Việc chấp hành các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước .... Thứ Ba: Việc tồn tại, hạn chế tron
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ, lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Đức
Trang 4và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban quản lý đào tạo,
Bộ môn Kinh tế và Tài nguyên Môi trường, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức Ban Tiếp Công dân huyện; Thanh tra huyện; phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức; các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn /
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Đức
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 5
2.1.1 Các khái niệm liên quan 5
2.1.2 Đặc điểm giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 9
2.1.3 Nội dung cần giải quyết Khiếu nại, Tố cáo và tranh chấp về đất đai 11
2.1.4 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai hiện nay 13
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết Khiếu nại, Tố cáo và tranh chấp về đất đai 21
2.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 24
2.2.1 Thực tiễn ở nước ngoài 25
2.2.2 Cơ sở thực tiễn về các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 28
2.2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu đề tài của tác giả 36
Trang 6Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 39
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 39
3.1.1 Vị trí địa lý 39
3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 39
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
3.1.4 Những thuận lợi và khó khăn của tình hình cơ bản liên quan đến luận văn 42
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
3.2.2 Nguồn số liệu 44
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 46
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 47
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 49
4.1 Thực trạng quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức 49
4.1.1 Công tác quản lý đất đai 49
4.1.2 Tình hình sử dụng đất huyện Mỹ Đức 54
4.1.3 Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức giai đoạn 2013-2017 55
4.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức 57
4.2.1 Tình hình tiếp nhận, phân loại đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện giai đoạn 2013-2017 57
4.2.2 Các nội dung khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 59
4.2.3 Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức 64
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức 72
4.3.1 Hệ thống chính sách pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 72
4.3.2 Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 74
Trang 74.3.3 Cơ sở hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giải quyết
khiếu nại tố cáo, tranh chấp đất đai tại các cơ quan hành chính nhà nước
trên địa bàn huyện 77
4.3.4 Việc chấp hành các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước 78
4.3.5 Trình độ nhận thức pháp luật của người dân 84
4.4 Giải pháp tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức 86
4.4.1 Tăng cường công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Đức 86
4.4.2 Tăng cường tuyên truyền phổ biến sâu rộng pháp luật đất đai, về khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Mỹ Đức 89
4.4.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác Tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức 91
4.4.4 Xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất 92
4.4.5 Nâng cao hiệu quả thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai và các Thông báo giải quyết tố cáo trên địa bàn huyện Mỹ Đức 94
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 96
5.1 Kết luận 96
5.2 Kiến nghị 97
Tài liệu tham khảo 98
Phụ lục 101
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu diện tích theo mục đích sử dụng đất năm 2017 40
Bảng 3.2 Dân số và lao động huyện Mỹ Đức 41
Bảng 3.3 Cơ cấu mẫu, phương pháp và nội dung cơ bản điều tra 46
Bảng 4.1 Biến động đất đai gia đoạn 2013 – 2017 của huyện Mỹ Đức 54
Bảng 4.2 Tình hình tiếp nhận, phân loại đơn Khiếu nại, Tố cáo và tranh chấp, khiếu nại, phản ánh 58
Bảng 4.3 Các dạng khiếu nại về đất đai thường xảy ra trên địa bàn huyện 59
Bảng 4.4 Các dạng tố cáo về đất đai thường xảy ra trên địa bàn huyện 61
Bảng 4.5 Các dạng tranh chấp về đất đai thường xảy ra trên địa bàn huyện 62
Bảng 4.6 Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, giai đoạn 2013-2017 64
Bảng 4.7 Kết quả giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn Huyện Mỹ Đức giai đoạn 2013-2017 66
Bảng 4.8 Kết quả vụ việc khiếu nại đã giải quyết xong trên địa bàn huyện Mỹ Đức giai đoạn 2013-2017 67
Bảng 4.9 Kết quả chấp hành thời gian giải quyết vụ việc khiếu nại đã giải quyết xong trên địa bàn huyện Mỹ Đức giai đoạn 2013-2017 68
Bảng 4.10 Kết quả giải quyết tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức giai đoạn 2013-2017 69
Bảng 4.11 Kết quả giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức giao đoạn 2013-2017 71
Bảng 4.12 Trình độ cán bộ tham gia Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 75
Bảng 4.13 Đánh giá của công dân về năng lực làm việc, nghiệm vụ chuyên môn của cán bộ, công chức tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 76
Bảng 4.14 Cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin tại các đơn vị 77
Bảng 4.15 Đánh giá về số lượng tiếp nhận, thụ lý, giải quyết trong một năm 79
Bảng 4.16 Đánh giá về chất lượng tiếp nhận, thụ lý, giải quyết vụ việc của cơ quan hành chính nhà nước 79
Trang 10Bảng 4.17 Đánh giá CB, CC về thực hiện quy trình, trình tự giải quyết và chất
lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai 801 Bảng 4.18 Đánh giá của công dân về việc chấp hành quy trình, trình tự, thủ tục
giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước 811 Bảng 4.19 Đánh giá CB, CC về việc chấp hành các quyết định giải quyết khiếu
nại, tố cáo, tranh chấp đất đai và khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết 822 Bảng 4.20 Đánh giá của công dân có đơn về việc chấp hành các quyết định giải
quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai 83 Bảng 4.21 Đánh giá của Công dân về việc gửi đơn và tiếp cận, tìm hiểu quy
định về tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 84 Bảng 4.22 Đánh giá của Công dân về việc gửi đơn và tiếp cận, tìm hiểu quy
định về tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 84
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Minh Đức
Tên luận văn: “Giải pháp tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất
đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội”
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8340410 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai;
Đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội;
