1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giám sát sau tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn tại các hộ chăn nuôi áp dụng quy trình gahp ở tỉnh thái bình

75 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 3,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một thực tế gặp phải khi thực hiện dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm LIFSAP là mặc dù đàn lợn đã được tiêm phòng vắc-xin dịch tả lợn nhưng vẫn lẻ tẻ ốm, chết với triệ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHAN THỊ LAN HƯƠNG

GIÁM SÁT SAU TIÊM PHÒNG VẮC-XIN DỊCH TẢ LỢN TẠI CÁC HỘ CHĂN NUÔI ÁP DỤNG QUY

TRÌNH GAHP Ở TỈNH THÁI BÌNH

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Huỳnh Thị Mỹ Lệ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà nội, ngày 26 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Phan Thị Lan Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Huỳnh Thị Mỹ Lệ đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban quản lý đào tạo,

Bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm, khoa Thú Y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tới tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Bình, Ban quản lý Trung ương Dự án LIFSAP đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Phan Thị Lan Hương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC ẢNH viii

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 KHÁI NIỆM BỆNH DỊCH TẢ LỢN 4

2.2 LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH BỆNH DỊCH TẢ LỢN 4

2.3 VIRUS GÂY BỆNH DỊCH TẢ LỢN 5

2.3.1 Hình thái và cấu trúc của virus Dịch tả lợn 5

2.3.2 Đặc tính nuôi cấy của virus 6

2.3.3 Độc lực và kháng nguyên của virus 6

2.3.4 Sức đề kháng 8

2.4 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ 8

2.4.1 Loài mắc bệnh 8

2.4.2 Chất chứa mầm bệnh 8

2.4.3 Đường xâm nhập của virus 9

2.4.4 Cách sinh bệnh 9

2.5 TRIỆU CHỨNG – BỆNH TÍCH 10

2.5.1 Triệu chứng 10

2.5.2 Bệnh tích 12

2.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH 14

2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 14

2.6.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm 16

Trang 5

2.6.3 Phát hiện kháng thể 18

2.7 PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH DỊCH TẢ LỢN 18

2.7.1 Vệ sinh phòng bệnh 18

2.7.2 Phòng bệnh bằng vắc-xin 19

2.7.3 Các biện pháp chống dịch 20

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 25

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25

3.3 ĐỐI TƯỢNG/VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 25

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 25

3.5.2 Phương pháp tính toán số liệu 26

3.5.3 Phương pháp xét nghiệm: 26

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CHĂN NUÔI CỦA TỈNH THÁI BÌNH 30

4.1.1 Kết quả điều tra phát triển chăn nuôi tại Thái Bình 31

4.1.2 Kết quả điều tra chăn nuôi tại các huyện vùng GAHP 32

4.2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA BỆNH DỊCH TẢ LỢN TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 36

4.2.1 Kết quả điều tra tiêm phòng vắc-xin bệnh Dịch tả lợn 36

4.2.2 Kết quả điều tra dịch bệnh Dịch tả lợn trên địa bàn nghiên cứu trong những năm gần đây 39

4.3 KẾT QUẢ KIỂM TRA HÀM LƯỢNG KHÁNG THỂ DỊCH TẢ LỢN TRONG HUYẾT THANH Ở ĐÀN LỢN TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU NĂM 2017 40

4.3.1 Kết quả giám sát sau tiêm phòng vắc-xin DTL năm 2017 40

4.3.2 Kết quả kiểm tra hàm lượng kháng thể trong mẫu huyết thanh năm 2018 43

4.3.3 So sánh kết quả giám sát của năm 2016, 2017 và 2018 46

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 KẾT LUẬN 48

5.2 KIẾN NGHỊ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 52

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt

BVD Border disease virus

BVDV Bovine viral diarrhea

CSFV Classsical swine fever virus

GAHP Good animal Husbandry Practic

LIFSAP Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm NPLA Neutralising Peroxidase Link Assay

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

OIE World Organisation for Animal Health

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4 1 Số hộ chăn nuôi và số hộ tham gia áp dụng quy trình GAHP 33

Bảng 4 2 Đàn lợn của các huyện GAHP trong những năm gần đây 34

Bảng 4 3 Kết quả chăn nuôi của các huyện GAHP đến hết tháng 6/2018 35

Bảng 4 4 Kết quả tiêm phòng vắc-xin DTL trong những năm gần đây 37

Bảng 4 5 Tình hình tiêm phòng vắc xin DTL 06 tháng đầu năm 2018 38

Bảng 4 6 Kết quả điều tra về dịch bệnh Dịch tả lợn trên địa bàn nghiên cứu 39

Bảng 4 7 Kết quả giám sát sau tiêm phòng DTL năm 2017 41

Bảng 4 8 Kết quả giám sát huyết thanh sau tiêm phòng vắc-xin DTL năm 2016 43

Bảng 4.9 Kết quả giám sát sau tiêm phòng DTL năm 2018 44

Bảng 4.10 Kết quả giám sát sau tiêm phòng vắc-xin DTL năm 2016, 2017 và 2018 46

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 4 1 Tỷ lệ hộ chăn nuôi trong vùng GAHP so với toàn tỉnh 33

Hình 4 2 So sánh tổng đàn lợn của 05 vùng GAHP với toàn tỉnh 35

Hình 4 3 Tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin bệnh DTL của 05 huyện GAHP 38

Hình 4 4 So sánh tỷ lệ mẫu có KT và KTBH của 05 huyện năm 2017 42

Hình 4 5 So sánh tỷ lệ mẫu có KT và KTBH của 05 huyện năm 2018 45

Hình 4 6 So sánh kết quả giám sát của năm 2016, 2017 và 2018 47

Trang 9

DANH MỤC ẢNH

Ảnh 1 Vắc-xin DTL dùng để tiêm phòng 60

Ảnh 2 Cố định và lấy máu đối lợn có trọng lượng nhỏ 60

Ảnh 3 Cố định và lấy máu đối lợn có trọng lượng lớn 61

Ảnh 4 Mẫu máu sau khi để lắng 61

Ảnh 5 Chắt huyết thanh 61

Ảnh 6 Đĩa làm mẫu 62

Ảnh 7 Tủ ấm 62

Ảnh 8 Kính hiển vi đọc kết quả 62

Ảnh 9 Kết quả mẫu dương tính 62

Ảnh 10 Kết quả mẫu âm tính 62

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Phan Thị Lan Hương

Tên luận văn: “Giám sát sau tiêm phòng vắc-xin Dịch tả lợn tại các hộ chăn nuôi áp

dụng quy trình GAHP ở tỉnh Thái Bình”

Ngành: Thú y Mã số: 8640101

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu:

- Điều tra tình hình dịch tễ bệnh Dịch tả lợn ở đàn lợn trên địa bàn 05 huyện GAHP: Kiến Xương, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Vũ Thư và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình

- Giám sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn sau khi tiêm phòng vắc-xin dịch tả

Phương pháp nghiên cứu:

1 Phương pháp thu thập số liệu

- Sử dụng số liệu lưu trữ thứ cấp ở Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Bình, và BQL dự án LIFSAP tỉnh Thái Bình từ năm 2015 – 2017 và 6 tháng đầu năm 2018

- Kết quả chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn của Trung tâm chẩn đoán thú y trung ương gửi Ban Quản lý dự án LIFSAP tỉnh Thái Bình

2 Phương pháp xử lý số liệu

- Các số liệu điều tra, thu thập được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010

- Sử dụng phần Minitab 14

3 Phương pháp xét nghiệm Cách thu thập mẫu

- Lấy máu từ tĩnh mạch tai, vịnh tĩnh mạch cổ lợn

- Lượng máu cần cho mỗi mẫu là 5 ml

- Sau khi lấy máu, để nghiêng ống nghiệm một góc 45 0 ở nhiệt độ phòng trong

2 h , chắt huyết thanh sang ống nghiệm khác đã vô trùng; huyết thanh chưa sử dụng ngay thì bảo quản ở 1 - 4 0 C

Xử lý Định lượng kháng thể dịch tả lợn bằng phương pháp NPLA - phản ứng trung hòa kháng thể dịch tả lợn trên môi trường tế bào để đánh giá tỷ lệ bảo hộ của vắc-xin dịch tả lợn sau tiêm phòng (theo TCVN-5273:2010)

Trang 11

Kết quả chính và kết luận:

Từ kết quả điều tra tình hình chăn nuôi lợn tại các hộ GAHP và kết quả kiểm tra hàm lượng kháng thể trong các mẫu huyết thanh của đàn lợn đã được tiêm phòng của tỉnh Thái Bình chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

1 Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi lợn của các hộ GAHP trong những năm gần đây:

- Tổng số hộ chăn nuôi của 05 huyện GAHP là 269.893 hộ, chiếm tỷ lệ 59,5% trên tổng số hộ chăn nuôi toàn tỉnh Tổng số hộ chăn nuôi áp dụng quy trình GAHP theo

dự án LIFSAP trong 05 huyện GAHP là 2.246 hộ tương ứng là 0,83% tổng số hộ chăn nuôi trong huyện GAHP

- Tổng đàn lợn của 05 huyện GAHP qua các năm 2015, 2016, 2017 so với tổng đàn lợn của tỉnh lần lượt là: 62,8%, 63,9%, 57,6%

- Trong 6 tháng đầu năm 2018 số lợn nuôi của các huyện GAHP đạt 538.836 con trong đó có 81.761 con thuộc các hộ GAHP tương ứng với 15,17% Tổng số lợn 06 tháng đầu năm 2018 trong vùng GAHP bằng 95,3% so với năm 2017

- Tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin DTL trung bình của 05 huyện GAHP qua các năm

2015, 2016 và 2017 lần lượt là 90,9%, 90,67% và 88,48%

- Tình hình dịch bệnh Dịch tả lợn trong 05 huyện GAHP: có duy nhất 01 huyện vẫn xuất hiện lợn ghi mắc bệnh Dịch tả lợn là huyện Quỳnh Phụ với số lượng lợn mắc như sau: năm 2015 có 138 con, năm 2016 có 116 con và năm 2017 có 102 lợn ghi mắc bệnh Dịch tả lợn

2 Kết quả về khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn với vắc-xin DTL

- Kết quả năm 2017 : trung bình tỷ lệ mẫu có kháng thể là 92% và tỷ lệ mẫu có kháng thể bảo hộ là 78%

- Kết quả năm 2018 : trung bình tỷ lệ mẫu có kháng thể là 67,5% và tỷ lệ mẫu có kháng thể bảo hộ là 65%

- So sánh kết quả giám sát trong những năm gần đây:

Tỷ lệ mẫu kiểm tra có kháng thể cao nhất là năm 2017 với tỷ lệ là 92%, tiếp đến là năm 2016 với tỷ lệ là 90,5% và thấp nhất là năm 2018 với tỷ lệ là 67,5%

Tỷ lệ mẫu có kháng thể bảo hộ lại cao nhất là năm 2016 với tỷ lệ là 83%, tiếp đến

là kết quả của năm 2017 và 2018 với tỷ lệ lần lượt là 78% và 65%

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Phan Thi Lan Huong

Thesis title: “Mornitorning after vaccinating with swine fever virus vaccines in

livestock household GAHP of Thai Binh province”

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

- Identifying some epidemiological situation of Hog Cholera on some herds in five GAHP districts of Thai Binh province as: Kien Xuong, Đong Hung, Quynh Phu,

Vu Thu and Thai Thuy

- Monitorning ability of immune response on pigs after vaccinating with swine fever virus vaccines

Materials and Methods:

2 Method of data calculation

- The collected data is analysed by Microsoft Excel 2010 software

- Minitab 14 software

3 Method of testing Method of sample collection

- Taking sample from venous system of pig’s ears and neck

- 5 ml for each sample

- After taking the blood sample, tilting the test tube at 45 0 at room temperature for 2 hours, then purging the serum to another sterile tube; unused serum should be stored at 1 - 4 0 C

Analysis:

Using NPLA test (NPLA - Neutralising Peroxidase – Linked Assay) to determine the antibody level in pig’s serum

Trang 13

Main findings and conclusions:

From the results of research on pig production in GAHP households and antibody testing in serum samples of vaccinated pigs in Thai Binh province, we draw some conclusions as follows:

1 The results of research on pig production in GAHP households in recent years:

- The total number of husbandry households in 05 GAHP districts is 269,893, accounting for 59.5% of total husbandry households in the province The total number

of households applying GAHP under LIFSAP project in 05 GAHP districts is 2,246 which is equivalent to 0.83% of total husbandry households in GAHP districts

- The total pig herds in 05 GAHP districts in 2015, 2016 and 2017 compared to one of the province is 62.8%, 63.9% and 57.6% respectively

- In the first 6 months of 2018, the number of pigs in production in GAHP districts reached 538,836, of which 81,761 belonged to GAHP households, equivalent to 15.17% The total number of pigs in the first 6 months of 2018 in GAHP areas was 95.3% compared to 2017

- The average CSF vaccination rate of 05 GAHP districts over the years 2015,

2016 and 2017 was 90.9%, 90.67% and 88.48% respectively

- The CSF status in 05 GAHP districts: Only one district which is Quynh Phu recorded CSF appearance with the number of infected pigs as follows: 138 in 2015, 116

in 2016 and 102 in 2017

2 Result of immune response of pigs to DTL vaccine:

- Result of 2017: average rate of samples contain antibody was 92% and samples contain protective antibody was 78%

- Result of 2018: average rate of samples contain antibody was 67.5% and samples contain protective antibody was 65%

- Comparison of monitoring results in recent years:

The highest rate of samples contain antibody is 2017 with 92%, followed by 2016 with 90.5% and 2018 with the lowest rate of 67.5%

The highest rate of samples contain protective antibody is 2016 with 83%, followed by 2017 and 2018 with 78% and 65% respectively

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Bệnh dịch tả lợn là bệnh truyền nhiễm gây ra bởi một loại virus cấu trúc ARN thuộc giống Pestivirus, họ Flaviridae Virus dịch tả lợn chỉ có một serotyp duy nhất Bệnh chỉ xảy ra ở loài lợn các mức độ khác nhau tùy thuộc vào độc lực của virus, tuổi động vật mẫn cảm và thời gian nhiễm bệnh, bệnh lây lan nhanh và

tỷ lệ chết cao Bệnh xảy ra quanh năm nhưng phát mạnh vào mùa xuân Bệnh thường lây trực tiếp từ con ốm sang con khỏe, lợn có chửa nhiễm virus dịch tả lợn sẽ truyền virus sang con qua nhau thai

Một thực tế gặp phải khi thực hiện dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) là mặc dù đàn lợn đã được tiêm phòng vắc-xin dịch tả lợn nhưng vẫn lẻ tẻ ốm, chết với triệu chứng bệnh tích của bệnh dịch tả lợn nhưng không điển hình Nguyên nhân của tình trạng này có thể do hiệu quả của tiêm phòng vắc-xin, do kỹ thuật tiêm phòng hoặc do bảo quản vắc-xin

Dự án LIFSAP với mục tiêu là nâng cao khả năng cạnh tranh của các hộ chăn nuôi thông qua nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi theo hướng từ trang trại đến bàn ăn

Dự án được thực hiện tại 12 tỉnh/thành phố là Cao Bằng, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Lâm Đồng, Đồng Nai, Long An và TP.HCM

Quy trình GAHP thực hiện trong dự án LIFSAP là quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn an toàn trong nông hộ (viết tắt là GAHP – Good animal Husbandry Practic) đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt tại Quyết định số 1947/QĐ-BNN-CN ngày 23/8/2011, các hộ chăn nuôi theo quy trình GAHP được xây dựng và hỗ trợ bởi dự án LIFSAP Để tiếp tục thực hiện trong Giai đoạn 2016-2018 và áp dụng trên toàn quốc, Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn, gà an toàn trong nông hộ, quy trình cấp chứng nhận VietGAHP nông hộ đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT ban hành tại quyết định

số 5472/QĐ-BNN-CN ngày 30/12/2015

Các hoạt động trong GAHP bao gồm: (i) tập huấn nông dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ kỹ thuật chăn nuôi thú y; (ii) cung cấp trang thiết bị và

Trang 15

hàng hoá để tăng cường dịch vụ chăn nuôi thú y tại chỗ ở cấp tỉnh và huyện, bao gồm kiểm soát và giám sát dịch bệnh; (iii) hỗ trợ quản lý chất thải và đầu

tư an toàn sinh học tại trang trại; (iv) hỗ trợ cho Phòng Nông nghiệp và Phòng Tài nguyên môi trường kiểm tra đánh giá sự ô nhiễm môi trường và kiểm tra chất lượng thực phẩm; và (v) thiết kế và thực hiện mô hình thí điểm hệ thống chăn nuôi lợn điển hình

Hoạt động phát triển GAHP được thực hiện nhằm: (i) nâng cao sức cạnh tranh cho chăn nuôi cấp nông hộ; (ii) an toàn vệ sinh thực phẩm trong chuỗi cung cấp thực phẩm từ hộ chăn nuôi đến Cơ sở giết mổ và chợ thực phẩm tươi sống; (iii) quản lý môi trường chất thải chăn nuôi Bên cạnh đó, hoạt động này cũng hỗ trợ phát triển, giám sát thực hiện công tác thú y, trong đó có phòng chống dịch bệnh vâ ̣t nuôi, nâng cao an toàn sinh học, công nghệ chăn nuôi, an toàn thực phẩm, xây dựng chính sách quản lý chất thải chăn nuôi, tiêu chuẩn kỹ thuật Đây là hoạt động mang tính chất xương sống của Dự án vì khâu sản xuất là mắt xích đầu tiên để cung cấp các sản phẩm thịt an toàn cũng như nâng cao thu nhập trực tiếp cho các hộ chăn nuôi nhỏ, giúp tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm chăn nuôi cũng như tăng cường công tác quản lý dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các hoạt động chăn nuôi

Trong 06 tỉnh miền Bắc tham gia dự án LIFSAP có Thái Bình là tỉnh phát triển chăn nuôi quy mô nông hộ lớn nhất (có số hộ GAHP, số huyện GAHP tham gia Dự án là nhiều nhất), các hộ chăn nuôi tương đối đồng đều và ổn định hơn cả Tại đàn lợn của 05 huyện GAHP tỉnh Thái Bình trong những năm trở lại đây, bệnh dịch tả lợn không xuất hiện thành dịch bệnh nhưng vẫn lẻ tẻ xuất hiện lợn mắc bệnh với triệu chứng không điển hình của bệnh dịch tả lợn

Việc giám sát sau tiêm phòng vắc-xin là cơ sở để chi cục Chăn nuôi và Thú

y tham mưu, hướng dẫn các biện pháp xử lý nhằm khống chế, ngăn chặn việc phát sinh dịch bệnh trên đàn gia súc như rà soát lại công tác tiêm phòng, tiêm bổ sung vắc-xin cho những đàn gia súc có hiệu giá bảo hộ thấp Đồng thời tham mưu, chỉ đạo cho công tác tiêm phòng dịch trong thời gian tiếp theo Do đó, cần phải giám sát để đánh giá đáp ứng miễn dịch của lợn sau tiêm phòng

Do vậy dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Huỳnh Thị Mỹ Lệ chúng tôi tiến

hành đề tài “Giám sát sau tiêm phòng vắc-xin Dịch tả lợn tại các hộ chăn nuôi

áp dụng quy trình GAHP ở tỉnh Thái Bình”

Trang 16

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá tình hình chăn nuôi, tỷ lệ tiêm phòng, tình hình mắc bệnh dịch tả lợn và khả năng đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vắc-xin dịch tả lợn của đàn lợn tại một số hộ chăn nuôi áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn (GAHP) ở tỉnh Thái Bình theo “Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm”

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tiến hành nghiên cứu tình hình chăn nuôi, dịch bệnh DTL, tiêm phòng vắc-xin DTL và đánh giá mức độ bảo hộ sau tiêm phòng vắc-xin DTL trên địa bàn 05 huyện GAHP (Đông Hưng, Kiến Xương, Thái Thụy, Quỳnh Phụ và

Vũ Thư) của tỉnh Thái Bình

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Sử dụng các phương pháp dịch tễ học để nghiên cứu một số đặc điểm dịch

tễ bệnh Dịch tả lợn ở đàn lợn trên địa bàn nghiên cứu

Sử dụng một số phương pháp chẩn đoán để xác định diễn biến của bệnh Dịch tả lợn và hiệu quả của công tác tiêm phòng

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 KHÁI NIỆM BỆNH DỊCH TẢ LỢN

Khái niệm về bệnh Dịch tả lợn: Bê ̣nh dịch tả lợn (Classical Swine Fever) là bệnh truyền nhiễm của loài lợn, gây ra bởi một loại virus có cấu trúc ARN thuộc giống Pesti virus, họ Flaviridae Bệnh chỉ xảy ra ở loài lợn (kể cả lợn nhà và lợn rừng) với các thể cấp tính, á cấp tính, mạn tính hoặc dạng không điển hình Mức

độ trầm trọng của bệnh tùy thuộc vào độc lực của virus, tuổi của động vật mẫn cảm và thời gian nhiễm bệnh Lợn trưởng thành thường bị bệnh ít trầm trọng hơn

và cũng có nhiều cơ hội phục hồi hơn so với lợn con Bệnh dịch tả lợn có tốc độ lây lan rất nhanh và tỷ lệ chết đến 90% và thường ghép với bệnh khác như bệnh Phó thương hàn, Tụ huyết trùng, Đóng dấu lợn, bệnh do Mycoplasma

Di Lân, Bồ Đào Nha, các nước vùng Scandinavia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Mĩ

Ở Mĩ năm 1962, một chương trình thanh toán bệnh DTL toàn liên bang đã được khởi động và đến năm 1976 đã thanh toán được DTL Tổng chi phí thanh toán bệnh DTL lên tới 140 triệu USD

Ở nước ta, bê ̣nh dịch tả lợn được phát hiê ̣n vào các năm 1923 – 1924, đến nay vẫn tồn ta ̣i phổ biến ở một số nơi Năm 1960, bệnh DTL xảy ra ở các tỉnh Nghệ An, Phú Thọ do việc vận chuyển lợn bệnh từ tỉnh ngoài vào Năm 1968 có tới 481 ổ dịch (Lê Độ, 1980) Năm 1973, bệnh DTL xảy ra ở 11 trại lợn xung quanh thành phố Hồ Chí Minh Năm 1974 dịch xảy ra ở 17 tỉnh phía Bắc, làm thiệt hại trên 4 vạn lợn, 15 tỉnh Nam bộ có dịch, gây chết 145.078 con lợn (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989); năm 1983 dịch xảy ra ở Hải Hưng Trong những năm 1972-1973 dịch kéo dài ở Nghệ An, Hà Tĩnh do nhân dân mua lợn bệnh về trong dịp ăn tết cổ truyền làm lây lan dịch bệnh Tại các tỉnh Trung bộ dịch xảy ra

Trang 18

mạnh vào những năm 1976 - 1978; năm 1976 có 17 ổ dịch, 1977 có 36 ổ dịch, năm 1978 có 18 ổ dịch (Báo cáo dịch tễ tháng 11/1978 của Cục Thú y)

Từ những năm 1980, với việc tiêm phòng vắc xin gây miễn dịch cho đàn lợn đã khống chế được các đợt di ̣ch lớn Tuy nhiên, cho đến nay bê ̣nh vẫn tồn ta ̣i và xảy ra rải rác ở những nơi có lợn không được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không đúng kỹ thuật Hiện nay, bê ̣nh vẫn là mối đe doa ̣ lớn đối với ngành chăn nuôi lơ ̣n, gây khó khăn cho viê ̣c chăn nuôi hàng hoá và xuất khẩu

Bê ̣nh dịch tả lợn ở nước ta xảy ra quanh năm, tuy nhiên do thời tiết thay đổi (thể hiện rõ ở miền Bắc) và do biến đô ̣ng của đàn lợn trong năm nên bê ̣nh có lúc tăng lúc giảm Ngoài ra, bệnh dịch tả lợn còn phu ̣ thuô ̣c rất nhiều vào tỷ lê ̣ tiêm phòng, lợn lớn đã có miễn di ̣ch bị giết mổ, lợn con thay đàn bổ sung vào chưa kịp tiêm phòng làm cho tỷ lệ lơ ̣n mẫn cảm trong đàn tăng lên Viê ̣c tiêm phòng theo mùa vụ và tiêm phòng bổ sung thường xuyên góp phần ổn đi ̣nh và ha ̣n chế

di ̣ch bê ̣nh rất nhiều, nhưng trong sản xuất thực tế do nhiều lý do nên viê ̣c tiêm phòng chưa thực hiê ̣n đúng quy đi ̣nh, vì vậy dịch bệnh dịch tả lợn vẫn xảy ra vào các tháng trong năm

2.3 VIRUS GÂY BỆNH DỊCH TẢ LỢN

2.3.1 Hình thái và cấu trúc của virus Dịch tả lợn

Virus DTL thuộc loại ARN virus, một sợi đơn, ARN có 380Mb < Mega bazo, có vỏ bọc là lipoprotein Virus có vỏ bọc ngoài là lipoprotein có những diềm tua dài 6-8nm Virus có hình cầu, capxit đối xứng khối, có đường kính 40-50nm Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, virus có dạng cấu trúc hình cầu với nucleocapside đối xứng hình khối bao bọc bởi lớp màng ngoài Virion là đơn vị đặc hiệu của virus, có đường kính 40 - 50 nm (nanomet), đường kính của một khối nucleocapside là 29 nm, là lớp vỏ bao bọc sợi ARN của virus, có những gai lồi 6 - 8 nm tập trung trên bề mặt của virus Bộ gene của virus là một chuỗi đơn ARN, có độ dài 12 KB (Moormann and Hulot, 1998) Virus có 2 glycoprotein E55 và E46 KD ở trên bề mặt và 1 nucleocapside protein 36 KD (Enzmann and Weiland, 1978) Hệ số sa lắng là 140s - 180s

Hạt virus gây nhiễm gồm 3 thành phần chính sau đây:

Nhân (core): nhân là một sợi đơn ARN nằm ở giữa hạt virus, nên virus chủ yếu nhân lên trong bào tương của tế bào vật chủ Theo Moening (1988), nhân vừa là yếu tố di truyền, vừa là yếu tố sinh sản của virus Theo Moorrman và

Trang 19

Hulot (1998), bộ gene virus DTL là một chuỗi AND sợi đơn dài khoảng 12 kilobases (KB), có trình tự sắp xếp giống nhau giữa gene của virus DTL và virus gây tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus - BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus)

Vỏ protein (Nuleocapside): theo Van (1992), vỏ protein mang những thành phần bên ngoài có độ dày 29 nm, trên bề mặt có những gai lồi 6 - 8 nm là thành phần có tính chất bảo vệ virus Theo Enzmann và Weiland (1978), lớp nucleocapside của virus bao gồm 2 glycoprotein có trọng lượng phân tử là 55 KD (Kilodanton) và 46 KD cùng với một lớp 36 KD Các protein này được đặt tên là Protein E1 (GP55), Protein E2 (GP46) và protein C (G36) Bằng phương pháp đánh dấu các phân tử, các tác giả đã nhận thấy E1 và E2 là những Glycoprotein nằm trên bề mặt của virus, E2 tạo nên các gai của virus Protein E1 chứa đựng các kháng nguyên chính của virus DTL Trong tế bào bị nhiễm, E1 luôn được

liên kết với một lycopeptide khoảng 47 KD (Mesplede et al., 1999) Những

nghiên cứu gần đây cho thấy lớp vỏ protein gồm 4 thành phần: GP55, GP48, GP44 và GP33 cùng một số các protein nhân 36KD, 23KD và 14KD (Taylor,

1995) Bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ kết tủa, (Stark et al., 1990) đã nhận

thấy GP48 và GP44 có chung một trục Protein thông thường Cả 3 dạng này đều nằm ở dạng nhị trùng có cầu nối Disulfide trong virus ở tế bào bị nhiễm Theo Thiel (1991), những sự tương tác đồng hóa trị phức tạp như vậy giữa những Glycoprotein cấu trúc đến nay chưa được mô tả ở bất kỳ một ARN virus nào Thứ tự các Glycoprotein trên bộ gene của virus DTL được sắp xếp như sau: NH2 - GP44/GP48 - GP33 - GP55 - COOH

Màng ngoài (Envelop): theo Moenning (1988), là một lớp lypoprotein.Virus dịch tả lợn thuộc họ Flaviviridae, giống pestisvirus

2.3.2 Đặc tính nuôi cấy của virus

Có thể nuôi cấy virus trong tổ chức sống của lợn như tủy xương, thận, dịch hoàn, thai lợn

Trên môi trường tế bào: tế bào thận thường được sử dụng virus nhân lên trong nguyên sinh chất nhưng không gây bệnh tích tế bào, virus lan truyền giữa các tế bào qua cầu nối nguyên sinh chất và tồn tại lâu trong tế bào

2.3.3 Độc lực và kháng nguyên của virus

Các chủng virus dịch tả lợn giống nhau hoàn toàn về cấu trúc kháng nguyên nhưng có độc lực khác nhau Trong tự nhiên những chủng có độc lực cao thường

Trang 20

gây bệnh cấp tính với tỷ lệ chết cao Năm 1939, Geiger đã kết luận rằng không

có sự khác nhau cơ bản nào về tính kháng nguyên để sắp xếp các chủng virus DTL vào nhiều type virus khác nhau (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) Nhưng từ những năm 1950, một số tác giả đã phát hiện được hiện tượng biến chủng của virus DTL và cũng nhận thấy độc lực của virus biến chủng thường thấp hơn độc lực của virus ban đầu Chủng có độc lực trung bình hoặc thấp gây bệnh ở thể mạn tính

Dựa vào độc lực của virus, theo Van Oirchot (1998), các chủng virus DTL được phân chia làm 2 nhóm sau:

- Nhóm cường độc: gồm các chủng virus cường độc Alfort, C, Thiverval

- Nhóm độc lực vừa: là những chủng phân lập từ lợn bị bệnh ở thể mạn tính Mới đây nghiên cứu về dịch tễ học phân tử cho thấy virus dịch tả lợn có 3 nhóm chính:

Nhóm 1: hầu hết là các chủng phân lập từ trước thập kỷ 70 ở Mỹ và châu Âu Nhóm 2: hầu hết là các chủng mới phân lập gần đây ở châu Âu và châu Á Nhóm 3: chỉ có ở châu Á, ngoại trừ một chủng phân lập ở Anh năm 1966

Ở châu Á, nhóm 1 vẫn đang còn tồn tại, nhóm 2 đang trở thành nhóm gây bệnh chính Ở Việt Nam, nhóm 1 tồn tại đến năm 1991, bệnh dịch tả lợn hiện nay

do nhóm 2 gây ra cả Miền Bắc và Miền Nam

Theo Dunn (2000), độc lực của virus thường không ổn định, việc tăng cường độc lực có thể được tiến hành sau một hoặc nhiều lần tiêm truyền qua lợn Ngày nay, người ta đã sử dụng các phương pháp làm giảm độc lực của virus và thu được một số chủng nhược độc có thể sử dụng làm vacxin như virus DTL chủng C, chủng IFFA, chủng GPE(-), chủng Thiverval

Trước đây người ta cho rằng kháng nguyên virus DTL đồng nhất, nhưng áp dụng kĩ thuật kháng thể đơn dòng (MCAS) có thể phân biệt virus DTL thành một số nhóm kháng nguyên Độc lực của các chủng gây bệnh thay đổi rất lớn Các chủng độc lực cao gây bệnh thể cấp tính, tỉ lệ chết cao, trong khi đó các chủng có độc lực trung bình thường gây các nhiễm trùng á cấp tính và mãn tính Các chủng virus độc lực yếu chỉ gây bệnh nhẹ, tuy nhiên có thể gây chết thai lợn và lợn con mới sinh Tùy thuộc vào độc lực của chủng virus gây bệnh

mà tỷ lệ chết có thể từ 0 - 100%

Trang 21

2.3.4 Sức đề kháng

Virus có sức đề kháng yếu với sức nóng đun 600C/10 phút, máu nhiễm virus đã khử fibrin ở 680C trong 30 phút, đun ở 1000C chết ngay Virus bền vững trong khoảng PH từ 5-10, mẫn cảm với tia cực tím

Virus tồn tại trong phân lợn ốm đến 2 ngày Trong thịt lợn bệnh và các sản

phẩm đông lạnh thì virus có thể tồn tại lâu hơn Theo James et al (2017) virus

dịch tả lợn có thể tồn tại trong các sản phẩm thịt lợn và thịt đông lạnh trong nhiều năm, do đó virus có thể được vận chuyển một khoảng cách khá dài và có thể xuất hiện trở lại ở những khu vực không có virus dịch tả lợn Do đó, các quốc gia không có bệnh dịch tả lợn sẽ ngăn chặn sự xâm nhập của virus bằng cách hạn chế việc nhập khẩu lợn và các sản phẩm thịt lợn từ các khu vực có mầm bệnh dịch tả lợn Các chất sát trùng thông thường diệt virus nhanh

Trong phòng thí nghiệm, nhiều tác giả đã gây bệnh cho chuột lang, chuột nhắt gà, ngựa, trâu vv nhưng không thành công Năm 1965, Biro đã tìm cách thích ứng virus qua thỏ cho cừu Năm 1941, Tenbroeck đã cho kết quả nuôi cấy thành công virus DTL trong môi trường tế bào dịch hoàn lợn trong dung dịch Tyrode Năm 1950, Coroel và Albis thực hiện tiêm truyền virus DTL vào phôi trứng vịt và đã thích ứng được virus DTL trên phôi trứng vịt Sau đời thứ 8 qua phôi vịt, virus đã mất độc lực với lợn nhưng không gây được miễn dịch cho lợn Giống lợn khác nhau mẫn cảm khác nhau Lợn ngoại ít mắc chủ yếu là lợn đực giống ngoại, số lượng ít đo được chăm sóc và tiêm phòng tốt Lợn lai tỷ lệ mắc thấp, hầu hết được nuôi theo hướng công nghiệp ở quy mô trang trại, gia trại Lợn nội tỷ lệ mắc bệnh cao, phụ thuộc vào quy mô, tập quán chăn nuôi ở các địa phương

2.4.2 Chất chứa mầm bệnh

Các chất bài tiết, dịch tiết, máu, hạch lâm ba, lách lợn bệnh có chứa virus Máu của những con vật nung bệnh, sau 24 giờ có khả năng gây bệnh Những con khỏi bệnh sau 2 tháng vẫn bài thải mầm bệnh ra ngoài

Trang 22

2.4.3 Đường xâm nhập của virus

Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương

ở da và một phần qua hệ thống hô hấp Thường lây trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ, qua thức ăn, nước uống, gián tiếp qua các chất bài tiết, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển hay do các động vật khác mang mầm bệnh truyền lây Lợn mẫn cảm có thể nhiễm khi ăn phảo thức ăn chứa virus như các thành phần phụ phẩm của quá trình giết mổ hoặc thức ăn thừa, chất thải từ nhà bếp không qua xử lý

Bệnh dịch tả lợn có thể truyền trực tiếp do chung đụng giữa lợn khỏe và lợn

ốm hoặc gián tiếp qua các chất bài tiết như nước tiểu, nước mắt, nước mũi qua phân, thức ăn nhiễm virus, thịt ướp muối, rơm rác, dụng cụ chăn nuôi,…

2.4.4 Cách sinh bệnh

Virus khi xâm nhập vào cơ thể lợn gây bệnh đặc trưng qua các giai đoạn sau: giai đoạn nhiễm virus ở hạch, giai đoạn nhiễm virus ở máu và giai đoạn nhiễm virus ở phủ tạng Thời gian nung bệnh từ 2-33 ngày, trung bình

từ 3-4 ngày

Virus theo đường tiêu hóa, niêm mạc vào các hạch, tuyến hạnh nhân ở hầu, hạch màng treo ruột, hệ thống lâm ba và từ đó vào máu gây bại huyết thể hiện bằng triệu chứng sốt và rối loạn tuần hoàn trầm trọng Virus sinh sản trong tế bào nội mô của mạch quản, những tế bào này sưng lên, tách ra và trong thành mạch quản xuất hiện một chất tương dịch thẩm thấu kém theo một số chất thoái hóa có thể làm tắc hoàn toàn mạch quản

Virus làm hình thành mụn loét ở ruột già sau khi gây hoại tử ở những nang lâm ba và làm đông những sợi huyết Những màng giả xuất hiện dày, tròn, hình cúc áo hoặc hình núm trên mặt có những khối sợi huyết vẽ những vòng tròn đồng tâm Khi virus xâm nhập vào hệ thống lưới nội bì của thành mạch quản làm cho mạch quản xung huyết sưng to, mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số

bị tắc nghẽn dẫn đến những bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả lợn như là xuất huyết lấm tấm, nhồi huyết (lách),… (Bùi Quang Anh, 2001)

Nếu bệnh kéo dài, virus làm yếu con vật và trạng thái dị ứng xuất hiện thì những vi khuẩn gây nhiễm trùng thứ phát sẽ phát huy tác dụng gây triệu chứng

và bệnh tích viêm hoại tử làm thay đổi bộ mặt bệnh lý của bệnh Bản thân vi khuẩn kế phát này không gây được bệnh chỉ khi sức đề kháng của con vật bị

Trang 23

giảm sút dưới tác động của virus thì những vi khuẩn này mới gây bệnh Một số vi khuẩn gây bệnh kế phát như Salmonella, Pasterurella multocida, E.coli,…

Khi virus tác động lên hệ thống thần kinh trung ương gây ra hiện tượng co giật, bại liệt hai chân sau hoặc bại liệt nửa thân

Bệnh dịch tả lợn ở hai dạng là:

Bệnh dịch tả lợn thuần túy hay thể bại huyết

Bệnh dịch tả lợn hỗn hợp: bệnh có thể kết hợp với bệnh phó thương hàn lợn hoặc bệnh tụ huyết trùng

Ở những lợn nái mang thai có mắc bệnh, virus có thể lây qua tất cả các giai đoạn phát triển của bào thai Virus ở hạch lâm ba phân tán theo đường mạch quản qua hàng rào nhau thai, phát triển ở một hoặc vài nơi dọc theo nhau thai và cuối cùng virus lan truyền từ bào thai này tới bào thai (Bùi Quang Anh, 2001) Sự phân bố của virus trong bào thai cũng giống như trong

cơ thể lợn trưởng thành bị nhiễm bệnh DTL Đối với chủng virus có độc lực trung bình thì sự nhân lên của virus trong tế bào lại thấp hơn Còn những chủng virus có độc lực thấp khi gây bệnh người ta thấy chúng có thể xuất hiện trong máu hoặc không, thường các chủng này thường giới hạn ở các tế bào biểu mô quanh mạch

Lợn khỏi sau khi mắc bệnh thì có miễn dịch lâu dài Lợn mẹ khỏi bệnh hoặc được miễn dịch sẽ truyền miễn dịch cho lợn con qua nhau thai và sữa đầu

Virus có thể tồn tại trong các đại thực bào, trốn tránh kháng thể và gây

sự cảm nhiễm dai dẵng

Một trong trường hợp đặc biệt ở lợn nái là cảm nhiễm trong tử cung Sự cảm nhiễm này không gây chết phôi nhưng dẫn đến sự tự miễn dịch Có trường hợp huyết nhiễm virus dai dẵng, kéo dài và dung nạp miễn dịch (immunological tolerce) và thường xuyên bài thải virus

2.5 TRIỆU CHỨNG – BỆNH TÍCH

2.5.1 Triệu chứng

Thể bệnh của bệnh DTL ngày nay có nhiều thay đổi, tùy thuộc vào lứa tuổi lợn, phương thức chăn nuôi, chủng virus, thời điểm nhiễm bệnh,…nhưng các thể bệnh chủ yếu thường gặp là: thể quá cấp, thể cấp tính, thể mãn tính và thể tiềm

Trang 24

ẩn (không điển hình) Thời gian nung bệnh từ 3-7 ngày và bệnh có thể xuất hiện

ở một trong 3 thể:

Thể quá cấp tính (còn go ̣i là bê ̣nh dịch tả lợn trắng hay thể dịch tả lợn

khô): Bệnh xuất hiê ̣n đô ̣t ngô ̣t, không có triê ̣u chứng ban đầu (tiền chứng), con vật ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao 41-420C, con vật dẫy dụa rồi chết nhanh trong vòng 24 -

48 giờ Diễn biến trong vòng 1-2 ngày, con vật chưa kịp xuất hiện triệu chứng ỉa chảy, tỷ lệ chết tới 100%

gần chết, mắt viêm đỏ có dử, chảy nước mũi, miệng có loét phủ nhựa vàng ở lợi, chân răng, hầu; lợn thường bị ói mửa, thở khó, nhịp thở rối loạn Lúc đầu táo bón sau đó tiêu chảy phân bết vào mông, đuôi mùi thối khắm có khi có máu tươi Trên da có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm ở tai, mõm, bụng và 4 chân Vào cuối

kỳ bệnh, lợn bị bại 2 chân sau đi loạng choạng hoặc không đi được Nếu ghép với các bệnh khác thì các triệu chứng trên trầm trọng hơn

Do virus tấn công vào đường hô hấp thì con vật bị viêm niêm mạc mũi, tụ huyết, xuất huyết ở phổi, rối loạn nhịp thở, khó thở Virus xâm nhập vào hệ thống thần kinh, gây xuất huyết màng não, con vật co giật, đi loạng choạng, liệt hai chân sau Những con vật không bị chết trong vòng 4 tuần sau khi nhiễm bệnh thì có thể phục hồi nếu hàm lượng kháng thể trung hòa cao hoặc chuyển thành thể mạn tính Lợn nái chửa thường giảm khả năng sinh sản, sảy thai, đẻ non, thai khô,…

Thể mãn tính: Lợn tiêu chảy gầy yếu, lợn bệnh chết do kiệt sức, lợn có thể

khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus

Khi lợn bị bệnh mà sống đến quá 30 ngày thì được coi là thể mạn tính Đặc trưng của thể bệnh này là lợn ăn rất ít hay bỏ ăn, sốt, ỉa chảy kéo dài hoặc ngắt quãng, bạch cầu giảm Thể này kéo dài vài tháng và cuối cùng cũng chết Các giai đoạn của thể mãn tính gồm:

- Giai đoạn đầu kéo dài 10 - 15 ngày, các triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn

- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thuyên giảm

- Giai đoạn ba: sẽ bị bội nhiễm các loại mầm bệnh khác; con vật gầy yếu, tử vong trong vòng 1 đến 3 tháng

Trang 25

Thể tiềm ẩn: Thể bệnh này thường là do lợn bị nhiễm virus bẩm sinh

Lợn có biểu hiện như rối loạn sinh sản: chết thai, thai chết lưu, thai khô, thai

gỗ, dị dạng, rối loạn vận động, sảy thai, chết ngay sau khi sinh, chậm lớn Virus có thể lưu hành một cách không rõ ràng, nhất là các trường hợp lẻ tẻ nổ

ra khi có các điều kiện không thuận lợi (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989) Moenning (1988) cho rằng virus DTL có khả năng đi qua hàng rào bảo

vệ của nhau thai để lây nhiễm cho bào thai

Sự lây truyền virus qua nhau thai cũng đã được quan sát thấy ở lợn nái được tiêm phòng bằng một vắc xin nhược độc không đầy đủ; hiện tượng này cũng thấy ở lợn nái bị nhiễm tự nhiên chủng virus độc lực thấp

Hậu quả của lây nhiễm trong giai đoạn mang thai nhẹ hay nặng phụ thuộc vào giai đoạn mang thai bị nhiễm virrus, khả năng đáp ứng miễn dịch của bào thai và độc lực của virus Nếu bào thai bị nhiễm ở giai đoạn đầu của quá trình mang thai, lúc mà bào thai chưa có khả năng sinh miễn dịch thì sau khi cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh, không có khả năng chống lại virus và trở thành vật mang trùng Lây nhiễm ở giai đoạn sau của quá trình mang thai thì bào thai sinh đáp ứng miễn dịch

và làm giảm nguy cơ mang trùng; chỉ những con lợn bị nhiễm trong giai đoạn đầu của bào thai mới trở thành thể bệnh tiềm ẩn

Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng phần lớn những lợn con của những nái đã bị nhiễm virus trong thời kỳ có thai đều dung nạp miễn dịch; chúng không hình thành được kháng thể mà mang virus thường xuyên; ngay cả sữa đầu cũng không xác định được ở những lợn con này mang trùng bởi vì kháng thể thường xuyên bị cố định bởi những virus lưu hành

2.5.2 Bệnh tích

Theo Đào Trọng Đạt (1990), bệnh Dịch tả lợn là bệnh quần thể nên khi quan sát bệnh tích cần tổng hợp ít nhất từ 3 đến 5 con Nếu theo dõi mổ khám ngay từ những con lợn bệnh đầu tiên sẽ thấy biểu hiện đầy đủ các bệnh tích của bệnh dịch tả lợn điển hình

Bệnh tích ở thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh do đó chưa xuất hiện những

bệnh tích đặc trưng Theo Nguyễn Tiến Dũng (2002), lợn bị DTL ở thể quá cấp tính bệnh tích không rõ, ở thể cấp tính bị bại huyết, xuất huyết nặng ở da, niêm mạc, tương mạc, màng phổi, màng tim, các phủ tạng hạch amidan viêm loét, hạch lympho tụ máu, sưng, đỏ sẫm, lách nhồi huyết, thận có những điểm xuất huyết nhỏ lấm tấm như đầu đinh ghim

Trang 26

Bệnh tích ở thể cấp tính: Ở thể cấp tính hiện tượng xuất huyết ở các

phủ tạng là triệu chứng rất đặc trưng của lợn bị DTL (Phan Thanh Phượng và cs., 2006)

Thấy có sự bại huyết, xuất huyết nặng ở các cơ quan nội tạng, amidan xuất huyết, có nốt loét ở đường tiêu hóa, niêm ma ̣c miê ̣ng, lưỡi tu ̣ máu, loét, dạ dày bị

tụ huyết, xuất huyết thường nặng ở đường cong lớn, ở van hồi manh tràng xuất huyết có những vết loét hình cúc áo, có vòng tròn đồng tâm bờ vết loét cao phủ nhựa vàng Phổi bị xuất huyết và tụ huyết Tim bị xuất huyết ở mỡ vành tim, ở ngoại tâm mạc, gan bị tụ huyết xuất huyết, túi mật có những điểm xuất huyết Lách có hiện tượng nhồi huyết ở rìa làm cho lách có hình răng cưa, thận có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm như đầu ghim ở vỏ thận và tủy thận, bể thâ ̣n ứ máu hoă ̣c có cu ̣c máu, niêm mạc bàng quang bị tụ huyết, xuất huyết Theo Bùi Trần Anh Đào và Nguyễn Hữu Nam (2009), lợn mắc bệnh dịch tả lợn có “ tỷ lệ các

cơ quan có tổn thương sung huyết và thâm nhiễm tế bào viêm chiếm tỷ lệ cao (100%), các tổn thương khác chiếm tỷ lệ thấp hơn” cụ thể là:

Ở lợn mắc bệnh dịch tả, các tổn thương như xuất huyết ở hạch màng treo ruột và ở các hạch lympho, tích nước trong xoang ngực và xoang bao tim chiếm

tỷ lệ 100% các ca mổ khám Tỷ lệ sung huyết ở niêm mạc dạ dày – ruột chiếm 93,33%, xuất huyết điểm ở thận chiếm 80%, nhồi huyết ở lách và viêm phế quản phổi chiếm tỷ lệ 75%, tỷ lệ xuất huyết điểm ở bốn chân chiếm 71,67% Viêm phồi thùy có tỷ lệ thấp chỉ chiếm 8,3%, xuất huyết ở van hồi manh tràng chiếm tỷ

lệ 48,33% Ngoài ra, một số tổn thương khác cũng được quan sát thấy như: xuất huyết ở da (28,33%); loét ở miệng (16,77%); loét ở hạch amygdale (16,17%); loét ở ruột già (38,33%) Tổn thương xuất huyết thấy ở hầu hết các cơ quan: hạch lâm ba, thận, dạ dày, ruột non, ruột già và trên da

Bệnh tích ở thể mạn tính và không điển hình: Đây là thể bệnh rất khó

phân biệt vì bệnh kéo dài và không có triệu chứng đặc trưng Thể không điển hình biểu hiện dưới các dạng khác nhau như rối loạn sinh sản hoặc bệnh lý sinh sản như sảy thai, thai gỗ, chết thai, thai dị hình, chết sau khi sinh,…Theo Nguyễn Lương (1997) đây là thể bệnh DTL khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có các thời kỳ rõ rệt; virus lưu hành một cách không rõ ràng, nhất là lợn sinh sản với các trường hợp ổ dịch nhỏ lẻ nổ ra khi có điều kiện thuận lợi Nguyên nhân của thể không điển hình có rất nhiều, như: Độc tố của virus, các nhiễm trùng thứ phát, sức đề kháng bẩm sinh, loại thức ăn, phương thức chăn nuôi Bệnh tích thể

Trang 27

này thường thấy ở ruột có những vết loét lõm sâu, bờ cao phủ nhựa vàng, phổi có thể bị viêm dính vào lồng ngực

Tuy nhiên, thực tế ở nước ta cho thấy bệnh thường ghép với một số bệnh khác nên triệu chứng và bệnh tích có thay đổi tùy theo ghép với bệnh nào Mặt khác, do đã tổ chức tiêm phòng vắc xin nhiều năm, nên nhiều trường hợp không phát hiện đầy đủ các bệnh tích điển hình nêu trên

Bệnh tích vi thể: Đặc trưng nhất là ở hệ lưới nội bì của thành mạch quản,

các tế bào nội bì sưng to, thoái hóa, thủy thũng; các mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số bị tắc mạch dẫn tới bệnh tích đặc trưng của bệnh DTL là xung huyết, xuất xuyết, nhồi huyết (thường thấy ở lách, hạch lympho, thận và đường tiêu hóa), hoại tử, viêm não, viêm màng não đặc trưng bởi sưng và thoái hóa các

tế bào nội bì, nghẽn mạch, thấm nhiễm lymphocyte quanh mạch

2.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH

Trước đây việc chẩn đoán bệnh DTL thường dựa vào các biểu hiện về triệu chứng, bệnh tích (OIE, 1998) Tuy nhiên, hiện nay bệnh DTL đã diễn biến phức tạp, do vậy phương pháp này tỏ ra không hiệu quả Virus DTL chỉ gây bệnh cho loài lợn, lợn là loài động vật cảm thụ duy nhất nên việc tiêm truyền cho động vật

để chẩn đoán bệnh tốn kém về kinh tế hơn các động vật khác

Việc chẩn đoán, phát hiện virus trong cơ thể lợn là khó khăn vì số lượng virus trong cơ thể không nhiều Các phương pháp hiện nay đang được áp dụng là: phát hiện kháng nguyên hoặc phát hiện kháng thể trong các bệnh phẩm bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp; nuôi cấy phân lập virus trên môi trường tế bào hoặc tiêm truyền cho lợn; phản ứng trung hòa trên thỏ; phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu; công thức bạch cầu; phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch; phản ứng miễn dịch đánh dấu enzym (ELISA), tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng

Trang 28

cao 410C, suy nhược cơ thể, chán ăn, hay nghiến răng hoặc kêu rên khẽ, viêm kết mạc mắt có dử, giảm số lượng bạch cầu trong máu, lợn bị táo bón sau đó ỉa chảy phân thối khắm

- Dựa vào các biểu hiện của triệu chứng lâm sàng như: lợn ủ rũ, bỏ ăn tìm nơi tối để nằm 2 - 3 ngày sau lợn bị sốt và sốt trong vòng 4 – 5 ngày, trong thời gian sốt thì con vật bị táo bón và sau đó thân nhiệt hạ thì lúc này lợn bị ỉa chảy, phân mùi thối khắm, những phần da mỏng xuất hiện những nốt đỏ như muỗi đốt Thể quá cấp tính: bệnh xảy ra rất nhanh, con vật đang khỏe mạnh tự nhiên giảm ăn hoặc bỏ ăn, ủ rũ, sốt cao từ 400C đến 420C Da mỏng phía trong đùi và dưới bụng có chỗ đỏ ửng lên rồi tím lại Lợn giẫy dụa một lúc rồi chết, con vật chết khi chưa có biểu hiện đặc trưng của bệnh đó là ỉa chảy Bệnh tiến triển trong vòng tử 1 ngày đến 2 ngày, tỷ lệ chết có thể lên đến 100%

Thể cấp tính: Lợn ốm ủ rũ, buồn bã biếng ăn hoặc bỏ ăn, chui ẩn dưới rơm hoặc tìm nơi tối để nằm Sau 2 đến 3 ngày lợn bị sốt cao, thân nhiệt lên tới 410C đến 420C, sốt trong vòng 4 đến 5 ngày liền, trong thời gian sốt con vật bị táo và sau đó thân nhiệt bị hạ xuống và lúc này lợn bị ỉa chảy, phân con vật có mùi thối khắm cũng là khi con vật kiệt sức Con vật thở mạnh, khát nước nhiều, bỏ ăn, ở những phần da mỏng xuất hiện những nốt đỏ như mỗi đốt Mắt có nhử trắng như

mủ che lấp làm con vật không thấy được, con vật bị viêm kết mạc và giác mạc mắt có nhử Con vật có hiện tượng nôn mửa Niêm mạc miệng, chân răng gốc lưỡi có mụn loét phủ bựa màu vàng trắng khi sờ bụng có cục sưng Lợn bị viêm niêm mạc mũi, con vật chảy nước mũi lúc đầu trong loãng sau đó đục và đặc dần, con vật bị ho và khó thở nhịp thở bị rối loạn, con vật ngồi như chó thở Con vật

có những cơn co giật thân thể nhất là khi bị sờ mó đến, bại liệt hai chân sau làm cho con vật đi bị siêu vẹo

Thể mãn tính: nếu thể cấp tính kéo dài thì con vật chuyển sang thể mạn tính Con vật gầy còm lúc đi táo lúc đi ỉa chảy, ho khó thở, da lưng sườn có những vết đỏ có khi loét ra từng mảng Bệnh tiến triển từ 1 đến 2 tháng lợn chết

do kiệt sức hoặc có thể khỏi nhưng gầy còm khó vỗ béo Những con khỏi bệnh

có thể miễn dịch nhưng nó là nguồn mang mầm bệnh

Dựa vào đặc điểm bệnh tích: có nhiều điểm xuất huyết ở niêm mạc, niêm mạc miệng xuất huyết có mụn loét nông hoặc sâu, phủ chất bựa màu vàng trắng Niêm mạc dạ dày sưng màu đỏ gạch, niêm mạc van hồi manh tràng có những nốt loét Hạch lâm ba sưng tụ máu có màu đỏ sẫm Lách không sưng hoặc sưng ít

Trang 29

nhưng có hiện tượng nhồi huyết, xuất huyết ở viền lách Xuất huyết điểm ở lớp

vỏ thận

2.6.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

- Bệnh phẩm: là hạch amidan, hạch lympho, lách, thận, van hồi manh tràng,

máu (huyết thanh) Mẫu bệnh phẩm được lấy ngay sau khi mổ khám

- Bảo quản mẫu bệnh phẩm ở nhiệt độ 2-80C và gửi ngay đến phòng thí nghiệm trong 24 giờ, nếu quá thời gian trên phải bảo quản bệnh phẩm ở nhiệt đô đông băng Huyết tương hoặc huyết thanh phải bảo quản ở nhiệt độ từ 4 – 80C tối

đa trong 7 ngày Lưu mẫu bệnh phẩm ở nhiệt độ -200C đến -800C

Xử lý bệnh phẩm:

Cắt nhỏ 1-2g bệnh phẩm, nghiền trong cối chày sứ vô trùng với dung dịch BSS hoặc Hank’s MEM thành huyễn dịch 10% Bổ sung vào huyễn dịch 10% kháng sinh/Glutamin đậm đặc (1ml kháng sinh trong 10ml huyễn dịch), sau đó ly tâm 380g trong 15 phút thu dịch nổi Dịch nổi được dùng để phát hiện virus bằng phương pháp ELISA phát hiện kháng nguyên, Realtime RT-PCR (rRT-PCR) hoặc phân lập virus trên tế bào

- Chuẩn bị: Tiêu bản là tổ chức được cắt lạnh hoặc tế bào nuôi cấy bệnh phẩm Lam kính gắn tổ chức hạch amidan, lách, thận, van hồi manh tràng bằng phương pháp cắt lạnh hoặc phương pháp áp in;

Lam kính gắn lamen có tế bào nhiễm virus phân lập sau 24 – 72 giờ

- Các bước tiến hành:

Cố định tiêu bản bằng aceton trong 10 phút ở nhiệt độ phòng hoặc hong khô

ở 370C trong 20 phút;

Rửa tiêu bản bằng dung dịch PBS pH 7,2

Nhuộm tiêu bản: có 02 phương pháp nhuộm tiêu bản là:

Nhuộm huỳnh quang trực tiếp: nhỏ conjugate dịch tả lợn (kháng thể dịch tả lợn gắn thuốc nhuộm huỳnh quang) vào mẫu tiêu bản, ủ trong hộp ẩm ở

370C/30 phút;

Trang 30

Nhuộm huỳnh quang gián tiếp: nhỏ kháng thể kháng virus dịch tả lợn vào tiêu bản, ủ trong hộp ẩm ở 370C/30 phút, rửa 5 lần, 2 phút/lần với PBS

Nhỏ conjugate (globulin miễn dịch thỏ kháng lợn gắn thuốc nhuộm huỳnh quang), ủ trong hộp ẩm ở 370C/30 phút

Rửa 5 lần, 2 phút/ lần bằng PBS Để khô

Gắn lamen có dung dịch đệm PBS/glycerin tỷ lệ 1/1

Đọc kết quả dưới kính hiển vi huỳnh quang:

Mẫu dương tính (+): nhân tế bào màu đen, nguyên sinh chất bắt màu xanh lá mạ

Mẫu âm tính (-): nhân và nguyên sinh chất không bắt màu huỳnh quang

- Chuẩn bị tế bào:

Tách tế bào (thận lợn sơ cấp, PK 15, SK 6,…) bằng trypsin 5% ở 370C trong 5-10 phút Cho dung dịch Eagle’s MEM 5% FSC vào đánh đều, ly tâm 800 vòng trong 10 phút Bỏ dịch nổi, hòa tan tế bào với dung dịch Eagle’s MEM 5% FCS theo tỷ lệ 2x106 tế bào/ml và bổ sung 0,2 ml dung dịch kháng sinh/glutamine đậm đặc trong vòng 10 ml dung dịch tế bào

- Gây nhiễm tế bào:

Trộn huyễn dịch bệnh phẩm đã xử lý với huyễn dịch tế bào theo tỷ lệ 1/10, rồi nuôi cấy trong 6 ống Leighton có sẵn lamen hoặc trong các chai nuôi

tế bào hay đĩa nuôi tế bào 6 giếng Giữ các môi trường tế bào đã phân lập virus ở tủ ấm 370C trong vòng 7 ngày Thu hoạch huyễn dịch tế bào sau 24 -

72 giờ, giám định virus

Dựa trên nguyên tắc: virus dịch tả lợn cường độc và virus dịch tả lợn nhược độc (đã được thông qua thỏ 150 đời) có sức gây bệnh khác nhau cho thỏ và lợn

Trang 31

nhưng có tính kháng nguyên giống nhau Có thể dùng virus dịch tả lợn cường độc trong thiên nhiên (trong bệnh phẩm nghi ngờ) gây miễn dịch cho thỏ rồi chứng minh tính miễn dịch của thỏ

Chọn 6 thỏ khỏe mạnh từ 1,8kg/con đến 2kg/con Chia thỏ làm 2 lô

Lô 1: tiêm dịch huyết phù bệnh phẩm ghi mắc dịch tả lợn (máu của lợn bệnh đã khử fibrin hoặc hạch lách lợn bệnh pha loãng 10-1 đã xử lý kháng sinh) 1ml vào tĩnh mạch tai của 3 thỏ Theo dõi nhiệt độ ngày 2 lần trong 7 ngày (thỏ phải không sốt)

Lô 2: sau 7 ngày lấy thêm 3 thỏ khỏe mạnh lô 2 cùng với 3 thỏ lô 1 được tiêm vắc-xin nhược độc dịch tả lợn chủng C pha loãng 10-1, 1ml vào tĩnh mạch tai

Đọc kết quả:

Lô 2 (đối chứng): thỏ sốt có nhiệt độ điển hình;

Lô 1: nếu có sốt thì bệnh phẩm âm tính (-), nếu không sốt thì bệnh phẩm dương tính (+)

2.6.3 Phát hiện kháng thể

Phát hiện kháng thể dịch tả lợn có ý nghĩa chẩn đoán đối với lợn ốm có triệu chứng của bệnh dịch tả lợn và chưa bao giờ tiêm phòng, hoặc nhiễm virus dịch tả lợn từ trước

Phương pháp ELISA phát hiện kháng thể: khi sử dụng kitELISA phát hiện kháng thể

Phương pháp trung hòa trên tế bào (NPLA – Neutralising Peroxidase – Link Assay): Phương pháp này dùng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra dùng phương pháp này có ý nghĩa đánh giá hiệu giá kháng thể khi tiêm phòng vắc-xin dịch tả lợn Phương pháp này để xác định hàm lượng kháng thể có trong huyết thanh nhờ sự

ức chế của kháng thể đối với virus dịch tả lợn được gây nhiễm trên tế bào

Trang 32

- Vệ sinh phòng bệnh khi chưa có dịch:

Tăng cường kiểm soát giết mổ tại các cơ sở giết mổ, kiểm dịch ở chợ, các đường vận chuyển mua bán lợn;

Cách ly lợn mới mua về từ 15-30 ngày, sau quá trình theo dõi thấy lợn không biểu hiện bệnh thì mới thả chung đàn, mua lợn ở những cơ sở sản xuất con giống không có dịch bệnh;

Khẩu phần ăn của lợn phải đầy đủ dinh dưỡng Chuồng nuôi phải sạch sẽ, đảm bảo thoáng mát vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông, vệ sinh, tiêu độc khử trùng thường xuyên

- Biện pháp chống dịch:

Chẩn đoán nhanh chóng để phát hiện kịp thời lợn ốm Công bố dịch;

Cách ly lợn ốm hoặc lợn ghi mắc bệnh Nhốt riêng lợn khỏe mạnh thành từng nhóm nhỏ Đối với lợn ghi mắc bệnh có thể chữa bằng huyết thanh dịch tả lợn

Ngăn nguồn bệnh lan tràn ra bên ngoài, hạn chế người và động vật ra vào ổ dịch Hạn chế vận chuyển gia súc ra vào khu dịch

Tiêu độc chuồng và dụng cụ chăn nuôi bằng các chất sát trùng Phân và thức ăn thừa trong chuồng lợn ốm phải đem tiêu độc Xác chết phải chôn sâu giữa 2 lớp vôi

Tăng cường vệ sinh chăm sóc đàn lợn cho ăn chín

Tiêm phòng bao vây ổ dịch bằng kháng huyết thanh

2.7.2 Phòng bệnh bằng vắc-xin

Theo thông tư 04/2011/TT-BNNPTNT ngày 24/1/2011 về việc “Hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn”, Tiêm phòng bệnh dịch tả lợn phải được thực hiện định kỳ mỗi năm 2 lần vào tháng 3-4 và tháng 9-10, tiêm phòng

bổ sung đối với lợn mới sinh và lợn chưa tiêm trong thời gian tiêm định kỳ, tiêm nhắc lại đối với lợn hết thời gian miễn dịch Việc sử dụng vắc-xin phải theo hướng dẫn của nhà sản xuất

Theo Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, tại phụ lục 13 – Hướng dẫn phòng, chống bệnh Dịch tả lợn như sau:

Đối tượng tiêm phòng:

Trang 33

- Lợn trong các trang tra ̣i, cơ sở nuôi tâ ̣p trung;

- Đàn lợn nuôi nhỏ lẻ trong các hô ̣ gia đı̀nh: Lợn nái, lợn đực giống do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y đi ̣a phương xác đi ̣nh

Phạm vi tiêm phòng: Khu vực có ổ di ̣ch cũ, đi ̣a bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác đi ̣nh

Thời gian tiêm phòng:

- Tổ chức tiêm phòng đi ̣nh kỳ theo quy trı̀nh nuôi, tiêm phòng bổ sung đối với đàn lợn mới phát sinh, đàn lợn đã hết thời gian còn miễn di ̣ch bảo hô ̣ hoă ̣c hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y đi ̣a phương;

- Liều lượng, đường tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin

Căn cứ vào điều kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm phòng cho phù hợp đảm bảo hiệu quả tiêm phòng

Trong quá trı̀nh thực hiện tiêm phòng, không được làm rơi vãi vắc-xin Di ̣ch tả lợn ra ngoài môi trường Sau khi tiêm phòng, toàn bộ dụng cụ tiêm phòng phải đươ ̣c tiê ̣t trùng, vỏ chai, lo ̣ vắc xin phải được thu hồi, tiêu hủy

Tiêm phòng khẩn cấp khi có ổ dịch xảy ra:

- Khi có ổ di ̣ch xảy ra, tổ chức tiêm phòng cho lợn mẫn cảm với bệnh ta ̣i các thôn, ấp, bản nơi xảy ra di ̣ch; đồng thời tổ chức tiêm phòng bao vây ổ di ̣ch theo hướng từ ngoài vào trong đối với lợn mẫn cảm tại các thôn, ấp, bản chưa có

di ̣ch trong cùng xã và các xã tiếp giáp xung quanh với xã có di ̣ch

- Huy động lực lượng ta ̣i chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng

Cơ quan quản lý chuyên ngành thú y đi ̣a phương hướng dẫn, quản lý thực hiê ̣n tiêm phòng và giám sát việc tiêm phòng

2.7.3 Các biện pháp chống dịch

Đối với địa phương lần đầu tiên có dịch tả lợn xuất hiện:

- Khoanh vùng dịch: xã có dịch được xác định là vùng dịch, các xã tiếp giáp với xã có dịch được xác định là vùng bị dịch uy hiếp

- Các biện pháp phòng chống dịch như sau:

Trang 34

Giết mổ bắt buộc đối với lợn nghi mắc bệnh dịch tả lợn, bằng cách luộc chín thân thịt và tiêu hủy phủ tạng;

Cấm vận chuyển lợn mắc bệnh, sản phẩm chưa qua chế biến có nguồn gốc

từ lợn, phân rác thải chăn nuôi ra khỏi vùng dịch, vùng dịch bị uy hiếp trong thời gian có dịch;

Đặt biển báo nơi có dịch tả lợn và hạn chế người không liên quan ra, vào vùng dịch;

Tiêu độc khử trùng mọi phương tiện ra khỏi vùng dịch;

Tiến hành kiểm tra toàn bộ các cơ sở chăn nuôi trong vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp nhằm phát hiện các trường hợp lợn bị bệnh Trong vòng 1-3 ngày tại phạm vi xã có dịch và các xã liền kề xung quanh cần lập danh sách thống kê các

hộ, cơ sở chăn nuôi lợn và các hộ có lợn bị bệnh để giám sát;

Khẩn trương tiêm phòng vắc-xin dịch tả lợn cho toàn bộ đàn lợn trong vùng dịch

Đối với các địa phương đã từng có dịch tả lợn lưu hành, địa phương có dịch tả lợn lây lan diện rộng:

- Đối với những đàn lợn chăn nuôi nhỏ lẻ, không áp dụng đầy đủ các biện pháp an toàn sinh học thì tiến hành giết mổ toàn đàn và xử lý chế biến chín để tiêu thụ tại chỗ có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng Sau khi giết mổ cần phảo thực hiện việc vệ sinh, tổng tẩy uế tiêu độc khử trùng nơi có lợn mắc bệnh, nơi giết mổ

- Đối với những cơ sở chăn nuôi có quy mô tập trung theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp, các trang trại lớn có áp dụng các biện pháp an toàn sinh học thì xử lý như sau:

Tiêu hủy ngay toàn bộ số lợn mắc bệnh, lợn mới chết vì bệnh, lợn bệnh có triệu trứng điển hình của bệnh dịch tả lợn Giết mổ bắt buộc đối với lợn nuôi cùng ô chuồng với lợn bệnh;

Giết mổ tại chỗ những lợn bị bệnh nhẹ (sốt nhẹ, có các biểu hiện lâm sàng về hô hấp) hoặc lợn còn khỏe mạnh, xử lý chế biến trước khi tiêu thụ nhằm tránh phát tán mầm bệnh Trường hợp giết mổ nhiều lợn tại một thời điểm có quan thú y địa phương tư vấn với chính quyền địa phương chỉ định

Trang 35

địa điểm giết mỏ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, dễ tiêu độc khử trùng, tránh làm phát tán mầm bệnh;

Đối với các trường hợp mang trùng, xử lý giết mổ bắt buộc có giám sát của

cơ quan thú y, không tiếp tục khai thác đối với lợn nái, lợn đực mang trùng, đồng thời thực hiện tiêu độc, vệ sinh khử trùng triệt để toàn bộ khu vực có lợn bệnh và các khu vực xung quanh;

Đối với những lợn khỏe mạnh trong cùng đàn mà không giết mổ thì phải được nuôi cách ly triệt để, chăm sóc bổ sung dinh dưỡng và khoáng chất các loại vitamin nhằm tăng cường sức đề kháng phòng bệnh;

Tổng vệ sinh tiêu độc khử trùng vùng dịch, nơi có lợn ốm, nơi giết mổ để tránh làm phát tán lây lan mầm bệnh;

Khoanh vùng, lập các chốt kiểm dịch, kiểm tra vận chuyển buôn bán lợn, sản phẩm của lợn từ vùng có dịch ra ngoài vùng chưa có dịch

- Đối với các cơ sở chăn nuôi tập trung không có lợn mắc bệnh nhưng nằm trong vùng dịch mà đảm bảo vệ sinh an toàn sinh học hoặc đã được tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh dịch tả lợn còn miễn dịch thì được phép vận chuyển ra khỏi vùng dịch, đến thẳng lò giết mổ được chỉ định trước Lợn phải được vận chuyển bằng xe chuyên dụng, đảm bảo không làm rơi vãi chất thải trên đường đi, không được dừng nghỉ trên đường vận chuyển Phương tiện vận chuyển phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc kỹ trước khi dời khỏi lò mổ

- Đối với cơ sở chăn nuôi lợn giống ở bất cứ quy mô nào: nếu phát hiện có lợn bệnh trong cơ sở phải tổ chức tiêu hủy lợn mắc bệnh nặng, giết mổ bắt buộc đối với những con lợn mẹ Lợn chưa bị bệnh phải được chăm sóc nuôi dưỡng tốt

để chuyển sang mục đích thương phảm Không khai thác và sử dụng tinh dịch của lợn đực giống đã bị nhiễm

- Tiêm bao vây xung quanh ổ dịch, sau đó tiêm thẳng vắc-xin vào ổ dịch với mục đích nhằm nhanh chóng bao vây và dập tắt ổ dịch, con ốm phát bệnh, con khỏe có miễn dịch

Xử lý đối với các đàn có lợn mắc bệnh chết:

- Khi dịch còn ở diện hẹp: tiến hành tiêu hủy ngay số lợn mắc bệnh trên cơ

sở triệu chứng bệnh tích mà không chờ kết quả xét nghiệm

Trang 36

- Trường hợp dịch xảy ra trên diện rộng: nhiều hộ gia đình có lợn bệnh và nhiều lợn mắc bệnh tiêu hủy những lợn mắc bệnh nặng, những lợn mắc bệnh nhẹ

xử lý như sau:

Lợn có trọng lượng < 20kg phải tiêu hủy bằng cách chôn hoặc đốt;

Lợn có trọng lượng >20kg phải giết mổ bắt buộc và thịt có thể sử dụng làm thực phẩm sau khi luộc chín Phủ tạng và các sản phẩm khác phải tiêu hủy

- Tiến hành vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, khu vực chăn nuôi, lối ra vào, khu vực tập trung lợn phải tiêu hủy, khu vực tiêu hủy hoặc chôn lấp lợn Những người tham gia quá trình xử lý, tiêu hủy lợn phải thực hiện việc vệ sinh, tắm rửa để tiêu diệt mầm bệnh, tránh làm phát tán mầm bệnh ra các địa điểm khác

- Việc tiêu hủy, chôn lấp lợn bệnh cần thực hiện như sau:

Làm chết lợn trước khi tiêu hủy, cho lợn vào bao tải, buộc chặt miệng bao, tập trung một chỗ để phun thuốc sát trùng trước khi vận chuyển đến hố chôn;

Hố chôn phải nằm ngay trong vùng dịch, nhưng phải cách nhà dân, giếng nước, khu chuồng nuôi từ 30-100m, có đủ diện tích;

Trình tự chôn: sau khi đào hố, rải một lớp vôi bột xuống đáy hố, đổ bao chứa xác lợn xuống hố, phun thuốc sát trùng hoặc rắc vôi bột lên trên và lấp đất, phải đảm bảo răng lớp đất phủ lên xác lợn phải dày ít nhất là 1m Phun sát trùng khu vực chôn lấp để hoàn tất quá trình tiêu hủy

Biện pháp xử lý đối với các đàn chưa có bệnh, vùng chưa có dịch:

- Đối với những đàn lợn chăn nuôi nhỏ lẻ:

Khuyến khích việc giết mổ, tiêu thụ tại chỗ đối với những đàn này;

Áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học và thường xuyên vệ sinh tiêu độc môi trường, khu vực chăn nuôi

- Đối với những cơ sở chăn nuôi lợn thịt quy mô tập trung:

Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học và thường xuyên vệ sinh tiêu độc môi trường, khu vực chăn nuôi;

Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, nâng cao sức đề kháng cho lợn;

Những cơ sở đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y, có áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, đã tiêm vắc-xin phòng bệnh dịch tả lợn và còn miễn dịch thì được

Trang 37

phép vận chuyển ra khỏi vùng dịch đến thằng lò giết mổ được chỉ định trước để giết mổ Lợn phải được vận chuyển bằng xe chuyên dụng, đảm bảo không làm rơi vãi chất thải trên đường đi, không được dừng nghỉ trên đường vận chuyển Phương tiện vận chuyển phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc kỹ trước khi rời khỏi cơ sở chăn nuôi và từ lò giết mổ

- Đối với các cơ sở chăn nuôi lợn nái, lợn đực giống: trong bất kỳ trường hợp nào, không được phép vận chuyển lợn giống ra khỏi cơ sở chăn nuôi, vùng đang có bệnh dịch tả lợn lưu hành và đang gây thành dịch Cần thực hiện theo dõi, giám sát chặt chẽ đàn lợn cho đến khi có quyết định công bố hết dịch trên địa bàn mới được phép vận chuyển đi địa phương khác; tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn

Ngày đăng: 02/04/2021, 23:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh (2001). Nghiên cứu dịch tễ học bệnh Dịch tả lợn cổ điển và các biện pháp phòng chống ở một số tỉnh vùng Bắc Trung bộ. Viện Thú y Quốc gia Khác
2. Bùi Quang Anh và Nguyễn Xuân Thủy (1999). Kết quả khảo sát bệnh Dịch tả lợn những năm gần đây tại một số tỉnh Bắc Trung Bộ. Tạp chí khoa học và kỹ thuật Thú y. (6). tr. 72 Khác
3. Bùi Trần Anh Đào và Nguyễn Hữu Nam (2009). Một số đặc điểm bệnh lý ở lợn mắc bệnh dịch tả. Tạp chí khoa học và phát triển. 7 (2). tr. 166-171 Khác
4. Đào Trọng Đạt và cs. (1988). Miễn dịch thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng của lợn con chống virus Dịch tả lợn. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y Khác
5. Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984). Tình hình dịch tễ của bệnh Dịch tả lợn ở Việt Nam và vấn đề phòng chống. Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y. tr. 5-10 Khác
6. Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989). Một số nét đặc trưng về dịch tễ học và bệnh lý lâm sàng Dịch tả lợn hiện nay. Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y 1985 – 1989 Khác
7. Đào Trọng Đạt, Nguyễn Tiến Dũng và cs. (1988). Miễn dịch thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng của lợn con chống virus dịch tả lợn. Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y. tr. 7-9 Khác
8. Lê Độ (1980). Bệnh dịch tả lợn ở miền Bắc Việt Nam trong 20 năm (1960-1980). Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. 3 (2). tr. 1-9 Khác
9. Lê Văn Năm (2010). Bệnh ở lợn Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 5-18 Khác
10. Nguyễn Lương (1997). Dịch tễ học Thú y phần chuyên khoa. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 124-154 Khác
11. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên và Trần Thị Lan Phương (1997). Vi sinh vật Thú y. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 72-79 Khác
12. Nguyễn Phục Hưng và cs. (2018). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Dịch tả lợn tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2017. Khoa học kỹ thuật Thú y. Tập 25 Khác
13. Nguyễn Thị Phương Duyên và cs. (2000). Thăm dò phát hiện KN và KT bằng phương pháp ELISA. Tạp chí Khoa học và kỹ thuật Thú y. 3 (1). tr.155-157 Khác
14. Nguyễn Tiến Dũng (2002). Tập huấn và hội thảo phương pháp phòng chống và chẩn đoán bệnh DTL ở Việt Nam. Viện Thú y Quốc Gia Khác
15. Nguyễn Tiến Dũng và cs. (1997). Sơ bộ đánh giá miễn dịch thụ động chống virus DTL ở đàn lợn con theo mẹ bằng phương pháp ELISA. Báo cáo Khoa học kỹ thuật Thú y 1996-1997 Khác
16. Nguyễn Vĩnh Phước (1978). Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc. NXB Nông nghiệp Hà Nội. tr. 186-187 Khác
17. Nguyễn Xuân Bính (1998). Hiệu quả kinh tế sau một năm thực hiện chương trình kiểm tra và xử lý bệnh DTL mãn tính trên đàn lợn giống của tỉnh Long An. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. 5 (1). tr. 90-91 Khác
18. QCVN 01-83: 2011/BNNPTNT (2011). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bệnh động vật - yêu cầu chung lấy mẫu bệnh phẩm, bảo quản và vận chuyển Khác
19. TCVN 5273:2010 (2010). Bệnh động vật-Quy trình chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn Khác
20. Trương Quang và Mai Thế Phong (2006). Khảo sát tỷ lệ nhiễm virut và xác định kháng thể đặc hiệu dịch tả lợn bằng phản ứng Elisa. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y.II. Tài liệu tiếng Anh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w