1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của dự án nhà máy xi măng sông lam, dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá vôi về nhà máy xi măng

120 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu  Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An  Tình hình quản lý, sử dụng đất huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An  Đánh giá việc bồi thường, hỗ trợ,

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HỒ MINH THẮNG

ĐÁNH GIÁ VIỆC BỒI THƯỜNG, HỘ TRỢ, TÁI ĐỊNH

CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA DỰ ÁN

NHÀ MÁY

XI MĂNG SÔNG LAM, DỰ ÁN ĐƯỜNG VẬN CHUYỂN NGUYÊN LIỆU TỪ MỎ ĐÁ VÔI VỀ NHÀ MÁY XI MĂNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

Trang 2

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Hồ Minh Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Văn Chính - Giảng viên Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản

lý đất đai, Ban Quản lý đào tạo - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban Nhân dân huyện Đô Lương, Uỷ ban nhân dân

xã Mỹ Sơn, tập thể Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê huyện Đô Lương, chính quyền và bà con nhân dân xã Bài Sơn, huyện Đô Lương đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn

Tôi xin cảm ơn đến gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong qua trình thực hiện đề tài này

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Hồ Minh Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất 4

2.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ 5

2.1.2 Bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ 5

2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ 6

2.1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế 11

2.1.5 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư ở Việt Nam 15

2.2 Tác động của thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 24

2.2.1 Tác động tích cực 24

2.2.2 Tác động tiêu cực 25

2.3 Cơ sở thực tiễn về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 26

2.3.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 26

2.3.2 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất ở Việt Nam 28

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 33

3.1 Nội dung nghiên cứu 33

Trang 6

3.1.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An 33

3.1.2 Tình hình quản lí và sử dụng đất trên địa bàn huyện Đô Lương 33

3.1.3 Đánh giá việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của dự án 2 dự án nghiên cứu 33

3.1.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Đô Lương 33

3.2 Phương pháp nghiên cứu 34

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 34

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 34

3.2.3 Phương pháp thống kê và xử lý số số liệu thống kê 35

3.2.4 Phương pháp đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án nghiên cứu 35

Phần 4 Kết quả nghiên cứu 36

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đô Lương 36

4.1.1 Về điều kiện tự nhiên 36

4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 39

4.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40

4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 44

4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Đô Lương 45

4.2.1 Tình hình quản lý đất đai 45

4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Đô Lương năm 2017 51

4.3 Đánh giá việc thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại 2 dự án nghiên cứu 54

4.3.1 Khái quát về hai dự án nghiên cứu và các chính sách có liên quan 54

4.3.2 Các văn bản quy định về xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ 55

4.3.3 Đánh giá công tác bồi thường tại 2 dự án nghiên cứu 56

4.3.4 Công tác hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất tại 02 dự án 63

4.3.5 Đánh giá chung 66

4.3.6 Đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi tại 2 dự án

nghiên cứu 72

4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất 75

Trang 7

4.4.1 Giải pháp về chính sách và thực hiện chính sách 75

4.4.2 Kiện toàn chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 76

4.4.3 Tăng cường vai trò cộng đồng trong việc tham gia công tác GPMB 78

4.4.4 Nâng cao năng lực cán bộ và hiệu quả làm việc của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 78

4.4.5 Giải pháp khác 79

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Kiến nghị 82

Tài liệu tham khảo 82

Phụ lục 87

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu của huyện Đô Lương 38 Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Đô Lương giai đoạn 2013-2017 41 Bảng 4.3 Tình hình dân số, lao động, việc làm của huyện Đô Lương giai đoạn

2013-2017 42 Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2017 huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 53 Bảng 4.5 Kết quả xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ 2 dự án

nghiên cứu 57 Bảng 4.6 Đánh giá của người dân có đất bị thu hồi đất về việc xác định đối

tượng và điều kiện được bồi thường của 2 dự án 58 Bảng 4.7 Kết quả bồi thường về đất tại 2 dự án nghiên cứu 60 Bảng 4.8 Đánh giá của người dân có đất bị thu hồi đất về việc bồi thường về

đất của 2 dự án 61 Bảng 4.9 Giá trị bồi thường thiệt hại về các tài sản trên đất của 2 dự án 62 Bảng 4.10 Đánh giá của người dân có đất bị thu hồi đất về việc bồi thường tài

sản trên đất của 2 dự án 63 Bảng 4.11 Giá trị hỗ trợ thực hiện tại 2 dự án 64 Bảng 4.12 Ý kiến đánh giá của người có đất bị thu hồi về công tác hỗ trợ 2 dự

án nghiên cứu 66 Bảng 4.13 Tình hình sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của người bị thu hối đất tại

02 dự án nghiên cứu 73 Bảng 4.14 Sự thay đổi về thu nhập, chuyển đổi nghề nghiệp của người bị thu hồi

đất tại 02 dự án nghiên cứu 75

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Sơ đồ hành chính huyện Đô Lương-tỉnh Nghệ An 36

Hình 4.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2013-2017 huyện Đô Lương 41

Hình 4.3 Cơ cấu diện tích các loại đất năm 2017 của huyện Đô Lương 52

Hình 4.4 Dự án nhà máy xi măng sông Lam 55

Hình 4.5 Dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá vôi về nhà máy nhà máy xi măng Sông Lam tại xã Bài Sơn 55

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Hồ Minh Thắng

Tên Luận văn: Đánh giá việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

của dự án nhà máy xi măng sông Lam, dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá

vôi về nhà máy xi măng trên địa bàn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Đô Lương

Nội dung nghiên cứu

 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

 Tình hình quản lý, sử dụng đất huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

 Đánh giá việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của dự án

2 dự án nghiên cứu

 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Đô Lương

Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Phương pháp thống kê và xử lý số liệu thống kê

Phương pháp đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án nghiên cứu

Kết quả chính và kết luận

1) Huyện Đô Lương nằm phía Tây của tỉnh Nghệ An Huyện có 33 xã/thị trấn Diện tích tự nhiên của huyện là 35.557,92 ha, dân số 100.387 người Huyện có có tiềm năng đất đai cho phát triển nền kinh tế đa dạng nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ 2) Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển

Trang 11

kinh tế, xây dựng công nghiệp và dịch vụ phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

đã thực hiện tương đối tốt Công tác bồi thường, hỗ trợ luôn được chính quyền huyện quan tâm, chỉ đạo sát sao và đã đạt được những kết quả quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3) Kết quả nghiên cứu về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại khi Nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án trên địa bàn huyện Đô Lương cho thấy:

Về xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường: Dưới sự chỉ đạo của tỉnh,