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp
về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội;
Đề xuất giải pháp tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Các phương pháp nghiên cứu của đề tài đã sử dụng
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp, điều tra khảo sát, kết hợp với phỏng vấn trực tiếp cán bộ tham gia giải quyết và công dân có đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức Áp dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê toán học để phân tích, đánh giá việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai Từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện trong những năm tiếp theo Lấy phiếu điều tra cán bộ, công chức, thanh tra viên và người dân có đơn, xử
lý số liệu, phân tích và đánh giá kết qủa đảm bảo yêu cầu khách quan và độ chính xác cho phép với sự hỗ trợ của phần mềm Excel
Các kết quả chính và kết luận chủ yếu của luận văn
Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai
như: khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai; khái niệm về Tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai; khái niệm về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đất đai; đặc điểm giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai; các nội dung cần giải quyết Khiếu nại, Tố cáo và tranh chấp về đất đai; Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo và tranh chấp đất đai hiện nay; Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai; Từ thực tiễn
Trang 12ở nước ngoài và thực tiễn ở Việt Nam và những công trình khoa học đã được nghiên cứu liên quan đến giải quyết KN, TC, TCĐĐ có giá trị tham khảo trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Thứ Hai: Trong giai đoạn 2013-2017, huyện Mỹ Đức đã tiếp nhận được 96 đơn
KN, TC, TCĐĐ thuộc thẩm quyền giải quyết, trong đó: 20/96 đơn khiếu nại, chiếm 20,8% trong tổng số đơn KN, TC, TCĐĐ thuộc thẩm quyền; 25/96 đơn tố cáo chiếm 26,04% tổng số đơn KN, TC, TCĐĐ thuộc thẩm quyền; 51/96 đơn tranh chấp đất đai chiếm 53,1% tổng số đơn KN, TC, TCĐĐ thuộc thẩm quyền Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức giai đoạn 2013-2017 đạt kết quả cao, tỷ lệ giải quyết hàng năm đều đạt trên 90% (năm 2013 giải quyết xong 18/20 đơn; năm 2014 giải quyết cong 26/27 đơn; năm 2015 đã giải quyết xong 24/25 đơn; năm 2016 đã giải quyết xong 14/15 đơn; năm 2017 đã giải quyết xong 13/14 đơn) Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập và tồn tại trong việc lãnh đạo, điều hành và thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, dẫn đến còn
để tồn đọng đơn thư qua các năm, còn để 9 vụ việc giải quyết quá hạn còn chiếm 9,5%
số đơn giải quyết xong; Số vụ việc khởi kiện ra tòa án và tiếp khiếu, tiếp tố là 11 vụ việc, chiếm 11,6%
Thứ Ba: Việc tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết KN, TC, TCĐĐ hiện nay trên
địa bàn huyện Mỹ Đức xuất phát từ các yếu tố ảnh hưởng sau: Hệ thống chính sách, pháp luật khiếu nại, pháp luật tố cáo, pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, vướng mắc; Năng lực làm việc, nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ công chức tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai còn hạn chế; Việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai chưa được nghiêm; Trình độ nhận thức cửa người dân về pháp luật khiếu nại, pháp luật tố cáo
và pháp luật về đất đai còn nhiều hạn chế
Thứ Tư: Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên cũng như tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai của UBND huyện Mỹ Đức cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó có các giải pháp đã nêu trong Luận văn Đó
là những giải pháp có tính khả thi, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản trên sẽ góp phần bảo đảm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
và tranh chấp về đất đai của UBND huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội ngày càng đúng pháp luật nhằm giảm thiểu và tiến tới chấm dứt tình trạng áp dụng sai pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Minh Duc
Thesis title: Solutions to enhance the settlement of complaints, denunciations and disputes
about land in My Duc district, Hanoi city
Major: Economic Management Code: 8340410 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
To systematize the theoretical and practical basis for settling complaints, denunciations and disputes about land;
To assess the status of settling complaints, denunciations and disputes about land in
My Duc district, Hanoi city;
To analyze factors affecting the settlement of complaints, denunciations and disputes about land in My Duc district, Hanoi city;
To propose solutions to enhance the settlement of complaints, denunciations and disputes about land in My Duc district, Hanoi city
Materials and Methods
The author used secondary and primary data collection methods, survey, combined with direct interviews with officials involved in settlement and citizens who made complaints, denunciations and disputes about land in My Duc district Methods of synthesis, analysis, comparison, mathematical statistics to analyze and evaluate the settlement of complaints, denunciations and disputes about land were applied As a result, solutions to strengthen the settlement of complaints, denunciations and disputes about land in the district in the following years were proposed According to the questionnaire
to officials, inspectors and people who sent applications, the author processed data, analyzed and evaluated results with assurance of objectivity and allowable accuracy with the support of Excel
Main findings and conclusions
First of all, the author systematized the theoretical basis of complaints, denunciations and disputes about land such as: the concept of complaints and settlement
of complaints about land; concept of denunciation and settlement of denunciations about land; concept of disputes and settlement of disputes about land; characteristics of settling complaints, denunciations and disputes about land; necessary contents to settle complaints, denunciations and disputes about land; competence, order and procedures
Trang 14for current settlement of complaints, denunciations and disputes about land; factors affecting to the settlement of complaints, denunciations and disputes about land; practices from aboard and Vietnam and the scientific works related to settlement of complaints, denunciations and disputes about land which are reference in the process of researching and completing this thesis
Secondly, there are 96 cases for complaints, denunciations and disputes about land
