1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Độ tin cậy và giá trị phiên bản việt ngữ của chỉ số đánh giá sức khỏe răng miệng người cao tuổi (gohai)

87 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ sốnày được sử dụng trong nhiều nghiên cứu cắt ngang, nhiều nghiên cứu tiến cứucũng như những nghiên cứu so sánh giữa những quốc gia khác nhau.Vào năm 1990, Atchison và Dolan đã p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ

Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 3

1.1 Sức khỏe răng miệng liên quan đến chất lượng cuộc sống 3

1.3 Chuyển ngữ và thích ứng văn hóa của bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS 111.4 Giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS 131.5 Bộ câu hỏi đánh giá sức khỏe răng miệng người cao tuổi-GOHAI 19

2.1 Giai đoạn I – Chuyển ngữ và nghiên cứu thử nghiệm bộ câu hỏi GOHAI 26

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GOHAI Chỉ số đánh giá sức khỏe răng miệng người cao tuổi

GOHAI-SC Điểm số đếm đơn giản GOHAI

SK-CLCS Sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống

SKRM-CLCS Sức khỏe răng miệng liên quan đến chất lượng cuộc

sống

Trang 5

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT-ANH

Chỉ số đánh giá sức khỏe răng miệng

người cao tuổi

Geriatric oral health assesment index

Độ tin cậy đo-đo lại Test-retest reliability

Độ tin cậy nhất quán bên trong Internal consistency reliability

Độ tin cậy thay thế-hình thức Alternate-form reliability

Giá trị xây dựng Construct validity

Giá trị phân biệt Discriminative validity

Giá trị tiêu chuẩn Criterion validity

Hệ số nội tương quan Intraclass correlation coefficient (ICC)

Phương pháp phân đôi Split-half method

Suy nghĩ- nói thành lời Think-aloud

Thang đo tự đánh giá chung Global self-rating

Thích ứng văn hóa Cross-culturally adaptation

Tổ Chức Y tế Thế Giới World Health Organization

Tương hợp hoàn toàn

Trang 6

Tương quan giữa các biến Inter-item correlationTương quan giữa biến-thang đo Item-scale correlation

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

1.2 Những tình huống khác nhau cần chú ý đến sự thích ứng văn hóa 12

1.4 Một số nghiên cứu đánh giá độ tin cậy và giá trị bộ câu hỏi GOHAI 22

3.7 Phân bố câu hỏi khảo sát bộ câu hỏi GOHAI thử nghiệm 373.8 Độ tin cậy của bộ câu hỏi GOHAI-VN thử nghiệm 393.9 Phân bố các câu trả lời theo từng câu hỏi GOHAI-VN 42

3.10 Giá trị trung bình điểm số GOHAI ở 146 đối tượng nghiên cứu 43

3.12 Độ tin cậy đo-đo lại điểm số GOHAI sử dụng hệ số nội tương quan ICC 44

3.13 Hệ số tương quan theo từng câu hỏi GOHAI-VN 44

3.14 Trung bình hiệu số giữa 2 lần đo của điểm số GOHAI 45

3.16 Tương quan giữa điểm số GOHAI và một số nhóm đối tượng nghiên cứu 47

3.18 Phân tích hậu kiểm điểm số GOHAI và số răng còn lại 50

4.19 Trung bình điểm số GOHAI-ADD ở một số nghiên cứu 56

4.20 Hệ số Cronbach’s alpha của bộ câu hỏi GOHAI ở một số nghiên cứu 584.21 Giá trị hội tụ của bộ câu hỏi GOHAI ở một số nghiên cứu 604.22 Giá trị phân biệt của bộ câu hỏi GOHAI ở một số nghiên cứu 61

Trang 9

Từ lâu, những hậu quả về mặt tâm lý-xã hội của tình trạng răng miệng nhậnđược rất ít sự quan tâm, vì chúng hiếm khi đe dọa tính mạng Thậm chí, xoangmiệng được tách ra như là một phần khác của cơ thể khi đánh giá về tình trạng sứckhỏe tổng quát Tuy nhiên, sau đó đó có rất nhiều nghiên cứu nhấn mạnh rằngnhững rối loạn răng miệng cũng gây ra những hậu quả về cảm xúc và tâm lý-xã hộinhư tất cả các rối loạn khác của cơ thể Đó là mối liên hệ của sức khỏe răng miệngđến chất lượng cuộc sống (SKRM-CLCS).

SKRM-CLCS là một khái niệm tương đối mới bao gồm nhiều yếu tố liênquan mật thiết Tổ chức Y tế Thế Giới (năm 2003) đã xác định SKRM-CLCS là mộtphần không thể tách rời của sức khỏe nói chung và là một bộ phận quan trọng trongchương trình Sức Khỏe Toàn Cầu [47] SKRM-CLCS có rất nhiều tác động quantrọng đến thực hành lâm sàng hàng ngày cũng như trong lĩnh vực nghiên cứu củangành nha

Từ lâu, đã có rất nhiều biện pháp đánh giá SKRM-CLCS được hình thành vàphát triển Từ các chỉ số xã hội đơn giản đến các bộ câu hỏi nhiều mục chuyên biệtđược sử dụng như chỉ số tác động sức khỏe răng miệng (OHIP), sức khỏe răngmiệng ảnh hưởng lên sinh hoạt hàng ngày (OIDP), chỉ số tình trạng SKRM chủquan (S-OHIS) Sử dụng một trong những chỉ số này là một trong những biện pháphiệu quả và chi tiết nhất cho việc đánh giá SKRM-CLCS Hầu hết những phương

Trang 10

tiện đo lường SKRM-CLCS cho thấy sự chính xác và tính giá trị cao Các chỉ sốnày được sử dụng trong nhiều nghiên cứu cắt ngang, nhiều nghiên cứu tiến cứucũng như những nghiên cứu so sánh giữa những quốc gia khác nhau.

Vào năm 1990, Atchison và Dolan đã phát triển bộ câu hỏi GOHAI đo lườngSKRM-CLCS ở người cao tuổi và được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới[8] Tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi GOHAI đã được xác nhận ở nhiềuphiên bản như tiếng Đức [24], Malaysia [37], Trung Quốc [57], Pháp [52], Hà Lan[35], Iran [42] Tuy nhiên, không phải tất cả những bộ câu hỏi về SKRM-CLCSđều có giá trị sử dụng cho cộng đồng tại Việt Nam Một bộ câu hỏi được sử dụng ởmột quốc gia có nền văn hóa và ngôn ngữ khác cần trải qua quá trình thích ứng vănhóa chặt chẽ [22] Do đó rất cần thiết phải chuyển ngữ phù hợp và phải có quy trìnhđánh giá độ tin cậy và giá trị của bộ câu hỏi GOHAI khi sử dụng cho một cộngđồng dân số khác biệt

Riêng tại Việt Nam, dân số cao tuổi đang tăng lên nhanh chóng cả về sốlượng và tỉ lệ so với tổng dân số Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi tạiViệt Nam chiếm 17% và năm 2050 là 25% (theo Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóagia đình, Bộ Y Tế năm 2017) Sự già hóa dân số gây ra nhiều thách thức cho tăngtrưởng kinh tế cũng như các dịch vụ an sinh xã hội, chăm sóc y tế Do vậy việc đánhgiá SKRM-CLCS của người cao tuổi tại Việt Nam là một nhu cầu bức thiết

Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là sau khi chuyển ngữ, bộ câu hỏi GOHAI có

đủ tính giá trị và độ tin cậy hay không để đánh giá ảnh hưởng của sức khỏe răngmiệng đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại Việt Nam

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá ―Độ tin cậy và giá trị phiên

bản Việt Ngữ của chỉ số đánh giá sức khỏe răng miệng người cao tuổi‖, với

những mục tiêu như sau:

1 Đo lường độ tin cậy của bộ câu hỏi GOHAI phiên bản Việt ngữ.

2 Đo lường giá trị của bộ câu hỏi GOHAI phiên bản Việt ngữ.

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sức khỏe răng miệng liên quan đến chất lượng cuộc sống

1.1.1 Sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống

Nếu như có nhiều định nghĩa về bệnh tật thì định nghĩa về sức khỏe cònnhiều phức tạp hơn Định nghĩa về sức khỏe thay đổi theo từng thời điểm cụ thể.Những định nghĩa sớm nhất về sức khỏe thường chỉ tập trung vào khả năng hoạtđộng chức năng bình thường của cơ thể, sức khỏe lúc này được xem là tình trạngchức năng bình thường mà không bị ảnh hưởng bởi bệnh tật [25] Sau này vào năm

1948, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã đề xuất một định nghĩa với mục tiêu caohơn, và có tầm nhìn rộng hơn khi liên kết sức khỏe và sự khỏe mạnh về ―thể chất,tinh thần và xã hội và không đơn thuần là không có bệnh tật‖ [54] Tuy khái niệmnày là rất rộng và rất khó đo lường nhưng là một khái niệm mới về sức khỏe, chothấy tầm nhìn bao quát và nêu bật được khía cạnh tâm lý-xã hội của nó

Cách mà người ta đánh giá về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cũng từ đóthay đổi Can thiệp về y tế không chỉ giúp bệnh nhân cải thiện về mặt thể chất, màcòn phải tăng cường về mặt tâm lý-xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnhnhân Chăm sóc sức khỏe đảm bảo chất lượng, hiệu quả và đầy đủ thường đượcđánh giá bằng những ảnh hưởng đến ―chất lượng cuộc sống‖ của bệnh nhân

Khái niệm chất lượng cuộc sống (CLCS) lần đầu tiên được nhắc đến bởi mộtnhà kinh tế học người Anh Arthur Cecil Pigou vào năm 1920 Sau chiến tranh ThếGiới thứ II, thuật ngữ này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như xã hội, chínhtrị và sức khỏe Những nhà tâm lý học về sức khỏe đã nhận ra rằng ―tâm lý của mộtngười như sự lạc quan, sự kiên cường có liên quan đến chất lượng cuộc sống củamột cá nhân, đặc biệt là khi người đó có khả năng chống chọi như thế nào với mộtcăn bệnh hoặc với một tình trạng sức khỏe kém [47]

Vào năm 1995, Tổ chức Y tế Thế Giới đã định nghĩa CLCS là ―nhận thứccủa một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh về văn hóa và

Trang 12

những hệ thống giá trị nơi họ sống và liên quan đến những mục tiêu, những mongđợi, những tiêu chuẩn và những mối quan tâm‖ [47] CLCS nói đến ở đây là mộtkhái niệm đa chiều rộng lớn, nó bao gồm những đánh giá mang tính chủ quan về cảhai khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống [55] Ngoài ra, nhận thức của mộtngười về sức khỏe liên quan đến CLCS (SK-CLCS) sẽ thay đổi theo từng thời điểm

và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Như vậy, sức khỏe cũng như CLCSđều là những khái niệm rộng, đa chiều và việc đo lường mối tương quan này đanggặp nhiều khó khăn

Đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để hiểu rõ về mối tương quanSK-CLCS Các tác giả đã cố gắng hình thành nhiều mô hình lý thuyết về vấn đềnày Tình trạng sức khỏe, tình trạng chức năng và SK-CLCS là những thuật ngữhoán đổi cho nhau khi đề cập đến sức khỏe của một người Sự khác biệt này tùythuộc vào mục tiêu của đo lường, chính sách và kết quả hướng tới khi thực hiệnnghiên cứu

Năm 1995, Wilson và Cleary (1995) đề xuất mô hình SK-CLCS giải thíchrằng những thay đổi về sinh lý học ảnh hưởng đến những triệu chứng, sau đó lại ảnhhưởng đến chức năng Tình trạng chức năng này lần lượt tác động đến nhận thức về

sức khỏe chung và ảnh hưởng đến tổng thể SK-CLCS (Hình 1.1).

Hình 1.1 Mô hình về SKRM-CLCS đề xuất bởi Wilson và Cleary [17].

Như vậy SK-CLCS là một phần của CLCS và việc đo lường SK-CLCS lànhằm nắm bắt CLCS trong bối cảnh sức khỏe và bệnh tật [20] SK-CLCS góp phần

Những thay đổi về sinh học

và sinh lý học

Tình trạng Triệu chứng

Trạng thái Chức năng

Tổng thể chất lượng cuộc sống

Nhận thức

về sức khỏe chung Đặc trưng của cá thể

Đặc trưng của môi trường

Trang 13

giúp cơ quan y tế đưa ra những chính sách, những chương trình hướng vào việc cảithiện sức khỏe cá nhân và cộng đồng đi kèm với nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.1.2 Sức khỏe răng miệng liên quan chất lượng cuộc sống

Mặc dù những vấn đề về sức khỏe răng miệng hiếm khi tác động nhiều đếnsức khỏe chung, nhưng chúng vẫn là những trở ngại phổ biến vì tỉ lệ bệnh răngmiệng cao trong dân số Tương tự như sức khỏe tổng quát, việc đo lường SKRMcũng phát triển theo hướng từ chức năng sang khỏe mạnh, từ khái niệm đơn hướngsang đa hướng, từ điều trị sang phòng ngừa bệnh tật [20]

Rất nhiều khái niệm khác nhau về SKRM-CLCS đã ra đời và có tính giá trịcao Năm 1976, Cohen và Jago lần đầu tiên phát triển một chỉ số xã hội-nha khoabao gồm nhiều điểm số khác nhau đánh giá CLCS Sau đó rất nhiều nghiên cứukhác đã phát triển các biện pháp đo lường SKRM-CLCS (Slade và Spencer, 1994;Broder và c.s, 2000; McGrath và Bedi, 2003) [47] Những nghiên cứu này bắt đầuđưa ra khái niệm làm thế nào mà sức khỏe răng miệng liên quan chất lượng cuộcsống (Gift và Atchison, 1995) [20] và có những khái niệm hiểu rõ hơn về mối liênquan giữa những chỉ số lâm sàng truyền thống, dữ liệu khi thăm khám lâm sàng,việc lấy người bệnh làm trung tâm cũng như việc tự báo cáo về sức khỏe của chínhmình

Một định nghĩa khác được Gift và Atchison đề xuất năm 1995: CLCS là sự tự báo cáo một cách cụ thể liên quan đến sức khỏe răng miệng, về cảnhững ảnh hưởng về mặt chức năng, xã hội và tâm lý của bệnh răng miệng‖ SKRMảnh hưởng đến phần còn lại của cơ thể và ngược lại sức khỏe chung và CLCS cũngảnh hưởng đến SKRM Khái niệm này được dựa trên năm lĩnh vực tương tác vớinhau là: cơ hội/khả năng hồi phục, nhận thức về sức khỏe, trạng thái chức năng,khiếm khuyết/bệnh tật và tuổi thọ [20]

―SKRM-Năm 2011, Sischovà Broder đưa ra mô hình SKRM-CLCS được xây dựngdựa trên lý thuyết khoa học về tâm lý học và xã hội học và những phát hiện về dịchtễ

Trang 14

*Chỉ áp dụng cho trẻ em

Hình 1.2 Mô hình về SKRM-CLCS đề xuất bởi Sischo và Broder [48].

Mô hình này là sự kết hợp từ các yếu tố sinh học, xã hội, tâm lý và văn hóa

Mô hình này thể hiện sự kết nối tình trạng sức khỏe và những thay đổi về mặt lâmsàng, tình trạng chức năng, hình dạng miệng-mặt, tình trạng tâm lý, SKRM-CLCS

và tổng thể CLCS Mô hình này cũng cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tô môitrường và ngữ cảnh bên ngoài, phù hợp với mô hình SK-CLCS của Wilson và

Cleary (1995) (Hình 1.2).

Một mô hình SKRM-CLCS khác được Locker (năm 1988) đề xuất dựa trênphân loại của WHO về sự khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật Mô hình này ghi nhậnnhững hậu quả tâm lý và chức năng của bệnh tật [17] Ví dụ như, người bị mất răngđược xem là có khiếm khuyết (hậu quả của mất răng) và sẽ dẫn đến những khuyết

tật trong cuộc sống hàng ngày như ăn và nói (Hình 1.3).

Đặc trưng cá thểNhân khẩu học, tình trạng tâm lý, (ví dụ:

trầm cảm, tính kiên định…); Bệnh sử y khoa

Sinh học/hệ gen(Dạng/mức độ khiếmkhuyết)

Tổng thể CLCSSKRM-CLCS

Các triệu chứng

Sự khỏe mạnh về chức năngSức khỏe răng miệng

Trang 15

Hình 1.3 Mô hình về SKRM-CLCS đề xuất bởi Locker [17]

Thông qua các khái niệm kể trên, có thể rút ra các kết luận rằng:

- SKRM góp phần vào sức khỏe chung như là một yếu tố sinh học thiết yếuthông qua việc đảm bảo hệ thống nhai, nuốt và ở mức tâm lý-xã hội như giao tiếp,thẩm mỹ, sự tự tin Khi SKRM kém sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe chung và tổng thểCLCS

- SKRM-CLCS bao gồm nhiều yếu tố liên quan mật thiết và ảnh hưởng củaSKRM là theo nhiều chiều hướng khác nhau lên CLCS Tuy nhiên, SKRM-CLCS

có tính cá thể, liên quan đến cuộc sống hàng ngày và thậm chí những bệnh nhân vớitình trạng răng miệng kém cũng có thể báo cáo về tình trạng CLCS tốt Tương tựnhư SK-CLCS, SKRM-CLCS luôn thay đổi theo từng thời điểm ở mỗi cá nhân

1.1.3 Tại sao SKRM-CLCS lại quan trọng

Sức khỏe răng miệng quan trọng về cả mặt lý thuyết lẫn thực hành Bộ y tếHoa Kỳ đã xác định SKRM-CLCS như là một lĩnh vực sức khỏe ưu tiên và hiện naycác vấn đề CLCS đi đầu trong các chính sách y tế công cộng [6] Sức khỏe răngmiệng có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của bất kì ai SKRM-CLCS cho thấy lợi íchcủa nó trong việc nghiên cứu trên rất nhiều dân số khác nhau kể cả những bệnhnhân với tình trạng ung thư vùng miệng [46], trẻ mới biết đi với tình trạng sâu răngsớm [18] hoặc bệnh nhân tâm thần phân liệt [15] Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO)xác định SKRM-CLCS là một phần không thể tách rời của sức khỏe chung và làmột bộ phận quan trọng trong chương trình Sức Khỏe Toàn Cầu [47]

Bệnhtật

Khiếmkhuyết

Cái chết

Sự khôngthoải mái

Giới hạnchức năng Khuyết tật

Tàn tật

Trang 16

Đo lường SKRM-CLCS có rất nhiều tác dụng Trong thực hành lâm sàng, nó

có thể được sử dụng để lựa chọn điều trị và theo dõi kết quả Ở thử nghiệm lâmsàng và nghiên cứu dịch tễ học, nó là một phương tiện hữu ích để xác định các yếu

tố quyết định sức khỏe, điều tra tiến trình bệnh và lượng giá quá trình chăm sóc vàđiều trị Từ đó đề ra các chính sách ưu tiên, đưa ra các quyết định tài trợ [20]

Về mặt lâm sàng, những đánh giá về SKRM-CLCS cho phép thay đổi cáctiêu chuẩn y khoa/nha khoa truyền thống khi đánh giá và chăm sóc sức khỏe, theo

đó các tiêu chuẩn mới sẽ tập trung trên khía cạnh xã hội, cảm xúc của người bệnhnhằm đem đến mục tiêu và kết quả điều trị thích hợp nhất [47]

Nghiên cứu khoa học trong nha khoa về SK-CLCS trong những năm gần đây

đã phát triển mạnh mẽ vì: (1) bệnh nhân có vai trò chủ động hơn như một thànhviên của đội ngũ điều trị, (2) sự cần thiết của phương pháp tiếp cận dựa trên bằngchứng trong thực hành y khoa và (3) thực tế là nhiều phương pháp điều trị các bệnhmãn tính không thể chữa khỏi bệnh mà chỉ giúp bệnh nhân sống chung với bệnh,qua đó nâng cao tầm quan trọng của SK-CLCS như là một biến số kết quả sức khỏe

có giá trị [34]

Rất nhiều bệnh toàn thân có biểu hiện trong miệng và có mối tương quan vớinhững thói quen về răng miệng Ví dụ như bệnh viêm nha chu và tiểu đường, sựnhiễm trùng van tim hoặc viêm khớp do điều trị răng miệng, bệnh ung thư biểu hiệntrong niêm mạc miệng…Tuy nhiên, hầu hết các báo cáo đều dựa trên các chỉ số lâmsàng và vẫn chưa có bằng chứng toàn diện nào về SKRM góp phần vào sức khỏechung và SK-CLCS

Cuối cùng, SKRM-CLCS quan trọng vì nó được sử dụng rất hữu ích khi đolường ảnh hưởng của sự chênh lệch về chăm sóc SKRM lên sức khỏe chung vàCLCS Sự chênh lệch về chăm sóc SKRM liên quan đến kinh tế và chủng tộc/dântộc tạo nên một vấn đề xã hội to lớn [39] Sự chênh lệch này có thể giải thích bởi sựtiếp cận hạn chế hệ thống chăm sóc sức khỏe Ở các quốc gia đang phát triển có thểthiếu hụt cơ sở y tế, thiếu nguồn nhân lực y tế Còn ở các quốc gia phát triển là sự

Trang 17

hạn chế về chi phí điều trị Từ việc đánh giá này, các chính sách xã hội về y tế đượcxem xét và đề xuất.

Như vậy, SKRM-CLCS được coi là xu hướng mới và toàn diện khi đánh giá

về vấn đề sức khỏe Nó được sử dụng ngày càng rộng rãi trong cả thực hành lâm sàng và nghiên cứu Đo lường SKRM-CLCS thể hiện được tính cấp thiết của nó ở khía cạnh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

1.2 Các phương pháp đo lường SKRM-CLCS

Về cơ bản có ba loại đo lường SKRM-CLCS, đó là các chỉ số xã hội, thang đo

tự đánh giá thông thường và bộ câu hỏi nhiều mục về SKRM-CLCS

- Các chỉ số xã hội được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của tình trạng răng

miệng ở mức độ cộng đồng Thông thường, các khảo sát trên mẫu dân số lớn đượctiến hành để nghiên cứu gánh nặng của bệnh răng miệng trên toàn bộ dân số Cácchỉ số xã hội như số ngày hoạt động hạn chế, số ngày nghỉ việc và nghỉ học do tìnhtrạng răng miệng Trong khi chỉ số xã hội có ý nghĩa với những người đề ra chínhsách, nó lại có những hạn chế trong việc đánh giá SKRM-CLCS Ví dụ như sử dụng

số ngày nghỉ việc để đánh giá ảnh hưởng của tình trạng răng miệng là không phùhợp với những người không làm việc [45]

- Thang đo tự đánh giá chung về SKRM-CLCS còn được gọi là thang đo một

chỉ báo, là phương pháp đánh giá SKRM-CLCS dựa trên câu trả lời cho một câu hỏiduy nhất Những câu trả lời cho những câu hỏi chung có thể ở một dạng một loạtnhững câu trả lời rõ ràng hoặc ở dạng thang đo trực quan (thang đo VAS) [45].Những câu trả lời của thang đo này rất đơn giản và phương pháp này có thể áp dụngcho tất cả các phạm trù xã hội Ví dụ, đối tượng được hỏi: ―Ông/bà có thể chỉ ramức độ hài lòng về sức khỏe răng miệng của mình như thế nào?‖ Câu trả lời là nămthang điểm khác nhau, từ ―hoàn toàn hài lòng‖ đến ―hoàn toàn không hài lòng‖.Phương pháp này đơn giản, có thể áp dụng trên quy mô lớn, ngay cả trong khảo sát

Trang 18

quốc gia và các chương trình sức khỏe răng miệng cộng đồng Ngoài ra thang đonày còn được sử dụng để xác nhận giá trị của bộ câu hỏi nhiều mục.

- Bộ câu hỏi nhiều mục là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá

SKRM-CLCS dựa trên một bộ các câu hỏi khảo sát Các câu hỏi này được thiết kế

để đánh giá về các khía cạnh cụ thể trong SKRM-CLCS Các nhà nghiên cứu đãphát triển các bộ câu hỏi ngày càng đặc hiệu hơn cho việc đánh giá SKRM-CLCS

Có thể kể đến các bộ câu hỏi như: thang đo lường mức độ lo âu trong nha khoa, tìnhtrạng ung thư đầu mặt cổ, dị dạng hàm mặt hay thang đo đánh giá những dân số đặcbiệt như là trẻ em, người cao tuổi [45], [8], [18] Phương pháp này đánh giá toàndiện hơn và được sử dụng rộng rãi, không chỉ trong nghiên cứu dịch tễ mà còn trongthực hành lâm sàng

Trên thế giới đã có nhiều hệ thống câu hỏi đánh giá ảnh hưởng của SKRM lên

CLCS Bảng 1.1 trình bày 10 bộ câu hỏi được công nhận có giá trị và đáng tin cậy

trong đo lường SKRM-CLCS tại hội nghị Quốc tế lần đầu về đo lường sức khỏerăng miệng [49]

Bảng 1.1 Các bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS

Tác giả (năm) Bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS

Atchison và Dolan (1990) Chỉ số đánh giá sức khỏe răng miệng người cao tuổi

(GOHAI)Strauss và Hurt (1993) Chỉ số tác động nha khoa (DIP)Slade và Spencer (1994) Chỉ số tác động SKRM (OHIP)Adulyanon và Sheiham (1996) Tác động răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày (OIDP)Locker và Miller (1994) Chỉ số tình trạng SKRM chủ quan (SOHIS)Kress (1996) Chỉ số đo lường SKRM-CLCS (OHQOL)Leao và Sheiham (1996) Tác động nha khoa lên hoạt động hàng ngày (DIDL)Cornell (1990) Đánh giá SKRM-CLCS ( OH-QoL)

Dolan và Gooch (1991) Chỉ số sức khỏe răng miệng RAND (DHQ)

Gherumpong, Tsakos (2004) Tác động SKRM lên sinh hoạt hàng ngày ở trẻ em

(Child-OIDP)

Trang 19

1.3 Chuyển ngữ và thích ứng văn hóa của bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS

Với sự gia tăng ngày càng nhanh của những nghiên cứu mang tính chất đa quốcgia, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến SK-CLCS áp dụng một phương tiện

đo lường ở một nền văn hóa, quốc gia khác thì sự khác biệt về mặt ngôn ngữ, vănhóa có thể dẫn đến nhiều sai lệch hệ thống Thậm chí kể cả bên trong một quốc gianơi một bộ câu hỏi được hình thành thì cũng có những sự khác biệt về văn hóa, ví

dụ như những người nhập cư

Từ đó, các nhà nghiên cứu giành rất nhiều sự quan tâm đến quá trình thích ứngvăn hóa và đưa ra kết luận về sự cần thiết của quá trình thích ứng văn hóa để đảmbảo sự đồng nhất của phương tiện đo lường Sự thích ứng văn hóa ở đây không chỉđơn thuần là bộ câu hỏi được dịch tốt về mặt ngôn ngữ mà còn phải duy trì được giá

trị nội dung của bộ câu hỏi gốc ở mức khái niệm khi chuyển ngữ qua một nền văn

hóa khác [45] Nghĩa là, những mô hình khái niệm được phát triển và có tính giá trị

ở một nền văn hóa gốc phải được kiểm tra và xác định lại giá trị của nó khi chuyểnngữ Đây là bước rất cần thiết để đảm bảo tính chính xác và góp phần giải quyếtđược các vấn đề quan trọng liên quan ở một nền văn hóa riêng biệt

Nếu không có một công cụ đo lường SKRM-CLCS thích hợp với ngôn ngữ củađất nước mình thì nhà nghiên cứu có hai lựa chọn:

(1) Phát triển một công cụ mới

(2) Định chuẩn một công cụ đã được xác định giá trị trước đó của một ngôn ngữkhác bằng quá trình thích ứng văn hóa

Phát triển công cụ đo lường mới tốn nhiều thời gian, công sức cũng như ngânsách vì vậy cách này thường ít được lựa chọn Hiện nay phần lớn các nghiên cứuđều áp dụng cách thứ hai

Thích ứng văn hóa cần thiết phải được tiến hành trong nhiều tình huống khácnhau Một số tình huống thì đặc biệt quan trọng hơn những tính huống khác Beaton

Trang 20

so sánh ngôn ngữ và văn hóa dân số mục tiêu (nơi mà bộ câu hỏi được sử dụng) vàdân số nguồn (nơi nó được phát sinh).

Bảng 1.2 Những tình huống khác nhau cần chú ý đến sự thích ứng văn hóa

Sử dụng bộ câu hỏi

Có sự thay đổi về

Yêu cầu thích ứngVăn

hóa

Ngônngữ

Đấtnước

Chuyểnngữ

Thích ứngvăn hóa

A Sử dụng trong cùng một dân số Không

thay đổi về văn hóa, ngôn ngữ hoặc quốc gia

so với bản gốc

-B Sử dụng trên những người nhập cư trên

C Sử dụng trên quốc gia mới, cùng ngôn ngữ  -  - 

D Sử dụng trên những người nhập cư mới nói

tiếng Anh nhưng trong cùng quốc gia bộ câu

hỏi ra đời

E Sử dụng trên quốc gia và ngôn ngữ khác     

Theo hướng dẫn của Beaton và c.s [22] tính tương đương cần đạt được giữaphiên bản gốc và phiên bản chuyển ngữ cần có bốn tính chất sau:

 Tương đương về ngữ nghĩa: Các từ có cùng một nghĩa giống nhau hay

không? Có nhiều nghĩa trên một mục nào đó không? Có trở ngại về mặt ngữpháp trong bản dịch hay không?

 Tương đương về thành ngữ: văn nói và các thành ngữ nếu có cần phải

chuyển ngữ tương đương

 Tương đương về mặt thực nghiệm: từ ngữ trong bộ câu hỏi phải được thay

thế bằng các từ ngữ tương tự thực tế có trong nền văn hóa nơi chuyển ngữ

Ví dụ: ―Bạn có gặp khó khăn khi ăn bằng nĩa‖? Trong khi nĩa không phải làdụng cụ thường dùng trong một số quốc gia

Trang 21

 Tương đương về mặt khái niệm: Từ ngữ thường có những nghĩa khác nhau

về mặt khái niệm giữa các nền văn hóa Ví dụ sự khác biệt giữa các nền vănhóa có các khái niệm khác nhau về định nghĩa "gia đình" – gia đình hạt nhân

so với gia đình truyền thống, gia đình đơn thân, gia đình có bố/mẹ kế

1.4 Giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS

Mục tiêu sau cùng của quá trình thích ứng văn hóa là làm sao đảm bảo được

tính nhất quán và tính giá trị về nội dung giữa bộ câu hỏi gốc và bản chuyển ngữ

Do đó, bộ câu hỏi thích ứng văn hóa cần cho thấy được độ tin cậy và giá trị giốngnhư bộ câu hỏi gốc đã chứng minh Tuy nhiên bộ câu hỏi chuyển ngữ không phảilúc nào cũng đạt được điều này, đó là do sự khác biệt khó nhận ra trong trong sinhhoạt hàng ngày giữa các nền văn hóa khác nhau Điều này làm thay đổi các đặc tínhthống kê và tâm lý học của công cụ đo lường [11]

Ủy ban tư vấn khoa học (SAC) của tổ chức Kết Quả Y khoa Tin Cậy(Medical Outcome Trust) [4] đưa ra 8 thuộc tính chìa khóa của bộ câu hỏi đo lườngsức khỏe và CLCS là:

1 Mô hình khái niệm và mô hình đo lường: mô tả các khái niệm mà công cụ

đo lường muốn nói đến thông qua một khảo sát đầy đủ với thông tin từ cácchuyên gia khi phát triển một công cụ đo lường mới

2 Độ tin cậy: là mức độ mà một công cụ đo lường không có sai số ngẫu

nhiên, gồm có 2 thuộc tính là độ tin cậy nhất quán bên trong và độ tin cậyđo-đo lại

3 Giá trị: là mức độ mà công cụ đo lường được cái muốn đo, gồm có rất

nhiều bằng chứng về tính giá trị Giá trị nội dung (sự đánh giá của hộiđồng các chuyên gia về sự rõ ràng, toàn diện và sự dư thừa của các mục vàthang đo) Giá trị xây dựng (sự tương quan logic giữa các đo lường khácnhau, giữa các điểm số, đánh giá) Giá trị tiêu chuẩn (liên quan đến giá trịđược chấp nhận rộng rãi)

Trang 22

4 Khả năng phát hiện thay đổi sau can thiệp là khả năng phát hiện những

thay đổi nhỏ nhất của phương pháp đo lường (độ nhạy với sự thay đổi)

5 Tính hiểu được khi phát triển một công cụ đo lường mới.

6 Thời gian và công sức mà người được hỏi dành để hoàn thành bộ câu hỏi.

7 Những dạng khác nhau liên quan đến cách áp dụng khác nhau của công cụ

đo lường như bộ câu hỏi tự điền, phỏng vấn, hỗ trợ của máy tính…

8 Thích ứng văn hóa và ngôn ngữ Gồm hai bước: đánh giá sự cân bằng khái

niệm và cân bằng ngôn ngữ, đánh giá đặc tính tâm lý trắc học của công cụ

đo lường

1.4.1 Giá trị

Giá trị là mức độ mà một công cụ đo lường được những gì mà nó muốn đo.Giá trị của bộ câu hỏi có thể đo lường được theo nhiều hướng sau đây:

- Giá trị tiêu chuẩn: bao gồm việc so sánh thang đo đang được phát triển với

một biện pháp đo lường tiêu chuẩn đã được xác nhận về tính giá trị [10] Đối vớicác khái niệm trừu tượng như CLCS hay SKRM-CLCS thường không có công cụ

đo lường nào được chấp nhận là tiêu chuẩn vàng Do nó không phải là một thực thểkhách quan nên phần lớn các nghiên cứu về bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCSkhông đánh giá giá trị tiêu chuẩn

- Giá trị nội dung: mô tả cách thức bộ câu hỏi phản ánh lĩnh vực đang được

điều tra Giá trị nội dung thể hiện mức độ phản ánh đầy đủ tất cả các khía cạnh vềkhái niệm mà nhà nghiên cứu muốn đo Có những vấn đề quan trọng nào trongnghiên cứu mà nhà nghiên cứu chưa đề cập đến hay không? Ví dụ như câu hỏi:

―Bạn có thường xuyên chảy máu nướu?‖ có giá trị nội dung như một chỉ báo về tìnhtrạng bệnh nha chu Giá trị này cần đánh giá khi nhà nghiên cứu phát triển bộ câuhỏi hoàn toàn mới và cần các chuyên gia để đánh giá giá trị nội dung của bộ câuhỏi Do đó không cần đánh giá trong nghiên cứu này

Trang 23

- Giá trị bề mặt: liên quan đến sự xuất hiện của phương tiện đo lường đối với

các đối tượng trong dân số nghiên cứu Rất nhiều phương tiện đo lường thực thểkhông có giá trị bề mặt Ví dụ như nghiên cứu sử dụng que nhúng đo lượng glucosetrong nước tiểu thì bệnh nhân không có khái niệm về đo lường này Giá trị bề mặtcòn liên quan đến việc đo lường được thực hiện như thế nào? Cách thức thu thậpthông tin có thực sự hợp lý và chính xác hay không? Nội dung nghiên cứu có đượcsắp xếp, bố cục tốt hay không? Không giống như giá trị nội dung, giá trị bề mặt liênquan nhiều đến yếu tố hình thức trình bày

- Giá trị xây dựng: liên quan đến công cụ đo lường có phản ánh đúng những

kỹ thuật, cách thức đo lường có phù hợp với vấn đề nghiên cứu hay không? Giá trịxây dựng mô tả làm thế nào các kết quả có được khi sử dụng công cụ phù hợp vớikhái niệm lý thuyết mà công cụ đó muốn đo lường Phương pháp chung để có đượcgiá trị xây dựng bao gồm kiểm tra các mối quan hệ hợp lý tồn tại với các biện pháp

đo lường khác cùng khái niệm và so sánh điểm số giữa các nhóm đã được biết từtrước là khác nhau về các biến cố có liên quan Chính vì vậy giá trị xây dựng gồm:

giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.

 Giá trị hội tụ: mô tả mức độ liên quan gần gũi của một phương tiện

đo lường so với một phương tiện khác tương tự về nội dung đo lường Khi xác địnhgiá trị hội tụ của một bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS, người ta cần kiểm tra mốitương quan giữa bộ câu hỏi với một công cụ đo lường SKRM khác, thường là thang

đo tổng quát về CLCS (một trong các vai trò của thang đo tổng quát là kiểm tra giátrị bộ câu hỏi)

 Giá trị phân biệt: ngược lại với giá trị hội tụ, mô tả sự không liên

quan của phương tiện với những biến số mà nó nên thực sự không liên quan nếucông cụ đo lường có giá trị Giá trị phân biệt là khả năng bộ câu hỏi phân biệt đượcnhững cấu trúc khác nhau về mặt lý thuyết Nghĩa là bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS có giá trị phân biệt khi điểm số của nó ở nhóm mang một đặc điểm nào đó

Trang 24

làm giảm/tăng SKRM-CLCS phải khác biệt có ý nghĩa với điểm số của nhómkhông mang đặc điểm này.

Tóm lại, tính giá trị là sự tụ hợp của những bằng chứng liên quan đến những

kĩ thuật đo lường đặc thù, sử dụng rất nhiều phương tiện thống kê chung và đặchiệu

1.4.2 Độ tin cậy

Độ tin cậy mô tả mức độ ổn định có được khi một đo lường được lặp lạitrong những điều kiện giống hệt nhau Nói cách khác, một phép đo tốt nên có giá trịnhư nhau nếu được áp dụng nhiều lần trong những hoàn cảnh có những đặc điểm cơbản được cho là giống nhau Thiếu độ tin cậy sẽ dẫn đến những sai lệch phân tángiữa những nhà nghiên cứu, giữa những công cụ hoặc phương tiện đo lường hoặc làkhông có sự ổn định của các thuộc tính được đo Độ tin cậy được đánh giá ở 3 dạng:

độ tin cậy đo-đo lại, độ tin cậy thay thế-hình thức và tính nhất quán bên trong.

- Độ tin cậy đo-đo lại: bộ câu hỏi có những câu trả lời giống nhau khi hoàn

tất đánh giá tại hai thời điểm khác nhau để xác định mức độ ổn định của những câutrả lời Nhà nghiên cứu có thể đánh giá độ tin cậy đo-đo lại bằng những câu hỏi đặcthù hoặc có thể đánh giá toàn bộ bộ câu hỏi Đánh giá độ tin cậy đo-đo lại thườnggặp nhiều trở ngại ở những biến số thay đổi trong một thời gian ngắn như là mạnh

mẽ, đau, hạnh phúc, mệt mỏi…Đối với những biến số này nên thực hiện đo-đo lạitrong thời gian rất ngắn Tuy nhiên vấn đề đối với phương pháp đo-đo lại này là cácđối tượng có xu hướng lặp lại tương tự những câu trả lời đơn giản dựa trên trí nhớcủa họ về lần trả lời trước Sự sai lệch này có thể giải quyết bằng độ tin cậy thay thếhình thức

Một chỉ số đo lường đáng tin cậy thường được sử dụng trong các nghiên cứu

về bộ câu hỏi là hệ số nội tương quan (ICC) Chỉ số này được tính toán dựa trênphân tích phương sai, cần xem xét kỹ mô hình được áp dụng cũng như phân phốicủa dữ kiện có chuẩn hay không Có sáu công thức khác nhau để tính ICC phụthuộc vào mục đích nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và các loại phép đo thực hiện

Trang 25

Tiêu chuẩn tối thiểu được chấp nhận là 0,7 cho so sánh nhóm và 0,9-0,95 để so sánh

cá nhân

Để đánh giá độ tin cậy đối với biến số định lượng, một phương pháp cũng

được sử dụng rộng rãi là phương pháp vẽ biểu đồ Bland-Altman Hình 1.4 là ví dụ

mô tả biểu đồ Bland-Altman, trục tung vẽ sự khác biệt tuyệt đối hay hiệu số giữahai công cụ đo lường hoặc hai lần đo lường Trục hoành là giá trị trung bình của haiphương pháp hoặc của hai lần đo, hoặc giá trị của của một phương pháp được xem

là tiêu chuẩn để so sánh

Hình 1.4 Biểu đồ Bland-Altman

- Độ tin cậy thay thế hình thức: Sử dụng những dạng từ khác nhau để đo lường

các thuộc tính tương tự Các câu hỏi và các câu trả lời được viết lại hoặc thay đổithứ tự của chúng để tạo ra bộ câu hỏi khác tương tự nhưng không giống hệt như cũ.Các mục câu hỏi chỉ được thay đổi về từ và có cùng mức độ về ngữ nghĩa, và phảiđảm bảo hai bộ câu hỏi phải cùng đo lường một khái niệm Điều này buộc người trảlời đọc các lựa chọn trả lời một cách cẩn thận và do đó làm giảm sai lệch đo-đo lại

do nhớ lại Độ tin cậy thay thế hình thức do đó tốt hơn phương pháp đo-đo lại đơngiản Độ tin cậy thay thế hình thức có thể đo lường cùng một thời điểm hoặc mộtthời điểm khác

Ví dụ:

Trang 26

Bản 1: Trong suốt tuần qua, bạn có bao

giờ cảm thấy khó chịu do vấn đề răng

 Nhiều hơn 12 lần mỗi ngày

Bản 2: Trong suốt tuần qua, bạn có baogiờ cảm thấy khó chịu do vấn đề răngmiệng?

 Cứ 12 đến 24 giờ hàng ngày

 Cứ 6 đến 8 giờ mỗi ngày

 Cứ 3 đến 5 giờ mỗi ngày

 Mỗi 2 giờ

 Nhiều hơn mỗi 2 giờ

Độ tin cậy thay thế hình thức thường được đo ở những bộ câu hỏi gốc Đối với

bộ câu hỏi chuyển ngữ thì việc thay đổi từ, ngữ trong bộ câu hỏi là rất hạn chế Vìrất khó xác định liệu rằng có làm thay đổi thực sự khi thay đổi hình thức của bộ câuhỏi, từ đó làm mất đi độ tin cậy của phương pháp Do đó, độ tin cậy thay thế hìnhthức không được đo đạc trong nghiên cứu này

- Phương pháp phân đôi: Carmines (năm 1979) [13] cũng đề xuất phương

pháp phân đôi khi tính toán độ tin cậy Cả hai phương pháp đo-đo lại và thay thếhình thức đều cần 2 lần thực hiện đánh giá với cùng một nhóm dân số Ngược lại,phương pháp phân đôi có thể thực hiện trong một lần Phương pháp này chia bộ câuhỏi ra thành 2 nửa, và điểm số thu được từ từng nửa sẽ ước lượng độ tin cậy Mỗinửa có thể coi xấp xỉ là một phần dạng thay đổi hình thức Tuy nhiên phương phápnày thì độ tin cậy ước lượng được sẽ khác theo từng cách chia khác nhau Ví dụ,mối tương quan giữa phần đầu và phần sau của bộ câu hỏi sẽ khác với mối tươngquan giữa hai phần nếu chia theo số thứ tự chẵn, lẻ của câu hỏi

- Tính nhất quán bên trong: cho biết mức độ tương quan (nhất quán) giữa các

câu hỏi trong một bộ câu hỏi, nghĩa là đo lường các khía cạnh khác nhau của cùngmột khái niệm Tính nhất quán bên trong thấp nghĩa là các câu hỏi đo lường cáckhái niệm khác nhau hoặc các câu trả lời của đối tượng không nhất quán Thườngtính nhất quán bên trong được ước tính bằng hệ số Cronbach’s alpha Hệ số

Trang 27

Cronbach’s alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ giữa mộtnhóm câu hỏi Thông thường tiêu chuẩn tối thiểu được chấp nhận cho hệ sốCronbach’s alpha là 0,7 cho so sánh nhóm, 0,9 trong các nghiên cứu lâm sàng.

1.5 Bộ câu hỏi đánh giá sức khỏe răng miệng người cao tuổi-GOHAI

1.5.1 Sự hình thành và phát triển bộ câu hỏi GOHAI

Vào năm 1990, Atchison và Dolan đã phát triển bộ câu hỏi đánh giá sứckhỏe răng miệng cho người cao tuổi tại Mỹ Bộ câu hỏi này đã chứng minh đượcgiá trị của nó đầu tiên ở những bệnh nhân lớn tuổi Sau đó, nó được khái quát hóathành chỉ số đánh giá sức khỏe răng miệng tổng quát [6]

Dựa trên những tổng quan y văn về những ảnh hưởng của sức khỏe răngmiệng và bệnh răng miệng, những biện pháp đo lường sự tự tin và yếu tố xã hội vànhững bộ câu hỏi đã có về tình trạng chức năng răng miệng, sự hài lòng của bệnhnhân Atchison và Dolan nhận thấy rằng một cá nhân có thể đánh giá SKRM của họ

ở một mức chính xác nhất định, khi kết hợp với các yếu tố khác [8]

Atchison và Dolan đã xây dựng bộ câu hỏi GOHAI ban đầu gồm có 36 mục

Bộ câu hỏi GOHAI ban đầu được hình thành từ các giả thuyết:1) có thể đo đạcSKRM khi sử dụng bảng câu hỏi tự báo cáo của bệnh nhân; 2) mức độ của SKRMrất thay đổi giữa các bệnh nhân và có thể chứng minh mức độ biến đổi này khi sửdụng phương pháp đo lường bằng cách tự báo cáo; 3) những chỉ báo về sức khỏerăng miệng bằng cách tự báo cáo được xác nhận

Sau đó, bộ câu hỏi GOHAI được đánh giá và rút gọn còn lại 12 câu hỏi

1.5.2 Nội dung của bộ câu hỏi GOHAI

Bộ câu hỏi GOHAI bao gồm 12 câu hỏi tích cực và tiêu cực đánh giá những

khía cạnh của SKRM-CLCS:1) chức năng thực thể, biểu hiện qua đặc trưng về ăn nhai, nói và nuốt; 2) cơn đau và sự khó chịu, biểu hiện qua việc sử dụng thuốc để loại bỏ cơn đau và sự khó chịu trong miệng; 3) chức năng tâm lý-xã hội, biểu hiện

Trang 28

qua sự lo lắng hay bận tâm về sức khỏe răng miệng, sự không hài lòng với ngoạihình, sự tự ti về sức khỏe răng miệng của bản thân và tránh khỏi những mối quan hệ

xã hội vì các vấn đề răng miệng [6] Bộ câu hỏi GOHAI bao gồm 9 câu hỏi tiêu cực

và 3 câu hỏi tích cực Sự khác biệt này góp phần đảm bảo các đối tượng nghiên cứuphải chú ý trả lời theo nội dung câu hỏi, tránh việc mặc nhận các câu trả lời

Các đối tượng tham gia nghiên cứu được hỏi về tần số xuất hiện những vấn

đề răng miệng sử dụng thang điểm Likert (từ ―luôn luôn‖ đến ―không bao giờ‖)

1.5.3 Tính toán điểm số GOHAI

Có hai cách để tính điểm chỉ số GOHAI: cách cộng điểm GOHAI(GOHAI-ADD) và cách đếm đơn giản (GOHAI-SC) Sau khi chuyển đổi mã số củachín câu hỏi tiêu cực, điểm số cộng vào GOHAI được tính bằng tổng câu trả lời của

12 mục câu hỏi Thang điểm GOHAI là từ 12-60 điểm, với điểm số càng cao chỉ raSKRM-CLCS tốt

Điểm số GOHAI-SC được tính bằng cách đếm số câu hỏi với đáp án là

―thỉnh thoảng‖, ―thường xuyên‖, ―luôn luôn‖ Sử dụng cách này, GOHAI-SC cóthang điểm từ 0 đến 12 với điểm cao hơn chỉ ra SKRM-CLCS kém hơn Cách tínhnày gộp chung các câu trả lời dẫn đến dễ làm sai lệch do mất dữ liệu Do đó, sửdụng điểm số GOHAI-ADD thể hiện tính giá trị hơn Tuy vậy, điểm số GOHAI-SCvẫn thể hiện được tính giá trị tốt

Có một số cách thay đổi về tính điểm số GOHAI trong một số nghiên cứu sử

dụng bộ câu hỏi GOHAI được nêu trong Bảng 1.3 [6] Các cách thay đổi tính điểm

này khác với bộ câu hỏi gốc (thang đo 6-Likert) nhằm mục đích so sánh bộ câu hỏiGOHAI với các phương pháp đo lường khác cùng sử dụng thang điểm Likert

Bảng 1.3 Một số thay đổi cách tính điểm số GOHAI

Luônluôn

Rất thườngxuyên

Thườngxuyên

Thỉnhthoảng

Hiếmkhi

Khôngbao giờ

Trang 29

Cho điểm lại 3 2 2 1

Độ tin cậy và sự thay đổi trong cách phân bố điểm số GOHAI được chấpnhận với cả ba cách lựa chọn phân loại kể trên [28] Mặc dù vậy sử dụng thangđiểm 5-Likert hiện được sử dụng nhiều nhất và được khuyến cáo là cho phép nhànghiên cứu hoặc lâm sàng đánh giá vấn đề nào xuất hiện với tần số lớn hơn khikiểm tra bằng bộ câu hỏi

1.5.4 Giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi GOHAI

Bộ câu hỏi GOHAI cho tới hiện nay được sử dụng trong rất nhiều nghiêncứu như là một phương pháp đánh giá những vấn đề về chức năng răng miệng màbệnh nhân tự báo cáo Nhiều phiên bản của bộ câu hỏi này như phiên bản tiếngThụy Điển [23], Malaysia [37], Trung Quốc [57], Pháp [52], Đức [24]… đã đượcchấp nhận về độ tin cậy và giá trị của nó

Bên cạnh đó, bộ câu hỏi GOHAI có độ tin vậy và giá trị được chấp nhận ởcác mẫu dân số khác nhau Bộ câu hỏi GOHAI ban đầu được thiết kế để đánh giásức khỏe răng miệng của người cao tuổi nhưng sau đó nó được sử dụng cho nhiềudân tộc và tôn giáo khác nhau [7] Atchison và Dolan đã đề nghị chuyển đổi bộ câuhỏi GOHAI đánh giá sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi sang chỉ số đánh giásức khỏe răng miệng tổng quát [6]

Bộ câu hỏi GOHAI đo lường dựa trên việc lấy bệnh nhân làm trung tâm Do

đó điều này hoàn toàn phù hợp với hướng tiếp cận mới khác với cách tiếp cậntruyền thống trong nha khoa lấy bệnh tật làm trung tâm Bộ câu hỏi GOHAI là mộtphương pháp dự báo có ý nghĩa về sự tự đánh giá thẩm mỹ ở người cao tuổi [31] và

có độ nhạy với điều trị bệnh về nha khoa [16] Bộ câu hỏi GOHAI với chỉ 12 câuhỏi, khá nhỏ gọn, sẽ có nhiều khả năng đối tượng nghiên cứu hoàn tất toàn bộ câuhỏi hơn so với một bộ câu hỏi dài

Chỉ số OHIP-14 được sử dụng rộng rãi và rất có giá trị và có khả năng thay

Trang 30

hướng thiên về những tình trạng trầm trọng hơn [52], [36] Ví dụ như trong một dân

số có ít tình trạng khiếm khuyết trầm trọng, các câu trả lời sẽ hướng về mức không

bị ảnh hưởng nhiều hơn Bộ câu hỏi GOHAI được báo cáo là thành công hơn chỉ sốOHIP-14 trong việc phát hiện những ảnh hưởng của những rối loạn răng miệngtrong dân số người trưởng thành tương đối khỏe mạnh và trẻ hơn [29]

Bộ câu hỏi GOHAI cho thấy tính nhất quán bên trong và tính đồng bộ caogiữa các câu hỏi, do đó tác giả Atchison đã báo cáo phương tiện này có đủ độ tincậy để áp dụng cho cá nhân và so sánh các nhóm với nhau [8] Ở mức cá nhân, nóđược sử dụng để chỉ ra nhu cầu điều trị nha khoa, những vấn đề về tâm lý và chứcnăng Ở mức độ dân số, nó được sử dụng để tập hợp thông tin về những vấn đề sứckhỏe răng miệng của dân số đó và lập kế hoạch phân bố những dịch vụ chăm sócsức khỏe [30]

Tuy nhiên trong tương lai, bộ câu hỏi GOHAI có thể được mở rộng để đánhgiá nhiều yếu tố hơn về chất lượng cuộc sống, khả năng hồi phục và phương phápnày cho thấy đủ độ nhạy để đo lường kết quả đánh giá việc điều trị nha khoa trongnhiều trường hợp khác nhau

1.6 Sơ lược tình hình nghiên cứu trên thế giới

Bảng 1.4 Một số nghiên cứu đánh giá độ tin cậy và giá trị bộ câu hỏi GOHAI

Tác giả (năm) Cỡ mẫu Một số kết quả nghiên cứu

Atchison vàDolan (1990) [8]

1755 đối tượngngười cao tuổi,tại Mỹ

Cronbach’s alpha = 0,79; Giá trị: tương quan giữađiểm số GOHAI và thang đánh giá đơn, tình trạnglâm sàng, tình trạng nhân khẩu-xã hội

Wong MC và c.s

(2002) [57]

1023 người caotuổi tại TrungQuốc

Cronbach’s alpha = 0,92; Giá trị hội tụ r = - 0,76

(so với OHIP-14), Độ tin cậy đo-đo lại r = 0,84

Trang 31

Tubert-Jeanin S(2003) [52]

260, người thunhập thấp tạiPháp

Cronbach’s alpha = 0,86; Tương quan giữa tổng từ 0,4-0,78; Độ tin cậy đo-đo lại 0,87.Tương quan giữa điểm số GOHAI và tự nhận thức

biến-về SKRM, nhu cầu điều trị răng miệng, tình trạng

lâm sàng, thu nhập, tuổi, giáo dục

Othman (2006)[37]

162, người caotuổi tạiMalaysia

Trung bình GOHAI = 46,2; Cronbach’s alpha =0,79; Độ tin cậy đo-đo lại Spearman’r = 0,7;Tương quan giữa điểm số GOHAI và tự đánh giáSKRM và SK chung, nhu cầu điều trị răng miệng

Momen A Atieh

(2008) [9]

156 người caotuổi tại Ả Rập

TB GOHAI = 32,1; Cronbach’s alpha = 0,93;

ICC = 0,95, Kappa = 0,4-0,7;

Tương quan giữa điểm số GOHAI và tự đánh giáSKRM và SK chung, nhu cầu điều trị răng miệngMina

Motallebnejad(2013) [32]

150 đối tượng

từ 20-65 tuổi tạiIran

TB GOHAI = 46,8 ± 7.9; Cronbach’s alpha = 0,78;Kappa = 0,6-0,96; Tương quan giữa điểm sốGOHAI và tự đánh giá về SK chung, nhu cầu điềutrị răng miệng, tình trạng sâu răng, mất răng

Vijay PrakashMathur (2013)[30]

500 bệnh nhântại Ấn Độ

Cronbach’s alpha = 0,79; Hệ số tương quan tổng là 0,06-0,75; Độ tin cậy đo-đo lại = 0,75-0,95;Tương quan giữa điểm số GOHAI và tự nhận thức

biến-về tình trạng dinh dưỡng, nhu cầu biến-về hàm giả, sốcặp răng ăn khớp, tuổi, tình trạng mang hàm giả.Mohammad

Rezaei (2014)[42]

417 người caotuổi tại Iran

Trung bình GOHAI = 45,7;

Cronbach’s alpha = 0,75; ICC = 0,76; phân tíchnhân tố có ba nhân tố tạo nên; Tương quan giữađiểm số GOHAI và thu nhập, số răng còn tồn tại

DominiqueNiesten và c.s(2016) [35]

Nhóm A=109người và nhómB= 118 ngườilớn hơn 65 tuổi

Cronbach’s alpha = 0,86 (A) và 0,8 (B); Độ tin cậyđo-đo lại ICC = 0,88 (A) và 0,93 (B);

Tương quan giữa điểm số GOHAI và các biến số vềSKRM liên quan trừ tình trạng sâu răng, nhận thức

Trang 32

tại Hà Lan về SK chung, tình trạng hàm giả, số răng tự nhiên.

Đa số các nghiên cứu đều có hệ số Cronbach Cronbach’s alpha lớn hơn 0,7cho thấy tính nhất quán bên trong cao của bộ câu hỏi Thang đo tự đánh giá chungđược sử dụng nhiều nhất về sự tự đánh giá sức khỏe răng miệng, sức khỏe chung,tình trạng răng miệng, nhu cầu điều trị Một số nghiên cứu sử dụng phương tiệnkhác như bộ câu hỏi OHIP-14 [24], tự đánh giá về tình trạng dinh dưỡng [30] Mặc

dù sử dụng các biến số, phương tiện khác nhau nhưng các nghiên cứu đều cho thấy

sự tương quan giữa điểm số GOHAI và các cấu trúc này Thể hiện tính giá trị caocủa bộ câu hỏi sau khi chuyển ngữ

Các nghiên cứu sử dụng hệ số tương quan Pearson, chỉ số Kappa và hệ sốtương quan trong lớp ICC để đánh giá độ tin cậy đo-đo lại Qua đó thể hiện được độtin cậy của bộ câu hỏi Tuy nhiên, thời gian thực hiện giữa hai lần đo-đo lại rất khácnhau giữa các nghiên cứu Nghiên cứu của Hassel AJ (2008) [24] đo độ tin cậy đo-

đo lại trong vòng 1 tuần Trong khi các nghiên cứu khác đo độ tin cậy đo-đo lạitrong 14-21 ngày (Momen A Atieh (2008) [9]), sau 3 tuần (Mohammad Rezaei(2014) [42]) Sự khác nhau này là do vấn đề còn đang tranh cãi về thời gian giữa hailần lặp lại khi đo đạc độ tin cậy đo-đo lại của bộ câu hỏi [38]

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy độ tin cậy và giá trị của bộ câu hỏi GOHAItrên những đối tượng khác nhau Các đối tượng này khác nhau về độ tuổi, giới tính,tình trạng nhân khẩu-xã hội, học thức và có cả các đối tượng có bệnh lý đặc biệt.Điều này cho thấy bộ câu hỏi GOHAI phù hợp khi áp dụng cho nhiều dân số khácnhau Ví dụ như trong nghiên cứu của Atieh (2007) tuổi trung bình là 71,2 trong khitrong nghiên cứu Mina Motallebnejad (2013) tuổi trung bình là 31,2 Nghiên cứucủa Niesten và c.s (2016) [35] trên đối tượng người cao tuổi sống phụ thuộc, nghiêncứu của Denis và c.s (2017) [15] trên bệnh nhân tâm thần phân liệt Tuy nhiên đa sốcác nghiên cứu được thực hiện trên người cao tuổi

Trang 33

Một số nghiên cứu cho thấy hai câu hỏi số 3 và 5 của bộ câu hỏi GOHAI có

độ tin cậy thấp Như trong nghiên cứu của Hassel (2008) [24] và Wong (2002) [57],Motallebnejad (2013) [32] Các câu hỏi này được cho là rất dễ làm các đối tượngnghiên cứu hiểu sai với ―hai lần phủ định‖ (câu số 5) Câu hỏi số 3 GOHAI ban đầuđược thiết kế để đánh giá vấn đề nuốt ở người cao tuổi, lứa tuổi thường xuất hiệncác bệnh mãn tính như khô miệng Do vậy, tỉ lệ rất thấp ở các lứa tuổi trẻ hơn trongmột số nghiên cứu

Một số điểm khác biệt như trong nghiên cứu của Atieh và c.s (2008) [9] báocáo rằng ở nhóm không sử dụng hàm giả lại có SKRM-CLCS cao hơn nhóm có sửdụng hàm giả Nghiên cứu tại Trung Quốc [57] và Malaysia [37] cho thấy sự mongđợi và sự hài lòng của người bệnh liên quan đến tình trạng răng miệng là thấp Kếtquả các nghiên cứu này cho thấy rằng không chỉ có các vấn đề lâm sàng, mà sự thayđổi về tâm lý cũng khiến chúng ta không có được một mẫu ổn định khi đo lườngSKRM-CLCS

Nghiên cứu của Mathur (2013) sử dụng thang đo 3-Likert (―luôn luôn‖,

―thỉnh thoảng‖ và ―không bao giờ‖) khác với các nghiên cứu khác sử dụng thang đo5-Likert hoặc 6-Likert Tác giả báo cáo rằng thang đo 3-Likert sẽ giúp các đốitượng dễ dàng hiểu bộ câu hỏi, không bị phân tâm Ngoài ra, có quá nhiều chọn lựađối với một bộ câu hỏi sẽ dễ gây sai lệch Điều trở ngại của thang đo 3-Likert là rấtkhó để so sánh trực tiếp với các nghiên cứu khác

Kết luận: Đa số các tác giả sử dụng thiết kế nghiên cứu là cắt ngang mô tả, thu

thập dữ liệu chỉ một lần duy nhất ngay tại một thời điểm Đa số các nghiên cứu đều

có tính giá trị và độ tin cậy cao của bộ câu hỏi GOHAI dựa trên những nguyên tắc

đo lường theo bản gốc của tác giả Atchison và Dolan (1990) [8]

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này gồm có hai giai đoạn:

2.1 Giai đoạn I – Chuyển ngữ và nghiên cứu thử nghiệm bộ câu hỏi GOHAI

Đầu tiên chúng tôi gửi thư đến tác giả bộ câu hỏi GOHAI là giáo sưKathryn A Atchison, Đại Học California, Los Angeles, Mỹ xin phép sử dụng bộcâu hỏi GOHAI và xin tác giả cung cấp bản gốc của bộ câu hỏi GOHAI Anh ngữ

Tiếp theo dựa trên hướng dẫn của Beaton và c.s (năm 2000) [11] về quy trìnhchuyển ngữ thích ứng văn hóa để đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi,chúng tôi thực hiện tuần tự các bước sau để xây dựng bộ câu hỏi GOHAI-VN

2.1.1 Dịch xuôi bộ câu hỏi

Bộ câu hỏi GOHAI được dịch qua tiếng Việt bởi hai người thông thạo cảtiếng Anh lẫn tiếng Việt và có tiếng Việt là tiếng nói chính Người dịch đầu tiên làmột bác sĩ răng hàm mặt Người dịch thứ hai là giảng viên ngoại ngữ trường đại học

Y Dược TP.HCM Hai bản dịch này hoàn toàn độc lập với nhau

Việc dịch Việt Ngữ này tập trung vào ngữ nghĩa của tiếng Việt hơn là câuchữ Ngoài ra, mỗi người dịch được yêu cầu ghi nhận lại những cụm từ khó dịch vàkhông chắc chắn nếu có và ghi thành văn bản

Người dịch đầu tiên là một bác sĩ răng hàm mặt cần chú ý về mặt khái niệmtrong bộ câu hỏi được dịch Bản dịch này tạo ra được sự cân bằng từ khía cạnh lâmsàng và do đó tạo ra độ tin cậy tốt hơn cho thang đo

Người dịch thứ hai-là giảng viên ngoại ngữ-không chú ý cũng như khôngđược thông tin về mặt khái niệm được đo lường trong bộ câu hỏi

Tiếp theo, hai người dịch và một người quan sát gặp nhau để xem xét bảngốc và hai bản dịch Anh-Việt, từ đó thảo luận, sửa chữa thông tin hai bản dịch này

Trang 35

để đưa ra một bản dịch xuôi chung, gọi là bản dịch Anh-Việt chung Kết quả thảoluận được người nghiên cứu ghi nhận lại từ quá trình tổng hợp, ghi lại từng mục vànhững vướng mắc được giải quyết như thế nào.

Quy trình dịch ngược giúp làm nổi bật những từ, ngữ, khái niệm còn chưa rõ

và phản ánh các khái niệm ở bản dịch có tương tự như trong bản gốc

2.1.3 Hội đồng đánh giá

Sau khi có được bản dịch ngược từ Việt sang Anh, chúng tôi xin phép KhoaRăng Hàm Mặt-Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh lập một hội đồng gồmmột nhà phương pháp học, một chuyên gia về sức khỏe, chuyên gia về ngôn ngữ, và

những người dịch (Phụ lục 6) Hội đồng đã đánh giá tất cả bản dịch và phân tích

đưa ra sự đồng thuận về những khác biệt giữa các bản dịch (bản gốc, 2 bản dịchxuôi, 2 bản dịch ngược và các bản báo cáo ghi nhận khi dịch) và hiệu chỉnh đối vớicác từ, cụm từ khó dịch sao cho sát hợp về ngữ nghĩa và thích ứng văn hóa ViệtNam Hội đồng chịu trách nhiệm đánh giá toàn bộ quá trình chuyển ngữ và so sánhđối chiếu các bản dịch với nhau Dựa trên 4 tiêu chí sau:

(1) Tính rõ ràng: nghĩa là sử dụng câu chữ và hoàn toàn dễ hiểu

(2) Tính phổ cập: nghĩa là tránh dùng thuật ngữ khoa học, chuyên môn nên dùngthuật ngữ chung mọi người đều biết

Trang 36

(3) Tính tương đương về ngữ nghĩa: nghĩa là các từ có nghĩa giống nhau hay bámsát nội dung bản gốc.

(4) Tính tương đương khái niệm: nghĩa là diễn tả đúng khái niệm mà bản gốc đề cậpđến

Hội đồng sau đó thống nhất và đưa ra được bản dịch sau cùng GOHAI-VN

2.1.4 Nghiên cứu thử nghiệm bộ câu hỏi GOHAI Việt Ngữ

Bản dịch sau cùng này được đưa vào một nghiên cứu thử nghiệm trước khi tiếnhành nghiên cứu chính thức trên cùng một dân số mục tiêu

 Đối tượng nghiên cứu: dữ liệu được thu thập từ 30 đối tượng trên 60 tuổi

 Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện cho đến khi đủ số mẫu

 Tiêu chuẩn chọn mẫu: tiêu chuẩn chọn mẫu thống nhất với nghiên cứu chínhthức ở giai đoạn 2

Tiêu chuẩn chọn vào:

 Đồng ý tham gia nghiên cứu

 Người từ 60 tuổi trở lên

 Có khả năng giao tiếp thông thường, có khả năng đọc và viết tiếng Việt

Tiêu chuẩn loại trừ:

 Đối tượng không đủ năng lực hành vi: thiểu năng thần kinh hoặc trí tuệ(lâu dài hoặc tạm thời), không tỉnh táo, không diễn đạt được điều mongmuốn

 Đối tượng có bệnh toàn thân nặng: cao huyết áp không kiểm soát, suy timnặng, suy thận, suy hô hấp, suy giảm miễn dịch, tai biến nặng, nhiễmtrùng nặng, chấn thương nặng …

 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Lão Nha, bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành Phố

Hồ Chí Minh, 263-265 Trần Hưng Đạo, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 37

 Đánh giá: Các đối tượng nghiên cứu sẽ hoàn tất trả lời 12 câu hỏi và sau đó

được phỏng vấn lại một lần nữa bằng phương pháp “suy nghĩ-nói thành lời” [41]

đã hiểu như thế nào ở từng câu hỏi và được ghi nhận lại Phương pháp này giúplàm nổi rõ khả năng hiểu đúng ở từng câu hỏi, cũng như những phần còn chưa rõràng Bên cạnh đó, các đối tượng sẽ trả lời các câu hỏi khảo sát như sau:

 Có câu hỏi nào mơ hồ, khó hiểu hay có nhiều nghĩa không ?

 Có thêm lựa chọn trả lời nào khác hay không?

 Có câu hỏi nào ông (bà) cảm thấy phản cảm, không phù hợp hoặc khôngmuốn trả lời không?

2.1.5 Hoàn thiện bản dịch sau cùng

Bản dịch sau cùng này được hội đồng hiệu chỉnh theo kết quả của nghiên cứuthử nghiệm và phản hồi từ tác giả Kathryn A Atchison của bộ câu hỏi GOHAI

2.2 Giai đoạn II – Nghiên cứu chính thức

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này là nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại hai địa điểm:

 Khoa Răng Hàm Mặt, trường Đại Học Y Dược thành phố Hồ ChíMinh

 Khoa Lão Nha, bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành Phố Hồ Chí Minh

2.2.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm những người cao tuổi đủ các tiêu chuẩn chọn vàonghiên cứu tương tự như trong nghiên cứu thử nghiệm

2.2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu

 Theo độ tin cậy

Sử dụng kiểm định 2 chiều đề xuất bởi Walter và c.s [53] ước lượng cỡ mẫu

Trang 38

Trong công thức này: k là cỡ mẫu, n là số lần lặp lại thử nghiệm

Để được chấp nhận thì bộ câu hỏi đo lường SKRM-CLCS phải có r ≥ 0,7.

Do đó, giả thuyết : = 0,7 và giá trị r giả định mong muốn là : = 0,8 Với

= 0,05 và thì và , cỡ mẫu xác định được là 117 đốitượng

 Theo giá trị Ước lượng cỡ mẫu theo hệ số tương quan Pearson:

Với = 0,05 và = 0,2 thì Hệ số tương quan mongmuốn là , tính ra được cỡ mẫu cần thiết là 14

Dựa trên hai kết quả trên, cỡ mẫu tính được là 117 Giả định có 20% các đốitượng không hoàn tất bộ câu hỏi hoặc bỏ khỏi nghiên cứu thì cỡ mẫu cần thiết là

2.2.6 Phương tiện nghiên cứu

+ Phiếu điều tra

+ Bộ đồ khám nha khoa

Trang 39

+ Đèn pin.

+ Găng tay, gòn, gạc, cây đè lưỡi

2.2.7 Các bước tiến hành nghiên cứu

Bước 1:

Sau khi giải thích rõ mục đích nghiên cứu, phương pháp khoa học và quyềncủa đối tượng nghiên cứu, một bản thỏa thuận có ý thức được xác nhận ở từng đốitượng nghiên cứu khi đồng ý tham gia nghiên cứu

Bước 2:

Bộ câu hỏi GOHAI gồm 12 mục sẽ được các đối tượng tự trả lời để tránh sailệch Mỗi đối tượng sẽ được hỏi về tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng cómang hàm giả, có hút thuốc lá, uống rượu, bia hay không, tự đánh giá về tình trạngrăng miệng và sức khỏe chung, nhu cầu cần thiết điều trị răng miệng, sự hài lòng vềtình trạng răng miệng hiện tại

Bước 3:

Bên cạnh việc hoàn tất bộ câu hỏi, các đối tượng sẽ được khám lâm sàngđánh giá tình trạng răng miệng Phạm vi đánh giá lâm sàng bao gồm: số răng mất,tình trạng sâu răng và tình trạng răng lung lay trầm trọng (được đánh giá theo khảosát sức khỏe răng miệng của WHO [56]), chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản OHI-S[1], [54] Răng khi khám lâm sàng sẽ được lau khô và sạch, thực hiện kiểm tra cẩn

thận từng răng Bước 4:

Sau đó 1 tuần, 30 đối tượng nghiên cứu sẽ được chọn ngẫu nhiên từ mẫu vàđánh giá lại độ tin cậy đo-đo lại của bộ câu hỏi GOHAI Với giả định rằng tìnhtrạng răng miệng của các đối tượng nghiên cứu sẽ không có sự thay đổi trong suốtthời gian này, độ ổn định về tình trạng răng miệng là lớn nhất

2.3 Phân tích số liệu

2.3.1 Thống kê mô tả

Trang 40

- Các biến số định tính (nhóm tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, hút thuốc lá,uống rượu, bia, tình trạng mang hàm giả, 12 câu hỏi GOHAI): tính số ca và tỉ lệ %.

- Các biến số tự đánh giá (tình trạng răng miệng, sức khỏe tổng quát, nhu cầuđiều trị, hài lòng về tình trạng răng miệng): tính số ca và tỉ lệ %

- Các biến số đánh giá trên lâm sàng: tình trạng mất răng, sâu răng, răng lunglay trầm trọng: tính số ca và tỉ lệ % Chỉ số OHI-S: trung bình và độ lệch chuẩn

2.3.2 Thống kê phân tích

Kiểm định Kolmogorov-Smirnov được sử dụng để kiểm tra tính phân phốichuẩn Điểm số trung bình của GOHAI được được đánh giá ở các biến số qua phépkiểm t-test và ANOVA

- Độ tin cậy được đánh giá bằng hệ số Cronbach’s alpha, hệ số tương quan

giữa các câu, hệ số tương quan biến-tổng Độ tin cậy đo-đo lại của bộ câu hỏiGOHAI được đánh giá sau 1 tuần và được tính toán bằng hệ số nội tương quan(ICC) và biểu đồ Bland-Altman

- Giá trị của bộ câu hỏi GOHAI được đánh giá bằng giá trị hội tụ và giá trịphân biệt:

 Với giá trị hội tụ, giả thuyết thống kê sẽ là đối tượng có điểm số

GOHAI-ADD cao (GOHAI-SC thấp) liên quan tới sự tự đánh giá sức khỏe răngmiệng và sức khỏe chung tốt hơn, nhu cầu điều trị nha khoa thấp hơn, mức độ hàilòng cao với tình trạng răng miệng hiện tại Mối liên quan giữa các giá trị này và bộcâu hỏi GOHAI được kiểm tra bằng phép kiểm định t-test và ANOVA

 Với giá trị phân biệt, giả thuyết thống kê sẽ là điểm số GOHAI-ADD

càng cao (GOHAI-SC thấp) thì liên quan đến càng ít số răng mất, không có răngsâu, không có răng lung lay trầm trọng, điểm số OHI-S thấp Mối liên quan giữađiểm số GOHAI và tình trạng răng miệng được kiểm tra bằng phép kiểm t-test vàANOVA

Ngày đăng: 02/04/2021, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w