Khả năng tiếp cận thông tin của người dân; Ý thức về vấn đề dùng nước sạch của người dân; Kỹ thuật - Công nghệ Chất lượng đầu tư, xây dựng công trình...; Bên cạnh đó, nó còn phụ thuộc và
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ cho một đề tài tốt nghiệp nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận này đã được cảm
ơn và mọi sự trích dẫn trong khoá luận này đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Như
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung đã tận tâm hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học viện nông nghiệp Việt Nam, các thầy cô trong khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế môi trường đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh chị cán bộ nhân viên Viện khoa học phát triển nông đã tận tâm giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành đề tài nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và sự hiểu biết về chuyên môn còn nhiều hạn chế, luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo cũng như các bạn đọc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Như
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng biểu vii
Danh mục hình ix
Danh mục hộp ix
Danh mục biểu đồ x
Trích yếu luận văn xi
Thesis abstract xiii
Phần 1 Phần mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quản lý nước sinh hoạt nông thôn 5
2.1.2 Một số vấn đề liên quan đến MH quản lý nước sinh hoạt nông thôn 7
2.1.3 Nội dung nghiên cứu đánh giá mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn 11
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn 16
2.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2.1 Kinh nghiệm về mô hình quản lý nước sạch nông thôn trên thế giới 19
2.2.2 Kinh nghiệm về mô hình quản lý nước sạch nông thôn ở Việt Nam 22
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Phú Xuyên 26
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 28
Trang 53.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 31
3.2 Đánh giá chung 33
3.2.1 Thuận lợi 33
3.2.2 Khó khăn 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 34
3.2.2 Thu thập thông tin, số liệu 36
3.2.3 Xử lý và phân tích thông tin, số liệu 37
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 37
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
4.1 Thực trạng các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên 39
4.1.1 Thực trạng nguồn nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên 39
4.1.2 Tình hình chung về khai thác và sử dụng nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên 40
4.1.3 Thực trạng các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên 47
4.2 Đánh giá các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên 61
4.2.1 Đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy quản lý 61
4.2.2 Đánh giá cơ chế quản lý tài chính 65
4.2.3 Đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp nước 69
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt huyện Phú Xuyên 74
4.3.1 Điều kiện tự nhiên 74
4.3.2 Kinh tế – xã hội 75
4.3.3 Kỹ thuật - Công nghệ 80
4.3.4 Cơ chế và chính sách của Nhà nước 81
4.4 Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Phú Xuyên 85
4.4.1 Căn cứ và định hướng 85
4.4.2 Một số giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên 87
Trang 6Phần 5 Kết luận và kiến nghị 92
5.1 Kết luận 92
5.2 Kiến nghị 93
Tài liệu tham khảo 95
Phụ lục 1 98
Phụ lục 2 100
Phụ lục 3 104
Trang 7DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
IWRA Hiệp hội tài nguyên nước quốc tế
KT - CN Kỹ thuật – công nghệ
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NS&VSMTNT Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
NSHNT Nước sinh hoạt nông thôn
ODA Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức
PTNT Phát triển nông thôn
SENASA Sở vệ sinh môi trường quốc gia
VSMT Vệ sinh môi trường
VSMTNT Vệ sinh môi trường nông thôn
WB World bank - Ngân hàng thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả cấp nước sinh hoạt theo vùng tính đến năm 2015 23
Bảng 3.1 Tình hình đất đai huyện Phú Xuyên 30
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Phú Xuyên 32
Bảng 3.2 Chọn mẫu điều tra, đánh giá 35
Bảng 3.3 Thông tin cần thu thập và phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 36
Bảng 4.1 Loại hình hoạt của các công trình cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Xuyên tính tới đầu năm 2018 45
Bảng 4.2 Thống kê các công trình NSH trên địa bàn huyện Phú Xuyên 46
Bảng 4.3 Tình hình nguồn vốn đầu tư vào các CT NSHNT trên địa bàn huyện 47
Bảng 4.4 Tình hình hoạt động của các trạm cấp nước trên địa bàn huyện 53
Bảng 4.5 Đơn giá sử dụng nước phân theo mô hình quản lý NSHNT 56
Bảng 4.6 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các TCN tại các điểm khảo sát 56
Bảng 4.7 Lượng nước sản xuất tại các điểm khảo sát từ năm (2015 - 2017) 58
Bảng 4.8 Tỷ lệ thất thoát nước 59
Bảng 4.9 Đánh giá chung hệ thống tổ chức quản lý của các MH cấp nước SHNT 65
Bảng 4.10 Hạch toán thu chi tài chính của công trình cấp NSHNT do DNNN quản lý (xã Đại Đồng) 66
Bảng 4.11 Hạch toán thu chi tài chính của công trình cấp NSHNT do DNTN quản lý (xã Minh Tân) 67
Bảng 4.12 Hạch toán thu chi tài chính của công trình cấp NSHNT do cụm hộ quản lý (xã Phú Yên) 68
Bảng 4.13 Sự hài lòng của người dân đối với các mô hình cung cấp nước sinh hoạt 70
Bảng 4.14 Bảng so sánh chất lượng các CT cấp NSH trên địa bàn huyện 73
Bảng 4.15 Sự đóng góp xây dựng của người dân vào các công trình cấp nước SHNT trên địa bàn huyện Phú Xuyên 76
Bảng 4.16 Khả năng chi trả tiền sử dụng nước SHNT của người dân 77
Bảng 4.17 Khả năng và sự sẵn sàng đóng góp bằng vật chất của người dân vào sửa chữa công trình cấp nước sinh hoạt khi bị hư hỏng 78
Bảng 4.18 Trình độ văn hóa của cán bộ quản lý 79
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa của người dân liên quan tới việc quan tâm sử dụng nước hợp vệ sinh 80
Trang 9Bảng 4.20 Ảnh hưởng của giới tính đến sự quan tâm sử dụng nước sạch, nước hợp
vệ sinh vào sinh hoạt hàng ngày 80 Bảng 4.21 Đánh giá của người dân và chính quyền xã về quản lý nước SHNT trên
địa bàn 83
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ người dân sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ các công trình cấp
nước trên địa bàn huyện 43
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ người dân sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ trên địa bàn huyện Phú Xuyên 44
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ các nhuồn vốn đầu tư của các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Phú Xuyên 52
Biểu đồ 4.4 Trình độ học vấn cán bộ, công nhân viên TCN do DNNN quản lý 61
Biểu đồ 4.5 Trình độ học vấn cán bộ, công nhân viên TCN do DNNN quản lý 62
Biểu đồ 4.6 Sự hài lòng của người dân đối với các mô hình cung cấp nước sinh hoạt 69
Biểu đồ 4.7 Lượng nước cung cấp của CT đối với nhu cầu các hộ dân 71
Biểu đồ 4.8 Đánh giá của người dân về chất lượng các CT cấp NSHNT 71
Biểu đồ 4.9 Đánh giá của các hộ dân về giá dịch vụ cung cấp nước 72
Biểu đồ 4.10 Đánh giá của các hộ dân về áp lực nguồn nước 73
Biểu đồ 4.11 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến chất lượng nguồn nước của người dân 75
Biểu đồ 4.12 Đánh giá mức độ quan trọng của nước sạch đối với người dân 75
Biểu đồ 4.13 Đánh giá của hộ dân về ảnh hưởng của chính sách đầu tư 84
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên tác giả: Vũ Thị Thanh Như
Tên luận văn: “Mô hình quản lý nguồn nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện
Phú Xuyên - Hà Nội”
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 8620116
Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của luận văn
Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn;
Đánh giá các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội;
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội;
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu thống kê để mô tả định
lượng hiện trạng các mô hình cấp nước trên địa bàn và các nhân tố ảnh hưởng đến công trình cấp nước
Phương pháp so sánh và phân tổ: Từ việc phân tổ thống kê các mô hình
quản lý nước sinh hoạt, tác giả tiến hành so sánh các mô hình với nhau về tình hình hoạt động, mức độ cung cấp nước, chất lượng nước Trên cơ sở đó, xác định hạn chế giữa các mô hình để từ đó lựa chọn và phát triển mô hình quản lý phù hợp với các khu vực cụ thể trong huyện
Kết quả chính và kết luận
Hiện nay, trên địa bàn có 08 công trình quản lý nước sinh hoạt trong đó 2 mô hình được quản lý bởi bởi cụm hộ dân, 03 công trình được quản lý bởi doanh nghiệp tư nhân, 03 công trình do DNNN trực tiếp quản lý, vận hành:
Mô hình quản lý bởi cụm hộ dân: Tổng số có 02 công trình Tuy nhiên, 1 công trình đang đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động, không sử dụng được Tỉ lệ hộ đánh giá
về chất lượng công trình chỉ đạt 23% tổng số hộ sử dụng nước từ công trình này
Mô hình được quản lý bởi DNNN: Tổng số có 03 công trình, cung cấp nước hợp vệ sinh tới đại đa số các hộ dân trong khu vực được sử dụng nước sạch Tuy
Trang 13nhiên, lượng nước cung cấp cho các hộ gia đình ở các vị trí cuối nguồn không đảm bảo thường xuyên Tỉ lệ hộ đánh giá chất lượng công trình chỉ ở mức 43% tổng số
hộ sử dụng công trình
Mô hình quản lý bởi DNTN: Tổng số có 03 công trình, công trình này cũng hoạt động tốt, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân địa bàn Các công trình thường xuyên được duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp từ các nguồn thu của các hộ sử dụng nước,… Nhà máy có các thiết bị hiện đại để cân, đong, đo đếm lượng hóa chất đem vào xử lý nước Có thể nói rằng đây là 1 mô hình được người dân tin tưởng, có tới 89% số hộ đang sử dụng nước sinh hoạt từ mô hình cấp nước này đánh giá cao về chất lượng công trình