in My Duc district in the period of 2013-2017, of which: 20/96 land complaints, accounting for 20.8% of the total cases under its jurisdiction; 25/96 land denunciations accounting for 26.04%; 51/96 land disputes accounting for 53.1% The settlement of complaints, denunciations and disputes about land in My Duc district in the period of 2013-2017 achieved high results, the annual completion rate reached over 90% (completed 18/20 cases
in 2013, 26/27 cases in 2014, 24/25 cases in 2015, 14/15 cases in 2016, 13/14 cases in 2017) However, there are still some limitations and shortcomings in the leadership, administration and implementation of the settlement, leading to the accumulation of uncompleted cases over years, there are 9 overdue cases, accounting for 9.5% completion cases; a number of lawsuits in court and conjunctive complaints and prosecution are 11 cases, accounting for 11.6%
Thirdly, the existence and limitation in resolving complaints, denunciations and disputes about land in My Duc district comes from the following influencing factors: the policy system of complaints, laws on denunciations and land laws still face many shortcomings and problems; capacity and qualification of officials who receive and resolve complaints, denunciations and disputes about land are still limited; the observance of legal provisions on citizen reception, settlement of complaints, denunciations and disputes about land is not really serious; the citizens’ awareness of the law on complaints and laws on denunciations and land laws is still limited
Finally, to overcome the above shortcomings and limitations as well as enhance the settlement of complaints, denunciations and disputes about land of People's Committee in
My Duc district, it is necessary to apply many solutions proposed in the thesis together These are feasible and closely connected solutions Simultaneous implementation of the proposed solutions will contribute to assurance of the settlement of complaints, denunciations and disputes about land, minimize wrong applications of law and toward terminate them, protect the rights and interests of citizens, agencies and organizations
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng Đó là nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội; là mục đích và nguyên nhân của mọi cuộc chiến tranh thế giới Đất đai luôn gắn liền với vấn đề chính trị, đối với mỗi quốc gia, đất đai là dấu hiệu quan trọng để xác định chủ quyền, xác định sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Quản lý tốt việc sử dụng đất đai có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế xã hội và ổn định về mặt chính trị (Lê Tiến Hào và cs., 2015)
Đất đai là lĩnh vực nhạy cảm, xảy ra nhiều khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai Trong những năm gần đây, tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất ở nhiều địa phương, đặc biệt ở những nơi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đô thị hóa nhanh có những diễn biến phức tạp Điều này được thể hiện qua việc khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, kéo dài và có chiều hướng gia tăng về số lượng vụ việc, quy mô người khiếu nại, tố cáo; tính chất vụ việc khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp, gay gắt, kéo dài, một bộ phận người khiếu nại, tố cáo có những hành vi bị kích động, lôi kéo, tiềm ẩn nhân tố mất ổn định ở một số vùng, nhất
là ở các địa phương buông lỏng quản lý đất đai Huyện Mỹ Đức cũng không nằm ngoài xu hướng tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất nói trên Thậm chí, theo số liệu báo cáo thống
kê năm 2014 trở lại đây, huyện Mỹ Đức luôn nằm trong nhóm các huyện của thành phố Hà Nội có vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp và kéo dài, trở thành “điểm nóng” gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện
Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức trong những năm gần đây vẫn diễn biến phức tạp, gay gắt Đặc biệt là vụ việc tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức Đây là một vấn đề tranh chấp 46 ha đất đai đã kéo dài nhiều năm giữa chính quyền với người dân
Vụ việc đã được các cấp chính quyền từ cấp Huyện, Thành phố giải quyết và có kết luận thanh tra tuy nhiên đến nay vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm
Trang 16Một số Công dân xã Đồng Tâm vẫn tiếp tục kiến nghị lên Chính phủ để được được giải quyết Vậy bài học rút ra từ vụ việc này là cần phải nắm chắc tình hình, phải tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao có tình trạng đó Từ đó có những biện pháp giải quyết có tình, có lý để giải quyết dứt điểm vụ việc, trách để vụ việc kéo dài, phát sinh “điểm nóng” gây mất tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện
Thế nào là khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai? Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai như thế nào? Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai của huyện
Mỹ Đức diễn ra như thế nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đại trên địa bàn huyện Mỹ Đức?
Những giải pháp nào giúp Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai?
Từ thực trạng nêu trên và xuất phát từ yêu cầu quản lý đất đai, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao sự tin tưởng của nhân dân và chính quyền, đảm bảo ổn định an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Tôi chọn đề tài: “Giải pháp tăng
cường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện
Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sỹ chuyên
Trang 17Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội;
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp
về đất đai
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất đai (đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về loại đất nông nghiệp và đất ở); thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai (đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất nông nghiệp và đất ở); Những yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai; đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trang 181.4.2 Về thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy thực trạng về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
- Kết quả nghiên cứu đã đánh giá thực trạng về giải quyết khiếu nại, tố cáo
và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Việc tồn tại, hạn chế trong việc giải quyết KN, TC, TCĐĐ hiện nay trên địa bàn huyện Mỹ Đức xuất phát từ các yếu tố ảnh hưởng sau: Hệ thống chính sách, pháp luật khiếu nại, pháp luật tố cáo, pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, vướng mắc; Năng lực làm việc, nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ công chức tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai còn hạn chế; Việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai chưa được nghiêm; Trình độ nhận thức cửa người dân về pháp luật khiếu nại, pháp luật tố cáo và pháp luật về đất đai còn nhiều hạn chế
- Tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai của UBND huyện Mỹ Đức cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó có các giải pháp đã nêu trong Luận văn Đó là những giải pháp có tính khả thi, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản trên sẽ góp phần bảo đảm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai của UBND huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội ngày càng đúng pháp luật nhằm giảm thiểu và tiến tới chấm dứt tình trạng áp dụng sai pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Một số khái niệm trong quản lý đất đai liên quan đến khiếu nại, tố cáo
và tranh chấp đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai: Tại Điều 1, Luật Đất đai năm 2013 quy định:
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này (Quốc hội, 2013)
Điều này đã khẳng định được tính chất quan trọng của đất đai Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý và sử dụng đất đúng đối tượng, đúng mục đích và có hiệu quả Trong đó có nội dung về giải quyết KN, TC, TCĐĐ trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Theo Điều 3, Luật đất đai 2013 có quy định cụ thể về các khái niệm liên quan:
- Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là
việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
- Nhà nước Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng
đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai
- Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có
đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển
- Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất
- Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối
với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền
Trang 20sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất (Quốc hội, 2013)
2.1.1.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại trọng lĩnh vực đất đai
a) Khái niệm khiếu nại
Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 của nước ta đều quy định về quyền khiếu nại của công dân Tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác (Quốc hội, 2013)
Luật Khiếu nại năm 2011, Điều 2 định nghĩa về Khiếu nại và các vấn đề liên quan như sau:
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo
thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực
hiện quyền khiếu nại
Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan HCNN có quyết định hành chính, hành vi hành chính
bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức bị khiếu nại
Quyết định hành chính (QĐHC)là văn bản do cơ quan HCNN hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan HCNN ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý HCNN được áp dụng một lần đối với một hoặc một
số đối tượng cụ thể
Trang 21Hành vi hành chính (HVHC) là hành vi của cơ quan HCNN, của người có
thẩm quyền trong cơ quan HCNN thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật
Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
b) Giải quyết khiếu nại
Tại khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 thì:
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải
quyết khiếu nại
Theo khoản 6, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 thì:
Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại (Quốc hội, 2011)
Vậy có thể hiểu giải quyết khiếu nại về đất đai là việc cơ quan HCNN tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp, hợp ký của QĐHC, HVHC trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội
2.1.1.3 Tố cáo và giải quyết Tố cáo trong lĩnh vực đất đai
a) Khái niệm Tố cáo
Theo khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011:
Tố cáo (TC) là việc công dân theo thủ tục do luật này quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Quốc hội, 2011)
Tố cáo thể hiện sự phản ứng của công dân trước hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Tố cáo thực chất là việc công dân phát hiện và thông báo chính thức với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật nào đó diễn ra trong đời sống xã hội có thể liên quan hoặc không liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của mình
Trang 22Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011 giải thích một số khái niệm có liên quan đến
Tố cáo và giải quyết Tố cáo cụ thể như sau:
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Tố cáo hành vi VPPL về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công
dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo
Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo
Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết tố cáo (Quốc hội, 2011)
b) Giải quyết tố cáo
Theo Luật Tố cáo năm 2011:
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và
việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai theo Điều 205, Luật Đất đai năm
2013 quy định:
1 Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai
2 Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo (Quốc hội, 2013)
Vậy giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi
bị tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Quốc hội, 2013)
2.1.1.4 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đất đai
a) Khái niệm tranh chấp, tranh chấp đất đai
Theo Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 định nghĩa:
Trang 23Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai (Quốc hội, 2013)
Việc giải quyết TCĐĐ hiện nay phải đảm bảo ba nguyên tắc dưới đây:
- Thứ nhất, luôn đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
- Thứ hai, bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích tự hòa giải trong nội bộ nhân dân
- Thứ 3, việc giải quyết nhằm mục đích ổn định kinh tế, xã hội, gắn với phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, tạo điều kiện cho lao động có việc làm, phù hợp với đặc điểm và quy hoạch của từng địa phương (Lưu La, 2014)
b) Giải quyết tranh chấp
TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thẫu hay xung đột về lợi ích, về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, cần được nhà nước giải quyết theo quy định của pháp luật
Theo Điều 202, Luật Đất đai 2013: Nhà nước khuyến kích các bên TCĐĐ tự hòa giải hoặc giải quyết TCĐĐ thông qua hòa giải ở cơ sở TCĐĐ
mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác như Hội nông dân, Hội Cựu Chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên… Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời gian không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ kỹ của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã nơi có đất (Quốc hội, 2013)
2.1.2 Đặc điểm giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai
2.1.2.1 Đặc điểm giải quyết khiếu nại về đất đai
Giải quyết khiếu nại về đất đai là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Giải quyết khiếu nại là hoạt động xem xét, giải quyết do người có thẩm quyền tiến hành (Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các cấp, các ngành…)
