lực thi hành đến ngày 01.01.2006; Nghị quyết số HĐTP ngày 10.8.2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng phápluật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Bộ luật dân sựnăm 2005; Bọ luật dân sự năm 2015; Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật tố tụnghành chính 2015; Án lệ của Tòa án nhân dân Tối cao; Pháp luật về đất đai năm1987; Luật đất đai năm 1993, 2003, 2013; Nghị định 181/CP, Nghị định số43/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một sốđiều Luật đất đai; Giải đáp số 02/2016/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa ánnhân dân tối cao; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn ápdụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Công văn số01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn
02/NQ-đề nghiệp vụ; Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 thông báo kết quả giảiđáp trực tuyến một số vướng mắc về dân sự;
6 Cấu trúc chuyên đề: Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tranh chấp kiện đòi lại tài sản thuộc thẩmquyền của Tòa án nhân dân
Trang 4Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử
dụng đất thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công táckiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụngđất thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN
I Khái quát về tranh chấp kiện đòi lại tài sản:
1 Khái niệm về quyền sở hữu tài sản
Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền đòi lại tài sản như sau:
Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người
sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều
167 và Điều 168 của Bộ luật này.
Điều 167 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: Chủ sở hữu có quyền
đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.
Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Quyền đòi lại động sản phải
đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình: Chủ sở
hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 133 “Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ
Trang 5sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản
án, quyết định bị huỷ, sửa”.
Theo Bộ luật dân sự 2015 thì quyền sở hữu được quy định tại Điều 158:quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sảncủa chủ sở hữu theo quy định của luật Chủ sở hữu có thể là cá nhân, pháp nhânhoặc chủ thể khác
Chế định tài sản: Tài sản là vấn đề trọng tâm, cơ bản của mọi quan hệ xã hội
nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Khái niệm tài sản đã được Bộ luật Dân sựnăm 2015 Điều 105 quy định khá cụ thể tài sản là gì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ
có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản, bất động sản vàđộng sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
Thứ nhất, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảmnhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa trởthành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và đápứng được một nhu cầu nào đó của con người Không phải bất kỳ một bộ phận nàocủa thế giới vật chất cũng đều được coi là vật Vì vậy, có những bộ phận của thếgiới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác thì không được coi
là vật Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thoả mãn đầy đủ các điềukiện sau: là bộ phận của thế giới vật chất; con người chiếm hữu được, mang lại lợiích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai
Tiền là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng
để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác Nó trực tiếp thểhiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hànghoá Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không cóquy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Chỉ có loại tiền có giá trị đang đượclưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận, mới được coi là tài sản
Giấy tờ có giá, được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giaođược trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khácnhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái, sổ tiết kiệm…Xét
về mặt hình thức thì giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình
tự luật định Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá củagiấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ
Trang 6có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiệnchuyển nhượng toàn bộ một lần, viêc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vôhiệu Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi
ro Ngoài ra còn có các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối vớitài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữunhà, giấy đăng ký xe máy, xe ô tô,…không phải là giấy tờ có giá Những loại giấy
tờ này chỉ được coi là một vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó Quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyềntài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượngquyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Quyền là mộtquyền năng dân sự chủ quan của chủ thể và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luậtcho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khácphải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình
Thứ hai, tài sản bao gồm động sản và bất động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai, Điều 107 Bộ luật Dân
sự năm 2015 quy định bất động sản và động sản như sau:
Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đấtđai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theoquy định của pháp luật
Động sản là những tài sản không phải là bất động sản Việc phân loại tài sảnthành động sản và bất động sản là cách phân loại tài sản dựa vào đặc tính vật lý củatài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được Bất động sản do đặc tính tựnhiên, được hiểu là các tài sản không thể di dời được do bản chất tự nhiên cấu tạonên tài sản đó, bao gồm:
Một là đất đai Đất đai trong giao lưu dân sự được xác định bằng diện tíchđất cùng vị trí của thửa đất đó Điều này được thể hiện trên bản đồ địa chính, được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua quyết định giao đất, giấychứng nhận quyền sử dụng đất đó
Hai là nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất Nhà, công trình trên đấtđược coi là một dạng của bất động sản do đặc tính tự nhiên nếu nó được xây dựnggắn liền với đất bằng một kết cấu chặt chẽ chứ không đơn thuần “đặt” trên đất Vìvậy, một lều xiếc hay một lán chợ dựng tạm thì không được coi là bất động sản
Trang 7Ba là cây, hoa màu và các tài sản khác trên đất như: khoáng sản, cây cối hoamàu trên đất cũng được coi là bất động sản chừng nào người ta chưa khai thác, chặtcây hay hái lượm Nếu chúng được tách khỏi đất thì chúng trở thành động sản