Như vậy, có sự khác biệt về hiệu quả quản lý trong trong 3 mô hình cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mô hình do doanh nghiệp tư nhân quản lý đang thể hiện hiệu quả hơn so với 2 mô hình còn lại;
do đó cần có các hình thức chuyển đổi, nâng cấp phù hợp với điều kiện cũng như nhu cầu thực tế hiện nay của người dân
Các y ếu tố ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả của các mô hình cấp nước đó bao gồm: Điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế – xã hội; mức độ tham gia của cộng đồng trong việc sử dụng nước từ các công trình CNTT; Điều kiện kinh tế hộ gia đình của người dân Khả năng tiếp cận thông tin của người dân; Ý thức về vấn đề dùng nước sạch của người dân; Kỹ thuật - Công nghệ (Chất lượng đầu tư, xây dựng công trình ); Bên cạnh đó, nó còn phụ thuộc vào trình độ học vấn, chuyên môn, kinh nghiệm của cán
bộ quản lý; Cơ chế và chính sách của Nhà nước;
Từ đó, các giải pháp cụ thể được đưa ra như giải pháp về xây dựng cơ chế quản lý các mô hình, về lựa chọn các mô hình và các hình thức cấp nước cho phù hợp với điều kiện từng vùng trong huyện, áp dụng mô hình quản lý phù hợp, giải pháp về quản lý vốn, giải pháp về quản lý tài chính, giải pháp về chính sách giá bán nước, xã hội hóa trong xây dựng và quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu
tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tăng cường công tác tuyên truyền
Trang 14THESIS ABSTRACT
Name of student: Vu Thi Thanh Nhu
Thesis title: Management Model of Rural Domestic Water Supply in Phu Xuyen
District, Hanoi
Major: Rural Development Code: 8620116
Academic Institution: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research objective:
- To contribute to the systematization of theoretical basis and practice basis related to models of rural domestic water management;
- To evaluate models of domestic water management in Phu Xuyen district, Hanoi;
- To identify factors affecting the activities of the rural water management models in Phu Xuyen district, Hanoi;
- To suggest some main solutions to improve models of the domestic water management in Phu Xuyen district, Hanoi
Research Methods
Descriptive statistics method: Descriptive statistics method was used to quantitatively
provide the current status of water supply models in the area and the factors affecting the water supply management
Comparison and statistical disaggregation method: Comparing the situation of
activities of water management models as the level of water supply and water quality among models of water management in the study On the basis of the situation analysis
of the models, the research identified limitation of the models, selection to develop the model for the specific region in the district
Research results and conclusions
Currently, there are eight the water supply works in the area in which two of items that are managed by the cluster of households, Three of the works are managed by the private companies, three are managed by the state-owned enterprises:
The managed model by the clusters of households: there are 02 water works in this study However, a project is in danger of being out of operation, unusable There were only 23% of respondents who reported the quality of this supply model
The managed model by the state-owned enterprises: There are 03 clean water works that supplied to most of the households in the area However, the amount of supplied water to households in the downstream areas was not regular because of the lack of water resource Only 43% of total respondents who used water from these works
Trang 15reported that the quality of these works is good
The managed model by private companies: There are 03 waterworks in the study They have been operating well, meeting the demand for the users These works were regularly maintained, upgraded Water factories have been invested in modern equipment for weighing, measuring the amount of used chemicals in water treatment process It can be seen that this is a model was believed by the user with up to 89% of the respondents who expressed that the works had high quality and met the demand for the households in local
Thus, there are differences in management effectiveness among the three water supply models in the area Among these, the research showed that the managed model
by the private sector was more effective than the other two models; Hence, the management models are necessary to transformation and upgrading to suit the practical conditions of the specific areas as well as the water need of local communities
Factors influencing the results and management effectiveness of the water supply models were natural characteristic; socioeconomic characteristic; participation of the community in using water, income, and the education level of the households; information accessibility of the households; households’ awareness of clean water use; technical - technology (investment quality of waterworks) Besides, it also depended on the education, qualification, and experience of the managers; mechanisms and policies
Trang 16PHẦN 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đa dạng; từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông ; Nước đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và có liên quan tới tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội Nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh đã và đang là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở phạm vi mỗi quốc gia, khu vực
mà đang là vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn ở các nước đang phát triển như Việt Nam
Nhận thức rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác nước sạch và vệ sinh môi trường, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản, chính sách về chủ trương, chiến lược, định hướng, đề ra các mục tiêu cần đạt được đối với vấn đề nước sinh hoạt nông thôn này như: Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020; Nghị quyết Trung ương VIII, IX; Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020; Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy dưới tác động của quá trình phát triển với nhu cầu ngày càng tăng của con người về nước sinh hoạt nói riêng và nguồn tài nguyên nước nói chung đã và đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm và khan hiếm nguồn nước sạch Theo thống kê của Hiệp hội tài nguyên nước quốc
tế (IWRA) xét về nguồn nước nội địa, Việt Nam chỉ đạt mức trung bình kém của thế giới với 3.600m3 nước/ người/ năm (dựa theo Trần Thảo, 2018) Theo Bộ TN&MT, đến năm 2025 lượng nước bình quân đầu người Việt Nam chỉ còn một nửa con số này (dựa theo Trần Thảo, 2018) Thống kê của Bộ Y tế và Bộ TN&MT, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém Hằng năm, gần 200.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm môi trường nước (dựa theo Trần Thảo, 2018) Chính vì vậy vấn đề quản lý trong khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này đang là vấn đề hết sức nóng bỏng, cấp bách Đặc biệt ở khu vực nông thôn vùng ven các thành phố lớn thì tình trạng này đang ngày càng báo động, tiêu biểu là khu vực nông thôn Hà Nội Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017) Hà Nội vẫn
Trang 17còn hơn 60% hộ dân chưa được dùng nước sạch theo tiêu chuẩn Điều đáng nói không ít công trình hoạt động không hiệu quả, thậm chí bỏ hoang, gây lãng phí bởi lý do công tác quản lý yếu kém
Huyện Phú Xuyên hiện nay là một huyện nằm ngoại thành của thành phố
Hà Nội cũng không nằm ngoài tình hình chung trên Trong những năm gần đây trên địa bàn huyện cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng xuất hiện nhiều khu công nghiệp và sự phát triển của các làng nghề truyền thống, nước thải từ các làng nghề và các khu công nghiệp đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mà người dân trong huyện đang
sử dụng (từ các ao, hồ, bể chứa nước mưa và nước ngầm đến giếng khơi, giếng khoan) Nguồn nước không bảo đảm vệ sinh đã gây nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da và một số căn bệnh khác Chính vì thế, vai trò của các công trình nước sinh hoạt ở các vùng nông thôn nói chung và ở huyện Phú Xuyên nói riêng luôn quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết vào thời điểm này Nhiều công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn được đầu tư xây dựng với nguồn vốn hàng tỷ đồng nhưng hiệu quả sử dụng còn chưa cao Có những công trình sau khi xây dựng, bàn giao đưa vào sử dụng xong lại thiếu nước hoặc không có nước; có công trình giai đoạn đầu hoạt động rất có hiệu quả song trong quá trình quản lý còn nhiều bất cập, cộng với
sự thiếu ý thức trong sử dụng và bảo vệ công trình dẫn đến xuống cấp, không thể sử dụng được
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên tôi đã tiến hành thực hiện đề
tài nghiên cứu: “Mô hình quản lý nguồn nước sinh hoạt nông thôn trên địa
bàn huyện Phú Xuyên – Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
Trên cơ sở mục tiêu của đề tài, tác giả đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
Nội dung, hình thức và đặc điểm của các mô hình quản lý cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội? Kinh nghiệm quản
lý các mô hình nước sinh hoạt nông thôn trên thế giới và Việt Nam?