Trang 24Giải quyết khiếu nại là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Giải quyết khiếu nại là hoạt động mang tính chất đặc thù do người có thẩm quyền thực hiện và phải tuân theo những hình thức, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật và phải công khai, dân chủ (từ khâu thụ
lý, tiến hành kiểm tra, xác minh, ban hành quyết định giải quyết và tổ chức thực hiện quyết định giải quyết) (Lê Tiến Hào và cs., 2015)
2.1.2.2 Đặc điểm giải quyết tố cáo về đất đai
Giải quyết tố cáo là quá trình chủ thể có thẩm quyền đi xác minh, kết luận việc đúng sau, hợp pháp hay bất hợp pháp của hành vi bị tố cáo và việc xử lý của người có thẩm quyền đối với hành vi bị tố cáo Việc kết luận tính hợp pháp hay bất hợp pháp của hành vi bị tố cáo dựa trên những tài liệu chứng cứ do người tố cáo cung cấp hoặc do người có thẩm quyền thu thập được trong quá trình xác minh Từ tài liệu, chứng cứ thu thập được, căn cứ quy định của pháp luật, người
có thẩm quyền kết luận nội dung tố cáo, xử lý hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý cá nhân, cơ quan có hành vi bất hợp pháp bị tố cáo theo quy định Việc giải quyết tố cáo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc người
có thẩm quyền xác minh, kết luận, xử lý Việc xác định thẩm quyền căn cứ quy định của pháp luật Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết (Đặng Văn Luân, 2016)
2.1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp về đất đai
Tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước là những tranh chấp mang tính chất hành chính Xét về bản chất, các tranh chấp này là tranh chất về việc xác định ai là người sử dụng đất hợp pháp để trả lời câu hỏi này thỉ chỉ cơ quan hành chính nhà nước mới có khả năng và thẩm quyền đưa ra đáp án chính xác nhất Bởi lẽ, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai có trong tay đầy đủ thông tin, số liệu,
hồ sơ địa chính về từng thửa đất cũng như nắm rõ nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất nên hiểu hơn ai hết biết rõ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp
Tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước sẽ do đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước làm nhiệm vụ quản lý đất đai thực hiện (Trần Thanh Thủy, 2009)
Trang 252.1.3 Nội dung cần giải quyết Khiếu nại, Tố cáo và tranh chấp về đất đai
2.1.3.1 Các nội dung giải quyết khiếu nại về đất đai
Người sử dụng đất có quyền khiếu nại về quyết định hành chính hoặc hành
vi hành chính về đất đai Các hình thức khiếu nại đất đai thường gặp như sau:
- Khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai họ tên người sử dụng đất, sai sơ đồ và diện tích thửa đất, không có lý do thuyết phục về việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải quyết hồ sơ chậm, gây nhiều thủ tục phiền hà, trái pháp luật
- Khiếu nại về quyết định giao đất, thu hồi đất không có căn cứ pháp lý, không đúng đối tượng, sai thẩm quyền, sai diện tích…
- Khiếu nại quyết định hành chính về chế độ quản lý, sử dụng đất do: ra quyết định xử phạt không đúng thẩm quyền, không có căn cứ, sai đối tượng, mức phạt hành chính chưa đúng quy định
- Khiếu nại về đăng ký đất do: không cho đăng ký đất mà không có lý do chính đáng, sổ đăng ký đất sai tên chủ sử dụng, diện tích, thời hạn sử dụng…
- Khiếu nại quyết định của UBND về giải quyết tranh chấp đất đai không đồng ý với quyết định của UBND, việc giải quyết không đúng thẩm quyền, sai pháp luật, gây chậm chễ (kéo dài thời gian giải quyết) đòi hỏi nhiều thủ tục hành chính phiền hà gây khó khăn cho các bên
- Khiếu nại về thu hoặc truy thu thuế, lệ phí đất đai: mức thu, truy thu, lệ phí đất đai không hợp lý, sai thẩm quyền,… thu thuế không theo quy định (không lập sổ, ghi biên lai) Thực hiện chính sách miến giảm thuế không đúng hoặc
không thực hiện việc miễn giảm thuế (Trần Thị Thu Hoài, 2014)
2.1.3.2 Các nội dung giải quyết Tố cáo về đất đai
- Trong lĩnh vực đất đai là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, mỗi cá nhân đề
có quyền tố cáo việc vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai
- Tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn cửa quyền, nhũng nhiễu trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai như: giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; lợi dụng các chương trình, dự án của Nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất dai,… Tố cáo UBND gia đất trái thẩm quyền; giao đất; cho thuê đất không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch; sử dụng tiền thu từ đất công ích (5%) trái quy định của pháp luật
Trang 26- Tố cáo hành vi gian lận trong việc lập phương án bồi thường về đất đai để tham ô
- Tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua việc lập phương án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn không phù hợp với thực tế, gây xáo trộn không cần thiết đối với đời sống nhân dân (Trần Thị Thu Hoài, 2014)
2.1.3.3 Các nội dung giải quyết tranh chấp về đất đai
Tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp xảy ra nhiều và khó xử lý nhất tại tất cả các địa phương trên cả nước Các hình thức tranh chấp đất đai hết sức đa dạng và phổ biến là các hình thức tranh chấp sau:
- Tranh chấp hợp đổng chuyển đổi quyền sử dụng đất: do mục đích là để tiện cho việc sản xuất, canh tác nên các hộ gia đình, cá nhân đã chuyển đổi quyền
sử dụng đất cho nhau Trong quá trình chuyển đổi, do hai bên không viết hợp đồng hoặc viết không rõ ràng, trong quá trình sản xuất một trong hai bên thấy thiệt thòi nên xảy ra tranh chấp
- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: loại tranh chấp này khá phổ biến, xảy ra do một hoặc cả hai bên không thực hiện đúng những thỏa thuận ghi trong hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng đã được thỏa thuận, ký kết nhưng do một trong hai bên bị lừa dối hoặc cảm thấy thiệt thòi nên rút lại hợp đồng, do không hiểu biết pháp luật, chuyển nhượng không đúng thủ tục
- Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất: do bên thuê không trả tiền thuê đất hoặc trả không đúng thời hạn hoặc bên thuê sử dụng đất không đúng mục đích khi thuê, do bên cho thuê đòi lại đất trước thời hạn… Tóm lại một trong hai bên vi phạm hợp đồng thuê đất nên xảy ra tranh chấp
- Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: tranh chấp này thường phá sinh sau khi kết thúc hợp đồng do bên có nghĩa vụ không thực hiện xong nghĩa vụ hoặc trong thời hạn thế chấp việc định giá đất không chính xác dẫn đến tranh chấp
- Tranh cấp do bị lấn chiếm đất đai: Loại tranh chấp này diễn ra khá phổ biến giữa những người sử dụng đất, thường là lấn chiếm ranh giới đất hoặc chiếm toàn bộ diện tích đất của người khác, hay do trước đây cho mượn, nay đòi lại dẫn đến tranh chấp