UBND huyện Đô Lương phối hợp cùng các cấp các ngành đã triển khai, tính toán một

cách cẩn thận, chính xác đảm bảo đúng đối tượng được bồi thường, hỗ trợ

Việc thực hiện và áp dụng giá bồi thường: Tổng giá trị bồi thường về đất hai dự

án là 5.550 triệu đồng Giá trị bồi thường về tài sản trên đất là 7.052 triệu đồng Giá trị

hỗ trợ hai dự án là 4.865 triệu đồng Giá bồi thường đối với đất ở nhìn chung đã tương đối sát với giá thị trường tại thời điểm bồi thường Mức giá này được sự đồng tình của người bị thu hồi đất Một số hộ cho rằng giá bồi thường về đất nông nghiệp thấp hơn giá thị trường Tuy nhiên, nhiều hộ chưa hài lòng về giá bồi thường với các tài sản trên đất Các chính sách hỗ trợ và tái định cư: Việc áp dụng các chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất đã được quan tâm hơn trước như chính sách hỗ trợ ổn định đời sống của người dân khi thu hồi đất nông nghiệp, các chính sách hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ hộ nghèo khi thu hồi đất ở Chất lượng cuộc sống, tạo cơ hội công ăn việc làm cho các hộ dân có đất

bị thu hồi đất tăng lên Chủ đầu tư thực hiện dự án ưu tiên để tuyển dụng vào làm việc

trong Nhà máy xi măng Sông Lam theo nhu cầu và mục đích tuyển dụng

4) Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải phóng mặt bằng cần thực hiện các giải pháp: ổn định đời sống người bị thu hồi đất; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng phương án bồi thường

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master candidate: Ho Minh Thang

Thesis title: Assessment of compensation, support and resettlement when the State

recovers land for implementing the project of the Song Lam Cement factory and the project of transporting raw materials from the limestone mine to the Song Lam Cement factory in Doluong district, Nghean province

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives

- Assess the compensation, support and resettlement when the State recovers land for implementing the project of the Song Lam Cement factory and the project of transporting raw materials from the limestone mine to the Song Lam Cement factory in Doluong district, Nghean province

- Propose some solutions to solve the shortcomings and difficulties in the process of compensation, support and resettlement when the State recovers land for implementing the development projects in Doluong district

Research contents

- Natural and socio-economic conditions Doluong District, Nghean province

- The land management and land use in Doluong District, Nghean province

- Assess the compensation, support and resettlement when the State recovers land

in the two research projects

- Propose some solutions to implement the compensation, support and resettlement when the State recovers land in Doluong district

Methods

Method of collecting secondary data;

Method of collecting primary data;

Statistical methods and processing of statistical data;

Methods of assessing compensation, support and resettlement of selected projects

Main findings and conclusions

1) Do Luong district is located in the West of Nghean province The district has

33 communes/towns The natural area of the district is 35,557.92 hectares and the

Trang 13

population is 100,387 The district has potential land for the development of diverse economies with agriculture, industry and service

2) Land allocation, land lease, conversion of land use purpose for economic development, industrial construction and services in accordance with the land use planning and land use plan has been relatively good The compensation and support work has always been closely supervised by the district authorities and has gained important results in the process of industrialization and modernization

3) Results of research on compensation, support and resettlement when the State recovers land in 02 projects in Doluong district showed that:

Determination of subjects and conditions for compensation: Under the direction

of the province, People's Committee of Doluong district in cooperation with the various levels have implemented, carefully calculated, accurate to ensure the right objects were compensated and supported

Implementation and application of compensation price: Total compensation value of land for two projects was 5,550 million The value of compensation on property on land was 7,052 million The value of the two projects was VND 4,865 million The compensation price for residential land is generally close to the market price at the time of compensation This price was the consent of the person whose land

is recovered Some households said that the compensation price for agricultural land was lower than the market price However, many households were not satisfied with the price of compensation with the assets on the land

Supporting and resettlement policies: The application of policies to support acquisition land users has been paid much attention, such as the policy of stabilizing people's livelihoods when recovering agricultural land, policies support for relocation and support for poor households when recovering residential land Quality of life, creating employment opportunities for households with land recovered Investors implement priority projects to recruit workers to work in Song Lam Cement factory according to their needs and recruitment purposes

4) In order to speed up the progress of land clearance, the following measures should be taken: stabilizing the lives of people subject to land recovery; Promote the propaganda and dissemination of laws; Enhancing people's participation in developing compensation plans

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân

bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013b) Đất đai là tài sản do Nhà nước thống nhất quản lý Đất đai được coi là một loại bất động sản, là một hàng hoá đặc biệt, vì những tính chất của nó như cố định về vị trí, giới hạn về không gian,

vô hạn về thời gian sử dụng Trong quá trình sử dụng nếu sử dụng đất đai một cách hợp lý thì giá trị của đất không mất đi mà còn tăng lên

Việt Nam đang trong quá trình thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước,

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều tất yếu Phát triển đồng bộ với quá trình này là sự xuất hiện nhiều đô thị mới, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu du lịch,

cơ sở hạ tầng cũng cần mở rộng để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Trong khi quỹ đất hiện có dành cho các hạng mục trên không thể đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển, vì vậy việc thu hồi đất (THĐ) đang sử dụng vào các mục đích như đất nông nghiệp, đất ở, đất chưa sử dụng… để chuyển sang mục đích sử dụng đất chuyên dùng là điều không thể tránh khỏi Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, tại Việt Nam, việc bồi thường về đất đai, tái định cư (TĐC) khi giải phóng mặt bằng (GPMB) thường nảy sinh một số một vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội

Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp, giá đất ngày càng cao, tốc độ phát triển ngày càng lớn thì nhu cầu GPMB càng trở nên cấp thiết và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế, chính trị - xã hội trên phạm vi cả nước Vấn đề bồi thường về đất, tái định cư khi GPMB trở thành điều kiện tiên quyết để thực hiện dự án phát triển, nếu không được xử lý tốt thì sẽ trở thành vật cản của sự phát triển kinh tế - xã hội, bởi vậy đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức và giải quyết triệt để

Đô Lương là huyện thuộc khu vực đồng bằng, nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ An, có đặc điểm địa hình dạng bán sơn địa Với tổng diện tích tự nhiên trong địa giới hành chính là 35.557,92 ha, có 33 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, trong đó Thị trấn Đô Lương là trung tâm huyện Vị trí của huyện thuận lợi

cả về đường thuỷ (sông Lam) là giao điểm của các đường giao thông chính như:

Trang 15

Quốc lộ số 7A, Quốc lộ 46 và Quốc lộ 15A nên có điều kiện để giao lưu và mở rộng quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội với các địa phương trong và ngoài tỉnh Nghệ An, giữa nước ta và nước bạn Lào Trong những năm gần đây tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đô Lương khá cao nhất là trong giai đoạn từ năm

2010 - 2017, đặc biệt là khu vực thị trấn Đô Lương và các xã vùng ven thị trấn

Từ năm 2003 đến nay, diện tích đất nông nghiệp bị chuyển sang phi nông nghiệp

là hơn 500 ha để xây dựng các khu đô thị mới, kiến thiết cơ sở hạ tầng Việc chuyển đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đã góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Tuy nhiên nó cũng gây tác động không nhỏ đến những vấn đề xã hội và môi trường như: ảnh hưởng đến đời sống người dân có đất bị thu hồi; ảnh hưởng đến môi trường sống và tính bền vững trong quá trình phát triển