Kết quả cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố
Hà Nội trong những năm qua?
Những khó khăn, thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng đến các mô hình quản
lý cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội?
Trang 18Để sử dụng hợp lý nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Xuyên cần lựa chọn mô hình quản lý cung cấp nước sinh hoạt nào là phù hợp, cần phải
áp dụng các giải pháp kinh tế, kỹ thuật nào để nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác mô hình quản lý cung cấp nước sinh hoạt?
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn, từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nguyên tắc, nội dung, phương thức hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên
Đối tượng điều tra khảo sát:
+ Các cán bộ quản lý, cán bộ vận hành các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Phú Xuyên
+ Các hộ dân sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ các mô hình nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Xuyên
+ Các cán bộ quản lý các cấp (trung ương, huyện, xã) trên địa bàn huyện Phú Xuyên
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trong phạm vi không gian trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
Trang 191.3.2.2 Phạm vi thời gian
- Thời gian thực hiện đề tài từ thàng 10/2017 đến tháng 10/2018
- Thời gian thu thập số liệu trong các năm 2013-2016
1.3.2.3 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Về lý luận: Nghiên cứu đã hệ thống hóa khái niệm nước sinh hoạt, việc quản lý nước sinh hoạt và các mô hình quản lý nước sinh hoạt đang được áp dụng phổ biến hiện nay; Làm rõ các quan điểm về quản lý nước sinh hoạt và vai trò của việc quản lý nước sinh hoạt làm cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài Bên cạnh đó luận văn cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt ở trong và ngoài nước nhằm rút ra bài học áp dụng vào thực tiễn các mô hình quản
lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Phú Xuyên
Về thực tiễn: Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng của các mô hình cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Phú Xuyên và đưa ra giải pháp tốt nhất nhằm giúp cho công tác quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt cho người dân trên địa bàn đạt hiệu quả nhất, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về các
mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện, bằng việc thu thập các thông tin số liệu và tiến hành phỏng vấn trực tiếp 90 hộ dân, các đơn vị quản
lý công trình, tổng hợp và phân tích số liệu Nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình cấp nước sinh hoạt nông thôn do DNTN quản lý là mô hình phù hợp nhất đối với điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Phú Xuyên hiện nay
Trang 20PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH
QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quản lý nước sinh hoạt nông thôn
2.1.1.1 Khái niệm liên quan đến nước sinh hoạt nông thôn
Nước sinh hoạt là nước được sử dụng hàng ngay cho nhu cầu sinh hoạt như tắm, giặt giũ, nấu nướng, rửa, vệ sinh… thường không sử dụng để ăn, uống trực tiếp (Quốc hội, 2009)
Nước sinh hoạt trong tiếng anh còn được gọi là Domestic Water Nước sinh hoạt là loại nước được sử dụng trong quá trình sinh hoạt hàng ngày như giặt giũ, tắm, rửa, vệ sinh cá nhân… không bao gồm nước để nấu nướng, uống trực tiếp (Oxford, 2013)
Nước sinh hoạt đảm bảo (nước sạch) là nước có các tiêu chuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT Về
cơ bản nước đạt các yêu cầu: không màu, không mùi, không vị lạ, không có các thành phần gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người (Quốc hội, 2009)
Phân biệt nước sạch và nước hợp vệ sinh
Nước sạch có thể được định nghĩa là nguồn nước: trong, không màu, không mùi, không vị, không chứa các độc chất và vi khuẩn gây bệnh cho con người Nước sạch theo quy chuẩn quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt - QCVN 02:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009
Nước hợp vệ sinh là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, có thể dùng để
ăn uống sau khi đun sôi
Như vậy nước sạch có chất lượng cao hơn nước hợp vệ sinh Nước sạch là một nhu cầu cơ bản trong cuộc sống hằng ngày của mọi người và đang đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện sinh hoạt cho người dân Theo báo cáo kết quả thực hiện chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn của TT NSH&VSMT NT Quảng Ninh thì tính đến hết năm 2013 tỉ lệ số dân nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh là 91%, tỉ lệ dân số nông thôn được cấp
Trang 21nước sạch theo QC02:2009/BYT là 34%
Nước sạch là tài nguyên quý giá nhưng không phải là vô tận Nước là cần thiết cho sự sống nhưng ngược lại cũng có thể gây ra những hiểm họa khôn lường cho con người khi nó bị biến đổi, ô nhiễm, bão lụt, hạn hán…
Các loại nguồn nước sinh hoạt được sử dụng phổ biến nhất hiện nay (1) Nguồn nước ngầm hay còn gọi là giếng khoan, giếng đào
Nước giếng khoan là nước được lấy (khoan) từ các mạch nước ngầm sâu trong lòng đất, qua các tầng địa chất Nước này thường có nhiều nguyên tố khoáng, khó kiểm soát được chất lượng do tùy thuộc vào mạch nước khoan được (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003) Nước giếng đào: Tương tự như nước giếng khoan nhưng thay vì khoan thì được đào đất lên, thường có độ nông hơn so với nước giếng khoan (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003)
(2) Nguồn nước mưa
Các hộ gia đình hiện nay, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn thường lưu trữ nước mưa để sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên nguồn nước mưa thường có tính axit và hiện nay ô nhiễm môi trường nặng nề dẫn đến chất lượng nước mưa không đảm bảo (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003)
(3) Nguồn nước máy đã qua xử lý của nhà máy nước
Nguồn nước này thường được sử dụng nhiều ở các khu vực thành phố, một
số khu vực ngoại thành, tỉnh lẻ Nước cấp là ngầm sau đó đi qua hệ thống xử lý nước của các nhà máy thường là lọc thô qua bể lắng, khử sắt sau đó qua khử trùng bằng clo để cung cấp nước cho các hộ dân cư (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003)
2.1.1.2 Khái niệm liên quan đến quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Quản lý (tiếng Anh là Management): Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau Xuất phát
từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý (Đỗ Hoàng Toàn, 2001) Đặc biệt là kể từ thế
kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các tác giả đã đưa ra nhiều
Trang 22quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ như:
+ Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… theo lý thuyết hệ thống: “quản lý là
sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống
cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” (Đỗ Hoàng Toàn, 2001) + Theo Phạm Thanh Nghị (2000) cho rằng, quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một nhóm tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Như vậy, quản lý là một chức năng riêng biệt nảy sinh ra từ bản thân, bản chất của quá trình xã hội, của lao động thuộc về nó Bản chất của quản lý là một quá trình điều khiển mọi quá trình xã hội khác Giữa chủ thể quản lý và khách thể
bị quản lý diễn ra một mối quan hệ tương tác, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và chính nhờ mối quan hệ đó mà hệ thống vận động đến mục tiêu Tổ hợp những tác động từ chủ thể đến khách thể làm cho hệ vận hành đến mục tiêu và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Đó là quản lý, tập hợp các tác động quản lý làm nảy sinh ra các mối quan hệ quản lý