Trang 27- Tranh chấp do thừa kế: nguyên nhân do người có quyền sử dụng đất chết nhưng không để lại di chúc hoặc có di chúc nhưng không rõ ràng về phân chia thừa kế dẫn đến tranh chấp Hoặc người có thẩm quyền sử dụng đất chết có thể
để lại di chúc, do không nắm rõ pháp luật lên di chúc không đúng quy định của pháp luật dẫn đến tranh chấp
- Tranh chấp tài sản gắn liền với đất: bao gồm tranh chấp về nhà ở, các công trình và tài sản trên đất Loại tranh chấp này luôn gắn liền với việc công nhận quyền sử dụng đất
- Tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn: loại tranh chấp này xảy ra khi hai vợ chồng ly hôn, nó liên quan đến phân chia tài sản và quyền sử dụng đất Cả hai bên ly hôn đều cho rằng mình có quyền và lợi ích nhiều hơn về quyền sử dụng đất
- Tranh chấp đất công: loại hình tranh chấp này là do cá nhân, tổ chức và hộ gia đình tự ý chiếm dụng đất của Nhà nước hoặc do hoàn cảnh lịch sử để lại việc
sử dụng đất của nhân dân qua nhiều lần biến động, việc quản lý trước đây còn nhiều sai sót, sơ hở… gây tự ý sử dụng đất, khi đòi lại dẫn đến tranh chấp
- Tranh chấp về địa giới hành chính các cấp: loại tranh chấp này là tranh chấp giữa Nhà nước với Nhà nước Hai đơn vị hành chính tranh cãi nhau về phạm vi, địa bàn quản lý dẫn đến tranh chấp (Trần Thị Thu Hoài, 2014)
2.1.4 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai hiện nay
2.1.4.1 Trình tự, thẩm quyền giải quyết Khiếu nại
a) Trình tự giải quyết khiếu nại
Theo quy định tại Điều 7 Luật Khiếu nại:
Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan
có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải
Trang 28quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính (Quốc hội, 2011)
Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện
vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật
tố tụng hành chính (Quốc hội, 2011)
Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tò án theo quy định của Luật tố tụng hành chính
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì
có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính (Quốc hội, 2011)
Vậy, một vụ việc khiếu nại có thể được giải quyết ở cơ quan hành chính hoặc người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ việc ra toà án bất kể lần một hoặc lần hai khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền của cơ quan hành chính
b) Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định tại Mục 1 Chương 3 Luật
Khiếu nại năm 2011 như sau:
Trang 29- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện:
+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần
đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương:
Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình,
của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Giám đốc sở và cấp tương đương:
+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp;
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa
được giải quyết (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết
+ Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ
quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình (Quốc hội, 2011)
Trang 30- Thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ:
Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình,
của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Bộ trưởng:
+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản
lý nhà nước của bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết
+ Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ
quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Tổng thanh tra Chính phủ:
+ Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
+ Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối
với người vi phạm (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Chánh thanh tra các cấp:
+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao
Trang 31+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người
có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách
nhiệm, xử lý đối với người vi phạm (Quốc hội, 2011)
- Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ:
+ Lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp
+ Xử lý các kiến nghị của Tổng thanh tra Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật Khiếu nại năm 2011
+ Chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Quốc hội, 2011)
Từ những quy định trên đây cho thấy thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc về người có QĐHC, HVHC hoặc người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính; thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai do thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.Việc quy định thẩm quyền giải quyết lần đầu như vậy là phù hợp với cơ chế quản lý hiện nay, đồng thời tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được nhanh chóng, kịp thời hơn Việc quy định Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có QĐHC, HVHC giải quyết lần hai đối với QĐHC đã được người có QĐHC, HVHC giải quyết lần đầu còn khiếu nại là phù hợp, tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được chính
xác, khách quan và minh bạch hơn
c) Thủ tục giải quyết khiếu nại
Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp Việc giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Mục 2, Luật Khiếu nại 2011 bao gồm các bước thủ tục: (1) Thụ lý giải quyết khiếu nại; (2) Xác minh nội dung
Trang 32khiếu nại; (3) Tổ chức đối thoại; (4) Quyết định giải quyết khiếu nại; (5) Gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (Quốc hội, 2011)
Việc giải quyết khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 33, Luật Khiếu nại năm 2011 như sau:
+ Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28, của Luật Khiếu nại mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày
Trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, các tài liệu có liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai
+ Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính (Quốc hội, 2011)
Việc giải quyết khiếu nại phải được thiết lập hồ sơ, lưu trữ theo quy định tại
Điều 34 Luật Khiếu nại:
- Hồ sơ gồm có:
+ Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại;
+ Tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp;
+ Biên bản kiểm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định (nếu có);
+ Biên bản tổ chức đối thoại (nếu có);
+ Quyết định giải quyết khiếu nại;
+ Các tài liệu khác có liên quan
- Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật Trường hợp người khiếu nại khởi kiện
vụ án hành chính tại Tòa án thì hồ sơ đó phải được chuyển cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có yêu cầu (Quốc hội, 2011)
Trang 332.1.4.2 Trình tự, thẩm quyền giải quyết Tố cáo
a) Trình tự giải quyết tố cáo
- Theo Điều 18, Luật Tố cáo năm 2011 việc giải quyết tố cáo được thực