Bất động sản do pháp luật quy định thì ngoài những tài sản là bất động sản
kể trên, khi cần thiết bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy địnhnhững tài sản khác là bất động sản Ví dụ, Điều 5 Luật Kinh doanh bất động sảnnăm 2014 quy định thì quyền sử dụng đất là bất động sản
Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữucho chủ sở hữu, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hìnhthành trong tương lai Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và
đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó (nhà đã được xâydựng…) Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặcchưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có hoặc đượchình thành trong tương lai (nhà đang được xây dựng theo dự án) Ngoài ra, tài sảnhình thành trong tương lai có thể bao gồm tài sản đã được hình thành tại thời điểmgiao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản mua bán, thừa
kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao cho chủ sở hữu)
Pháp luật được coi là công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất trong việc bảo vệquyền sở hữu, bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện có hiệu quả và hợp lý các quyềnnăng chiếm hữu, sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản của mình
Nhà nước ta sử dụng nhiều ngành luật khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu,mỗi ngành luật bảo vệ quyền sở hữu theo những phương pháp và cách thức phùhợp với chức năng vốn có của nó, như:
Luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp hành chính, trong một
số trường hợp cần thiết có thể dùng biện pháp cưỡng chế hành chính để bảo vệquyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân, tổ chức…
Luật Hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định một số hành vi nhấtđịnh xâm phạm đến quyền sở hữu là tội phạm và quy định mức hình phạt tươngxứng với từng loại hành vi phạm tội đó
Luật Dân sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những phương thứckiện dân sự trước Tòa án để chủ sở hữu thông qua đó mà đòi lại tài sản của mìnhđang bị người khác chiếm hữu bất hợp pháp; yêu cầu người khác chấm dứt hành vi
Trang 8cản trở hoặc yêu cầu ngăn chặn khi chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu, quyềnchiếm hữu hợp pháp đối với tài sản; đòi bồi thường thiệt hại…
Như vậy, mỗi ngành luật đều có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền
sở hữu nhưng mỗi ngành luật không bảo vệ quyền sở hữu một cách riêng biệt mà
nó bổ sung, phối hợp lẫn nhau
2 Phân loại tranh chấp kiện đòi lại tài sản
2.1 Tranh chấp đòi lại tài sản (kiện vật quyền)
Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp yêucầu Tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu trái pháp luật phải trả lại tài sản chomình Mục đích của người khởi kiện khi thực hiện phương thức này là nhằm lấy lạitài sản của mình đang bị người khác chiếm hữu trái pháp luật Theo Điều 166,
BLDS 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có
quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”
Khi áp dụng phương thức kiện này phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: Thứ nhất, đối với nguyên đơn: Người kiện đòi lại tài sản phải là chủ sở hữu
của vật và phải chứng minh quyền sở hữu của mình đối với vật đang bị bị đơnchiếm giữ bất hợp pháp Nếu nguyên đơn là người chiếm hữu hợp pháp thông quahợp đồng chuyển giao quyền sử dụng phù hợp ý chí của chủ sở hữu thì người đóphải chứng minh mình là người có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đang bị bị đơnchiếm giữ bất hợp pháp Về nguyên tắc chung: vật đang do bị đơn chiếm giữ bấthợp pháp đã rời khỏi chủ sở hữu, chủ thể ngoài ý chí của những người này thì cóquyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu bất hợp pháp
Thứ hai, đối với bị đơn: Phải là người đang chiếm hữu bất hợp pháp đối với
tài sản Điều kiện này rất quan trọng vì có nhiều khi chủ sở hữu, người chiếm hữuhợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc nàyngười chiếm hữu tài sản đó đã trở thành chủ sở hữu của tài sản do được xác lập
quyền sở hữu theo thời hiệu, Điều 236 BLDS 2015 quy định: “Người chiếm hữu,
người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp
Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”
Trang 9Thư ba, tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất hợp
pháp Nếu tài sản không còn tồn tại do đã bị mất hoặc bị tiêu hủy thì lúc này khôngthể áp dụng được phương thức kiện đòi lại tài sản Vật hiện còn được hiểu là cònnguyên trạng thái ban đầu hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng đã bị giảm sút giá trị hoặc
đã được làm tăng giá trị
Thứ tư, không rơi vào các trường hợp pháp luật quy định không phải trả lại
tài sản tại Điều 167 và 168 BLDS 2015 Theo đó, nếu người ngay tình có được tàisản thông qua giao dịch có đền bù và tài sản đó không phải bị mất cắp, bị chiếmhữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì nguyên đơn không thể khởi kiện đòi lại tài sản.Trường hợp một người có được tài sản thông qua việc mua đấu giá hoặc giaodịch với người đã được cơ quan nhà nước công nhận là chủ sở hữu của tài sản làtrường hợp người ngay tình hoàn toàn không có lỗi họ sẽ được pháp luật bảo vệ
Hậu quả pháp lý của việc áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản: Khi
phương thức kiện đòi lại tài sản thỏa mãn các điều kiện đặt ra thì người chiếm hữutài sản buộc phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp Tuynhiên hậu quả pháp lý sẽ khác nhau trong hai trường hợp sau:
Đối với người chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ phápluật nhưng ngay tình thì ý chí của họ hoàn toàn ngay thẳng và cần được pháp luậtbảo vệ Chính vì vậy, những người này có quyền sử dụng tài sản Do đó, khi phảitrả lại tài sản thì người chiếm hữu, sử dụng ngay tình không phải hoàn trả hoa lợi,lợi tức phát sinh từ tài sản đó ( Điều 685 BLDS 2015)
Đối với người đang chiếm hữu tài sản là người chiếm hữu không có căn cứpháp luật và không ngay tình thì người đó luôn luôn phải trả lại tài sản đồng thờiphải hoàn trả cả hoa lợi, lợi tức có được trong thời gian chiếm hữu tài sản cho chủ
sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp
Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp
Chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình,
có quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thỏa mãn các nhu cầu trong sinhhoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật Bằng cácquy phạm pháp luật cụ thể, BLDS đã tạo điều kiện để các chủ sở hữu, người chiếmhữu hợp pháp thực hiện quyền của mình, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp đó và cấmmọi hành vi cản trở trái pháp luật
Trang 10Theo quy định tại Điều 169 BLDS 2015 thì: “Khi thực hiện quyền sở hữu,
quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.”