Quản lý nước sinh hoạt nông thôn là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phối hợp các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức nhằm nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua cải thiện các dịch vụ cấp nước sinh hoạt, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về sử dụng nước Giảm thiểu các tác động xấu do điều kiện cấp nước sinh hoạt kém gây ra đối với sức khoẻ của người dân nông thôn, góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường (Tống Văn Dũng, 2014)
2.1.2 Một số vấn đề liên quan đến MH quản lý nước sinh hoạt nông thôn
2.1.2.1 Khái niệm về mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
(1) Mô hình
+ Nghĩa hẹp là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt; là thiết bị, cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo và hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hóa) vì mục đích khoa học và sản xuất (Tống Văn Dũng, 2014)
Trang 23+ Nghĩa rộng là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả ) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng) Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong triết học, ngôn ngữ học, kinh tế học (Tống Văn Dũng, 2014)
Trong kinh tế học, mô hình được hiểu là hình ảnh mang tính chất quy ước của đối tượng nghiên cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của một hệ thống thực tế trong tự nhiên, xã hội (Tống Văn Dũng, 2014)
Theo Dương Văn Hiểu (2001), mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, được diễn đạt hết sức ngắn gọn, phản ánh được những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu
(2) Mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Khái niệm mô hình quản lý được nhắc tới trong một số nghiên cứu, khái quát lại có thể hiểu: “Mô hình quản lý đơn giản là tập hợp cách lựa chọn của một
bộ phận chuyên trách hoặc của người điều hành về công tác quản lý được thực hiện, về cách họ xác định mục tiêu, động viên nỗ lực, phối hợp hoạt động và phân bổ nguồn lực” (Tống Văn Dũng, 2014)
Như vậy, mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn có thể hiểu là tập hợp cách lựa chọn của một bộ phận chuyên trách hoặc của người điều hành về công tác quản lý của một hệ thống quản lý nước sinh hoạt nông thôn về cách phối hợp hoạt động và phân bổ nguồn lực trong công tác quản lý (vận hành, sửa chữa…) (Tống Văn Dũng, 2014)
2.1.2.2 Vai trò công tác quản lý của mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt và xác định là một bộ phận trong chính sách phát triển nông thôn; xem việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường là tiêu chí để phát triển nông thôn văn minh, hiện đại, là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, của các ngành các cấp và chính quyền địa phương Công trình cấp nước còn được xác định là một trong 8 loại công trình cần xây dựng ở các vùng nông thôn và là một trong 6 loại hạ tầng cơ bản nhất để đánh giá điều kiện thoát nghèo ở các xã khó khăn (điện, đường, trường học, trạm xá, nước sạch và chợ) Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã tham gia từ rất sớm và ký hàng loạt cam kết và tuyên bố quốc tế về xoá đói giảm nghèo và cải thiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường như: Chương trình nước uống và vệ sinh môi
Trang 24trường thế giới; Chương trình mục tiêu Quốc gia 134,135; Chương trình xóa đói giảm nghèo (Dương Anh Chung, 2011) Chính vì lẽ đó, việc quản lý nước sinh hoạt nông thôn được xác định có những vai trò, vị trí quan trọng sau:
Vai trò đối với kinh tế: Các công trình cấp nước sinh hoạt hiện nay nếu được cải tiến và nhân rộng sẽ đem lại lợi ích to lớn, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn, làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn (Dương Anh Chung, 2011)
Vai trò đối với xã hội: Tăng cường sức khỏe cho dân cư nông thôn bằng cách giảm thiểu các bệnh có liên quan đến nước nhờ cải thiện việc cấp nước sinh hoạt và nâng cao thực hành vệ sinh của dân chúng (Dương Anh Chung, 2011)
Vai trò đối với môi trường: Chống cạn kiệt, chống ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nguồn nước ngầm và nước mặt tại các hồ, đầm, sông, suối (Dương Anh
Chung, 2011)
2.1.2.3 Yêu cầu công tác quản lý của mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Yêu cầu quản lý cung cấp nước sinh hoạt được trình bày như sau:
- Nâng cao nhận thức của người dân: Nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân sống ở nông thôn về việc sử dụng nước sinh hoạt nông thôn Đây là cơ sở hết sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về nước sinh hoạt, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và
có thể cải thiện được Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với sự trợ giúp của Chính phủ, họ có thể vươn lên khắc phục khó khăn, cải thiện được môi trường sống cho mình tốt hơn Vì vậy, các hoạt động thông tin giáo dục và truyền thông có tầm quan trọng lớn đối với thành công của chiến lược phát triển (Dương Anh Chung, 2011)
- Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức phải thực hiện theo một số nguyên tắc chung, phân công trách nhiệm của từng cấp quản lý từ trung ương tới cấp thấp nhất thích hợp gắn liền với các tổ chức cộng đồng Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước Phát triển nguồn nhân lực nhằm: Cung cấp đủ và sắp xếp cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và nhiệm vụ; bồi dưỡng cho cán bộ
Trang 25trung ương và địa phương về chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, các kiến thức và kỹ năng về lập chương trình, kế hoạch, điều phối, quản lý theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu đối với cấp nước sinh hoạt nông thôn; huấn luyện nhân viên chịu trách nhiệm thực thi ở các cấp huyện, xã để thực hiện tốt vai trò mới của mình (Dương Anh Chung, 2011)
-Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để phát triển cấp nước sinh hoạt nông thôn Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng và quản lý Cấp nước sinh hoạt nông thôn phục
vụ cho việc nâng cao sức khoẻ, giảm thiểu các bệnh tật do thiếu nước sạch và kém vệ sinh gây ra, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho mọi gia đình Đó là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy cần xã hội hoá công tác này, huy động mọi nguồn vốn trong nước, phát huy nội lực, đồng thời thu hút vốn nước ngoài cho cấp nước sinh hoạt nông thôn (Dương Anh Chung, 2011)
- Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp, đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn Giới thiệu các công nghệ khác nhau cho người sử dụng giúp cho họ có kiến thức cần thiết
để quyết định lựa chọn loại công nghệ phù hợp (Dương Anh Chung, 2011)
2.1.2.4 Đối tượng quản lý của mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Đối tượng của quản lý nước sinh hoạt nông thôn cần hiểu biết tường tận
về các nguồn nước và tăng cường công tác quản lý nguồn nước, coi nước là loại tài nguyên quý hiếm Hiện nay đã có nhiều thông tin về các nguồn nước ở các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp & PTNT, Xây dựng, Ban chỉ đạo Quốc gia về nước sạch và VSMT và các tỉnh Những thông tin này cần được hệ thống hoá, giúp cho việc quản lý nguồn nước được thống nhất và chặt chẽ ở TW cũng như cấp cơ sở Luật tài nguyên nước quy định rõ nước sử dụng cho sinh hoạt cần được ưu tiên hơn nước sử dụng cho các mục đích khác và điều này phải được đưa vào quy chế quản lý và sử dụng các nguồn nước (Dương Anh Chung, 2011)
Cấp nước cho sinh hoạt nông thôn chỉ là một bộ phận sử dụng nước với khối lượng nhỏ nhưng lại rất quan trọng vì đòi hỏi chất lượng cao Bởi vậy cần chú trọng chống ô nhiễm nguồn nước, cần thiết lập hệ thống theo dõi nguồn nước, sử dụng các số liệu được thu thập từ quá trình thực hiện chương trình