hiện theo trình tự sau đây: (1) Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo; (2) Xác minh nội dung tố cáo; (3) Kết luận nội dung tố cáo; (4) Xử lý tố cáo của người giải quyết
tố cáo; (5) Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm
bị tố cáo (Quốc hội, 2011)
b) Thẩm quyền giải quyết tố cáo
- Về nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo được thực hiện theo pháp luật về giải quyết tố cáo quy định tại Điều 12 Luật Tố cáo năm 2011 như sau:
+ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết
+ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan,
tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự (Quốc hội, 2011) Đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định như sau: Tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Quốc hội, 2011)
Trang 342.1.4.3 Trình tự, thẩm quyền giải quyết Tranh chấp
Theo quy định tại Điều 203, Luật Đất đai 2013: TCĐĐ sau khi hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100, Luật Đất đai 2013 và tranh chấp
về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100, Luật Đất đai được giải
quyết như sau:
- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
về tố tụng dân sự (Quốc hội, 2013)
* Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân
cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
- Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với
nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
- Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính (Quốc hội, 2013)
* Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành (Quốc hội, 2013)
Trang 35Tại đề tài này chỉ nghiên cứu các trường hợp tranh chấp về QSDĐ mà đương sự không có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100, Luật Đất đai 2013 Theo Điều 91, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thi hành Luật Đất đai: Việc giải quyết TCĐĐ trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về QSDĐ được thực hiện dựa theo các căn cứ: (1) Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đất đai đưa ra; (2) Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương; (3) Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; (4) Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước; (5) Quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết Khiếu nại, Tố cáo và tranh chấp về đất đai
2.1.5.1 Hệ thống chính sách pháp luật về giải quyết KN, TC và TCĐĐ
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có
cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc hơn trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998 Luật này đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005 Để phát huy
và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cả hệ thống chính
Trang 36trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW ngày
6-3-2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay
Tranh chấp, khiếu kiện đất đai đang là một thách thức đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và ở từng địa phương Muốn vậy việc tìm hiểu nhận dạng các nguyên nhân phát sinh (trong đó có những nguyên nhân có tính lịch sử) tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài là rất cần thiết trong nỗ lực tìm kiếm, xác lập cơ chế thích hợp để giải quyết dứt điểm, triệt để loại tranh chấp này;
Đổi mới công tác giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai Tiếp nhận ý kiến phản hồi từ tổ chức, cá nhân để hoàn thiện và xây dựng hệ thống quản lý đất đai (thể chế, bộ máy tổ chức)
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân, tiết tới ngày càng hoàn thiện hơn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến công tác chỉ đạo, hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm phục vụ công tác tiếp dân, giải quyết KNTC Năm 2011, Quốc hội đã thông qua Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn Việc tách khiếu nại, tố cáo thành luật riêng tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Năm 2013, Quốc hội ban hành Luật đất đai để khắc phục một số quy định chưa phù hợp trong đó có việc giải các tranh chấp về đất đai (Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của Chính phủ, 2009)
2.1.5.2 Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư KN, TC và TCĐĐ
Năng lực của đội ngũ làm công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư KN, TC
và TCĐĐ ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp
về đất đai bởi lẽ việc thực thi pháp luật cần hiểu đúng hiểu rõ và cách vận dụng phải linh hoạt áp dụng vào thực tế để giải quyết các vụ việc đúng theo Pháp Luật Không những vậy thái độ phục vụ của cán bộ đối với nhân đân tốt tạo lòng tin với Đảng và Nhà nước, giúp ổn định định tình hình an ninh chính trị, phát triển kinh tế tại địa phương
Trang 37Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai thì ngoài việc sử đổi, bổ sung chính sách pháp luật còn phải khắc phục các hạn chế, bất cập liên quan đến đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở các cấp, các ngành
Cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới trụ sở làm việc một số đơn vị đã xuống cấp hoặc quá chật chội không đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
Với việc công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, ngày càng có nhiều ứng dụng thực tế phong phú, hiệu quả Ứng dụng những thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin để đổi mới hoạt động tiếp dân gắn chặt với xử lý đơn thư Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai hiện nay là một giải pháp đột phá quan trọng nhằm tháo gỡ nhiều khó khăn vướng mắc và khắc phục nhiều hạn chế trong công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư hiện nay (Thành Ủy Hà Nội, 2016)
2.1.5.4 Việc chấp hành các quy định của pháp luật về giải quyết KN, TC và
TC trong lĩnh vực đất đai của cơ quan HCNN
Chấp hành các quy định của pháp luật về giải quyết KN, TC và TC trong lĩnh vực đất đai của cơ quan HCNN là việc cơ quan hành chính nhà nước giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai đảm bảo đúng trình tự và thẩm quyền được quy định tại luật khiếu nại 2011; luật tố cáo 2011 và Luật đất đai năm 2013 Việc giải quyết kịp thời, dứt điểm, đúng quy định của pháp luật về giải quyết KN, TC và TC trong lĩnh vực đất đai của cơ quan HCNN góp phần làm giảm phát sinh đơn thư khiếu kiện vượt cấp, kéo dài (Chính phủ, 2014)
2.1.5.5 Trình độ nhận thức pháp luật của người dân
Thực tiễn cho thấy trình độ nhận thức của người dân có ảnh hướng rất lớn đến việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về dất đai Khi nhâ ̣n thức pháp luâ ̣t về khiếu na ̣i, tố cáo và tranh chấp về đất đai của người dân được
