1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NÂNG CAO KHẢ NĂNG VIẾT VÀ SỬA LỖI CHƯƠNG TRÌNHCHO HỌC SINH KHỐI 11 THÔNG QUA HƯỚNG DẪN TỰ HỌC, THẢOLUẬN NHÓM VÀ TĂNG CƯỜNG CƯỜNG CÁC BÀI TẬP PHÁT HIỆN VÀLỖI

19 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 426,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy lập trình là dạy phương pháp tư duy cho học sinh, để học sinh tư duy tốt cần có phương pháp giúp cho học sinh phát huy được hết khả năng tư duy của mình, song việc rèn luyện cho các

Trang 1

NỘI DUNG TRANG

I TÓM TẮT 1

II GIỚI THIỆU 2

1 Hiện trạng 2

2 Giải pháp thay thế 3

3 Vấn đề nghiên cứu 3

4 Giả thiết nghiên cứu 3

III PHƯƠNG PHÁP 4

1 Khách thể nghiên cứu 4

2 Thiết kế nghiên cứu 4

3 Quy trình nghiên cứu 5

4 Đo lường và thu thập dữ liệu 5

5 Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả 6

IV, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 9

V TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

PHỤ LỤC 10

Trang 2

ĐỀ TÀI: NÂNG CAO KHẢ NĂNG VIẾT VÀ SỬA LỖI CHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH KHỐI 11 THÔNG QUA HƯỚNG DẪN TỰ HỌC, THẢO LUẬN NHÓM VÀ TĂNG CƯỜNG CƯỜNG CÁC BÀI TẬP PHÁT HIỆN VÀ

LỖI.

I TÓM TẮT

Đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới cách dạy, đổi mới cách học là mục tiêu của đổi mới giáo dục Để đáp ứng yêu cầu đổi mới đổi mới đó đòi hỏi các em phải rèn luyện khả năng tự trình bày, tự nhận thức thông qua việc tự đọc

lý thuyết và hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề Dạy lập trình là dạy phương pháp tư duy cho học sinh, để học sinh tư duy tốt cần có phương pháp giúp cho học sinh phát huy được hết khả năng tư duy của mình, song việc rèn luyện cho các em khả năng tự viết chương trình đơn giản là điều phải thực hiện trước tiên

Đối với học sinh các trường THPT ở ngoại thành nói chung và trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng, các em ít có điều kiện thực hành do gia đình hầu hết còn chưa có máy tính, thời gian thực hành trên lớp còn hạn chế (tối thiểu 2 em /1 máy tính) Cùng với yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng chỉ yêu cầu các em hiểu cú pháp lệnh và biết vận dụng, tra cứu các cú pháp lệnh vào viết chương trình Trong quá trình dạy học tôi thấy các em còn lúng túng trong việc

sử dụng các kiểu dữ liệu cho đúng phạm vi giá trị, sử dụng đúng cú pháp lệnh để viết chương trình và việc tra cứu lại kiến thức còn hạn chế và mất thời gian, do

đó tôi thường hướng dẫn học sinh lập bảng tổng kết nội dung chương sau mỗi bài của chương để thuận tiện cho việc tra cứu lý thuyết vận dụng vào việc viết chương trình

Nghiên cứu được tiến hành trên 2 lớp 11B1 và 11B2 trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, lớp 11B1 là lớp thực nghiệm và lớp 11B2 là lớp đối chứng Lớp thực nghiệm được giáo viên hướng dẫn tạo bảng tổng hợp kết quả từng chương và thực hiện tổng hợp kết quả theo từng bài, lớp đối chứng không thực hiện tạo bảng tổng kết Cả hai lớp học theo phương pháp học giống nhau, cùng do tôi giảng dạy Kết quả cho thấy tác động ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh, Lớp thực nghiệm việc có kết quả cao hơn lớp đối chứng,

Trang 3

kết quả điểm trung bình các bài kiểm tra ở học kỳ I năm 2012 – 2013 của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là và kết quả T-test là:

Điểm trung bình các bài kiểm tra

Kết quả các giá trị p= 0,00000000005; 0,00035120842; 0,0000475485; 0,00000006553 đều <0,05 rất nhiều, điều đó cho thấy có sự khác biệt lớn giữa lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, ngoài ra trong các tiết thực hành tôi không phải sửa lỗi nhiều cho học sinh trong lớp thực nghiệm nhưng lại phải thường xuyên phải sửa lỗi hoặc hướng dẫn thêm cho các em trong lớp thực đối chứng, các em lớp thực nghiệm đã say mê hơn với môn lập trình (thông qua việc quan sát thái độ học tập trong các tiết học) Điều đó chứng minh là giải pháp thay đổi phương pháp học đã giúp các em yêu thích môn học hơn, có cố gắng hơn trong học tập từ đó phát huy tốt hơn khả năng viết và sửa lỗi chương trình

II GIỚI THIỆU

1 Hiện trạng

Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những trường thuộc vùng sâu vùng xa của Hải Phòng, song chất lượng học sinh luôn đứng trong tốp các trường có kết quả cao trong toàn thành phố cũng như trong cả nước Có được thành tích đó là do các thầy cô trong hội đồng nhà trường luôn có sự đam mê với công tác giảng dạy, tích cực hưởng ứng công cuộc đổi mới phương pháp dạy và học của các giáo viên, ngoài ra còn có sự tích cực của học sinh và sự quan tâm giúp đỡ của Ban lãnh đạo nhà trường và phụ huynh học sinh Trong dạy lập trình không giống như các môn học khác nếu chỉ dạy theo phương pháp đơn thuần lý thuyết thì các em sẽ thấy khó hiểu và học sinh viết được chương trình thì phải mất thời gian rất lâu để tra cứu lại lý thuyết Các em thường bị lỗi về cú pháp lệnh, về cách sử dụng biến, về cách dùng biến sao cho không bị tràn bộ nhớ hoặc lãng phí bộ nhớ Do đó việc hướng dẫn các em tạo bảng tổng hợp kiến thức của chương sau mỗi bài học sẽ là giải pháp giúp các em dễ dàng hơn trong

Trang 4

2 Giải pháp thay thế

- Giáo viên chủ động phân nhóm học sinh trong lớp đầu năm học Nêu rõ mục tiêu cần đạt trong môn học

- Giáo viên biên soạn sẵn các mẫu bảng tổng hợp kiến thức cho từng chương Học sinh tự tổng hợp lại kiến thức sau mỗi tiết học vào bảng tổng hợp

- Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi luôn chú ý đến thái độ học tập của học sinh, đánh giá thái độ, tinh thần học bài cũ, chuẩn bị bài của học sinh và thái độ học tập của học sinh vào điểm miệng của các em, đồng thời động viên các em theo hướng tích cực

- Vấn đề đổi mới phương pháp đã được đề cập đến trong một số các đề tài như:

+ Mấy biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh - Nguyễn Tinh Dung

+ Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực - một phương pháp vô cùng quý

báu - Phạm Văn Đồng

+ Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT - Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier.

3 Vấn đề nghiên cứu

Việc hướng dẫn học sinh tự tổng hợp kiến thức chương sau mỗi bài học

để nâng cao khả năng viết chương trình cho học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm

4 Giả thiết nghiên cứu

Việc học sinh tự tổng hợp nội dung chương sau mỗi bài học có làm nâng cao kết quả học tập môn tin học của học sinh khối 11

Trang 5

III PHƯƠNG PHÁP

1 Khách thể nghiên cứu

- Tôi lựa chọn học sinh lớp 11B1 và 11B2 để nghiên cứu vì hai lớp này đều là lớp chọn 1 của trường, kết quả phần kiểm tra bài toán và thuật toán tương đương đương nhau, số học sinh 2 lớp tương đương nhau, tỷ lệ giới tính cũng gần tương đồng nhau

- Đây là 2 lớp tôi cùng trực tiếp giảng dạy năm lớp 10 và tiếp tục dạy ở lớp 11

2 Thiết kế nghiên cứu

Tôi sử dụng kết qủa điểm kiểm tra 45p lần 1 đầu năm lớp 10 (kiểm tra về bài toán và thuật toán - kiến thức làm tiền đề cho chương trình khối 11) làm tiêu chí chọn ngẫu nhiên 2 lớp tương đương để minh họa cho đề tài Tôi chọn hai lớp 11B1 làm lớp thực nghiệm, lớp 11B2 là lớp đối chứng Kết quả thấy điểm trung bình của 2 lớp có sự khác nhau không lớn Song tôi vẫn dùng phép kiểm chứng T- test để kiểm chứng về

sự chênh lệch trung bình về điểm số của 2 lớp trước tác động

Kết quả như sau

Ta thấy p=0,2048706>0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch về điểm trung bình của hai nhóm là không có nghĩa, hai nhóm coi là tương đương

Ngoài ra trong quá trình dạy tôi thấy hầu hết các em đều nói rằng bài toán thuật toán là khó, điều đó kết luận việc viết chương trình, thực hiện lệnh đơn giản trong chương trình cũng sẽ là khó khăn cho các em, và qua các khóa học đa phần các em không thích học thuật toán và lập trình vì khó

Trang 6

Tôi lựa chọn kiểm tra sau tác động với nhóm ngẫu nhiên và dùng phép kiểm chứng t-test độc lập

3 Quy trình nghiên cứu

a Sự chuẩn bị của giáo viên

- Ở cả 2 lớp 11B1 – lớp thực nghiệm - và lớp 11B2 – lớp đối chứng: Tôi

sử dụng phương pháp dạy học là như nhau Nhưng lớp 11B2 không được hướng dẫn tổng hợp kiến thức

- Ở lớp 11B1 – lớp thực nghiệm: Giáo viên phải chuẩn bị thêm hệ thống mẫu bảng tổng hợp kiến thức và hướng dẫn các em hệ thống hóa kiến thức và tự tổng hợp kiến thức vào bảng tổng kết kiến thức sau mỗi bài tập, được giáo viên kiểm tra đầu mỗi tiết học

b Tiến hành dạy thực nghiệm

Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân theo thời khóa biểu của nhà trường Các bài kiểm tra được tiến hành theo đúng kế hoạch

4 Đo lường và thu thập dữ liệu

- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 45 phút lần 1 lớp 10 do tôi trực tiếp dạy năm trước ra đề và chấm theo đáp án có trước

- Bài kiểm tra sau tác động tôi sử dụng các bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ do tôi ra đề, bài kiểm tra học kỳ I do nhóm bộ môn ra đề chung toàn trường, các bài kiểm tra đều có đáp án và được chấm theo đáp án so sánh kết quả các bài kiểm tra thông qua mức điểm và kết luận dựa trên điểm trung bình môn học kỳ I năm học 2012 - 2013

- Đồng thời trong quá trình thực hiện tôi còn quan sát tìm hiểu thái độ của học sinh trong 2 lớp đối với môn học thông qua thái độ của học sinh trong các tiết học

Trang 7

5 Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả

Kết quả 15 phút lần 1

Chênh lệch giá trị trung

Kết quả 45 phút

Chênh lệch giá trị trung

Trang 8

Kết quả 15 phút lần 2

Chênh lệch giá trị trung

Kết quả học kỳ I

Chênh lệch giá trị trung

Như đã chứng minh trên: kết quả 2 nhóm trước khi tác động là tương đương nhau Sau khi tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bỉnh bằng T-Test cho thấy kết quả P trong 4 lần kiểm tra với các giá trị (p1 =0,00000000964; p2=0,00038515; p3=0,000025682; p4=0,00000093868), đây là kết quả có ý nghĩa rất lớn, tức là sự chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng không phải là ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động Giá trị SMD với các giá trị: 1,5; 0,8; 1,0; 1,3 theo bảng tiêu chí Cohen thấy mức

độ ảnh hưởng của việc dạy học bằng thiết kế trên đến kết quả học tập là lớn và rất lớn

Trang 9

Như vậy giả thuyết của đề tài đã được kiểm chứng

Kết luận:

5.9

7.1

6.8

7.7

6.8

7.9

7.1

8.3

0.0 1.0 2.0 3.0 4.0 5.0 6.0 7.0 8.0 9.0

§TB

Bµi kiÓm tra

So s¸nh §TB chuÈn c¸c bµi häc kú

Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm

- Nhìn vào kết quả của các bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trong biểu đồ ta thấy điểm trung bình của 2 lớp có

sự khác biệt rõ rệt Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của các bài kiểm tra tương ứng từ 0,8 đến 1,3 Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của biện pháp tác động là lớn và rất lớn

- Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình các bài kiểm tra đạt từ 0,00000000964 đến 0,00038515 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của 2 nhóm không phải do ngẫu nhiên mà do tác động

Hạn chế:

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tự tổng kết kiến thức qua bảng tổng hợp kiến thức chương sau mỗi bài học là phương pháp tốt, thúc đẩy học sinh hoạt động có thể nâng cao hiệu quả dạy và học trong môn lập trình, tuy nhiên hoạt động này không phải lớp nào hoạt động cũng hiệu quả, mà còn do giáo viên phải nhiệt tình, hướng dẫn ban đầu việc tổng hợp kiến thức cho các em, và

Trang 10

thường xuyên kiểm tra kết quả làm việc ở nhà của các em thông qua các học sinh khác nhau để tất cả các em cùng phải hoạt động thì mới hiệu quả

Tôi cũng đã áp dụng nó đối với lớp thường, kết quả có thay đổi tương đối lớn nhưng chưa được như mong muốn Rất mong được các đồng chí quan tâm,

sử dụng và góp ý để đề tài được phát triển và có ý nghĩa hơn với sự nghiệp giáo dục nói chung và việc dạy lập trình nói riêng

IV, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

- Kết luận: Việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh thông qua việc tự

hệ thống và tổng hợp kiến thức vào bảng tổng hợp kiến thức chương đã giúp nâng cao khả năng viết chương trình của học sinh lớp 11

- Khuyến nghị:

+ Đối với nhà trường, các ban ngành và phụ huynh học sinh: Cần tạo điều kiện, mở rộng cơ sở vật chất, bổ sung thêm máy chiếu ở các phòng học sinh, đảm bảo cho các tiết học của môn tin học nói riêng và các môn học nói chung đạt kết quả cao hơn cho học sinh

+ Đối với giáo viên: Cần có nhiệt tình trong công tác, thường xuyên nghiên cứu chuyên sâu để tìm hiểu, xây dựng ra các bộ bài tập có ý nghĩa, giúp học sinh có hứng thu trong học tập

+ Đối với học sinh: phải có ý thức nghiên cứu lại bài cũ và tìm hiểu trước nội dung bài học trước khi đến trường, có ý thức xây dựng bài và làm việc theo nhóm

Trang 11

V TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn tin học trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào Tạo.

2 Hướng dẫn thực hiện chương trình chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào

tạo Hải Phòng

3 Phạm Tất Giá - Thí điểm một hình thức đào tạo mới “Tự học có hướng

dẫn” ở bậc đại học Thông tin KHGD & CN, số tháng 4/1992

4 Trần Hồng Quân - Cách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức

sống mới cho giáo dục ở thời đại mới Nghiên cứu giáo dục, 1/1995

Trang 12

PHỤ LỤC

I Kế hoạch thực hiện các bài học

1 Kiểm tra việc chuẩn bị bài cũ (05 - 07 Phút), kết hợp kiểm tra việc tổng hợp kiến thức trong bảng tổng hợp kiến thức chương

2 Các hoạt động khác theo giáo án thông thường

3.Củng cố kiến thức, hướng dẫn, nhắc nhở học sinh việc hệ thống kiến thức bài học vào bảng tổng hợp kiến thức chương (05 – 07 phút)

II Hệ thống các mẫu bảng hệ thống kiến thức chương cho các chương

Chương 2: Chương trình đơn giản

Cú pháp, tên, cấu

Diễn giải nội

Chương 3: Cấu trúc rẽ nhánh và lặp

Cú pháp lệnh Giải thích thành phần Ý nghĩa lệnh Ví dụ

Trang 13

Chương 4: Kiểu dữ liệu có cấu trúc

Kiểu dữ liệu

Khai báo, các thao tác trên kiểu dữ liệu

Giải thích thành phần

Ý nghĩa thao

Kiểu mảng

Kiểu xâu

Trang 14

Chương V: Tệp và các thao tác với tệp

Khai báo/ thao tác thành phần Giải thích Ý nghĩa thao tác Ví dụ

Chương VI: Chương trình con và lập trình có cấu trúc

Cấu trúc, thao tác thành phần Giải thích Ý nghĩa Ví dụ

Trang 15

III Hệ thống kết quả các bài kiểm trả

ĐIỂM KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG Điểm kt 45p lớp 10 của lớp 11B1 Điểm kt 45p lớp 10 của lớp 11B2

ST

20 Hoàng T Bích Hường 8 20 Trần Xuân Hưởng 5

Trang 16

37 Bùi Thị Thu Thảo 7 37 Hoàng Xuân Sang 6

Bảng kết quả các bài kiểm tra của lớp 11B2 (lớp đối chứng)

Trang 17

20 Trần Xuân Hưởng 7 8 6.5 8.5

Trang 18

Bảng kết quả các bài kiểm tra lớp 11B1 (lớp thực nghiệm)

Trang 19

26 Nguyễn Thu Ngân 7 7 7.0 7.5

Ngày đăng: 03/04/2021, 00:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w