Vì những lý do nêu trên, để nhìn nhận đầy đủ về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ An, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Đánh giá việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của dự

án nhà máy xi măng sông Lam, dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá vôi về nhà máy xi măng trên địa bàn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Nhà máy xi măng sông Lam và dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá vôi về nhà máy xi măng trên địa bàn huyện đô lương tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các

dự án đầu tư trên địa bàn huyện Đô Lương

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất tại dự án nhà máy xi măng sông Lam và dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá vôi về nhà máy xi măng trên địa bàn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An

- Các văn bản, chính sách liên quan đến việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại dự án nhà máy xi măng sông Lam và dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá vôi về nhà máy xi măng trên địa bàn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An

Trang 16

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu công tác bồi thường, hỗ trợ tại 02 dự án: dự án Nhà máy xi măng sông Lam và dự án đường vận chuyển nguyên liệu từ mỏ đá vôi về nhà máy xi măng

- Đề tài được thực hiện tại xã Bài Sơn Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Số liệu sơ cấp điều tra hộ năm 2017 Số liệu thống kê được thu thập trong giai đoạn 2013-2017 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Ý nghĩa khoa học: góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất

Ý nghĩa thực tiễn: đề xuất các giải pháp cụ thể về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi thu hồi đất trên địa bàn huyện Đô Lương

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

Chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được thực hiện dựa trên các quan điểm cơ bản như sau:

i) Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa trên cơ sở

quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ

ii) Xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập

lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân Do đó, thì khi Nhà nước thu hồi đất của người dân để sử dụng vào bất kể mục đích gì mà làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường;

iii) Xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất

(SDĐ) là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra

Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ;

iv) Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận

hành theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân;

v) Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng dựa trên chế

độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người SDĐ Như vậy, “kể từ đây quyền sử đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất” hay nói cách khác, “Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện, còn quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của người sử dụng đất” Đặng Hùng Võ (2010) cho rằng: “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ, Quyền lợi và nghĩa vụ sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước” Như vậy, khi pháp luật

đã thừa nhận quyền SDĐ là một loại quyền về tài sản của người SDĐ, thì khi Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người SDĐ

Trang 18

2.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ

2.1.1.1 Bồi thường

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi thường: đền bù những tổn hại đã gây ra” Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hình vi của chủ thể khác mang lại

Theo Luật Đất đai 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” (khoản 6, Điều 4) Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)

Theo Luật đất đai 2013: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm quyết định thu hồi đất” (khoản 2, Điều 74) Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật (khoản 3, Điều 74) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)

2.1.2 Bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ

Mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng đất nước của Đảng và Nhà nước ta đó là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong nhiều chiến lược phát triển của đất nước có chiến lược phát triển nhà ở nhằm tạo điều kiện cho nhân dân có chỗ ở rộng rãi hơn, tiện nghi hơn qua mỗi

Trang 19

thời kỳ phát triển

Bài học của một số nước phát triển cho ta cách nhìn mới đó là bên cạnh những công sở nguy nga tráng lệ, những cao ốc trọc trời là những khu nhà “ổ chuột” của dân lao động, công bằng và dân chủ không thể chỉ thông qua việc hô hào mà thực tế lại không thực hiện

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chúng ta không thể chỉ có những đô thị đẹp, hiện đại, những khu chế xuất khổng lồ, những công trình công cộng khang trang mà kèm theo đó chỗ ở của người dân phải được nâng cấp tiện nghi và rộng rãi hơn… Chính vì vậy phải tính một cách toàn diện, không thể có một hiện tượng, một công trình mới ra đời lại kéo theo những người dân không có chỗ ở hoặc chỗ ở kém hơn nơi ở cũ

Nếu không nhìn rõ bản chất vấn đề, mỗi năm chúng ta có hàng ngàn dự án cần giải phóng mặt bằng, mỗi dự án chỉ kéo theo một gia đình không có chỗ ở thì

đã có hàng ngàn gia đình thiếu chỗ ở hoặc chỗ ở tạm bợ với công việc không ổn định Như vậy là sự phát triển sẽ thiên lệch, lợi ích của quốc gia, lợi công cộng không hài hoà với lợi ích cá nhân, gia đình Từ đó mục tiêu lớn của quốc gia sẽ không đạt được

Từ những nhận thức trên có thể giúp chúng ta hiểu được bản chất quan trọng của vấn đề, chính sách bồi thường, hỗ trợ nói chung và chính sách bồi thường, hỗ trợ nói riêng cơ bản phù hợp với nguyện vọng chính đáng của người dân, nhưng để chính sách đi vào cuộc sống cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nghành, các cấp có liên quan Đồng thời cần có sự chỉ đạo kịp thời, sự quan tâm đúng mức của những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong việc xảy ra những vướng mắc, khó khăn nhằm có những giải pháp phù hợp cho từng khu vực, từng dự án và cả từng hộ dân trong công tác bồi thường, hỗ trợ

2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ

2.1.3.1 Yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai

a Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và

tổ chức thực hiện các văn bản đó

Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định

Trang 20

cao và phù hợp với tình hình thực tế

Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong hoạt động khai thác sử dụng đất của Nhà nước cũng như công tác bồi thường, hỗ trợ phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai Tuy nhiên, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, hỗ trợ đã gặp không ít khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ (Tôn Gia Nguyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006)

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2007 của BTN&MT cho thấy UBND các cấp đều có

ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vấn đề về đất đai Tại nhiều địa phương, đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng

như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải phóng mặt bằng

b Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc bồi thường, giải phóng mặt bằng thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò là người tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường,

hỗ trợ nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi

có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;

Trang 21

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường

Tuy nhiên chất lượng quy hoạch ở nước ta còn thấp, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp, đặc biệt là thiếu tính bền vững Phương án quy hoạch chưa dự báo sát tình hình, quy hoạch còn mang nặng tính chủ quan duy ý chí, áp đặt, nhiều trường hợp quy hoạch theo phong trào Đây chính là nguyên nhân chủ

yếu dẫn đến tình trạng quy hoạch “treo”, dự án “treo” (Bộ Tài nguyên và Môi

trường, 2007)

c Yếu tố giao đất, cho thuê đất

Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch là điều kiện bắt buộc, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; hạn mức đất được giao và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác bồi thường, hỗ trợ Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tính từ ngày 01/7/2004 đến ngày 28/2/2007 thì tổng diện tích đã giao, đã cho thuê là 1.081.011 ha, trong đó diện tích đất đã giao là 925.631 ha (giao đất có thu tiền sử dụng đất là 581.620 ha, giao đất không thu tiền là 344.011 ha.; diện tích đất đã cho thuê là 155.380 ha (trong đó diện tích đất cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê

là 1.386 ha (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007)

d Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính

Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính (HSĐC có vai trò quan trọng hàng đầu để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động sản”, là cơ

sở xác định tính pháp lý của đất đai Trước tháng 12 năm 2004, rất nhiều địa phương chưa lập đầy đủ HSĐC theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phường, thị

trấn chưa lập sổ địa chính để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007)