Trang 38nâng lên và người dân hiểu rõ quyền lợi, nghı̃a vu ̣ khi tham gia vào các quy trı̀nh giải quyết KNTC, tranh chấp về đất đai Qua đó, người dân có đơn khiếu na ̣i , tố cáo, tranh chấp về đất đai gửi đơn đúng chỗ, đúng thẩm quyền, không lợi dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo để tu ̣ tâ ̣p đông người làm mất trâ ̣t tự xã hô ̣i và các đơn thư của người dân cũng giảm, không phát sinh vượt cấp Qua việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của người dân giúp người dân hiểu rõ, hiểu đúng và kịp thời các chủ trương, chính sách, nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ việc thực hiện các chủ trương, chính sách của các Nhà nước Khi người dân hiểu rõ, kip thời tránh việc “hiểu nhầm”, dẫn đến thực hiện khiếu kiện gây mất trật tự xã hội (Nguyễn Mạnh Hùng, 2010)
2.1.5.6 Sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
Theo quy định của pháp luật, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính các cấp Tuy nhiên, để góp phần nâng cao chất lượng trong công tác giải quyết khiếu kiện trong lĩnh vực
“đất đai” thì cần sự tham gia phối hợp với các cấp, các ngành trong quá trình giải quyết theo quy định, như:
Các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp tổ chức tuyên truyền giáo dục cho cán bộ và hội viên biết đường lối nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh cấp về đất đai với nhiều hình thức như: tổ chức họp, hội nghị tư vấn, đăng trên trang web, phổ biến trợ giúp quan điện thoại…
Các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp tổ chức tiếp nhận đơn, chuyển đơn đến hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo, giải quyết tranh chấp theo quy định
Các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp tham gia tư vấn, trợ giúp pháp lý: Hội Luật gia, Luật sư là tổ chức có chức năng tư vấn, trợ giúp pháp lý đối với nhân dân và cơ quan quản lý nhà nước Đồng thời, Hội Luật gia cũng là một trong những tổ chức được nhiều đơn vị, tổ chức, cá nhân tin tưởng
đề nghị trợ giúp pháp lý nhiều nhất Trung tâm tự vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia thực hiện tư vấn pháp luật trong đó có tư vấn pháp luật về khiếu nại hành chính, tố cáo hành chính và tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai Hội Luật gia cùng Trung tâm tư vấn pháp luật cử các tư vấn viên pháp luật tham gia tuyên truyền pháp luật, trợ giúp pháp lý lưu động tại một số xã, phường
Trang 39Các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ quan chức năng Việc các tổ chức, nhất là Ủy ban Mặt trận
tổ quốc tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật, trong đó có Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Đất đai…Qua đó, góp phần đảm bảo tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội
Các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp cùng các cơ quan chức năng tham gia đối thoại với dân trong quá trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, hạn chế được tình trạng gửi đơn khiếu nại, tố cáo tràn lan, gửi đơn không đúng nội dung, đơn không đúng cơ quan có thẩm quyền (Lê Tiến Hào và cs., 2015)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thực tiễn ở nước ngoài
2.2.1.1 Anh
Việc giải quyết khiếu kiện hành chính phải trải qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu là giai đoạn luật hành chính chuyên biệt coi là quan trọng nhất được đưa ra bởi các cơ quan tài phán hành chính Các cơ quan tài phán hành chính rất nhiều và không được coi là những cơ quan xét xử thực thụ với đúng nghĩa của từ tài phán hành chính vì họ xem xét cả tính hợp pháp và tính công bằng Tuy nhiên, các cơ quan tài phán này lại rất có năng lực nên phần lớn các quyết định của họ thỏa mãn được đòi hỏi của người khiếu nại và đa số các tranh chấp được chấm dứt từ gia đoạn này
- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn “luật hành chính chung”, các tranh chấp được phán xét bởi các tòa án thường luật như: Toàn thượng thẩm, Tòa phúc thẩm, Tòa tối cao Các tòa án này xét xử kháng cáo đối với quyết định của cơ quan tài phán hành chính đã xét xử sơ thẩm về tính hợp pháp của các văn bản hành chính bị khiếu kiện Như vậy, các khiếu kiện trước tòa án truyền thống, sau khi đã qua bước giải quyết tại cơ quan tài phán hành chính, giảm hẳn vì việc kiện cáo tại tòa tư pháp khá là tốn kém (Lê Vũ Tuấn Anh và cs., 2012)
2.2.1.2 Pháp
Trên thế giới, một số nước quy định người yêu cầu thông tin có thể khiếu kiện trực tiếp ra tòa mà không cần qua bước khiếu kiện Nhưng ở Pháp, chỉ có thể khiếu kiện ra tòa án nếu đã qua các bước khiếu nại, bắt buộc phải có yêu cầu
Ủy ban về tiếp cận tài liệu hành chính đưa ra khuyến nghị trước khi khiếu kiện ra
Trang 40Tòa án hành chính; Tòa này sẽ ra phán quyết trong vòng 6 tháng kể từ ngày đệ đơn (Lê Vũ Tuấn Anh và cs., 2012)
2.2.1.3 Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nhà nước liên bang, do vậy việc tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính cũng có những nét đặc thù so với các quốc gia khác Theo báo báo kết quả nghiên cứu, khảo sát về giải quyết khiếu nại hành chính tại Hoa Kỳ và Ủy ban pháp luật Quốc hội thì việc tổ chức các cơ quan giải quyết khiếu kiện hành chính ở Hoa Kỳ chia làm ba loại:
Loại thứ nhất, là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính độc lập và chũng
ta vẫn thường gọi là cơ quan Tài phán hành chính Hiện nay có 26 trên tổng số 53 bang của Hoa Kỳ có cơ quan này
Loại thứ hai, là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính được tổ chức trong chính cơ quan hành chính, nhưng chuyên trách hóa – tức là những người trọng cơ quan này chỉ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối với các QĐHC trong lĩnh vực quản lý của cơ quan mình Chẳng hạn như cơ quan giải quyết khiếu kiện về phát minh sáng chế và đăng ký nhãn hiệu hàng hóa (patent & trademark) nằm trong Ủy ban phát minh sáng chế và đăng ký nhãn hiệu hàng hóa Trong trường hợp vị từ chối thì đương sự có thể gửi đơn đến Tòa án tư pháp
để giải quyết khiếu kiện
Loại thứ ba, trong một số lĩnh vực quản lý không có cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính mà chỉ có một bộ phận chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại trong ngành và lĩnh vực đó – điển hình là Hải quan Hoa Kỳ Trong lĩnh vực hải quan, pháp luật Hoa Kỳ cho phép đương sự có thể kiện ra Tòa án hoặc khiếu nại bằng con đường hành chính Trên thực tế 90%
vụ việc đương sự chọn con đường khiếu nại hành chính vì vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn, đồng thời đỡ tốn kém hơn nếu khiếu kiện ra Tòa án Ngoài ra,
ở Hoa Kỳ còn có cơ quan độc lập chuyên giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức, có tên gọi là Merit systems protection board
Pháp luật Hoa Kỳ quy định trường hợp tranh chấp hành chính đã được cơ quan hành chính hoặc cơ quan tài phán hành chính giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tục khiếu kiện với Tòa án thì Tòa án không xem xét lại nội dung sự việc mà chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính trong quá trình giải quyết trước đó (Đinh Văn Minh, 2010)