Trang 26Nước sạch và Vệ sinh môi trường Như vậy phải có kế hoạch điều tra, quản lý và bảo vệ nguồn nước (Dương Anh Chung, 2011)
2.1.2.5 Nguyên tắc xác định giá cả của người sử dụng nước
Quy chế tính giá ban hành và hướng dẫn tại thông tư số 95/2009/TTLTBTC
- BXD - BNN ngày 19/5/2009 Giá tiêu thụ nước sạch phải được tính đúng, tính
đủ các yếu tố chi phí của giá thành toàn bộ và lợi nhuận định mức hợp lý trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ để các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nước sạch duy trì và phát triển Giá tiêu thụ nước sạch có tác dụng khuyến khích đơn vị cấp nước sạch nâng cao chất lượng về nước, nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng và phấn đấu giảm chi phí, giảm thất thoát nước,
có tác dụng khuyến khích khách hàng sử dụng nước tiết kiệm
Giá thành toàn bộ của sản phẩm nước sạch làm cơ sở tính giá phải được tính theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật sản xuất nước sạch
do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt không tính theo mức bình quân của các đơn
vị cấp nước trong tỉnh, bao gồm các chi phí sau:
Bảng 2.1: Cách xác định giá thành nước sinh hoạt
STT Nội dung chi phí Ký hiệu
1
2
3
4
Chi phí vật tư trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Cộng giá thành sản xuất (1+2+3)
Cvt CNC CSXC
2.1.3 Nội dung nghiên cứu đánh giá mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
2.1.3.1 Thực trạng các mô hình cung cấp nước sinh hoạt nông thôn
Ở nước ta hiện nay các công trình cấp nước đã có nhiều mô hình về quản
lý khai thác dịch vụ cấp nước sạch như: tổ dịch vụ nước sạch của hợp tác xã nông nghiệp, HTX dịch vụ nước sạch, doanh nghiệp tư nhân, trung tâm NS&VSMT tỉnh trực tiếp quản lý khai thác công trình Các mô hình này đã và đang hoạt động
có hiệu quả và đang tiến dần đến các mô hình bền vững Sau đây sẽ phân tích 4
mô hình phổ biến điển hình được áp dụng nhiều ở các vùng trên cả nước cụ thể như sau:
Trang 27a Mô hình cụm/ nhóm dân cư quản lý
Hình 2.1 Mô hình tư nhân quản lý
Nguồn: Hoàng Thị Thắm, Ngô Thị Thanh Vân (2009)
Mô hình này đã được áp dụng ở một số tỉnh thuộc các vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long và đã đem lại hiệu quả đáng kể ở một số tỉnh cụ thể như sau: Tại tỉnh Tiền Giang, mô hình này được áp dụng đem lại hiệu quả: Dân có nước sạch, người đầu tư có hiệu quả kinh tế; Tại tỉnh Bình Thuận, một số hộ dân ở Mũi Né đã tự đầu tư khoan giếng, xử lý thủ công rồi cấp cho nhân dân xung quanh Mô hình này cũng đã xuất hiện ở Phú Hài, Hàm Đức
b Mô hình hợp tác xã quản lý
Đây là mô hình quản lý áp dụng cho các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn được xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước, nguồn vốn tài trợ của Chính phủ và các Tổ chức phi chính phủ nước ngoài Để thực hiện công tác quản
lý, UBND xã thành lập Ban quản lý hoặc tổ vận hành trực thuộc UBND xã để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ vận hành, duy tu và bảo dưỡng công trình Ban quản
lý có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc xây dựng công trình từ khi bắt đầu tiến hành khảo sát, xây dựng đến khi hoàn thành công trình và đưa vào sử dụng Những người tham gia Ban quản lý được cử đi đào tạo, tập huấn các lớp về giám sát thi công các công trình nước sinh hoạt nông thôn; về công tác quản lý vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
UBND xã trực tiếp quản lý; tổ chức và giao cho một người hoặc một nhóm người chịu trách nhiệm thực hiện công tác vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình; Trực tiếp thu tiền nước của các hộ sử dụng nộp cho xã và hưởng phụ cấp hàng tháng (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Trạm cấp điện
Hộ gđ 2 Hộ gđ 3 Hộ gđ n
Hộ gđ 1
Trang 28Hình 2.2 Mô hình hợp tác xã quản lý
Nguồn: Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân (2009) Quy mô công trình nhỏ (công suất từ 50 - 300 m3/ngày đêm), và trung bình (công suất từ 300 - 500 m3/ngày đêm) Phạm vi cấp nước cho một thôn hoặc liên thôn, xã, áp dụng phù hợp cho vùng đồng bằng dân cư tập trung Khả năng quản
lý vận hành công trình thuộc loại trung bình hoặc cao (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
c Mô hình do doanh nghiệp nhà nước quản lý
Mô hình tổ chức gồm: Giám đốc, các phó giám đốc và các phòng nghiệp vụ (phòng quản lý cấp nước, phòng tổ chức - hành chính, phòng kỹ thuật, phòng kế hoạch – tài chính…) và trạm cấp nước Giám đốc chịu trách nhiệm chung, trực tiếp quản lý phòng tổ chức - hành chính, kế hoạch - tài chính; Các phó giám đốc phụ trách các phòng chuyên môn và các tổ chức quản lý vận hành; Các phòng ban giúp việc cho giám đốc theo chuyên môn, nhiệm vụ được giao (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Mỗi trạm cấp nước thành lập một tổ quản lý vận hành trực thuộc phòng quản lý cấp nước và chịu trách nhiệm sự quản lý của các phòng chức năng thuộc Trung tâm,trực tiếp quản lý, vận hành công trình Thực hiện bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa những hư hỏng, đọc đồng hồ và ghi chép số lượng nước
sử dụng của các hộ dùng nước, thu tiền nước của người sử dụng và nộp lên bộ phận kế toán Mỗi tổ quản lý từ 3 -5 người (1 tổ trưởng 2 - 3 cán bộ vận hành bảo dưỡng và 1 kế toán) (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Trang 29Mô hình này được áp dụng thực hiện nhiều ở vùng Tây Nguyên, vùng miền núi phía Bắc Điển hình tại tỉnh Đắk Nông, vận dụng mô hình quản lý này và thu được những kết quả đáng khích lệ như Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Đắk Nông (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Hình 2.3 Mô hình do DNNN quản lý
Nguồn: Hoàng Thị Thắm, Ngô Thị Thanh Vân (2009) Quy mô công trình trung bình (công suất từ 300 - 500 m3/ngày đêm) và quy mô lớn (công suất >500 m3/ngày đêm) Phạm vi cấp nước cho liên thôn (đồng bằng), liên bản (miền núi), xã liên xã Trình độ, năng lực quản lý, vận hành công trình thuộc loại trung bình hoặc cao (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
d Mô hình doanh nghiệp quản lý
Mô hình này được áp dụng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung Điển hình tại tỉnh Tiền Giang đã hỗ trợ cấp nước sinh hoạt cho 4.000 hộ dân nông thôn ở vùng sâu, vùng xa đang gặp khó khăn nghiêm trọng về nguồn nước sạch đặc biệt trong mùa khô hạn 2010, với tổng kinh phí đầu tư 400.000 USD Công ty TNHH có chức năng cung cấp nước sạch cho hộ dân nông thôn, với yêu cầu của cam kết tài trợ là các doanh nghiệp, đơn vị cấp nước làm toàn bộ thủ tục, thi công và cấp nước đến tận hộ dân Tại tỉnh Phú Thọ, Công ty Cổ phần cấp nước Phú Thọ đã đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh sau chuyển đổ i(Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Mô hình này đã quan tâm tới vấn đề xử lý nước thải, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời chú trọng đến cải tiến kỹ thuật, thường xuyên tu sửa
và bảo dưỡng hệ thống cấp nước Song, mô hình vẫn có giá thành sản xuất đầu vào lớn dẫn đến giá nước cao và hiệu quả sử dụng nước sau đầu tư ở khu vực nông thôn, miền núi, khu vực ven thành thị không cao (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Hộ Gđ 1 Hộ Gđ 2 Hộ gđ 3 Hộ gđ 4 Hộ gđ N
Trung tâm nước sạch & VSMT
Trạm cấp nước Thôn, xóm
Ban quản trị Các phòng ban
Trang 30Hình 2.4 Mô hình doanh nghiệp tư nhân quản lý
Nguồn: Hoàng Thị Thắm, Ngô Thị Thanh Vân (2009) Quy mô công trình trung bình (công suất từ 300 - 500 m3/ngày đêm) và quy mô lớn (công suất từ > 500 m3/ngày đêm) Phạm vi cấp nước cho liên thôn, liên bản, xã, liên xã, huyện; áp dụng phù hợp cho vùng dân cư tập trung Trình
độ, năng lực quản lý vận hành công trình thuộc loại trung bình hoặc cao (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Cơ cấu tổ chức của mô hình gồm: Giám đốc và các phòng ban giúp việc; Ban kiểm soát; Trạm cấp nước; Cán bộ, công nhân vận hành duy tu bảo dưỡng công trình được tuyển dụng theo đúng nghiệp vụ, chuyên môn về quản lý, công nghệ kỹ thuật cấp nước, được đào tạo, có bằng cấp chuyên môn Nhiệm vụ: Sản xuất kinh doanh ngành nghề dịch vụ cung cấp nước sạch cho người sử dụng theo hợp đồng thỏa thuận; Thực hiện chế độ tài chính quy định của Nhà nước; Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý điều hành các hoạt động của công ty; Các phòng ban giúp việc cho Giám đốc theo từng nghiệp vụ chuyên môn, chức năng nhiệm
vụ được giao; Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh của công ty; Trạm cấp nước trực tiếp quản lý, vận hành công trình thực hiện bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa những hư hỏng, đọc đồng hồ và ghi chép số lượng nước sử dụng của các hộ dùng nước, thu tiền nước của người
sử dụng và nộp lên bộ phận kế toán (công ty) hoặc có bộ máy, hạch toán độc lập (công ty thành viên) (Hoàng Thị Thắm và Ngô Thị Thanh Vân, 2009)
Ban giám đốc
Doanh nghiệp quản lý Các phòng ban
Ban kiểm soát
Thôn, Xóm Trạm cấp nước
Hộ gđ 1 Hộ gđ 2 Hộ gđ 3 Hộ gđ 4 Hộ gđ N
Trang 312.1.3.2 Đánh giá các mô hình cung cấp nước sinh hoạt nông thôn
Việc đánh giá các mô hình cung cấp nước sinh hoạt nông thôn là rất quan trọng Từ kết quả đánh giá này giúp cho chính quyền địa phương quyết định và lựa chọn mô hình cho phù hợp với địa phương mình Theo Bộ NN - PTNT (2016) đánh giá mô hình cung cấp nước tập chung vào các vấn đề chính như sau: + Đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy quản lý: Đánh giá những ưu nhược điểm về tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý Đánh giá về trình độ vận hành của CBCNV, về mức độ thu hút được lực lượng công nhân có trình độ tay nghề cao + Đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp nước: Chất lượng nước cấp có đảm bảo hợp vệ sinh theo Quy chuẩn 02 của Bộ Y tế không, thời gian cấp nước là bao nhiêu (giờ/ngày), áp lực và lưu lượng nước có đảm bảo theo yêu cầu của nhân dân không, công tác sửa chữa các sự cố có kịp thời không, thái độ phục vụ của CBCNV có tốt không
+ Đánh giá cơ chế quản lý tài chính: Đánh giá xem giá nước đã được tính đúng tính đủ chưa, tình hình thất thoát, thất thu bao nhiêu % Chi phí cho vận hành và bảo dưỡng hàng năm là bao nhiêu Mô hình có đem lại hiệu quả kinh tế không, đã đủ bù đắp các chi phí chưa
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn
Sơ đồ 2.1 Khung tiếp cận phát triển và quản lý hệ thống cấp nước tập trung
của Madeleen Wegelin-Schuringa
Nguồn: Mariela Garcia Vargas (2007)
Mô hình quản lý
Cơ chế, chính sách
Điều kiện
tự nhiên
Kĩ thuật công nghệ Kinh tế –
xã hội
Trang 322.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Việc xây dựng công trình CNTT cần quan tâm đến trữ lượng và chất
lượng nguồn nước theo từng khu vực và tác động của các yếu tố thời tiết (mùa khô, mùa mưa) đến nguồn nước Điều kiện địa hình và nguồn nước sẽ quyết định việc hình thành phương án thiết kế xây dựng công trình và để đảm bảo duy trì được nguồn nước theo tự nhiên cần trú trọng công tác bảo vệ môi trường, quản lý nguồn nước ngọt, quản lý nước thải và giảm thiểu yếu tố rủi ro do thiên tai cho môi trường nước (Mariela Garcia Vargas, 2007)
2.1.4.2 Kinh tế – xã hội
+ Trình độ dân trí khu vực phục vụ của công trình CNTT có liên quan trực
tiếp đến số lượng khách hàng của đơn vị cấp nước, hành vi vệ sinh sức khỏe và nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng trong việc sử dụng nước hợp vệ sinh sẽ giúp người sử dụng có sự hợp tác cao hơn với đơn vị cấp nước trong quản lý vận hành cũng như chi trả chi phí cho lượng nước sử dụng (Mariela Garcia Vargas, 2007)
+ Bên cạnh đó, mức độ tham gia của cộng đồng trong việc sử dụng nước
từ các công trình CNTT sẽ giúp duy trì sự hoạt động của công trình, hạn chế và sử
lý kịp thời các sự cố, nâng cao tính tự chủ, năng động, bình đẳng giới góp phần vào giải phóng sức lao động (so với sử dụng nguồn nước truyền thống) Để phát huy tốt vai trò của việc hoạch định các chỉ tiêu kinh tế, nước sạch cần phải được xem là hàng hóa có giá trị kinh tế và xã hội, từ đó xây dựng và thực hiện cơ chế tín dụng phù hợp bao gồm cả việc tiếp cận các hệ thống tín dụng để đảm bảo có đủ chi phí cho hoạt động của công trình, song song với công tác này đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người sử dụng giúp tăng số lượng khách hàng để đảm bảo nguồn thu cho đơn vị (thu đủ chi) (Mariela Garcia Vargas, 2007)
+ Điều kiện kinh tế hộ gia đình của người dân: Mức sống của các địa bàn dân cư càng cao thì nhu cầu về nước sạch, cũng như nước hợp vệ sinh càng lớn Các địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn, các công trình cấp nước được xây dựng lên nhưng rất khó để duy trì, phát triển, bởi lẽ các nguồn thu để duy trì công trình rất hạn chế Các địa phương có điều kiện kinh tế họ sẵn sàng chi trả để được
sử dụng các dịch vụ tốt; do đó vấn đề kinh tế ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh (Mariela Garcia Vargas, 2007)
+ Trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ quản lý: Các cán
bộ, CNV quản lý có trình độ học vấn cao, được đào tạo chuyên sâu sẽ có điều
Trang 33kiện để phát huy các công trình cung cấp nước sinh hoạt hơn so với các cán bộ ít được đào tạo Các công trình có cán bộ có chuyên môn tốt sẽ vận hành cũng như quản lý tốt, khắc phục các tình huống sự cố cũng đơn giản hơn, chuyên nghiệp hơn Do đó vấn đề chuyên môn của cán bộ quản lý, vận hành các công trình cần đặc biệt phải quan tâm (Mariela Garcia Vargas, 2007)
+ Khả năng tiếp nhận thông tin của người dân: Khả năng tiếp nhận thông tin của người dân cũng như ý thức của người dân tốt sẽ giúp cho quá trình quản
lý được dễ dàng hơn, dễ thích nghi với những thông tin tích cực mang tính mới, tính cộng đồng… (Mariela Garcia Vargas, 2007)
+ Ý thức về vấn đề dùng nước sạch: Khi các hộ dân có ý thức về vấn đề dùng nước sạch, nước hợp vệ sinh thì các vấn đề về giải pháp liên quan mới nhanh được đưa ra và giải quyết; Ý thức, tính chủ động của các hộ dân càng cao thì các vấn đề về hạn chế trong cuộc song càng nhanh được giải quyết, nếu họ không có ý thức hoặc không muốn sử dụng nước từ các công trình cấp nước sinh hoạt thì các tổ chức, ban ngành địa phương có triển khai thì cũng không thể đạt hiệu quả (Mariela Garcia Vargas, 2007)
2.1.4.3 Kỹ thuật - Công nghệ
+ Chất lượng đầu tư, xây dựng công trình: Yếu tố kỹ thuật - công nghệ (KT - CN) phải phù hợp với quy mô công trình, trình độ vận hành, yêu cầu về chất lượng dịch vụ, khả năng đáp ứng linh - phụ kiện đảm bảo tính đồng bộ và giảm tối đa chi phí vận hành bảo dưỡng KT - CN được lựa chọn căn cứ vào nguồn nước (đầu vào) và công suất của nhà máy (đầu ra), công nghệ không phù hợp có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng nước cung cấp, bên cạnh đó gây ra lãng phí trong đầu tư xây dựng hoặc tăng chi phí phải trả của người sử Ngoài ra,
KT - CN còn phụ thuộc vào định mức đầu tư của chính phủ và các nhà tài trợ (Mariela Garcia Vargas, 2007)
2.1.4.4 Cơ chế và chính sách của Nhà nước
Với mục đích nâng cao tỷ lệ người dân được sử dụng nước hợp về sinh, môi trường pháp lý đã và đang hỗ trợ cho sự hoạt động của công trình CNTT trong đó có khuyến khích đẩy mạnh quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình cũng như phát huy được các lợi thế trong quản lý vận hành công trình CNTT khi vận dụng mô hình quản lý là doanh nghiệp tư nhân (tiết kiệm chi phí, cạnh tranh nâng cao chất lượng- dịch vụ,
Trang 34xử lý kịp thời sự cố, ); Ngoài ra đối với các công trình CNTT có điều kiện quản
lý vận hành khó khăn cũng có những chính sách nâng cao mối quan hệ giữa đơn