Từ năm 2004 đến nay, việc lập HSĐC phải được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhưng còn nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện, nếu có thực hiện cũng là chưa đầy

đủ, chưa đồng bộ ở cả 3 cấp Vì các tài liệu đo đạc bản đồ này có độ chính xác thấp nên đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai như không đủ cơ

Trang 22

sở giải quyết tranh chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Vì vậy, việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại HSĐC là rất cần thiết

e Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đăng ký đất đai là một thành phần cơ bản quan trọng nhất của hệ thống quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất (Tôn Gia Nguyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006) Chức năng của đăng ký đất đai là cung cấp những căn cứ chuẩn xác và an toàn cho việc thu hồi, chấp thuận và từ chối các quyền

về đất

Trong công tác bồi thường và hỗ trợ, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt công tác đăng ký biến động về

sử dụng đất; việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, hỗ trợ đã gặp rất nhiều khó khăn

f Yếu tố thanh tra chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai

Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng là một việc làm phức tạp, gắn nhiều đến quyền lợi về tài chính nên rất dễ có những hành vi vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính, chính quyền địa phương cấp trên Hồi đồng thẩm định phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, kịp thời phát hiện các sai phạm, vi phạm pháp luật để xử lý tạo niềm tin trong nhân dân

2.1.3.2 Yếu tố giá đất và định giá đất

Hiện nay, ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá cả đất đai dựa trên chuyển nhượng quyền sử dụng là tổng hòa giá trị hiện hành địa tô nhiều năm Một trong những điểm mới của Luật đất đai 2003 là các quy định về giá đất Nếu như trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác nhau thì Luật đất đai 2003 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan hệ đất đai khác nhau

Mặc dù các cấp chính quyền luôn khẳng định, áp giá bồi thường trong thu hồi đất phải tiệm cận với giá thị trường Nhưng trên thực tế, việc xây

Trang 23

dựng bảng giá đất sát với giá thị trường là điều rất khó Trong đó, nguyên tắc định giá đất chưa định lượng được thế nào là sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường Thông thường thì hệ thống giá do Nhà nước quy định thường ở trạng thái tĩnh và thấp trong khi đó giá thị trường thì ở trạng thái động và cao hơn giá của Nhà nước Khuyến cáo của Ngân hàng thế giới đáng phải xem xét, thực tế cho thấy bảng giá đất tại nhiều địa phương, nhất là tại các đô thị lớn hiện nay (trong đó có Hà Nội), vẫn thấp hơn nhiều so với giá thị trường, thậm chí chỉ bằng khoảng 20 - 60% Trong khi bảng giá đất chuẩn quốc tế phải đạt 70 - 75% giá thị trường Đây được xem là một trong những nguyên nhân khiến các dự án chậm trễ, bởi người có đất bị thu hồi chờ đợi để được giá cao hơn, gây khó khăn trong công tác bồi thường và hỗ trợ, đặc biệt là đối với các dự án lớn thu hồi đất trong nhiều năm

2.1.3.3 Thị trường Bất động sản

Ngày nay thị trường bất động sản đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các loại thị trường của nền kinh tế quốc dân, nó có những đóng góp vào ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế đất nước trong thời gian qua

và trong tương lai

Luật đất đai 1987 và pháp lệnh về nhà ở (1991) là cơ sở đầu tiên mở đường cho thị trường bất động sản hình thành và phát triển, (Tôn Gia Nguyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006) Luật đất đai 2003 là văn bản pháp quy tập trung nhất phản ánh chính sách đất đai hiện hành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn của

17 năm đổi mới, đã quy định chi tiết hơn về các điều kiện để hình thành thị trường bất động sản và các hoạt động về tài chính đất đai, thể hiện tập trung trong các mục “Tài chính về đất đai và giá đất”, “Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản”

Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư; đồng thời người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường sẽ có tác động tới giá đất tính bồi thường

Trang 24

2.1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế

2.1.4.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước

- Quy định về trưng mua nhà

trên đất thuộc sở hữu nhà

nước và bồi thường (2011),

Điều 19

• Có một số hình thức bồi thường và tái định

cư cho những hộ nông dân như sau:

• Chỉ bồi thường tiền

Úc - Luật quản lý đất đai

WA1997

• Bồi thường được trả bằng tiền mặt

• Bồi thường Công trình xây dựng:

Trung

Quốc

- Luật quản lý đất đai của TQ

(2004), Điều 47, Đoạn 4

- Quy định về trưng mua nhà

trên đất thuộc sở hữu nhà

nước và bồi thường (2011),

Điều 19

• MBT cho giá trị nhà ở bị trưng mua sẽ không thấp hơn giá thị trường

• Giá trị nhà ở bị trưng mua sẽ được thẩm định

và quyết định bởi các đơn vị định giá có đủ chuyên môn, theo những quy trình định giá nhất định

• MBT sẽ do chính quyền địa phương quyết định

Ấn

Độ

- Đạo luật thu hồi đất đai

- Chính sách quốc gia về tái

định cư và ổn định cuộc sống

sau tái định cư 2007

Giá thị trường

Úc

- Luật về thu hồi TS 1989

- Luật quản lý đất đai

WA1997, Điều 189 (2)

Giá thị trường

Trang 25

• Bồi thường Đất nông nghiệp:

- Quy định về trưng mua

nhà trên đất thuộc sở hữu

nhà nước và bồi thường

(2011), điều 19

• MBT từ 6 đến 10 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3 năm trước khi bị thu hồi

• Trợ cấp TĐC bằng 4 đến 6 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình

• Bồi thường cho các công trình và hoa màu

sẽ do chính quyền địa phương quyết định

• Luật giới hạn tổng MBT và hỗ trợ TĐC không vượt quá 30 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3 năm trước nếu như các quy định trong luật không đủ duy trì mức sống hiện tại của người nông dân

Úc - Luật quản lý đất đai

WA1997, Điều 189(2)

• Dựa trên giá thị trường

• Bồi thường đối với Người thuê đất:

Trung

Quốc

- Luật quản lý đất đai của

TQ (2004)

• Không bồi thường cho cá nhân thuê đất

• Không có điều khoản dành cho người thuê đất

• Hộ gia đình BAH có nghĩa là những người chủ

sở hữu, người đi thuê đất, người thuê hoặc chủ sở hữu tài sản khác bị thu hồi một cách bắt buộc

• Người thuê nhà riêng được bồi thường chi phí cho việc di chuyển và ổn đinh tại nơi ở mới, có thể được thu xếp thuê nhà ở xã hội

Úc

- Luật về thu hồi TS

1989; Luật quản lý đất

đai WA1997, Điều 189

• Chỉ có chủ sở hữu mới được bồi thường

Trang 26

• Những trường hợp không được đền bù:

Trung

Quốc

- Luật quản lý đất đai của

TQ (2004), Đ 46

- Quy định về trưng mua

nhà trên đất thuộc sở hữu

nhà nước và bồi thường

(2011), Điều 24

• Trước khi quyết định trưng mua nhà ở, chính quyền địa phương sẽ thành lập các bộ phận để điều tra, xác định các tòa nhà trong diện trưng mua nhưng chưa đăng ký

• Đối với những tòa nhà xây bất hợp pháp và không đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian xây dựng thì sẽ không được bồi thường

dự án, và những người mà nguồn thu nhập của

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012)

Ngoài ra, các Quốc gia này còn quy định cụ thể các khoản bồi thường cho hoạt động kinh doanh đảm bảo quyền lợi cho các chủ cơ sở kinh doanh, người lao động tại cơ sở và những bên liên quan khác Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện thu hồi, bồi thường, hỗ trợ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc còn đề cao công tác tham vấn người dân nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho mỗi người dân bị ảnh hưởng

2.1.4.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của các tổ chức ngân hàng quốc tế

Ngân hàng Thế giới là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế đầu tiên đưa ra chính sách về TĐC bắt buộc Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính sách TĐC được ban hành dưới dạng một Thông báo Hướng dẫn Hoạt động nội bộ (OMS 2.33) cho nhân viên Từ đó đến nay chính sách TĐC đã được sửa đổi và ban hành lại nhiều lần

Trang 27

Như chúng ta đã biết, khi Nhà nước thu hồi đất và TĐC thì những người BAH là những người mà do hậu quả của dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, cộng đồng, hệ thống

hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hoá và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái

Kinh nghiệm của WB cho thấy việc TĐC không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm hoạ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hoá khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dàng dẫn tới sự bần cùng hoá đời sống dân cư

Từ tháng 2/1994, ngân hàng phát triển châu Á (ADB đã bắt đầu áp dụng bản Hướng dẫn hoạt động của WB về TĐC và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này

đã có chính sách riêng của Ngân hàng về TĐC bắt buộc

Nhìn chung, phương châm của ADB cũng tương tự như của WB đều có xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, đồng thời

có chính sách thoả đáng, phù hợp đảm bảo cho người BAH không gặp phải bất lợi trong cuộc sống, khôi phục, cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống Để thực hiện được phương châm đó, thì chìa khoá dẫn tới sự thành công đó là phải chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển mà con người là trung tâm Kinh nghiệm về

lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, TĐC thành công là những chính sách phù hợp của Chính phủ: nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương và trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của nhân dân Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền là yếu tố đồng hành trong quá trình thức hiện các dự án

Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường TĐC hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện

Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường TĐC được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của

Trang 28

kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người BAH và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường TĐC phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ BAH Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà nhập được với cộng đồng mới

2.1.5 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư ở Việt Nam 2.1.5.1 Khái quát chung

Nhà nước THĐ là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền SDĐ của người được Nhà nước trao quyền SDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai Bồi thường là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị THĐ Những thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc THĐ gây ra cũng được xem xét bồi thường

Hỗ trợ khi Nhà nước THĐ là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi

để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển TĐC là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người bị Nhà nước THĐ ở mà họ không còn chỗ ở nào khác (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013b)

Theo Luật Đất đai 1993, Nhà nước THĐ trong trường hợp thật cần thiết

để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về hình thức, đây là một quy định khá tiến bộ Nhưng trên thực tế, Nhà nước quyết định THĐ đối với tất cả các dự án đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và coi đó là vì lợi ích quốc gia

Luật Đất đai 2003 đã thừa nhận sự thật này và đưa ra chính sách: Nhà nước quyết định THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, trong đó chỉ một số loại dự án phát triển kinh tế được áp dụng cơ chế Nhà nước THĐ (các dự án có phát triển hạ tầng dùng chung và các dự án sử dụng 100% nguồn vốn nước ngoài) Các dự án còn lại phải

sử dụng cơ chế thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người SDĐ thông qua chuyển nhượng, cho thuê và góp vốn bằng QSDĐ Cơ chế Nhà nước THĐ có tiến độ chuyển dịch đất đai nhanh và bảo đảm bình đẳng về giá trị bồi thường, hỗ trợ nhưng thường gây ra khiếu nại đông người Cơ chế thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người SDĐ tuy không phát sinh khiếu nại, khiếu kiện nhưng có một số ít người SDĐ không hợp tác hoặc đòi giá đất rất cao Vì vậy, các nhà đầu tư đều tìm cách điều chỉnh dự án để rơi vào trường hợp Nhà nước THĐ (Đặng Hùng Võ, 2010a)

Trang 29

Luật Đất đai 2013 đưa ra tiêu chí Nhà nước THĐ trong trường hợp thật cần thiết để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển KTXH vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Về hình thức rất tiến bộ nhưng triển khai thực tế lại có nhiều nội hàm không rõ nghĩa, mà cụ thể là thuật ngữ phát triển kinh tế vì lợi ích

quốc gia (Đặng Hùng Võ, 2010b) Luật Đất đai 2013 đi theo hướng THĐ theo

QHSDĐ, sau đó thực hiện đấu giá đất để lựa chọn nhà đầu tư, dự án đầu tư nhằm tránh rủi ro tham nhũng So với các văn bản pháp lý trước đây Luật Đất đai năm

2013 có nhiều điểm đổi mới nhằm bảo vệ quyền lợi của người có đất bị thu hồi; tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân; trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận trong THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC Cụ thể như sau:

Việc THĐ được chia thành 04 nhóm (1) THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; (2) THĐ để phát triển KTXH vì lợi ích quốc gia, công cộng; (3) THĐ do vi phạm pháp luật; đặc biệt đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng; (4) THĐ do chấm dứt việc SDĐ theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

UBND cấp tỉnh quyết định THĐ hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện thu hồi đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ

Luật đã quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo THĐ Đồng thời quy định người có đất bị thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan,

tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Khi quyết định THĐ có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất bị thu hồi phải chấp hành quyết định THĐ

Về trình tự, thủ tục thu hồi đất thực hiện như sau: xây dựng và thực hiện

kế hoạch THĐ, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; quy định việc quyết định THĐ, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC; tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng

Trang 30

Đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt Bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước THĐ: (i) Bồi thường đối với các trường hợp SDĐ thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời

gian thuê; (ii) trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang SDĐ mà không

phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có GCN hoặc có đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Việc xác định mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng SDĐ mà còn phải căn cứ thời hạn SDĐ còn lại của người SDĐ đối với đất đó, trừ trường hợp đất nông nghiệp có nguồn gốc do Nhà nước giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân Đồng thời quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, cho một

số trường hợp không được bồi thường về đất

Người SDĐ khi Nhà nước THĐ ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật Đồng thời quy định về

hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước THĐ nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường

Bổ sung quy định cụ thể về lập và thực hiện dự án TĐC theo hướng: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án TĐC trước khi THĐ Quy định khu TĐC tập trung phải xây dựng CSHT đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền và việc THĐ ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc CSHT của khu TĐC

Về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, TĐC được quy định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định THĐ, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Trường hợp

cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người

có đất bị thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm

Trang 31

nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả Trường hợp người có đất bị thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của kho bạc Nhà nước

Chính sách THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC xuất phát từ chính sách phân

bổ quỹ đất liên quan đến mục tiêu sử dụng đất phi nông nghiệp nhằm thực hiện CNH-HĐH đất nước

2.1.5.2 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam qua các tời kỳ

a Thời kỳ trước năm 1945

Chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt nam gắn liền với việc hình thành các triều đại phong kiến Ở mỗi kiểu Nhà nước các hình thức sở hữu đất đai luôn được các giai cấp thống trị chú trọng Bắt đầu từ thời vua Gia Long, Nhà nước thật sự thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất không chỉ thuộc sở hữu Nhà nước mà cả sở hữu tư nhân và sở hữu làng xã Tuy nhiên sở hữu Nhà nước bao giờ cũng lấn át sở hữu tư nhân và sở hữu làng xã Chính sách bồi thường cho người bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường cho ruộng đất canh tác, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại đất khác Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường được quy định chặt chẽ, tương ứng với những thiệt hại của người bị thu hồi đất (Đặng Thái Sơn, 2002)

b Thời kỳ sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1975

Sau cách mạng tháng 8/1945, với mục tiêu người cày có ruộng, ngày 04 tháng 12 năm 1953, Luật cải cách ruộng đất ra đời nhằm thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai bán nước ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến về chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, đồng thời tịch thu, trưng dụng, trưng mua ruộng

Khi trưng dụng ruộng đất, Nhà nước xác định, cách bồi thường tốt nhất là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người bị trưng dụng

để họ tiếp tục sản xuất Trường hợp không làm được như vậy, về đất sẽ được bồi thường bằng tiền từ 1đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng dụng Mức bồi thường căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi, đời sống của nhân dân cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định [Điều 6, Nghị định số 159 –

Trang 32

TTg ban hành ngày 14/04/1959] Có thể nói, Nghị định số 151/TTg ra đời phần nào đáp ứng nhu cầu trưng dụng ruộng đất trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định này chưa có quy định cụ thể về mức bồi thường mà chủ yếu dựa vào

sự thoả thuận giữa các bên

c Thời kỳ sau năm 1975 đến trước sự ra đời Luật đất đai năm 1993

Trên cơ sở hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân,

do Nhà nước thống nhất quản lý Vì vậy việc thực hiện đền bù về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện đền bù tài sản gắn liền với đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên.Ngày 01/07/1980 hội đồng chính phủ ra quyết định 201/CP về việc: “Không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất với bất kỳ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi nhuận không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định” Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng Ngày 31/5/1990, hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác, điều 1 của NĐ này quy định rõ mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng sử dụng vào mục đích khác phải đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng không phụ thuộc các khoản đền bù về đất Khung giá đền

bù thiệt hại do UBND tỉnh, thành phố, dặc khu trực thuộc trung ương quy định cụ thể Mức bồi thường đối với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn giá quy định của chính phủ

d Thời kỳ sau khi ban hành Luật đất đai 1993 đến năm 2003

Hiến pháp năm 1992 ra đời thay thế Hiến pháp năm 1980 đã quy định:

“Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” Và điều 18 quy định: “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”

Trên cơ sở hiến pháp năm 1992 kế thừa có chọn lọc Luật đất đai năm

1988, Luật đất đai năm 1993 ra đời Đây là văn kiện chính sách quan trọng đối với việc thu hồi đất và đền bù thiệt hại của Nhà nước, Luật đất đai quy định rõ hơn về quyền của người được giao đất gồm quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,

Trang 33

thừa kế, cho thuê, thế chấp Đồng thời chính phủ quy định khung giá cho từng loại đất, từng vùng và theo thời gian, quy định cụ thể trong Nghị định số 87/CP ngày 17 tháng 08 năm 1994 và sử đổi bổ sung Khoản 2, Điều 4 của Nghị định này tại Nghị định số 17/1998/NĐ - CP Sau khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/CP-NĐ ngày 17 tháng 08 năm 1994 để

cụ thể hoá chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, đây là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá Tuy nhiên, chính sách bồi thường trong Nghị định này vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa bù đắp một cách đầy đủ những thiệt hại gây ra từ việc thu hồi đất, chỉ bồi thường thiệt hại về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản

Đến năm 1998, Chính phủ ban hành nghị định số 22/1998 ngày 24 tháng 4 năm 1998 để thay thế Nghị định 90/CP và Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ

- CP, quy định rõ phạm vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối tượng phải bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi thường thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài

sản gắn liền với đất

Những quy định về bồi thường, hỗ trợ của Luật đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ giải phóng mặt bằng đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

đất đai đã được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001

e Thời kỳ sau khi ban hành Luật đất đai 2003 đến năm 2013

Luật đất đai số 13/2003/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2004 đã khắc phục được những thiếu sót trong công tác bồi thường Trong đó có những quy định cụ thể về việc tính bồi thường về đất Trong suốt thời gian này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản duới Luật như Nghị

Trang 34

định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật, trong đó có những quy định chi tiết về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để giải phóng măt bằng, cụ thể:

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai;

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Về cơ bản, chính sách bồi thường, hỗ trợ theo Luật đất đai 2003 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường, hỗ trợ hiện nay Tuy nhiên để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường, hỗ trợ ngày 25 tháng 5 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư 06/2007/TT-BTNMT hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Thông tư 145/2007/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-

CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Nghị định 84/2007/NĐ/CP tập trung vào việc làm rõ, bổ sung Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số

Trang 35

17/2006/NĐ-CP về một số những vấn đề cơ bản chính sách bồi thường, trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ Nguyên tác xuyên suốt của Nghị định 84/2007/NĐ-CP là đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất, thực hiện hài hòa 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà đầu tư và quyền của Nhà nước theo quy định của pháp luật

Ngày 13/8/2009 của Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định

69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường

và hỗ trợ Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/10/2009, gồm 3 chương, 41 điều quy định cụ thể về quy hoạch sử dụng đất; giá đất; bồi thường, hỗ trợ; trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất; phát triển quỹ đất, cấp GCNQSDĐ, sử dụng đất công trình ngầm và gia hạn sử dụng đất Nghị định đã góp phần giải quyết nhiều khó khăn, vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất đai Với nhiều thay đổi tích cực và thông thoáng về các quy trình thủ tục ở các khâu: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

f) Thời kỳ từ Luật đất đai 2013 – nay

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2014 gồm 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương, 66 điều so với Luật đất đai năm 2003 Luật Đất đai