Theo quy định đó thì khi phát hiện hành vi xâm phạm tới việc thực hiện cácquyền năng của mình thì chủ sở hữu, chủ thể có một trong hai quyền sau:
Tự mình yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành
vi đó: Ngay khi phát hiện ra có hành vi xâm phạm hoặc khả năng xâm phạm quyền,lợi ích chính đáng của mình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền yêu cầu người xâmphạm chấm dứt hành vi mà không cần chờ bất cứ một thủ tục nào Biện pháp tự bảo
vệ này mang tính kịp thời, tạo khả năng ngăn chặn hành vi xâm phạm ngay từ đầu,tránh được vụ việc xâm phạm trở nên nghiêm trọng hơn
Yêu cầu Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành
vi xâm phạm chấm dứt hành vi đó: Nếu biện pháp tự yêu cầu của chủ thể đạt hiệuquả không cao và bên xâm phạm không tự nguyện, thiện chí chấm dứt hành vi xâmphạm, khắc phục hậu quả đã gây ra thì pháp luật cho phép chủ sở hữu có quyền yêucầu Tòa án giải quyết Khi đó cơ quan này sẽ sử dụng quy phạm pháp luật của Nhànước để buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợppháp của người khác phải chấm dứt hành vi vi phạm
Mục đích chính của phương thức này là nhằm đảm bảo để chủ sở hữu hoặcchủ thể được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường
2.2 Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền)
Điều 170 BLDS 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với
tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.”
Kiện đòi bồi thường thiệt hại về tài sản là việc chủ sở hữu hoặc chủ thể yêucầu tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải bồi thường thiệt hạicho mình Trong trường hợp một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới tàisản của người khác thì chủ sở hữu của tài sản có quyền khởi kiện đến tòa án yêucầu bồi thường thiệt hại Trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc chủ thể đã khôngthể kiện đòi lại tài sản do tài sản đã bị hư hỏng hoặc đang nằm trong sự chiếm hữucủa chủ thể khác không xác định được hoặc người chiếm hữu tài sản đó là ngườichiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình và không phải trả lại tài sản
Trang 11Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu hoặc chủ thể có thểđặt ra đối với trường hợp bồi thường thiệt hại theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng.Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì các bên có thể thỏathuận về điều kiện bồi thường, mức bồi thường, phương thức bồi thường… tronghợp đồng và khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứvào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng để giải quyết.
Đối với trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng thì điều kiện để có thể ápdụng biện pháp khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm gồm:
Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra: đây là điều kiện bắt buộc, cần thiết để áp dụng
trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi lẽ trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra
là nhằm khôi phục thiệt hại cho người bị thiệt hại Do đó, nếu không có thiệt hạixảy ra thì không thể buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại
Thứ hai, có hành vi trái pháp luật: Nếu hành vi thiệt hại được coi là hành vi
hợp pháp như trường hợp người gây thiệt hại đang thi hành công vụ, gây thiệt hạitrong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại sẽkhông phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy
ra: Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân và tất yếu dẫn đến thiệt hại xảy ra vềtài sản thì người có hành vi đó mới phải chịu trách nhiệm bồi thường Nếu nguyênnhân không phải do hành vi mà có thể tài sản đó tự bị hư hỏng do hết thời gian sửdụng hoặc do kém chất lượng… thì người thực hiện hành vi đó sẽ không phải bồithường thiệt hại mà chủ sở hữu hoặc chủ thể sẽ phải chịu rủi ro
Thứ tư, có lỗi của người gây thiệt hại: Người gây thiệt hại chỉ phải bồi thiệt
hại nếu có lỗi gây ra thiệt hại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Nếu gây
ra thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng hoặc thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗicủa chủ sở hữu hoặc chủ thể thì người gây ra thiệt hại sẽ không phải chịu tráchnhiệm bồi thường
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, trong trường hợp tài sản bị gây thiệt hại không phải
do hành vi của con người gây ra thì chủ sở hữu, chủ thể vẫn có quyền yêu cầu bồithường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra nguyên nhân là do chính tàisản đó gây ra
Trang 12Hậu quả pháp lý của việc áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt
hại: Nếu các bên không có thỏa thuận gì khác về mức bồi thường, phương thức bồi
thường thì thiệt hại về tài sản được bồi thường toàn bộ theo nguyên tắc thiệt hại baonhiêu bồi thường bấy nhiêu và có thể bao gồm một trong những thiệt hại sau: Thiệthại do tài sản bị mất, thiệt hại do tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng, lợi ích gắnliền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế vàkhắc phục thiệt hại
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN
LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THUỘC THẨM QUYỀN CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI.
1 Hòa giải tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất:
1.1 Cơ sở pháp lý để hòa giải các tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất:
Trên thực tế, biện pháp hòa giải tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sửdụng đất thường được áp dụng để giải quyết đối với các vụ việc xảy ra ban đầumang tính chất đơn giản, không phức tạp và mang lại hiệu quả cao, góp phần vàoviệc ổn định trật tự an toàn xã hội Việc hòa giải tranh chấp kiện đòi lại tài sản làquyền sử dụng đất không chỉ được người dân sử dụng mà còn được Nhà nướckhuyến khích thực hiện Kế thừa những quy định của Luật đất đai năm 1993 vànăm 2003, Luật đất đai năm 2013 quy định các tranh chấp đất đai trước hết phảiđược hòa giải, nếu kết quả hòa giải không thành thì đương sự mới được quyền tiếptục chọn hình thức giải quyết tranh chấp thông qua UBND hoặc thông qua TAND.Như vậy, Luật đất đai năm 2013 tiếp tục đề cao vai trò của việc hòa giải tranh chấpđất đai Khi tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất xảy ra, cách thức xử lý
và giải quyết đầu tiên đó là hòa giải
Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 và Điều 88 Nghị định số43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, quy định về hòa giải có ba hình thức sau: Các bêntranh chấp tự thương lượng, hòa giải; hòa giải tại UBND cấp xã và hòa giải tại Tòaán
1.2 Các bên tranh chấp tự thương lượng, hòa giải
Trang 13Đây là biện pháp hòa giải tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
mà theo đó các bên tranh chấp tự tiến hành việc gặp gỡ, trao đổi, bàn bạc,thương lượng, thỏa thuận với nhau để thống nhất biện pháp tháo gỡ những bấtđồng, mâu thuẫn Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp chủ động gặp nhau
để hòa giải Để tạo cơ sở pháp lý cho phương thức hòa giải tranh chấp đất đai
này được thực hiện trên thực tế, Luật đất đai năm 2013 đã quy định: “Nhà nước
khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải”
1.3 Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Luật Đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấpđất đai phải thông qua hòa giải cơ sở Theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm
2013 khi mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xãnơi có đất tranh chấp để hòa giải Như vậy, UBND cấp xã không tự hòa giải mà cácbên phải có đơn yêu cầu:
Khoản 2 Điều 202 Luật đất đai năm 2013 quy định: Tranh chấp đất đai màcác bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xãnơi có đất tranh chấp để hòa giải
Việc hòa giải tại UBND cấp xã sẽ xảy ra một trong hai trường hợp: Hòa giảithành (kết thúc tranh chấp đất đai) và hòa giải không thành Trong trường hợp hòagiải không thành nếu muốn việc tranh chấp được tiếp tục giải quyết thì được thựchiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013
Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Tranh chấp đất đai màđương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều
100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa ánnhân dân giải quyết
Khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Tranh chấp đất đai mà
đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy
định tại Điều 100 của Luật Đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn 1 trong 2 hìnhthức giải quyết sau: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp huyệnhoặc cấp tỉnh (tùy thuộc vào chủ thể tranh chấp) hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân(theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự)
Như vậy, theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì thủ tục hòa giải ởUBND cấp xã được xem là thủ tục bắt buộc đối với tranh chấp kiện đòi lại tài sản
là quyền sử dụng đất trước khi đương sự khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết loạitranh chấp này
Trang 141.4 Hòa giải tại Tòa án
Mặc dù Luật đất đai năm 2013 và Nghị định hướng dẫn thi hành luật nàykhông trực tiếp quy định về việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án Tuy nhiên,căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì khi tranh chấp đất đaiđược đưa ra giải quyết tại Tòa án, sau khi Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết
vụ việc sẽ tiến hành hòa giải tranh chấp theo thủ tục chung
2 Căn cứ giải quyết tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
Đảm bảo đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thực hiện vai trò là ngườiđại diện cho chủ sở hữu Đây là nguyên tắc rất cơ bản trong giải quyết tranh chấpđòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, đòi hỏi khi xem xét giải quyết mọi vấn đề phátsinh trong quan hệ pháp luật đất đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sởhữu toàn dân, bảo vệ quyền lợi cho người đại diện chủ sở hữu, bảo vệ thành quảcủa cuộc cách mạng về ruộng đất Cần quán triệt đường lối chính sách của Đảng,pháp luật của nhà nước không thừa nhận đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụngtrong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghoà, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà Miền nam Việt Nam và Nhà nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khíchviệc tự thương lượng, hoà giải ở cơ sở trong nội bộ quần chúng nhân dân Thực hiệnnguyên tắc này, hoạt động giải quyết tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
đã thể hiện được tư tưởng đổi mới trong quá trình nhà nước điều hành các quan hệ xãhội về đất đai
Lợi ích có nguồn gốc xuất phát từ đất đai là một trong những lợi ích có giá trịlớn, quan trọng đối với mọi cá nhân và tổ chức, các tầng lớp trong xã hội Nếu lợi íchcủa người sử dụng đất không được đảm bảo thì việc sử dụng đất không thể đạt đượchiệu quả mong muốn Đây là giải pháp thuyết phục khi giải quyết các tranh chấpkiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất Để bảo vệ một cách tốt nhất những lợi íchcủa các bên có tranh chấp, trước hết các bên có tranh chấp phải gặp nhau để bàn bạc,thảo luận và thương lượng Đó cũng là cơ sở quan trọng đảm bảo được quyền tự địnhđoạt cho các đương sự được quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất: Theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013, khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với vụ án dân sự tranh chấp đòi
Trang 15lại tài sản là quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy quyết định cá biệt của Ủy ban nhândân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được quy định như sau:
Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết
khi xác định thẩm quyền của Tòa án đối với vụ án dân sự có yêu cầu hủy quyếtđịnh cá biệt của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện phải căn cứ vàokhoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015
Thực tế cho thấy các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất còn tồn tại quá nhiều,việc xác định giấy tờ nào là hợp lệ, giấy tờ nào là không hợp lệ để xác định thẩmquyền của Ủy ban nhân dân hay Tòa án nhân dân trong thời gian từ năm 2017 đếnngày 30/5/2019 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là rất phức tạp
Khi giải quyết tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất trên thực
tế có rất nhiều trường hợp chủ sử dụng đất trong một thời gian dài đã đi khỏi địaphương không trực tiếp quản lý, sử dụng nữa và qua các lần điều chỉnh chính sáchđất đai của Nhà nước họ đều không kê khai đăng ký nên người khác đã tự ý đếnmảnh đất đó xây dựng nhà ở và sử dụng canh tác liên tục, lâu dài Người đang sửdụng đất đã sử dụng đất này từ trước hoặc từ khi Luật Đất đai năm 1987 có hiệulực, một thời gian dài chủ đất không có ý kiến gì, nay mới khởi kiện đòi lại đất Vìvậy, nếu đất tranh chấp đã được một bên sử dụng trong một thời gian dài không cótranh chấp, nay chủ cũ đòi lại đất thì phải xem xét kỹ đến quyền lợi của người củangười dân trực tiếp quản lý, canh tác, sử dụng, tôn tạo đất liên tục trong một thờigian dài và đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính, các chính sách pháp luật về đất đainhằm ổn định đời sống, sản xuất cho người dân
3 Thực trạng công tác kiểm sát giải quyết tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3.1 Về số liệu
* Án cấp sơ thẩm:
- Tổng số vụ án Viện kiểm sát thụ lý trong năm 2017 là 175 vụ;
Đã giải quyết 171 vụ, trong đó: xét xử : 156 vụ, chiếm 90,2%; đình chỉ: 07
vụ, chiếm 4,2%; Tạm đình chỉ: 05 vụ, chiếm 2,9%; Công nhận sự thỏa thuận: 03
vụ, chiếm 1,7% Hiện còn: 04 vụ chiếm tỷ lệ 2,2% trên số vụ án thụ lý
Trang 16- Tổng số vụ án Viện kiểm sát thụ lý trong năm 2018 là 240 vụ;
Đã giải quyết 148 vụ, trong đó: xét xử: 107 vụ, chiếm 72,3%; đình chỉ: 19chiếm 12,2%; Tạm đình chỉ: 18 vụ chiếm 12,1%; Công nhận sự thỏa thuận: 04 vụ,chiếm 2,4% Hiện còn: 92 vụ chiếm tỷ lệ 38,33% trên số vụ án thụ lý
- Tổng số vụ án Viện kiểm sát thụ lý trong 6 tháng đầu năm 2019 là 192 vụmới;
Đã giải quyết 70 vụ, trong đó: xét xử: 35 vụ, chiếm 50%; đình chỉ: 10 vụchiếm 14,2%; Tạm đình chỉ: 20 vụ chiếm 28,6%; Công nhận sự thỏa thuận: 05 vụ,chiếm 7,2% Hiện còn: 122 vụ chiếm tỷ lệ 63,5% trên số vụ án thụ lý
*Án cấp phúc thẩm:
- Tổng số vụ án Viện kiểm sát thụ lý trong năm 2017 là 38 vụ;
Đã giải quyết 38 vụ, đạt 100 %
- Tổng số vụ án Viện kiểm sát thụ lý trong năm 2018 là 33 vụ;
Đã giải quyết 33 vụ, trong đó xét xử 32 vụ, tạm đình chỉ 01 vụ, đạt 100 %
- Tổng số vụ án Viện kiểm sát thụ lý trong 6 tháng đầu năm 2019 là 16 vụ
Đã giải quyết 12 vụ, trong đó xét xử 12 vụ, đạt 75%
Theo số liệu thống kê án sơ thẩm cho thấy số vụ thụ lý năm sau luôn cao hơnnăm trước, riêng là 06 tháng đầu năm 2019, tổng số án thụ lý bằng 80% năm 2018.Chính vì vậy, cần phải đầu tư về con người cho khâu công tác dân sự, hành chính,kinh doanh thương mại nói chung, trong lĩnh vực dân sự nói riêng, nhằm đáp ứngvới yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
3.2 Một số vi phạm điển hình trong giải quyết án tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, qua một số vụ án cụ thể
Vụ thứ nhất: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, giữa
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTV Lâm nghiệp Ba Tô.
Bị đơn: Ông Phạm Văn Xéo, bà Phạm Thị Hoa, Phạm Thị Út.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị Đế, SN:1925;
Nội dung vụ án:
Trang 17Nguyên đơn trình bày: Năm 2003 được sự thống nhất của UBND tỉnh Quảng
Ngãi, Sở NN&PT NT tỉnh Quảng Ngãi, công ty đầu tư xây dựng vườn ươm sảnxuất cây giống lâm nghiệp Khi quy hoạch vườn ươm, công ty đã phối hợp vớiUBND xã Ba Tô, huyện Ba Tơ tổ chức thương lượng, thỏa thuận, bồi thường đất vàhoa màu trên đất cho một số hộ nông dân có diện tích đất nằm trong vùng quyhoạch vườn ươm, trong đó có hộ ông Phạm Văn Xéo, vợ bà Phạm Thị Hoa và hộ
bà Phạm Thị Út Sau khi nhận đủ số tiền đền bù theo thỏa thuận, các hộ đã giao đấtcho công ty sử dụng và cam kết không tranh chấp với công ty Từ năm 2003 đếnnăm 2006, công ty tổ chức sản xuất cây giống ổn định đáp ứng được nhiệm vụ kếhoạch Nhà nước giao Tuy nhiên vào ngày 26/02/2007, hộ ông Phạm Văn Xéo lấnchiếm đất vườn ươm của công ty, công ty đã báo cáo sự việc lên chính quyền địaphương xã Ba Tô Tại cuộc họp ngày 16/3/2007, hộ gia đình ông Phạm Văn Xéo đãthừa nhận việc làm của mình là sai trái nên trả lại đất và cam kết không lấn chiếmđất của công ty Sau cuộc họp trên công ty đã làm thủ tục thuê đất với UBND tỉnhQuảng Ngãi, đến ngày 22/01/2009 UBND tỉnh Quảng Ngãi đã cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất tại Quyết định số 54/QĐ-UBND cho Công ty với tổng diện tích2,9ha
Từ năm 2011 đến năm 2013, hộ ông Phạm Văn Xéo, vợ là bà Phạm Thị Hoa
và hộ bà Phạm Thị Út lại tiếp tục lén lút phá trụ bê tông, tường rào, hệ thống dànche, hệ thống tưới nước, chặt phá cây giống gây thiệt hại cho công ty tổng cộng sốtiền là 108.644.360 đồng và chiếm dụng đất của công ty trồng mía từ đó cho đếnnay Sự việc đã được các cấp chính quyền giải quyết hòa giải nhiều lần nhưngkhông thành, vợ chồng ông Xéo, bà Hoa và bà Phạm Thị Út cương quyết không trảđất cho công ty
Nay công ty yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn ông Phạm Văn Xéo,
bà Phạm Thị Hoa và hộ bà Phạm Thị Út trả lại toàn bộ diện tích đất đã chiếm củacông ty để công ty sử dụng, trong đó ông Xéo bà Hoa phải trả diện tích là 12.523,2m2, bà Phạm Thị Út phải trả diện tích đất 7.646 m2 Đồng thời công ty còn yêu cầuTòa án giải quyết buộc các bị đơn bồi thường thiệt hại do hành vi chặt phá cây keo,tường rào, hệ thống dàn che, hệ thống tưới nước với tổng số tiền là 108.644.360đồng, trong đó vợ chồng ông Xéo, bà Hoa bồi thường số tiền là 71.429.574 đồng,
bà Phạm Thị Út bồi thường số tiền 36.214.786 đồng Trong quá trình giải quyết vụ
án, Công ty xét thấy các bị đơn là người đồng bào dân tộc thiểu số, nằm trong diện
Trang 18có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trình độ nhận thức có hạn, thiếu hiểu biết pháp luậtnên đã rút phần yêu cầu bồi thường thiệt hại.
độ chính sách cho cha ông Xéo là người có công cách mạng… việc hứa hẹn này haibên không lập biên bản chỉ nói miệng, đồng thời công ty cam kết chỉ sử dụng đấtvài năm, khi nào gia đình cần thì công ty sẽ trả lại đất công ty mượn cho vợ chồngông Xéo, bà Hoa và hộ bà Út Sau khi gia đình đồng ý giao đất cho công ty thì công
ty có bồi thường tiền hoa màu trên đất cho hộ ông Xéo số tiền là 9.000.000đồng, hộ
bà Út số tiền 900.000đồng Nhưng công ty trả cho vợ chồng ông Xéo, bà Hoa nhiềulần trong nhiều năm, cụ thể: năm 2003 trả 1.000.000đồng, năm 2004 trả4.000.000đồng, cuối năm 2004 trả 3.000.000đồng và năm 2005 trả 1.000.000đồng
Đến năm 2007 khi không thấy công ty thực hiện những gì đã hứa, gia đìnhông Xéo, bà Út đòi lại đất thì công ty không trả Vì vậy, gia đình ông Xéo, bà Út đã
tự ý chặt phá hàng rào và một số cây giống của công ty để lấy lại đất đã giao chocông ty sử dụng, dẫn đến tranh chấp giữa công ty và hai hộ ông Xéo, bà Út Tạibuổi làm việc ngày 16/3/2007 gia đình ông Xéo, bà Út đồng ý trả lại đất cho công
ty và cam kết không tranh chấp với công ty nữa là vì công ty hứa sẽ đền bù cho hai
hộ một diện tích đất khác để canh tác, tuy nhiên từ đó đến nay công ty không thựchiện việc giao đất như đã hứa
Đến năm 2011, ông Xéo, bà Út tiếp tục yêu cầu lấy lại đất và tự ý phá dỡhàng rào, chặt giống cây keo và trồng lại mía, dẫn đến tranh chấp giữa hai bên Saukhi xảy ra tranh chấp công ty có đưa lô đất khác cho gia đình ông Xéo, bà Út phíasau UBND xã Ba Tô, nhưng lô đất đó thuộc diện quy hoạch tái định cư của xã nên
Trang 19UBND xã không đồng ý Công ty đã giao lô đất khác cho hộ ông Xéo, bà Út nhưnggia đình ông Xéo, bà Út không đồng ý vì diện tích đất mà Công ty đồng ý đền bùhiện có người khác đang canh tác
Nay Công ty yêu cầu các bị đơn phải trả lại toàn bộ diện tích đất 20.169,2m2tại thửa 259, tờ bản đồ số 6, thôn Lang Mô, xã Ba Tô, huyện Ba Tơ thì các bị đơnkhông đồng ý Vì các bị đơn cho rằng đất đang canh tác là của các bị đơn khaihoang cho Công ty mượn để sử dụng Nay, Công ty không thực hiện các lời hứanên các bị đơn lấy lại để canh tác Tại phiên Tòa sơ thẩm, các bị đơn yêu cầu hủyQuyết định cho thuê đất và hủy GCNQSD đất mà UBND tỉnh đã cấp cho Công ty
Tại biên bản làm việc ngày 04/8/2015, các bị đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầuphản tố: Buộc Công ty trả lại toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp cho các bị đơn
Kết quả xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm:
Lần 1: Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2015/DSST ngày 12/02/2015 của Tòa
án nhân dân huyện Ba Tơ tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu đòibồi thường thiệt hại của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viênLâm nghiệp Ba Tô
Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn ông Phạm Văn Xéo, bà Phạm ThịHoa, bà Phạm Thị Út
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Ba Tô giaotrả cho hộ ông Phạm Văn Xéo, bà Phạm Thị Hoa diện tích đất trồng cây hàng năm
là 12.523,2m2 , trả cho hộ bà Phạm Thị Út diện tích đất trồng cây hàng năm là7.646m2 thuộc thửa đất 259, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại thôn Mô Lang, xã Ba Tô,huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi (có giới cận cụ thể kèm theo)
Kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ngãi thu hồi và chỉnh sửa lại giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất số AN 798058, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất số T01227 cấp ngày 22/01/2009 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thànhviên Lâm nghiệp Ba Tô, thuộc thửa đất 259, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã Ba Tô,huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất
Ngày 13/02/2015, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầuông Xéo trả 12.523,2 m2, bà Út 7.646 m2; yêu cầu bồi thường hệ thống dàn che, hệthống nước tưới và tường rào vườn ươm với tổng số tiền là 108.644.360 đồng
Trang 20Ngày 12/3/2015 Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định khángnghị bản án dân sự sơ thẩm số 02/2015/DSST ngày 12/02/2015 của Tòa án nhândân huyện Ba Tơ theo trình tự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm số 44/2015/DS-PT ngày 11/6/2015 của TAND tỉnh QuảngNgãi: Đã chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh và hủy bản án sơ thẩm nói trên
Lần 2: Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2016/DSST ngày 29/9/2016 của Tòa án
nhân dân huyện Ba Tơ tuyên xử:
Buộc ông Phạm Văn Xéo, bà Phạm Thị Hoa, bà Phạm Thị Út liên đới giaotrả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Ba Tô diện tíchđất 20.169,2 m2 tại thửa đất 259, tờ bản đồ số 6, xã Ba Tô Trong đó: ông Xéo bàHoa phải trả 12.523,2 m2, bà Út phải trả 7.646 m2
Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viênLâm nghiệp Ba Tô về việc chấp nhận để các bị đơn Buộc ông Phạm Văn Xéo, bàPhạm Thị Hoa, bà Phạm Thị Út quản lý, chăm sóc toàn bộ số lượng mía đã trồngtrên đất lấn chiếm cho đến thời điểm thu hoạch ngày 28/02/2017
Đình chỉ việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tô yêu cầu ông Xéo, bàHoa, bà Út bồi thường thiệt hại 108.644.360 đồng
Ngày 10/10/2016, ông Xéo, bà Hoa, bà Út kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩmbác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy quyết định cho thuê đất và cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất số 54/QĐ-UBND ngày 22/01/2009 của UBND tỉnh
Bản án số 40/2017/DS-PT ngày 12/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi áp dụng khoản 3 Điều 308, 310 BLTTDS 2015: Hủy bản án sơ thẩm số
03/2016/DS-ST ngày 29/9/2016 của TAND huyện Ba Tơ, giao hồ sơ về cho cấp sơthẩm thụ lý giải quyết lại theo thủ tục chung
Một số vi phạm của vụ án:
Vụ án này đã qua hai lần xét xử sơ thẩm và cả hai lần đều vi phạm nghiêmtrọng thủ tục tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm đã có vi phạm trong việc xác minh, thu
thập chứng cứ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được
Việc ông Xéo, bà Hoa, bà Út cho rằng Công ty không thực hiện đúng lời hứanên đòi lại đất để canh tác và qua quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa ngày05/4/2017 thì phát sinh tình tiết mới nên HĐXX tạm dừng phiên tòa để thu thậpthêm chứng cứ mới theo lời khai của các hộ dân
Trang 21Qua việc xác minh của TAND tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 03/5/2017 thì hiệntại trên diện tích đất mà Công ty đang tranh chấp với hộ ông Xéo, bà Út thì còn có
hộ ông Phạm Văn Ui đang trồng 04 sào mía trên diện tích đất này Về phía ông Uikhai: Nguồn gốc đất hiện nay ông đang canh tác là do ông khai hoang vào năm
1981 Nhưng khi Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành đo đạc không có mời ông tham gia,nên ông không biết và không thể chỉ mốc giới Về phía Công Ty thì ông Bảy làngười đại diện theo pháp luật cũng thống nhất với lời trình bày của ông Phạm Văn
Ui, trong diện tích đất 7.646m2 mà Công ty tranh chấp với hộ bà Phạm Thị Út cómột phần đất của ông Ui đang canh tác nhưng không biết bao nhiêu và thống nhất
là khoảng 4 sào
Như vậy, khi tiến hành thu thập chứng cứ, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thậpchưa đầy đủ Việc thu thập chứng cứ không đầy đủ của cấp sơ thẩm là vi phạmkhoản 2 Điều 97 BLTTDS Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Phạm Văn Ui vàotham gia tố tụng, nên ông Ui không biết là quyền lợi của mình bị xâm phạm để tựbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụngtheo quy định tại Điều 68 BLTTDS Những vi phạm trên, Tòa án cấp phúc thẩmkhông thể khắc phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm số 03/2016/DS-STngày 29/9/2016 của TAND huyện Ba Tơ và giao hồ sơ về để cấp sơ thẩm thụ lý và
bổ sung cho đầy đủ theo quy định của pháp luật
Vụ thứ hai: “Tranh chấp đòi lại tài sản QSD đất”, giữa:
Nguyên đơn: Ông Bùi Minh Hoàng, sinh năm 1967,
Bị đơn: Ông Đinh Tấn Công, sinh năm 1954.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Sương, bà Trần Thị
Vân, ông Bùi Minh Hiển, ông Bùi Minh Viên, bà Nguyễn Thị Phượng, ông Đinh
Tấn Danh, ông Đinh Tấn Lợi, bà Đinh Thị Liễu, ông Đinh Tấn Anh, bà Bùi ThịMinh Hương (Bùi Thị Hương)
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Bùi Minh Hoàng trình bày: Nguyên thửa đất tọa lạc tại đội 1,
thôn Phú Lộc xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh có diện tích 1670 m2 thuộc thửa đất
420, tờ bản đồ 18 đã được UBND huyện Sơn Tịnh cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất số 00314/QSSD/1077/QĐ-UB ngày 18/12/1998 cho ông