vị quản lý với cộng đồng người sử dụng, theo đó nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý vận hành công trình, tăng cường truyền thông và đối thoại, khuyến khích mô hình quản lý phi tập trung để tiết kiệm chi phí quản lý góp phần giảm giá thành sản phẩm (m3 nước) (Mariela Garcia Vargas, 2007)
Các cơ chế chính sách cụ thể: Chính sách dân chủ cơ sở; Môi trường pháp
lý hỗ trợ; Mô hình đối tác công - tư (PPP) được khuyến khích phát triển; Các chính sách về đầu tư, thu hút đầu tư … ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển cả
về số lượng cũng như chất lượng của công trình cung cấp nước sinh hoạt (Mariela Garcia Vargas, 2007)
Khái quát lại, trên cơ sở phân tích từng yếu tố tác động đến mô hình cấp nước theo các cách tiếp cận trên đây, có thể nhận thấy các nhân tố có tác động đến tính bền vững của việc quản lý các công trình cấp nước cấp nước sạch nông thôn phụ thuộc vào các yếu tố: kinh tế - tài chính; văn hóa - xã hội; Cơ chế và chính sách của Nhà nước công nghệ-kỹ thuật Các nhóm nhân tố trên sẽ tác động lên sự hình thành và phát triển của những quy trình quản lý cơ bản trong lĩnh vực cấp nước, dẫn đến những thành công làm thay đổi diện mạo cho mô hình cấp nước tập trung, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước và tổ chức hỗ trợ bao gồm: (i) Nâng cao nhu cầu nước sạch, vệ sinh, sức khỏe cộng đồng; (ii) Hỗ trợ áp dụng phương pháp tiếp cận theo nhu cầu trong lập kế hoạch
và quy hoạch tổng thể; đưa cộng đồng thành một bên hữu quan trong quá trình đối thoại chính sách, lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá; (iii) Nâng cao năng lực cho cộng đồng lựa chọn công nghệ phù hợp có tính đến chi phí vận hành và bảo dưỡng, hài hòa yêu cầu về kỹ thuật và vấn đề kinh tế - xã hội; tiến hành phân cấp và giao quyền, trách nhiệm và nguồn lực phát triển nông thôn cho chính người dân địa phương; (iv) Nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý Nhà nước và thực thi các cấp; áp dụng giám sát và đánh giá hiệu quả, hiệu lực của hệ thống (Mariela Garcia Vargas, 2007)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm về mô hình quản lý nước sạch nông thôn trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Chìa khoá thành công của Trung Quốc chính là quá trình lập kế hoạch,
Trang 35xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành của TW và địa phương Theo kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn từ 3 nguồn: Từ nguồn vốn của chính phủ TW và địa phương, huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới kinh doanh, đóng góp của người hưởng lợi từ chương trình (Nguyễn
Vũ Hoan và Trương Đình Bắc, 2005)
Về lĩnh vực cấp nước: Trung Quốc chủ trương khuyến khích hình thức cấp nước bằng đường ống và tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà lắp đặt các hệ thống cho phù hợp Hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ qua các thiết kế mẫu, hướng dẫn kỹ thuật theo từng loại hình cấp nước khác nhau, ban hành tiêu chuẩn nước
ăn uống Trong khoảng thời gian 20 năm Trung Quốc đã có 4 giai đoạn vay vốn của WB cho lĩnh vực phát triển hệ thống cấp nước tại 17 tỉnh điểm Trung bình 4-5 tỷ Nhân dân tệ/năm Giai đoạn đầu tập trung vốn cho các tỉnh có điều kiện kinh tế giàu có Sau đó người dân trả lại vốn thông qua trả tiền nước; giai đoạn 2 tập trung cho các tỉnh nghèo Trong số người thụ hưởng có khoảng 30% người nghèo sẽ hỗ trợ 100% vốn góp, 70% số còn lại trả vốn qua tiền nước sử dụng (Nguyễn Vũ Hoan và Trương Đình Bắc, 2005)
Quản lý chất lượng nước: Năm 1985 ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống áp dụng cho toàn Trung Quốc Tiêu chuẩn Quốc gia là tiêu chuẩn nước uống duy nhất cho toàn Trung Quốc Năm 1991 do ở nhiều vùng nông thôn khó đạt được tiêu chuẩn này Quốc gia do vậy Trung Quốc đã ban hành Hướng dẫn giám sát chất lượng nước cho vùng nông thôn Kinh nghiệm thực tế nếu chỉ ban hành các tiêu chuẩn hay hướng dẫn thì chưa đủ mà cần có các cơ quan quản lý, giám sát và các giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp phần đảm bảo chất lượng nước (Nguyễn Vũ Hoan và Trương Đình Bắc, 2005)
Điều phối và phối hợp liên ngành trong lĩnh vực cấp nước nông thôn: Trung Quốc đã lập Uỷ ban phát triển chiến dịch y tế với mục tiêu đẩy truyền thông đi trước một bước Uỷ ban này có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Nông nghiệp
và 2 tổ chức lớn nhất Trung Quốc là thanh niên và phụ nữ Trong đó thanh niên
là lực lượng trẻ, thích tiếp cận các vấn đề mới và thường cập nhật thông tin mới Phụ nữ thường hay quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ và gia đình đặc biệt là vấn đề vệ sinh nông thôn và nước sạch Các địa phương cũng có mô hình tổ chức
và hợp tác tương tự như Trung ương, hợp tác theo cấp với 2 tổ chức quần chúng
ở cấp mình quản lý (Y tế - Nông nghiệp - Thanh niên - Phụ nữ) (Nguyễn Vũ
Trang 36Hoan và Trương Đình Bắc, 2005)
Nước sạch - Vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương trình hay dự án riêng về lĩnh vực này Nhưng các can thiệp đầu tiên ở địa phương thuộc lĩnh vực NS -VSMT là ở trường học Các hoạt động trong trường học rất có lợi do học sinh vừa là đối tượng được truyền thông vừa là các truyền thông viên về NS-VSMT cho cộng đồng (Nguyễn Vũ Hoan và Trương Đình Bắc, 2005)
Bài học về kinh nghiệm quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc cho thấy, việc thành công chỉ có thể có được khi chiến lược, quy hoạch phải phù hợp với điều kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ
2.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý cung cấp nước sinh hoạt của Paraguay
Dự án cấp nước sinh hoạt tập trung ở nông thôn trị giá 12,5 triệu USD do Ngân hàng Thế giới (World Bank) tài trợ, dự án này có mục tiêu là khuyến khích
sự cam kết của cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng vào dự án để giúp đỡ cho việc đạt được tính bền vững lâu dài, trong việc cấp nước sinh hoạt nông thôn,
và một số điều luật đã được Nhà nước thông qua về việc thiết lập những quy định có tính hợp pháp giữa cơ quan cấp nước và cộng động Trong đó tập trung quyền hạn vào cơ quan thực thi là Sở Vệ Sinh môi trường quốc gia (SENASA), một đơn vị trực thuộc của Bộ Y tế Dự án cung cấp năng lực cho lĩnh vực đó như tài chính, hệ thống thông tin, tổ chức cộng đồng, thuế, các tiêu chuẩn thiết kế và xây dựng Tuy nhiên, nhờ việc gắn với phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng và có thời gian
để phát triển về cơ cấu tài chính của SENASA thay cho việc đưa một tổ chức bên ngoài vào để thực hiện các mục tiêu xây dựng ban đầu, dự án đã giúp tạo ra cấu trúc thể chế chung mạnh hơn và làm tăng khả năng đạt được tính bền vững lâu dài của việc cấp nước sinh hoạt nông thôn (Nguyễn Thế Hùng, 2007)
Nhà cung cấp nước có trách nhiệm giải quyết các khúc mắc trong các tiểu
dự án giữa SENASA và từng cộng đồng Trước khi SENASA ký hợp đồng với Junta (cơ quan thực thi dự án về xây dựng hệ thống cấp nước) cộng đồng phải hoàn thành các bước gắn kết với nhau về các mặt luật pháp sau đây:
- Thành lập Junta: Cộng đồng phải tuân theo các hướng dẫn của dự án về thành lập Uỷ ban về nước và vệ sinh (Junta), được chính phủ Paraguay công nhận là một thực thể hợp pháp (Nguyễn Thế Hùng, 2007)
Trang 37- Có thiết kế, kế hoạch thực hiện dự án: Cộng đồng và SENASA phải thương thuyết và ký một hợp đồng về dự án, hợp đồng này bao gồm mô tả chi tiết về từng giai đoạn của dự án về khối lượng và chi phí của nó (hợp đồng cũng liệt kê tất cả các kế hoạch và hồ sơ của dự án) (Nguyễn Thế Hùng, 2007)
- Sự đóng góp của người sử dụng: Cơ quan Junta phải thoả thuận để trả tiền mặt 5% và đây là điều kiện để bắt đầu xây dựng Cung cấp tiền mặt, lao động, thiết bị, vật liệu, đất đai, hoặc tổ hợp của những cái đó, tương đương với 10% chi phí của dự án; và vay tiền của SENASA Trong vòng 10 năm phải trả tiền với lãi xuất của thị trường (Nguyễn Thế Hùng, 2007)
- Hợp đồng giao kèo về thu phí cấp nước: Mỗi Junta phải đưa ra các bảng giá cho dịch vụ về nước ở mức đủ để thu được lợi nhuận bù đắp chi phí vận hành
và bảo dưỡng, lãi xuất vay của SENASA, những sửa chữa và thay thế chủ yếu (với số lượng được SENASA và Junta thoả thuận) (Nguyễn Thế Hùng, 2007) Trong thực tế thì dự án đã thu được kết quả ngoài mong đợi: Cộng đồng
đã đóng góp 21% tổng chi phí xây dựng (vượt 6% so với dự tính ban đầu) và dự
án đã phục vụ vượt quá so với ước tính ban đầu là 20.000 người Việc vận hành
và bảo dưỡng được đáp ứng, đa số các hệ thống cung cấp đủ các dịch vụ Các Junta hoạt động tích cực, quản lý tốt các hệ thống, đáp ứng được hầu hết các cam kết về tài chính và ít có trục trặc trong việc thu phí cấp nước và đã tạo ra lợi nhuận đáng kể (Nguyễn Thế Hùng, 2007)
2.2.2 Kinh nghiệm về mô hình quản lý nước sạch nông thôn ở Việt Nam
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT (2015): Số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tính đến cuối năm 2016 đạt trên 53 triệu người, tương đương 82,5% số dân nông thôn (trong đó tỷ lệ sử dụng nước đạt QC 02/2009/BYT là 38,7%), đạt 100% kế hoạch đề ra
- Vùng tỷ lệ dân sử dụng nước hợp vệ sinh cao: Đông Nam Bộ: 94%, Đồng bằng Sông Hồng: 87%, Duyên Hải Miền Trung: 86%
- Vùng tỷ lệ dân sử dụng nước hợp vệ sinh thấp: Bắc Trung Bộ: 73%; Tây Nguyên: 77%
Các địa phương triển khai xây dựng: 540 công trình cấp nước và vệ sinh trong trường học, 368 trạm y tế, 721 công trình cấp nước tập trung, trong đó 217 công trình hoàn thành, 143 công trình chuyển tiếp, 86 công trình nâng cấp, sửa chữa, 154 công trình khởi công mới, 121 công trình chuẩn bị đầu tư Đặc biệt có
Trang 3823 tỉnh, thành phố không khởi công mới, đó là: Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Đăk Nông, Kon Tum, Bình Phước, Tây Ninh, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Bảng 2.1 Kết quả cấp nước sinh hoạt theo vùng tính đến năm 2015
Danh mục Số dân được cấp nước
xử lý nước như dàn mưa và bể lọc cát để xử lý sắt và ô nhiễm Asen từ các giếng khoan sử dụng nước ngầm tầng nông Nhiều thiết bị đồng bộ bằng nhiều loại vật liệu phù hợp để xử lý nước được giới thiệu và áp dụng trên cả nước Một số công trình cấp nước tập trung đã áp dụng công nghệ lọc tự động không van, xử lý hoá học (xử lý sắt, mangan, asen, xử lý độ cứng ), hệ thống bơm biến tần, hệ thống tin học trong quản lý vận hành Công nghệ hồ treo được cải tiến có quy mô và chất lượng khá hơn góp phần giải quyết khan hiếm nguồn nước ở vùng cao núi
đá trong mùa khô Khi xảy ra thiên tai, lũ lụt các địa phương đã sử dụng cloraminB và Aqua tab, túi PUR để xử lý nước phục vụ ăn uống (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Một số mô hình và cơ chế quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình cấp
Trang 39nước tập trung và vệ sinh công cộng phù hợp, bước đầu có hiệu quả đã xuất hiện
ở nhiều địa phương như mô hình sự nghiệp có thu, mô hình doanh nghiệp công
tư phối hợp dựa vào kết quả đầu ra, mô hình tư nhân đấu thầu quản lý hệ thống cấp nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Nhiều đơn vị cấp nước đã tổ chức hạch toán, tính đúng, tính đủ các chi phí, xây dựng giá thành nước trên cơ sở Nghị định số 117/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch; Thông tư liên tịch số 95/TTLT-BTC-BXD-BNN, trình cấp thẩm quyền phê duyệt giá bán cho người sử dụng Nhiều tỉnh đã ban hành khung giá nước tại địa phương với mức giá tính đúng, tính đủ chi phí vận hành bảo dưỡng hợp lý, thu một phần khấu hao cơ bản Khung giá nước này đã tạo điều kiện chủ động cho hoạt động tài chính, thúc đẩy sự sáng tạo và hấp dẫn các đơn vị cấp nước (Bộ Nông nghiệp
và PTNT, 2015)
Tuy nhiên, còn nhiều mô hình, cơ chế quản lý khai thác các công trình cấp nước tập trung ở nhiều nơi chưa hiệu quả và thiếu bền vững Phương thức hoạt động cơ bản vẫn mang tính phục vụ, chưa chuyển được sang phương thức dịch
vụ, thị trường hàng hóa Việc lựa chọn mô hình quản lý ở nhiều nơi chưa phù hợp, còn tồn tại nhiều mô hình quản lý thiếu tính chuyên nghiệp, như mô hình UBND xã, cộng đồng, tổ hợp tác quản lý Năng lực cán bộ, công nhân quản lý vận hành còn yếu Nhiều địa phương chưa ban hành quy chế quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước tập trung (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Cơ chế quản lý, nhất là cơ chế tài chính chưa phù hợp, nên chưa đảm bảo hoạt động bền vững của công trình Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát chất lượng nước chưa được quan tâm đầy đủ (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015) Trách nhiệm của người dân trong quản lý, sử dụng, bảo vệ và giám sát công trình cấp nước chưa cao Nhiều nơi đã có công trình cấp nước tập trung với chất lượng tốt, nhưng tỷ lệ đấu nối còn thấp, nhiều hộ chỉ dùng nước máy
để ăn uống, còn sinh hoạt vẫn dùng nước chưa đảm bảo vệ sinh (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Nhiều công trình cấp nước nông thôn xây dựng xong nhưng không hoạt động được, hoặc hoạt động kém hiệu quả, gây lãng phí và tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân, đến quan điểm và thái độ của cộng đồng với dịch vụ cấp nước và vệ sinh (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Trang 40Các mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn: Tại thông
tư liên tịch số 37/2014/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT có nêu, hiện nay nước
ta đang tồn tại các loại hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn sau:
- Tổ tự quản, nhóm (hội) sử dụng nước (công trình cấp nước riêng lẻ cấp hộ)
- Loại hình do doanh nghiệp Nhà nước quản lý
- Loại hình do DN tư nhân bỏ vốn xây dựng, quản lý, vận hành
- Loại hình do UBND xã, hợp tác xã vận hành, quản lý
Mặc dù công tác tuyên truyền đã được các cấp chính quyền quan tâm thực hiện, nhưng đến nay phần lớn cư dân nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước sạch, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với sự giúp đỡ của Chính phủ, họ có thể vươn lên, khắc phục khó khăn, cải thiện môi trường sống cho mình tốt hơn (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Sự tham gia của cộng đồng vào Chương trình đã có nhiều tiến bộ, vai trò của người sử dụng và của phụ nữ tham gia vào quá trình quyết định về đầu tư và quản lý được tăng cường hơn nhiều, từ việc đề xuất nhu cầu, lựa chọn quy mô, loại hình công trình, hình thức tham gia vốn đầu tư, giới thiệu người thay mặt cộng đồng để quản lý đầu tư và vận hành công trình (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)
Đánh giá chung tình hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn tại Việt Nam:
- Tình hình nguồn nước: Nhìn chung nguồn nước của Việt Nam hiện còn khá dồi dào Lượng mưa tương đối cao với một hệ thống sông, ngòi, kênh mương dày đặc; nguồn nước ngầm phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho con người tiếp cận, khai thác để sử dụng vào các mục đích sinh hoạt, sản xuất Tuy nhiên
do nguồn nước phân bố không đồng đều cả về không gian và thời gian nên hiện
có một số vùng rất khan hiếm về nguồn nước Bên cạnh đó, việc sử dụng ngày càng nhiều nguồn nước mặt vào phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; nạn phá rừng diễn ra hết sức phức tạp làm suy giảm nghiêm trọng rừng phòng hộ đầu nguồn đã làm xuất hiện nguy cơ cạn kiệt nguồn nước Các vùng đồng bằng, trung du và ven biển, sự ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng do sự yếu kém trong kiểm soát, xử lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015)