2013 ra đời đã thể chế hoá đúng và đầy đủ những quan điểm, định hướng của Nghị quyết số 19/NQ-TƯ tại Hội nghị lần 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời khắc phục, giải quyết những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003

Trong suốt thời gian này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản duới Luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật, trong đó có những quy định chi tiết về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để giải phóng măt bằng, như: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP/NĐ-

CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

Ngày 06/01/2017 của Chính phủ tiếp tục Ban hành Nghị định số 01/2017/NĐ-CP quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định quy định

Trang 36

chi tiết thi hành Luật Đất đai Nghị định ra đời tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở pháp lý để giải quyết khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý đất đai, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

Về cơ bản, chính sách bồi thường, hỗ trợ theo Luật đất đai 2013 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường, hỗ trợ hiện nay

2.1.5.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ ở tỉnh Nghệ An

Để cụ thể hoá các điều luật về giá đất, nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành các văn bản hướng dẫn để phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương bao gồm:

- Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND ngày 08/09/2014 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

- Quyết định số 78/2014/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 của UBND tỉnh Nghệ An Quy định về việc ban hành quy định giao đất ở không qua đấu giá quyền sử dụng đất; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

- Quyết định số 80/2014/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 của UBND tỉnh Nghệ An Quy định về việc thu hồi đất; giao đất, cho thuê đất và đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với các tổ chức có nhu cầu sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

- Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 23/09/2014 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành bảng đơn giá bồi thường cây trồng, vật nuôi là thủy sản và di chuyển mồ mả trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

- Quyết định số 102/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành giá xây dựng mới của nhà, công trình làm cơ sở xác định giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất năm 2015 trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

- Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND ngày 13/10/2015 của UBND tỉnh Nghệ An về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

Trang 37

- Quyết định số 78/2015/QĐ-UBND ngày 29/12/2015 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành giá xây dựng mới của nhà, công trình làm cơ sở xác định giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất năm 2017 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Như vậy UBND tỉnh đã ban hành các văn bản quy định trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ theo tinh thần các văn bản của Chính phủ và các Bộ, ngành đáp ứng kịp thời trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác bồi thường, hỗ trợ nói riêng

2.2 TÁC ĐỘNG CỦA THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

Thực tế tại các địa phương cho thấy một phần đất đai vẫn chưa được sử dụng có hiệu quả là do chưa giải quyết được quan hệ lợi ích giữa các bên liên quan và người có đất bị thu hồi Đặc biệt chưa thực sự quan tâm đến sinh kế người bị THĐ Vì vậy, khi bồi thường cho người dân khi bị THĐ cần quan tâm

đến những tác động của thu hồi đất

Một bộ phận dân cư bị THĐ đã được bảo đảm an sinh xã hội Một phần dân cư liền kề khu vực bị THĐ có thể được hưởng lợi từ sự phát triển do quá trình THĐ Mặt khác, họ được bù đắp bằng những khoản tài chính lớn, có điều kiện để cải thiện đời sống, ăn ở

THĐ sẽ góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ Từ đó cơ cấu lao động, việc làm cũng thay đổi theo xu hướng tăng lao động, việc làm trong công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm lao động, việc làm trong nông nghiệp; tăng

Trang 38

lao động, việc làm có trình độ chuyên môn cao, lao động phức tạp và giảm lao động, việc làm có trình độ chuyên môn thấp, lao động giản đơn và lao động phổ thông; tăng lao động, việc làm có năng suất, thu nhập cao và giảm lao động, việc làm có năng suất, thu nhập thấp Sự thay đổi này xuất phát từ sự gia tăng, hội tụ các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở đô thị; sự mở rộng không gian đô thị, nâng cấp CSHT kỹ thuật và hạ tầng xã hội Mặt khác, THĐ sẽ thúc đẩy khả năng

tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm đối với người lao động

2.2.2 Tác động tiêu cực

Sự lãng phí tài nguyên đất do các dự án treo: việc quy hoạch và phát triển

các khu đô thị, khu, cụm công nghiệp ở một số địa phương còn dàn trải, thiếu sự thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; thiếu sự đồng bộ và thống nhất với quy hoạch khác, không phù hợp với điều kiện hạ tầng KTXH, khả năng và nhu cầu phát triển thực tế Vì vậy nhiều khu đã tiến hành THĐ, san lấp mặt bằng nhiều năm nhưng tiến độ thực hiện còn chậm, khả năng thu hút đầu tư kém, tỷ lệ lấp đầy thấp, đất đai bị bỏ hoang hoá, lãng phí (Lưu Đức Khải, 2010)

Hiệu quả sử dụng đất chưa cao: việc bố trí đất đai cho các khu, cụm công

nghiệp nhiều nơi còn chưa hợp lý và tiết kiệm Một số tỉnh có điều kiện thành lập

và xây dựng các khu, cụm công nghiệp ở những khu vực đồi núi, đất nông nghiệp kém hiệu quả nhưng vẫn tiến hành quy hoạch và xin phép thành lập trên những vùng đất thuận tiện về vị trí, hạ tầng, địa hình bằng phẳng để hạn chế đầu tư hạ tầng Nhiều khu, cụm công nghiệp được xây dựng bám theo các trục giao thông lớn và nằm sát các khu dân cư, gây nên tình trạng ách tắc giao thông

Gây tác động đến môi trường: sự phát triển nhanh các đô thị, khu, cụm

công nghiệp đã tạo sức ép lớn đối với môi trường Nhiều khu, cụm công nghiệp

xả thẳng nước thải từ các nguồn tiếp nhận không qua xử lý đã gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và tác động xấu lên hệ sinh thái (Lưu Đức Khải, 2010; Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng Xuân Nghĩa, 2009)

Trong giai đoạn đầu, giảm việc làm và thu nhập người bị thu hồi đất: ở

một số địa phương, do đất nông nghiệp bị thu hồi quá lớn, nên số lao động nông nghiệp mất tư liệu sản xuất, mất việc làm ngày càng nhiều Họ có mức thu nhập thấp hơn so với trước THĐ, họ phải tự tìm việc làm giản đơn, không ổn định Một

số lao động thuộc diện THĐ sản xuất sẽ trở thành những người thiếu việc làm hoặc

Trang 39

thất nghiệp (Lưu Đức Khải, 2010; Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng Xuân Nghĩa, 2009)

Tăng sức ép tìm kiếm việc làm và tạo áp lực giải quyết an sinh xã hội: do

chênh lệch về phát triển KTXH, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, tỷ lệ lao động mất việc làm ở nông thôn tăng cao nên hình thành nên quá trình di cư từ nông thôn

ra đô thị Điều này làm tăng sức ép về vấn đề nhà ở, CSHT, y tế, giáo dục, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường và sức ép tìm kiếm việc làm lên các đô thị Đồng thời làm tăng áp lực đối với chính quyền địa phương trong quản lý xã hội, đảm bảo an ninh trật tự và an sinh xã hội (Võ Văn Đức và Đinh Ngọc Giang, 2011)

Tâm lý của nông dân bị thay đổi: các hoạt động THĐ đang vô tình làm

cho nông dân trở nên mất phương hướng, họ phải xoay sở kiếm sống bằng mọi cách tại các đô thị Mặt khác, nhiều hộ gia đình sau khi bị THĐ vẫn còn tâm lý thụ động, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ, tiền bồi thường, mà chưa cố gắng vươn lên tìm việc mới Một số hộ dùng tiền bồi thường để xây dựng nhà cửa, mua sắm đồ dùng, tiêu xài lãng phí, và các tệ nạn xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng Nhìn một cách tổng thể, bên ngoài đời sống của họ có vẻ được cải thiện, nhưng bên trong tiềm ẩn một nguy cơ bất ổn rất lớn do nghề nghiệp và thu nhập không ổn định (Lưu Đức Khải, 2010)

2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

2.3.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư

Mặc dù các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng rõ ràng, cụ thể về nguyên tắc, điều kiện, đơn giá thực hiện bồi thường, hỗ trợ về đất đai và tài sản khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, về lý thuyết kinh tế đất đai, việc bồi thường một giá trị lớn hơn giá trị mà họ nhận được từ đất có thể được coi là đã phù hợp, nhưng đất đai có những đặc trưng riêng, ngày càng khan hiếm, điều này tương ứng với giá đất luôn luôn có xu hướng tăng ngay cả khi nó không được sử dụng, vì vậy người sử dụng đất luôn có xu hướng yêu cầu giá bồi thường về đất cao hơn nhiều lần so với thực tế (Đặng Thái Sơn, 2002) Chính điều này đã làm nảy sinh nhiều vướng mắc trong việc thực hiện các thủ tục khi thu hồi đất và thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng

Trang 40

Đề tài Đánh giá những mặt tích cực tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách điều tra, nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và TĐC của Đặng Thái Sơn (2002) đã xác định nguyên nhân cơ bản và những luận cứ phù hợp trong việc xây dựng chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và TĐC phù hợp với chiến lược phát triển KTXH trong thời kỳ CNH-HĐH

Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc và hình thành các phương án di dân giải phóng lòng hồ

- TĐC thủy điện Sơn La của Nguyễn Dũng Tiến (2003) đã phát hiện ra điều kiện SDĐ của người dân khó khăn hơn, hạn mức SDĐ thấp hơn; chưa áp dụng các chính sách ưu tiên cho SDĐ ở vùng TĐC; chưa có giải pháp kết hợp chặt chẽ giữa chính sách đất đai với các chính sách hỗ trợ KTXH khác

Trong nghiên cứu, đánh giá hiệu quả việc Nhà nước thực hiện THĐ trước trong quy hoạch và chính sách đền bù giải phóng mặt bằng khi đất các khu vực có gia tăng giá trị của Đỗ Thị Thanh Vân (2003) đã đưa những biện pháp tạo lập, quản lý quỹ đất và quản lý dự án

Nghiên cứu về thị trường đất khu công nghiệp, thương mại tác động đến vấn đề nghèo đói ở Việt Nam do Ngân hàng Châu Á (2005) đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của quy trình THĐ phục vụ cho các mục đích thương mại, công nghiệp từ đó đưa ra đề xuất nhằm tạo lập một thị trường đất khu công nghiệp, thương mại minh bạch, hiệu quả và góp phần xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Đề tài Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC và

đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ THĐ đối với các dự án xây dựng CSHT, chỉnh trang đô thị của Đặng Thái Sơn (2007) đã đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh tiến độ THĐ là: đa dạng hóa các phương thức bồi thường; tạo lập quỹ nhà, đất TĐC; xây dựng khung giá đất phù hợp với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế; đẩy mạnh việc phân cấp gắn với trách nhiệm khi Nhà nước THĐ

Đề tài nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của tác giả Đào Trung Chính (2014) đã đánh giá được thực trạng công tác THĐ, bồi thường, hỗ trợ, TĐC tại Việt Nam từ đó đề xuất đổi mới, hoàn thiện quy định pháp luật về THĐ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trường Đại học kinh tế quốc dân phối hợp với một số Bộ, ngành có liên quan thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của

Ngày đăng: 02/04/2021, 23:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Hội Khoa học đất Việt Nam - Dự án ENABLE (2009). Hội thảo “Chính sách pháp luật đất đai liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn” ngày 05/5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách pháp luật đất đai liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Hội Khoa học đất Việt Nam - Dự án ENABLE
Năm: 2009
21. Phạm Việt Dũng (2013). Một số tác động của chính sách đất đai đến phát triển nông nghiệp ở Việt Nam. Truy cập ngày 20/11/2017 tại:http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2013/24876/Mot-so-tac-dong-cua-chinh-sach-dat-dai-den-phat-trien.aspx Link
1. Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Báo cáo kết quả tổng hợp về tăng cường quản lý sử dụng đất của quy hoạch và dự án đầu tư trên phạm vi cả nước Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005). Đề án tìm hiểu thực trạng tìm hiểu đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007). Hội nghị kiểm điểm công các quản lý Nhà nước về Tài nguyên và Môi trường ngày 27/02/2007, Hà Nội Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012a). Báo cáo tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai Khác
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012b). Kinh nghiệm của nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính (2010). Thông tư liên tịch số 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08 tháng 01 năm 2010 của hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành bảng giá đất và điều chỉnh bảng giá đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Khác
7. Chính phủ (1980). Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Khác
8. Đào Trung Chính (2014). Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Luận án tiến sĩ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khác
9. Đặng Hùng Võ (2010b). Nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường giải phóng mặt bằng tại Việt Nam. Hà Nội. Trích trong cuốn Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam. Ngân hàng thế giới tại Việt Nam Khác
10. Đặng Thái Sơn (2002). Đề tài nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư. Viện Nghiên cứu Địa chính - Tổng cục Địa chính Khác
11. Đặng Thái Sơn (2007). Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư và đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Khác
12. Đỗ Thị Thanh Vân (2003). Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả việc Nhà nước thu hồi đất trước trong quy hoạch và chính sách đền bù giải phóng mặt bằng khi đất các khu vực dự án có gia tăng giá trị phục vụ cho việc xây dựng Luật Đất đai mới. Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2003. Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ Khác
14. Lê Du Phong (2007). Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia. NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Khác
15. Lưu Đức Khải (2010). Ảnh hưởng xã hội của việc thực hiện Luật đất đai 2003 đối với hộ gia đình nông thôn. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
16. Ngân hàng Phát triển Châu Á (1998). Cẩm nang về tái định cư (Hướng dẫn thực hành) Khác
17. Ngân hàng thế giới (2010). Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam Khác
18. Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng Xuân Nghĩa (2009). Hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, vấn đề và giải pháp. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Dũng Tiến (2003). Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc và hình thành các phương án di dân giải phóng lòng hồ- tái định cư thuỷ điện Sơn La. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm