1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá một số đặc điểm của mão zirconia nguyên khối được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số

89 72 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

37 3.3 Độ khít sát bờ mão của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số .... 38 3.4 Độ khít sát lòng mão toàn sứ được thực hiện bằng phương ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ ÁNH HỒNG

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA MÃO ZIRCONIA NGUYÊN KHỐI ĐƯỢC THỰC HIỆN BẰNG PHƯƠNG PHÁP

LẤY DẤU THƯỜNG QUY

VÀ LẤY DẤU KỸ THUẬT SỐ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ CHUYÊN NGÀNH: RĂNG – HÀM – MẶT

MÃ SỐ: NT 62 72 28 01

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-ĐỖ THỊ ÁNH HỒNG

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA MÃO ZIRCONIA NGUYÊN KHỐI ĐƯỢC THỰC HIỆN BẰNG PHƯƠNG PHÁP

LẤY DẤU THƯỜNG QUY

VÀ LẤY DẤU KỸ THUẬT SỐ

Chuyên ngành: RĂNG – HÀM – MẶT

Mã số: NT 62 72 28 01

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐOÀN MINH TRÍ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêutrong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác

Đỗ Thị Ánh Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH – VIỆT ii

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Các yếu tố chính ảnh hưởng thành công của phục hình cố định và các phương pháp đánh giá 4

1.1.1 Khít sát bờ phục hình 4

1.1.2 Khít sát lòng phục hình: 5

1.1.3 Tiêu chí đánh giá lâm sàng phục hình theo FDI 6

1.1.4 Tổng quan phương pháp sao mẫu đánh giá sự khít sát của phục hình 8 1.2 Tổng quan về lấy dấu kỹ thuật số và các hệ thống lấy dấu kỹ thuật số 12

1.2.1 Ưu điểm của kỹ thuật lấy dấu kỹ thuật số so với kỹ thuật thường quy: 12 1.2.2 So sánh độ chính xác giữa lấy dấu kỹ thuật số và thường quy 14

1.2.3 Nhược điểm của kỹ thuật lấy dấu kỹ thuật số: 16

1.2.4 Tổng quan về các hệ thống lấy dấu kỹ thuật số 17

1.3 Tổng quan một số nghiên cứu trên thế giới 22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Thiết kế nghiên cứu: 24

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 24

Trang 5

2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu: 24

2.3.1 Tiêu chuẩn chọn vào 24

2.3.2 Tiêu chí loại trừ: 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Vật liệu nghiên cứu: 25

2.4.2 Dụng cụ: 25

2.5 Giai đoạn chuẩn bị: 26

2.6 Quy trình nghiên cứu: 26

2.6.1 Lần hẹn 1: 26

2.6.2 Lần hẹn 2 26

2.6.3 Lần hẹn 3: 27

2.6.4 Lần hẹn 4: 30

2.6.5 Lần hẹn 5 33

2.7 Huấn luyện định chuẩn: 35

2.8 Xử lý và phân tích số liệu: 35

2.9 Đạo đức nghiên cứu 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 37

3.1 Mẫu nghiên cứu 37

3.2 Kiểm định tính chuẩn của phân phối các biến số 37

3.3 Độ khít sát bờ mão của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 38

3.4 Độ khít sát lòng mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 40

Trang 6

3.5 Đánh giá tiếp xúc bên của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương

pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 42

3.6 Đánh giá tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 43

3.7 Số lượng mão gắn sau khi kết thúc nghiên cứu 44

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 45

4.1 Bàn luận về mẫu: 45

4.2 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu: 45

4.2.1 Bàn luận về quy trình sửa soạn cùi răng: 45

4.2.2 Bàn luận về quy trình lấy dấu: 45

4.2.3 Bàn luận về phương pháp đo độ khít sát bờ và lòng mão in vitro 46

4.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 46

4.3.1 Bàn luận về kết quả so sánh sự khít sát bờ của mão toàn sứ được thực hiện bằng hai phương pháp lấy dấu 46

4.3.2 Bàn luận về kết quả độ khít sát lòng mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu kỹ thuật số và lấy dấu thường quy 50

4.3.3 Bàn luận về kết quả so sánh tiếp xúc bên trên lâm sàng của mão toàn sứ được thực hiện bằng hai phương pháp lấy dấu 54

4.3.4 Bàn luận về kết quả so sánh tiếp xúc cắn khớp trên lâm sàng của mão toàn sứ được thực hiện bằng hai phương pháp lấy dấu 55

4.4 Hạn chế của đề tài và đề nghị: 56

4.5 Ý nghĩa thực tiễn và ứng dụng lâm sàng: 57

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADA : American Dental Association

CAD / CAM : Computer – aided Design/ Computer – aided Manufactering USPHS : United States Public Health Services

FDI : World Dental Federation

PVS : polyvinyl siloxane

STL : Stereo lithography hoặc Standard Triangle Language

Trang 8

DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH – VIỆT

American Dental Association : Hiệp hội Nha Khoa Hoa Kỳ

Computer – aided Design : Thiết kế đƣợc hỗ trợ bằng máy tính

Computer – aided Manufactering : Chế tạo đƣợc hỗ trợ bằng máy tínhUnited States Public Health Services : Cơ quan Y tế Công Cộng Hoa KỳWorld Dental Federation : Liên Đoàn nha khoa thế giới

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Phương pháp sao mẫu bằng silicone [20] 11

Hình 1.2 Hệ thống CEREC 18

Hình.1.3 Hệ thống iTero 18

Hình 1.4 Máy quét trong miệng CS 3500 19

Hình.1.5 Hệ thống TRIOS® 21

Hình 2.1 Hình ảnh thám trâm sử dụng trong nghiên cứu 26

Hình.2.2 Hình ảnh sửa soạn cùi răng và đặt chỉ co nướu (kỹ thuật đặt hai sợi chỉ) 27 Hình.2.3 Hình ảnh mẫu sau cùng R46, 45 28

Hình.2.4 Hình ảnh vô giá khớp hàm trên và hàm dưới 29

Hình.2.5 Hình ảnh quét hàm đối diện và hàm có răng sửa soạn 30

Hình.2.6 Hình ảnh ghi dấu khớp cắn 30

Hình.2.7 Hình ảnh tại mặt phẳng cắt của bản sao silicone 33

Hình.2.8 Hình ảnh gắn mão sau cùng R45 33

Hình.2.9 Hình ảnh gắn mão sau cùng R26 33

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng quan các phương pháp đo sự khít sát bờ mão [14] 8

Bảng 2.1 Liệt kê và định nghĩa các biến số 34

Bảng 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 37

Bảng 3.2 Kiểm định tính chuẩn phân phối các biến số đánh giá trên lâm sàng 38

Bảng 3.3 Kiểm định tính chuẩn phân phối các biến số đánh giá in vitro 38

Bảng 3.4 Độ khít sát bờ mão của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số theo đánh giá trên lâm sàng 39

Bảng 3.5 Khoảng hở bờ mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số in vitro 39

Bảng 3.6 Khoảng hở thành trục của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 40

Bảng 3.7 Khoảng hở vùng múi răng của mão toàn sứ thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 40

Bảng 3.8 Khoảng hở vùng trũng rãnh của mão toàn sư thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 41

Bảng 3.9 Đánh giá tiếp xúc bên của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số theo đánh giá trên lâm sàng 42

Bảng 3.10 Đánh giá tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số theo đánh giá trên lâm sàng 43

Bảng 3.11 Số lượng mão theo phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số được gắn khi kết thúc nghiên cứu 44

Bảng 4.1 Sự khít sát bờ trên lâm sàng của mão toàn sứ so với nghiên cứu khác 47

Bảng 4.2 Sự khít sát bờ in vitro của mão toàn sứ so với kết quả nghiên cứu khác 49

Bảng 4.3 Khoảng hở trục của mão toàn sứ được thực hiện bằng hai phương pháp so với kết quả của các nghiên cứu khác 51

Trang 11

Bảng 4.4 Khoảng hở vùng múi răng của mão toàn sứ được thực hiện bằng haiphương pháp so với kết quả của các nghiên cứu khác 52Bảng 4.5 Khoảng hở vùng trũng rãnh của mão toàn sứ được thực hiện bằng haiphương pháp so với kết quả của các nghiên cứu khác 53Bảng 4.6 Thông số lâm sàng tiếp xúc bên của mão toàn sứ so với nghiên cứu khác 55Bảng 4.7 Thông số lâm sàng ―tiếp xúc cắn khớp‖ của mão toàn sứ so với nghiêncứu khác 56

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 37Biểu đồ 3.2 Khoảng hở bờ và lòng mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháplấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số 42Biểu đồ 3.3 Độ khít sát bờ mão, tiếp xúc bên và tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứđược thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuật số theođánh giá lâm sàng 44

Trang 13

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu 36

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, phục hình toàn sứ được sử dụng ngày càng nhiều do yêu cầu thẩm

mỹ của bệnh nhân mong muốn phục hình phải tự nhiên như răng thật Thêm vào đó,

vì phục hình toàn sứ không có kim loại nên có thể tránh được sự ăn mòn, đổi màunướu và phản ứng dị ứng Ưu điểm chính của phục hình toàn sứ là thẩm mỹ về màusắc, kết cấu bề mặt, độ trong mờ và tính tương hợp sinh học

Trong thực hành nha khoa tổng quát, lấy dấu cấu trúc răng và mô mềm trongmiệng góp phần rất quan trọng trong thành công của phục hình sau cùng Lấy dấu làbản sao ngược của bề mặt mô cứng hoặc mô mềm dùng để chẩn đoán hoặc để làmphục hình [21] Sự chính xác của dấu sau cùng sẽ quyết định độ khít sát bờ vàkhoảng hở lòng mão của phục hình sau cùng Phần lớn quy trình lấy dấu hiện nayvẫn còn sử dụng phương pháp thường quy, bằng khay lấy dấu và vật liệu lấy dấu

Kỹ thuật lấy dấu thường quy không yêu cầu máy móc đắt tiền và có thể đạt đượckết quả chính xác nếu thực hiện đúng cách [11] Những vật liệu lấy dấu phổ biếnnhất sử dụng cho lấy dấu sau cùng trong phục hình cố định là polyether (PE), vàpolyvinyl siloxane (PVS), hoặc polysulfide Để có mẫu hàm chính xác, những vậtliệu này phải có độ chính xác cao, khả năng đàn hồi, tính ổn định kích thước cũngnhư tính lưu biến và độ bền xé Các yếu tố khác như lưu lượng nước bọt khôngkiểm soát được trong khi thực hiện, quy trình la bô (khử nhiễm, đổ mẫu, vậnchuyển…), lưu trữ trong thời gian dài, độ ẩm, biến dạng vật liệu và không tươngthích với các vật liệu khác có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của dấu dẫn đến sựthiếu chính xác của phục hình sau cùng [5]

Ngày nay, số hóa trong chẩn đoán và điều trị đã trở thành một xu hướng lớntrong phục hình Mặc dù đã xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1950 nhưng chođến những năm 1980, công nghệ thiết kế và chế tạo được hỗ trợ bằng máy tính(CAD / CAM) mới được sử dụng trong nha khoa Kế tục những thành tựu và sự lớn

Trang 15

mạnh về công nghệ trong hơn 35 năm qua, hệ thống lấy dấu kỹ thuật số vàCAD/CAM hiện nay đã phổ biến trong thực hành nha khoa và la bô [13] Lấy dấu

kỹ thuật số là bước đầu tiên hướng tới chế tạo CAD/CAM của phục hình răng Kỹthuật này ghi lại dữ liệu ba chiều của cấu trúc giải phẫu bằng camera quang học, cónhiều cách để ghi nhận dữ liệu, có thể quét trực tiếp trên răng đã sửa soạn sử dụngmáy quét trong miệng, quét dấu hoặc quét mẫu hàm thạch cao Thu thập dữ liệu kỹthuật số cải thiện kế hoạch điều trị, hiệu quả cao hơn, dễ dàng lưu trữ dữ liệu, táitạo, tư liệu điều trị, hiệu quả chi phí và thời gian, giao tiếp giữa nha khoa và la bôtốt hơn Máy quét trong miệng đã có trên thị trường cách đây hơn 40 năm với tốc độphát triển nhanh chóng về số lượng hệ thống thương mại trong mười năm qua [26].Nhiều hệ thống thay đổi từ hình ảnh đơn sắc, có hoặc không phủ bột đến hệ thốngvideo có màu, không cần phủ bột

Dù sử dụng phương pháp lấy dấu nào thì yếu tố quan trọng quyết định thànhcông lâu dài của phục hình là sự khít sát bờ và lòng mão Hở bờ gây tích tụ mảng bámdẫn đến viêm nha chu và sâu răng, hòa tan xi măng và gây vi kẽ Trên thế giới, nhữngnăm gần đây, một số nghiên cứu báo cáo rằng lấy dấu kỹ thuật số chính xác hơn so vớilấy dấu thường quy [28], [40] Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác không chỉ ra được

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khoảng hở bờ giữa hai phương pháp lấy dấu này[5], [6] Hiện tại, ở Việt Nam chỉ có một nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Anh [1] đánh giá

về thời gian lấy dấu và cảm nhận của bệnh nhân khi thực hiện lấy dấu kỹ thuật số vàlấy dấu thường quy, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về độ khít sát của phục hìnhđược thực hiện bằng hai phương pháp lấy dấu thường quy và kỹ thuật số

Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là có hay không sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

về độ khít sát bờ và lòng mão được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu kỹ thuật số

và lấy dấu thường quy

Như vậy nghiên cứu này thực hiện với mục tiêu sau:

Mục tiêu tổng quát: đánh giá việc thực hiện mão toàn sứ bằng hai phương

pháp lấy dấu kỹ thuật số và lấy dấu thường quy

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Các yếu tố chính ảnh hưởng thành công của phục hình cố định và các phương pháp đánh giá

Khít sát bờ và lòng mão là hai yếu tố lâm sàng chính dùng để đánh giá chấtlượng của phục hình cố định Nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy tầm quan trọng của

độ chính xác và sự khít sát cho thành công lâm sàng Tuy nhiên, những nghiên cứutrước đó có giới hạn là chủ yếu đánh giá sự khít sát bờ mão Nghiên cứu đánh giá sựkhít sát lòng mão của mão thường dựa trên các phép đo các điểm khác nhau củanhững mặt cắt mão răng [10]

Theo Holmes và cộng sự [17], sự khít sát của mão có thể được định nghĩa tốtnhất bằng thuật ngữ ―khoảng hở‖ đo tại các điểm khác nhau giữa bề mặt mão vàrăng Đo vuông góc từ bề mặt bên trong của mão đến thành trục của răng trụ gọi làkhoảng hở lòng mão, phép đo tương tự ở bờ mão gọi là khoảng hở bờ

1.1.1 Khít sát bờ phục hình

Khít sát bờ phục hình được xem là một tiêu chí quan trọng đối với chấtlượng và thành công lâm sàng của phục hình cố định, mặc dù không chỉ sự thiếukhít sát bờ mão có liên quan vi kẽ Hở bờ có thể làm giảm tuổi thọ của phục hình vìlớp xi măng bị hòa tan bởi dịch trong miệng và lực hóa cơ học Hở bờ gây tích tụmảng bám làm tăng nguy cơ sâu răng thứ phát, vi kẽ, viêm nha chu và bệnh lý tủyrăng gây nên thất bại của phục hình

Tuy nhiên, không có sự nhất trí về độ hở bờ có thể chấp nhận được trên lâmsàng Một số nghiên cứu báo cáo rằng khoảng hở bờ dao động từ 60 đến 120 µm làchấp nhận được về mặt lâm sàng [23] Theo Jonathan và cộng sự [27] , Seelbach vàcộng sự [32], đối với mão toàn sứ CAD/CAM, khoảng hở bờ chấp nhận được là íthơn 90 µm Trong nghiên cứu của Ahlholm và cộng sự [3], Chochlidakis và cộng

sự [10] báo cáo khoảng hở bờ của mão toàn sứ đơn lẻ thực hiện bằng hệ thốngCAD/CAM từ 39,1 đến 230 µm Trích dẫn theo Dauti [11], trên lâm sàng,Chrisstensen và cộng sự (1966) kết luận rằng khoảng hở bờ có thể nhìn thấy lớn

Trang 18

hơn 39 µm là không thể chấp nhận được Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, không thể đạtđược giá trị lý tưởng này trên lâm sàng Trong những nghiên cứu trước, khoảng hởđường hoàn tất với bờ mão chấp nhận được dao động từ 34 đến 119 µm, phục hình

cố định hở bờ ít hơn 120 µm có nhiều khả năng thành công [8]

Fransson và McLean và von Fraunhofer cho rằng khoảng hở bờ có thể chấpnhận được về mặt lâm sàng sau khi gắn nên ít hơn tương ứng là 150 µm và 120 µm.Ngoài ra, McLean và von Fraunhofer kiểm tra sự khít sát bờ 1000 phục hình cốđịnh trong thời gian 5 năm và chỉ ra rằng khoảng hở bờ dưới 80 µm rất khó pháthiện trên lâm sàng [22]

Hầu hết các nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn được thiết lập bởi McLean vàvon Fraunhofer (1971), kết luận rằng hở bờ tối đa 120 µm là chấp nhận được [35],[40] Khít sát bờ và lòng phục hình bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, từ giai đoạn lấydấu đến giai đoạn gắn xi măng

1.1.2 Khít sát lòng phục hình:

Khít sát lòng phục hình cũng là tiêu chí quan trọng và có ảnh hưởng đến vịtrí của phục hình và do đó ảnh hưởng đến sự khít sát bờ phục hình

Hiệp hội Nha khoa Hoa Kỳ (ADA) ấn bản số 8 chỉ ra rằng độ dày của ximăng gắn cho mão răng không nên vượt quá 25 µm khi sử dụng chất gắn loại I Cácloại vật liệu sau đây được xếp vào nhóm này: xi măng hydroxyapatite, glassionomer, phosphat kẽm, và polycarboxylate [38]

Chất gắn loại II có thể có độ dày lớp xi măng tối đa là 40µm Loại vật liệuđại diện trong nhóm này, bao gồm resin và glass ionomer gia cố nhựa Lựa chọnchất gắn dựa trên các tiêu chí cho các tình huống lâm sàng cụ thể [38]

Mặc dù khoảng hở này trong phạm vi hiếm khi đạt được, đây vẫn được coi làmục tiêu lâm sàng Christenson đồng ý với ADA Những người khác đề nghị sửađổi Fransson và McLean và von Fraunhofer cho rằng khoảng hở có thể chấp nhậnđược về mặt lâm sàng sau khi gắn nên ít hơn tương ứng là 150 µm và 120 µm [22],[25]

Trang 19

Khoảng hở 25 µm đã được chứng minh cải thiện vị trí và tăng sự lưu giữ củaphục hình lên đến 25% Trong một nghiên cứu khác, tăng độ dày xi măng làm giảmkháng lực gãy của phục hình sứ vì biến dạng sứ vào lớp xi măng nhiều hơn và cũnglàm giảm giảm bề dày của phục hình [10].

Mc Lean và cộng sự (1971) [22], Sorensen (1990) [33] báo cáo độ dày lớp ximăng 100 - 120 µm được xem là chấp nhận được trên lâm sàng để tiên lượng lâmsàng lâu dài của phục hồi gián tiếp [9]

1.1.3 Tiêu chí đánh giá lâm sàng phục hình theo FDI

Hở bờ

Một nhóm thám trâm đầu tù, thẳng và gập góc cho vùng tiếp cận, với kíchthước khác nhau là 50, 150, và 250 µm được đề nghị sử dụng để đánh giá kíchthước khoảng hở giữa răng và phục hình

 Không phát hiện hở bờ trên lâm sàng

 Bờ nguyên vẹn không lý tưởng, nhưng có thể được cải thiện bằngcách đánh bóng Sứt mẻ bờ nhỏ của phục hình có thể được loại bỏbằng cách đánh bóng / hoặc một khoảng hở tại chỗ chỉ cảm nhận đượcvới thám trâm nha khoa > 50 µm và <150 µm

 Có vi kẽ hoặc đổi màu nhưng giới hạn ở vùng bờ Tổng khoảng hở bờ

> 150 µm, <250 µm dễ cảm nhận khi thăm dò, không dẫn đến nhữnghậu quả tiêu cực lâu dài cho răng hoặc các mô xung quanh nếu khôngđược điều trị Sự hiện diện của nhiều sứt mẻ bờ nhỏ mà không gâyảnh hưởng lâu dài

 Khoảng hở tại chỗ lớn hơn 250 µm có thể dẫn đến lộ ngà răng Cầnthiết sửa chữa vì lý do dự phòng

Tổng khoảng hở bờ lớn hơn 250 µm hoặc phục hình lỏng lẻo nhưng vẫn ởnguyên vị trí, cần thiết thay thế để ngăn chặn tổn hại thêm hoặc có những vết nứtlớn ở bờ và vật liệu mất quá nhiều không thể sửa chữa [16]

Trang 20

Điểm tiếp xúc bên và giắt thức ăn

Điểm tiếp xúc bên có thể kiểm tra bằng cách đưa chỉ nha khoa qua kẽ răng.Điểm tiếp xúc bên có độ mạnh sinh lý khi chỉ nha khoa hoặc lưỡi kim loại 25µm cóthể đi qua và được đánh giá là có lực kháng nhất định hoặc hiệu ứng ―snap‖ Khuônkim loại với độ dày khác nhau 25µm, 50µm, 100µm chính xác hơn chỉ nha khoa

Độ chặt của tiếp xúc bên có thể được xác định sớm khi sử dụng chỉ nha khoa

để tránh sự đổi màu của mặt bên do lực chêm của khuôn hoặc lưỡi kim loại Nếuđiểm tiếp xúc bên yếu, dùng lưỡi kim loại mỏng có độ dày tăng dần để định lượngmất tiếp xúc Thiếu tiếp xúc bên dẫn đến giắt thức ăn và không thoải mái khi ănnhai không chấp nhận được Bề mặt không có tiếp xúc bên, ví dụ răng có khe hở,không được đánh giá và ghi điểm là giá trị thiếu Giắt thức ăn liên quan đến tiếp xúc

mở và/ hoặc hình dạng không phù hợp của phục hình mặt bên cần được ghi lại

 Tiếp xúc bên sinh lý, chỉ nha khoa có thể đi vào kẽ răng dưới áp lực.Lưỡi kim loại dày 25 µm có thể đi qua nhưng lưỡi 50 µm thì không

 Tiếp xúc bên khá chặt nhưng chấp nhận được chỉ nha khoa hoặc lưỡikim loại 25 µm chỉ có thể đi qua điểm tiếp xúc dưới áp lực

 Tiếp xúc bên nhẹ, lưỡi kim loại 50 µm có thể qua vùng tiếp xúcnhưng lưỡi 100 µm thì không, hoặc chỉ nha khoa qua dễ dàng với hiệuứng ―snap‖ nhẹ Không chỉ định loại bỏ/ sửa chữa phục hình

 Tiếp xúc bên yếu và lưỡi kim loại 100 µm có thể dễ dàng qua Cầnsửa chữa

 Tiếp xúc bên yếu, phá hủy do giắt thức ăn và biểu hiện đau/ viêmnướu; đòi hỏi can thiệp tức thì Không sửa chữa được và cần thay thế[16]

Tiếp xúc cắn khớp

Theo tiêu chí đánh giá của USPHS biến đổi [7], [18], tiếp xúc cắn khớp đượcđánh giá theo các tiêu chí sau :

 1: Tiếp xúc cắn khớp bình thường

Trang 21

 2: Tiếp xúc cắn khớp quá mức, có thể điều chỉnh lại.

kỹ thuật dấu, và sử dụng thám trâm khi khám bằng mắt thường Kỹ thuật định tínhnhư kỹ thuật bằng dấu và kiểm tra bằng mắt không chính xác, thường chủ quan vàphụ thuộc vào kinh nghiệm cảm giác xúc giác của nhà nghiên cứu Ứng dụng củanhững kỹ thuật này - thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng hàng ngày - ítkhách quan khi sửa soạn dưới nướu Bên cạnh đó, kỹ thuật chụp tia X giới hạn bởiloại vật liệu và nhạy cảm với tia X [36]

Bảng 1.1 Tổng quan các phương pháp đo sự khít sát bờ mão [25]

Trang 22

Sáu phương pháp được sử dụng (Bảng 1.1), trong đó kỹ thuật trực tiếp là phổbiến nhất (47,5%), tiếp theo là phương pháp cắt ngang (23,5%), và kỹ thuật saochép (20,2%) Kỹ thuật xem trực tiếp đo khoảng cách giữa mão răng và cùi răng tại

bờ nhưng không sử dụng kính hiển vi đo bên trong lòng mão ở các độ phóng đạikhác nhau Phương pháp này không kết hợp quy trình gắn mão – cùi răng nhưphương pháp cắt ngang hoặc phương pháp sao lại khoảng của xi măng trước khi đokhoảng hở, do đó, phương pháp này rẻ tiền và ít tốn thời gian hơn những kỹ thuậtkhác và giảm sai số tích lũy do nhiều quy trình ảnh hưởng đến độ chính xác của kếtquả Tuy nhiên, việc đặt lại nhiều lần mão trên cùi răng cưa đai có thể làm mòn bờmão và phương pháp này chỉ có thể được sử dụng trong phòng thí nghiệm vì đòi hỏiphải kiểm tra trực tiếp khoảng hở bờ dưới kính hiển vi điện năng cao, điều này rấtquan trọng đối với độ chính xác của phương pháp [25]

Người ta báo cáo rằng việc quét hình ảnh bằng kính hiển vi điện tử (SEM),kính hiển vi soi nổi và đo khoảng hở giữa mão răng và cùi răng bằng kỹ thuật chụpảnh hiển vi thường được sử dụng để đo độ chính xác của phục hình cố định 34 Những kỹ thuật này tương đối chính xác và không phá hủy mẫu [36] Các kính hiển

vi khác được sử dụng bao gồm kính hiển vi kỹ thuật số, kính hiển vi soi nổi Kếtquả khi đo những điểm cách xa nhau bị giới hạn; do đó, các số đo trung bình tínhđược thường có độ lệch chuẩn cao [25]

Những bất lợi khác bao gồm khó khăn trong việc lựa chọn điểm để đo độ hở

bờ, khó phân biệt giữa cấu trúc răng và lớp xi măng có màu tương tự răng hoặc xácđịnh phần cao nhất của bờ cùi răng Bờ mão và cùi có vẻ tròn khi xem dưới kínhhiển vi Ngoài ra, chuẩn bị mẫu cho kỹ thuật hiển vi SEM (đúc, cắt và đánh bóng)

có thể làm hỏng mẫu và giảm độ chính xác của phương pháp [36]

Phương pháp cắt ngang đo hở bờ bằng cách gắn mão lên cùi răng đã cưa đaibằng xi măng, nhúng vào nhựa và cắt, cho phép đo trực tiếp bề dày lớp xi măng vàkhoảng hở bờ trong mặt phẳng thẳng đứng và ngang, giảm sai số do đặt lại mão.Phương pháp này cho phép quan sát khoảng hở bờ kế cận phần nối trong mẫu phụchình cố định nhiều đơn vị Tuy nhiên, phương pháp này không cho phép phân tích

Trang 23

dài hạn và so sánh các kết quả trước và sau các giai đoạn thực hiện khác nhau khi sửdụng mẫu giống nhau, và số lượng phép đo bị giới hạn ở mặt cắt, có thể không đạidiện cho sự khít sát toàn bộ của mão răng, mẫu bị cắt, đòi hỏi thêm giai đoạn nhúng

và cắt, tốn thời gian hơn Tuy nhiên, kỹ thuật cắt ngang không được khuyến khíchbởi vì nó là một phương pháp xâm lấn, cho phép đánh giá chỉ một vài điểm thamchiếu và có thể dẫn đến gãy hoặc biến dạng phục hình trong quá trình cắt [9], [25]

Về phương pháp hình thái, đây là một phương pháp không xâm lấn; Tuynhiên, với phương pháp này, bề dày lớp xi măng tại bờ mão chỉ có thể được suyluận gián tiếp, và trong trường hợp phân tích sau đó, cần cẩn trọng khi đặt lại mẫu,nếu không sẽ có sự khác biệt [25] Gần đây, hình ảnh chụp cắt lớp vi thể (micro-CT) cũng được sử dụng như một phương pháp không xâm lấn để đánh giá sự khítsát bờ và lòng phục hồi gián tiếp Kỹ thuật này cho phép đánh giá hai và ba chiều sựkhít sát bờ và lòng phục hình, có thể đánh giá một số lượng lớn các điểm thamchiếu và dễ dàng xác định khoảng hở quan trọng mà không phá hủy mẫu [9] Cácphương pháp còn lại, bao gồm thước kẹp micromet và micro CT, thu hút ít sự chú ýnhất, chủ yếu là do khó khăn về kỹ thuật [25]

Một số nghiên cứu sử dụng kết hợp hai phương pháp, cụ thể là bản saosilicone và phương pháp cắt ngang Kết quả chưa đưa ra kết luận Tsitrou và cộng

sự (2007) đã sử dụng kết hợp hai phương này để đo khoảng hở bờ của mão Cerec

Họ báo cáo trung bình khoảng hở bờ trên bờ cong là 94 µm và 91 µm và bờ vai là

91 µm và 77 µm tương ứng với sao mẫu silicone và kỹ thuật cắt ngang Shearer vàcộng sự (1996) báo cáo sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong khoảng hở bờ của hệthống In-Ceram khi sử dụng kỹ thuật cắt ngang và kỹ thuật sao chép silicone (tươngứng là 8.3 µm và 28.6 µm) Họ ủng hộ tính chính xác của kỹ thuật cắt ngang hơn kỹthuật sao chép bằng silicone Tuy nhiên, Rahme và cộng sự không báo cáo sự khácbiệt đáng kể giữa các phương pháp đối với sườn Procera, khoảng hở bờ báo cáo là31,9 µm và 33,6 µm tương ứng với kỹ thuật cắt ngang và sao silicone [25]

Không có sự đồng thuận đâu là phương pháp không xâm lấn tốt nhất để đánhgiá sự khít sát bờ và lòng mão của phục hồi gián tiếp [9] Nghiên cứu của chúng tôi

Trang 24

sử dụng kỹ thuật sao chép bằng silicone [6], [41] [32], [30] Kỹ thuật dùng vật liệu

độ nhớt thấp (kỹ thuật sao chép) là phương pháp không xâm lấn được dùng phổbiến để đánh giá khoảng hở giữa mão và răng cả in vivo và in vitro Vật liệu PVSlỏng để ghi lại khoảng cách giữa cùi răng bề mặt bên trong của phục hồi và sau đólớp silicone có thể được đo nhiều điểm tham chiếu cả ở bờ và lòng mão Phươngpháp này được coi là dễ thực hiện, tương đối rẻ tiền, và được chấp nhận như mộtphương pháp đáng tin cậy để đánh giá khoảng hở bờ và lòng mão Mặt khác, khókhăn trong việc xác định bờ của sự phục hình, hạn chế khi kiểm tra phục hồi có độkhít sát tốt, vì có nguy cơ làm rách dấu khi lấy ra khỏi mão, cũng như lỗi mặt phẳngcắt và vài điểm tham chiếu được coi là nhược điểm của kỹ thuật bản sao silicone[25], [36] Laurent và cộng sự [20] thấy rằng nếu sử dụng silicone thích hợp, có thểsao chép khoảng xi măng và đo độ dày ở bất kỳ vị trí nào Tương tự như vậy,Rahme và cộng sự [29] đã báo cáo không có sự khác biệt đáng kể giữa kỹ thuật saomẫu silicone và kỹ thuật cắt để đo khoảng hở bờ của mão Procera và ủng hộ việc

sử dụng silicone có độ nhớt thấp cho kỹ thuật bản sao để bắt chước độ dày lớp ximăng khi sử dụng xi măng glass – ionomer

Hình 1.1 Phương pháp sao mẫu bằng silicone [20]

Trang 25

1.2 Tổng quan về lấy dấu kỹ thuật số và các hệ thống lấy dấu kỹ thuật số

1.2.1 Ưu điểm của kỹ thuật lấy dấu kỹ thuật số so với kỹ thuật thường quy:

Chi phí vẫn là một rào cản lớn và đó là lý do một số nha sĩ không sử dụngmáy quét kỹ thuật số, vì hệ thống CAD/CAM hoặc máy quét trong miệng cần đầu

tư vào công nghệ và kỹ năng Tuy nhiên, máy quét kỹ thuật số trong miệng tiếp tụcchứng minh lợi ích trong thực hành nha khoa, phục vụ cho kỹ thuật viên, bác sĩ vàbệnh nhân [13]

- Loại bỏ được những vấn đề liên quan đến vật liệu lấy dấu thường quy gồmđặc tính vật liệu, không kiểm soát mô mềm được, lựa chọn khay lấy dấu khôngđúng cách, thiếu chính xác do khay đặt sai vị trí [4], [10]

- Trong kỹ thuật thường quy, phải lấy dấu cao su và đổ mẫu hàm thạch cao,trong khi đó lấy dấu kỹ thuật số, phục hình được thiết kế và chế tạo từ dữ liệu quétkhông cần làm mẫu hàm trung gian Các la bô nha khoa cũng có lợi từ việc chuyểnsang lấy dấu kỹ thuật số, vì kỹ thuật viên không cần đổ mẫu, cắm pin, cưa và gọtđai, và vô giá khớp mẫu hàm Với phần mềm xác định bờ phục hình, kỹ thuật viên

có thể tạo ra các phục hình chính xác mà không cần mẫu hàm [13]

- Những yếu tố như biến đổi về nhiệt độ, thời gian từ lúc lấy dấu đến khi đổmẫu, sự thấm ướt của bề mặt sản phẩm thạch cao, quy trình khử trùng có thể dẫnđến biến dạng vật liệu và ảnh hưởng đến tính chính xác [10] Độ chính xác của mẫuhàm sau cùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tỉ lệ nước/ bột thạch cao, bọt khíkhi trộn bằng tay, loại thạch cao và khả năng tương thích của nó với vật liệu lấydấu Ngoài ra, việc áp dụng các chất làm cứng mẫu và chêm mẫu, cũng như cácbước trong la bô khi chế tạo phục hình như làm sáp, đúc, hoặc quá trình ép, có thểtạo ra lỗi kích thước và ảnh hưởng sự khít sát của phục hình sau cùng [2]

- Quét kỹ thuật số lưu trữ trên ổ đĩa cứng vô thời hạn, cũng tránh được lỗiliên quan đến mẫu hàm thông thường có thể nứt vỡ theo thời gian Không cần vậnchuyển, quét kỹ thuật số giảm khả năng phải làm lại do dấu không chính xác [13]

Trang 26

- Bằng cách đơn giản hóa quy trình lấy dấu và có phản hồi tức thì, lấy dấu cómáy tính hỗ trợ có lợi cho việc thực hành nha khoa tạo quy trình làm việc hiệu quảhơn Ngoài ra, quy trình làm việc sạch, loại bỏ được lỗi vốn có trong kỹ thuật và môhình chế tạo truyền thống Những mô hình này không chiếm không gian và trao đổivới la bô dễ hơn [8].

- Giảm thời gian trên ghế để lựa chọn khay, lấy dấu, thời gian làm việc, khửnhiễm dấu và gửi cho la bô Nha sĩ được phản hồi thông tin ngay lập tức và có thểxem xét lại răng sửa soạn từ nhiều góc độ khác nhau và với một độ phóng đại lớn

mà có thể sửa các lỗi khác nhau trong lúc sửa soạn Đánh giá ngay lập tức đườnghoàn tất, dễ lấy dấu lại nhanh chóng nếu kết quả không chính xác, không cần chuẩn

bị khay hoặc trộn cao su lại, lấy dấu lại có chọn lọc, chỉ lấy dấu lại những vùng cầnthiết (ví dụ khi chảy máu gần đường hoàn tất của cùi răng), những vùng khôngchính xác dễ cắt đi và quét lại [42], [8]

- Với mô hình kỹ thuật số, có thể kiểm tra được các thông số phục hình ví dụ

bề dày tối thiểu của lớp xi măng, thiết kế hình thái và chức năng của phục hình [42]

- Mô hình không bị mòn khi kiểm tra sự khít sát phục hình trên mô hình tiếtkiệm vật liệu sử dụng [42]

- Mô hình kỹ thuật số có thể phân tích được nhiều sự thay đổi trong miệngnhư di chuyển răng, nghiêng răng, tụt nướu, mòn răng, trái ngược với mẫu hàmthường quy [42]

- Màu sắc chân thực, cải thiện được sự thu thập cấu trúc răng và kết cấu bềmặt nướu, phân tích sự thay đổi màu sắc trên răng và nướu, điều này không thựchiện được trên mẫu hàm thạch cao Một số hệ thống cho phép chọn màu răng [42]

- Quy trình làm việc sạch, đồng bộ dữ liệu, kết nối dữ liệu với dữ liệu khácnhư quét mặt, hình ảnh phim X quang 3 chiều hoặc cone beam CT mở rộng phạm

vi chẩn đoán và điều trị [42]

- Tiết kiệm chi phí khi không cần dùng khay, vật liệu lấy dấu và chi phí vậnchuyển và hiệu quả về thời gian [42]

Trang 27

Năm 2014, Yuzbasioglu và cộng sự [39] thực hiện nghiên cứu so sánh hai kỹthuật lấy dấu về khía cạnh sự thoải mái điều trị của bệnh nhân Nghiên cứu kết luậnlấy dấu kỹ thuật số mất tổng thời gian điều trị ít hơn, được bệnh nhân ưa thích hơn,

và đem lại sự thoải mái cho bệnh nhân hơn kỹ thuật lấy dấu thường quy

Kết quả nghiên cứu của Kim Anh (2017) [1]cho thấy phương pháp lấy dấu kỹthuật số có hiệu quả trên lâm sàng r rệt về mặt thời gian, giúp lấy dấu nhanh và giảmthời gian điều trị trên ghế nha Bên cạnh đó, phương pháp lấy dấu kỹ thuật số cũnglàm giảm cảm giác khó chịu do vị của chất lấy dấu, giảm buồn nôn và khó thở, tuynhiên vẫn còn khiến cho người được lấy dấu khó chịu về kích thước lớn của đầu quét

1.2.2 So sánh độ chính xác giữa lấy dấu kỹ thuật số và thường quy

Độ khít sát bờ và lòng mão là tiêu chí quan trọng cho sự thành công phụchình cố định như phục hình sứ Độ chính xác cao khi lấy dấu hỗ trợ việc chế tạophục hình chính xác Năm 2011, Ender và Mehl [12] tiến hành một thí nghiệm invitro quét toàn bộ cung răng để đánh giá độ chính xác của lấy dấu thường quy vàlấy dấu kỹ thuật số Kết luận rằng độ chính xác của lấy dấu kỹ thuật số tương tự nhưlấy dấu thường quy, có khả năng do khi quét kỹ thuật số có sử dụng bột phủ lênrăng, độ dày bột thay đổi làm giảm độ chính xác khi quét

Khi so sánh độ khít sát của mão răng, Henkel (2007) tiến hành nghiên cứucho rằng mão răng thực hiện bằng lấy dấu kỹ thuật số sử dụng máy quét trongmiệng được ưa thích hơn mão sử dụng phương pháp lấy dấu thường quy trong 70 %

ca, về thời gian điều chỉnh, khít sát bờ, tiếp xúc bên và khớp cắn [37]

Năm 2010, Syrek và cộng sự [34] Ting-Shu và Jian [35] tiến hành so sánh độkhít sát của mão toàn sứ đơn lẻ làm bằng phương pháp lấy dấu kỹ thuật số trongmiệng với mão làm bằng phương pháp lấy dấu hai thì Nghiên cứu kết luận rằng mãotoàn sứ làm bằng phương pháp lấy dấu kỹ thuật số với hệ thống Lava C.O.SCAD/CAM có độ khít sát tốt hơn, có khoảng hở bờ nhỏ hơn trung bình khoảng hở

bờ mão của nhóm lấy dấu thường quy, tương ứng là 49 µm và 71 µm, mặc dù vẫnchấp nhận về lâm sàng, và có tiếp xúc bên tốt hơn lấy dấu thường quy

Trang 28

Năm 2016, Zarauz và cộng sự [40] đã tiến hành một nghiên cứu in vivo đểđánh giá sự khít sát bờ của mão răng khi lấy dấu bằng silicone thường quy và lấydấu kỹ thuật số Kết quả cho thấy hệ thống kỹ thuật số chính xác hơn Dựa trên điềunày, hệ thống lấy dấu máy tính hỗ trợ và công nghệ CAD / CAM có thể cải thiệnkhít sát bờ của mão toàn sứ đơn lẻ.

Tuy hệ thống kỹ thuật số có những ưu điểm hơn so với lấy dấu thường quy,nhưng kết quả về độ khít sát của mão thực hiện bởi hai phương pháp chưa thốngnhất Năm 2013, Seelbach và cộng sự [32] đã tiến hành thí nghiệm in vitro để đánhgiá độ chính xác của mão răng được chế tạo bằng cách sử dụng lấy dấu thường quy

và kỹ thuật số, đo lường sự hở bờ và khít sát lòng mão Họ kết luận rằng độ chínhxác của mão zirconia sử dụng lấy dấu kỹ thuật số tương đương lấy dấu thường quy

Năm 2014, Vennerstrom và cộng sự [37] đã báo cáo các giá trị khít sát bờ vàlòng mão của mão được chế tạo sử dụng lấy dấu kỹ thuật số và thường quy tươngđương nhau, sử dụng hệ thống CEREC, iTero hoặc Lava C.O.S CAD / CAM

Năm 2015, Abdel-Azim và cộng sự [2] báo cáo độ khít sát bờ của mão sửdụng hệ thống Lava C.O.S và iTero CAD / CAM và lấy dấu PVS tương đươngnhau Trong nghiên cứu in vitro này, khoảng hở bờ đạt giá trị chấp nhận được trênlâm sàng Boeddinghaus và cộng sự [6] so sánh độ khít sát của sườn zirconia thựchiện khi quét trong miệng và quét mẫu hàm cũng cho kết quả tương đương vềkhoảng hở bờ

Năm 2016, Berrendero và cộng sự [5] tiến hành nghiên cứu so sánh độ khítsát mão toàn sứ khi thực hiện hai phương pháp, kết quả cho thấy không có sự khácbiệt ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm Mathias Rödiger và cộng sự cũng thực hiệnnghiên cứu tương tự, kết quả cho thấy lấy dấu kỹ thuật số có độ khít sát lòng mãotốt hơn ở một vài vùng, có ý nghĩa thống kê, trong khi đó độ khít sát bờ không có sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm

Năm 2016, Marco Zeltner và cộng sự [41] cũng cho kết quả khoảng hở bờkhông có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai phương pháp, lấy dấu thường

Trang 29

quy có giá trị khoảng hở ở múi và ở mặt nhai thấp hơn có ý nghĩa thống kê so vớiquy trình kỹ thuật số Rinet Dauti và cộng sự [11] đã thực hiện nghiên cứu đánh giá sựkhít sát bờ của sườn zirconia được thực hiện bằng lấy dấu kỹ thuật số LavaTM

C.O.S vàlấy dấu thường quy Kết quả cho thấy hở bờ tương đương nhau và trong phạm vi chophép

Một đánh giá khác của Chochlidakis và cộng sự (2016) [10] cũng cho kếtquả tương tự, trung bình khoảng hở bờ giữa lấy dấu kỹ thuật số và thường quykhông có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và cả hai phương pháp đều nằm trongphạm vi chấp nhận được về mặt lâm sàng

Trong một phân tích gần đây được tiến hành bởi Tsirogiannis và cộng sự chokết quả trung bình khoảng hở bờ trong phương pháp lấy dấu kỹ thuật số và thườngquy tương ứng là 63,3 µm và 58,9 µm, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩathống kê [23]

1.2.3 Nhược điểm của kỹ thuật lấy dấu kỹ thuật số:

- Nhược điểm đáng chú ý nhất là lấy dấu kỹ thuật số không dễ làm với ngườimới bắt đầu, vì đòi hỏi có hướng quét chính xác, thời gian huấn luyện Một số loạidùng bột phủ, chi phí cao và một vài giới hạn trong chỉ định và sửa soạn (ví dụđường hoàn tất không được nằm sâu dưới nướu 1mmm) [5] Hiện vẫn còn một sốtrở ngại và thiếu sót trong lấy dấu kỹ thuật số trong miệng

- Một số hệ thống cần phủ bột titan oxit hoặc magie oxit lên răng trước khiquét Tạo thêm bề dày 13-85 μm và thay đổi hình học bề mặt[23]

- Độ chính xác bị ảnh hưởng bởi nước bọt, máu, hoặc cử động của bệnh nhân[23]

- Khó chịu do kích thước của máy quét ở bệnh nhân cứng khít hàm hoặc cóphản xạ nôn

- Cần chất co nướu để bộc lộ r đường hoàn tất [23]

- Sự di chuyển máy quét trong quá trình quét, có thể ảnh hưởng đến tínhchính xác [42]

Trang 30

- Không thể ghi được khớp cắn khi hoạt động chức năng với một số hệthống máy quét trong miệng [42].

- Chi phí cao Cân nhắc giữa chi phí và lợi ích chưa phù hợp để nhiều người

sử dụng [42]

1.2.4 Tổng quan về các hệ thống lấy dấu kỹ thuật số

Các hệ thống lấy dấu kỹ thuật số trong miệng chính hiện có trên thị trườngbao gồm CEREC, hệ thống Lava C.O.S., iTero, E4D, và TRIOS Chúng khác nhau

về các tính năng chính như nguyên tắc làm việc, nguồn ánh sáng, sự cần thiết phunbột, quá trình tiến hành, và định dạng tập tin đầu ra

Hệ thống CEREC

Hệ thống CEREC 1 (Sirona, Bensheim, Đức) được đưa ra thị trường vàonăm 1987 cùng với hệ thống Duret là thiết bị lấy dấu kỹ thuật số trong miệng vàCAD/CAM đầu tiên Bề mặt với ánh sáng phân tán không đồng đều làm giảm tínhchính xác khi quét Vì thế, cần một lớp bột phủ titanium dioxide cho phân tán ánhsáng đồng đều và tăng tính chính xác khi quét

Hiện nay, hệ thống CEREC phổ biến nhất là sản phẩm thế hệ thứ 4, làCEREC AC Bluecam, ghi nhận hình ảnh bằng cách sử dụng nguồn ánh sáng màuxanh có thể nhìn thấy phát ra từ đèn LED diode xanh

Hệ thống CEREC mới nhất, CEREC AC Omnicam, đã được đưa ra thịtrường vào năm 2012 Kỹ thuật chụp ảnh Omnicam là chụp ảnh liên tục, dữ liệu thuthập liên tiếp tạo ra một mô hình 3D, trong khi đó hình ảnh Bluecam thu được làhình ảnh đơn lẻ Omnicam có thể được sử dụng cho một răng đơn lẻ, một phần hàm,hoặc toàn hàm Quét không cần phủ bột và hình ảnh 3D chính xác với màu sắc tựnhiên là những tính năng nổi bật nhất của Omnicam

Loại máy quét trong miệng này có thể được sử dụng cho mão đơn, veneers,inlay, onlay, và phục hình trên implant Hệ thống CEREC là một hệ thống đóng,xuất các dữ liệu lấy dấu kỹ thuật số ở tập tin định dạng độc quyền làm việc đượctrên các thiết bị CAM hỗ trợ của Sirona như CEREC MC và CEREC In-Lab Với

Trang 31

những phát triển gần đây trong các thiết bị CEREC, CEREC MC X và CEREC MC

XL kết hợp với CEREC AC Omnicam có thể đƣợc sử dụng cho phần lớn các chỉđịnh và vật liệu, bao gồm phục hình cố định và zirconia [35]

Hình.1.3 Hệ thống iTero

Nguồn: http://iversondental-labs.com/digital-dentistry-itero/

Trang 32

CS 3500 (Carestream, Rochester, USA)

Carestream ra mắt máy quét trong miệng CS 3500 và máy mài CS 3000.Máy quét trong miệng CS 3500 không cần phủ bột và ghi nhận hình ảnh màu sắcchân thực CS 3500 có đặc điểm đặc biệt là bao gồm hệ thống ánh sáng hướng dẫntrong khi quét, đèn sáng màu xanh trên máy quét sau khi quét thành công Không cócông cụ lên kế hoạch điều trị Lựa chọn điều trị và kế hoạch điều trị implant vẫnđang trong giai đoạn hình thành [42]

Hình 1.4 Máy quét trong miệng CS 3500

Hệ thống scan TRIOSđược giới thiệu trong ngành nha từ năm 2012 Tương

tự như các hệ thống iTero và E4D, máy quét trong miệng TRIOS là thiết bị khôngcần bột phủ trong quá trình quét 3Shape TRIOS® Color (TRC; 3Shape) là một hệ

Trang 33

thống scan không sử dụng bột Với công nghệ cắt ánh sáng nhanh, TRIOSsử dụngđến 1000 hình ảnh 3D để tạo ra hình ảnh dựa trên dữ liệu thực tế Máy scan chụphơn 3000 hình ảnh 2D trên giây giúp cho chức năng quét nhanh, chính xác Vớimáy scan TRIOScó thể xem trước thiết kế 3D trên màn hình, đánh giá sự sửa soạnphục hình đã đạt yêu cầu chưa.

Việc ghi lại tương quan khớp cắn không có sự hiện diện của chất lấy dấutrong miệng bệnh nhân cũng làm giảm khả năng gây ra các chuyển động sai lệch sovới kỹ thuật ghi dấu khớp cắn thông thường [1]

TRIOS bao gồm hai phần: TRIOS® Cart và TRIOS® Pod

TRIOS® Pod có tính di động và linh hoạt tốt hơn do cấu trúc đơn giản của nóvới chỉ một máy quét cầm tay và khả năng tương thích của nó với các máy tính kháchoặc iPad Đối với cả máy quét TRIOS® Cart và TRIOS® Pod, phòng khám có thểchọn chương trình TRIOS® Standard hay TRIOS® Color TRIOS® Color có khảnăng chụp và biểu hiện răng và hình ảnh mô mềm bằng màu thực 3Shape hiện nay

có 3 máy quét trong miệng khác nhau Ngoài TRIOS® Standard ra mắt vào năm

2011, và TRIOS® Color vào năm 2012, tháng 5 năm 2015, TRIOS® 3 có mặt trênthị trường có phiên bản cảm ứng, phiên bản USB và phiên bản tương thích với ghếđiều trị

Hệ thống TRIOS là một hệ thống mở có thể xuất dữ liệu 3D ở dạng tập tinSTL hoặc một tập tin độc quyền sản xuất Các tập tin STL có thể làm việc trên các

hệ thống CAD / CAM khác Các tập tin độc quyền được mã hóa chỉ có thể đượcthiết kế bởi phần mềm CAD đặc trưng của 3Shape và hệ thống nha khoa 3Shape

Với sự phát triển của TRIOS® Color, người ta mong đợi rằng bệnh nhân cóphục hình tháo lắp từng phần hoặc toàn phần sẽ được quét trực tiếp trong miệngtrong tương lai [35]

Trang 34

Hình.1.5 Hệ thống TRIOS®

Nguồn : http://www.sunshinedentistry.com/three_shape.htm

Trang 35

1.3 Tổng quan một số nghiên cứu trên thế giới

Matthias Rödiger

[30]

2016 Thử nghiệm lâm sàng có nhóm

chứng

- Lấy dấu kỹ thuật số: khít sát lòng mão tốt hơn ở một vài vùng,

có ý nghĩa thống kê, độ khít sát bờ không có sự khác biệt có ýnghĩa thống kê giữa 2 nhóm

S Berrendero [5] 2016 Thử nghiệm lâm sàng có nhóm

Zeltner M và cộng

sự [41]

2016 Thử nghiệm lâm sàng ngẫu

nhiên, mù

- Thường quy có giá trị khoảng hở ở múi và ở mặt nhai thấp hơn

có ý nghĩa so với quy trình kỹ thuật số

Trang 36

Tác giả Năm Thiết kế nghiên cứu Kết quảBoeddinghaus và

2016 Nghiên cứu in vitro - Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kỹ thuật số và thường

quy về khoảng hở bờ, hở vùng múi và trũng rãnh

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Chọn mẫu thuận tiện gồm 15 bệnh nhân có kế hoạch điều trị phục hình cốđịnh mão đơn lẻ tại khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh

2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu:

2.3.1 Tiêu chuẩn chọn vào

- Đường hoàn tất ngang nướu hoặc dưới nướu không quá 1mm

- Răng kế cận và răng đối diện khỏe mạnh hoặc được phục hình tốt

- Vệ sinh răng miệng tốt thể hiện không chảy máu nướu khi thăm dò và độsâu túi nha chu < 4mm, chỉ số mảng bám toàn miệng và điểm chảy máu toàn miệng

< 25%, không có bệnh nha chu hoạt động

2.3.2 Tiêu chí loại trừ:

- Viêm nha chu tiến triển ảnh hưởng độ lung lay của răng (răng lung lay độ 2hoặc hơn)

- Tiền sử nghiến răng

- Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú

- Sửa soạn đường hoàn tất sâu dưới nướu hơn 1 mm

Trang 38

2.4 Phương pháp nghiên cứu 2.4.1 Vật liệu nghiên cứu:

- Chỉ co nướu (Sure Cord #00; #0, Sure Dent, Hàn Quốc)

- Xi măng gắn tạm (Cement freegenol temporary pack, GC, Tokyo, Nhật)

- Cao su polyvinylsiloxane (Silagum® Putty và Silagum® Light, DMG,

Đức)

- Chất lấy dấu hydrocolloid không hoàn nguyên (Alginate Aroma Fine; GC

Corp, Tokyo, Nhật)

- Sáp ghi tương quan khớp cắn (IRIS, Trung quốc)

- Thạch cao cứng đổ mẫu (GC New Plastone II, GC Corp, Tokyo, Nhật)

- Chỉ nha khoa có sáp Oral – B (Mỹ)

- Vật liệu dùng để sao mẫu: silicone nhẹ (Exaflex® Injection, GC America

INC, Nhật) silicone nặng (Exaflex ® monophase, GC America INC, Nhật),

silicone trung bình (Exaflex ® Regular, GC America INC, Nhật)

- Giấy cắn (GC Corp, Nhật)

- Xi măng gắn vĩnh viễn glass ionomer (GC America INC, Nhật)

2.4.2 Dụng cụ:

- Bộ đồ khám

- Thám trâm đầu nhỏ đường kính 150 µm (Fine Science Tool, Mỹ)

- Khay lấy dấu làm sẵn bằng kim loại

- Máy quét lấy dấu kỹ thuật số TRIOS ® Color (3Shape A/S, Copenhagen,Denmark)

Trang 39

Hình 2.1 Hình ảnh thám trâm sử dụng trong nghiên cứu 2.5 Giai đoạn chuẩn bị:

Nghiên cứu viên khám ghi nhận tình trạng sức khỏe tổng quát, tình trạngrăng miệng Bệnh nhân đạt đủ các tiêu chuẩn sẽ được giải thích kỹ lưỡng mục đíchnghiên cứu, từng giai đoạn trong quá trình nghiên cứu, nguy cơ và quyền lợi khitham gia, sau đó ký tên vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu

2.6 Quy trình nghiên cứu:

2.6.1 Lần hẹn 1:

Lấy dấu sơ khởi

- Người thực hiện chọn lựa khay lấy dấu làm sẵn, lấy dấu sơ khởi 2 hàm chođối tượng với chất lấy dấu alginate

- Dấu sơ khởi được khử trùng, chuyển vào la bô và đổ mẫu trong vòng 15phút

- Làm mẫu sáp trên những răng có mất chất, làm khóa bằng cao su rất nặng,làm mão tạm bằng nhựa tự cứng

2.6.2 Lần hẹn 2 Sửa soạn răng trụ:

Trang 40

- Gây tê tại chỗ.

- Đường hoàn tất bờ cong 1mm ở mặt trong, mặt bên và mặt ngoài

- Hạ thấp mặt nhai 1 mm ở múi hướng dẫn, 1,5 mm ở múi chịu

Trước khi lấy dấu, đặt chỉ co nướu trong khe nướu Dùng kỹ thuật đặt hai sợichỉ co nướu, chỉ #00 nằm trong khe nướu, chỉ #0 phía trên, một phần nằm trong khenướu, được sử dụng cho cả hai phương pháp lấy dấu thường quy và lấy dấu kỹ thuậtsố

Chỉ lấy dấu khi bộc lộ đủ đường hoàn tất

Hình.2.2 Hình ảnh sửa soạn cùi răng và đặt chỉ co nướu (kỹ thuật đặt hai sợi chỉ)

Ngày đăng: 02/04/2021, 23:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đoàn Minh Trí, Đỗ Thị Kim Anh (2017), "So sánh lấy dấu theo phương pháp kỹ thuật số và phương pháp thường quy ", Tạp chí Y học TPHCM 2018, 22 (2), pp. 112-118.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh lấy dấu theo phương phápkỹ thuật số và phương pháp thường quy
Tác giả: Đoàn Minh Trí, Đỗ Thị Kim Anh
Năm: 2017
[2]. Abdel-Azim Tamer, Rogers Kelly, Elathamna Eiad, Zandinejad Amirali, Metz Michael and Morton Dean (2015), "Comparison of the marginal fit of lithium disilicate crowns fabricated with CAD/CAM technology by using conventional impressions and two intraoral digital scanners", The Journal of prosthetic dentistry, 114 (4), pp. 554-559 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of the marginal fit of lithiumdisilicate crowns fabricated with CAD/CAM technology by usingconventional impressions and two intraoral digital scanners
Tác giả: Abdel-Azim Tamer, Rogers Kelly, Elathamna Eiad, Zandinejad Amirali, Metz Michael and Morton Dean
Năm: 2015
[3]. Ahlholm Pekka, Sipilọ Kirsi, Vallittu Pekka, Jakonen Minna and Kotiranta Ulla (2016), "Digital Versus Conventional Impressions in Fixed Prosthodontics: A Review", Journal of Prosthodontics, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Digital Versus Conventional Impressions in Fixed Prosthodontics: AReview
Tác giả: Ahlholm Pekka, Sipilọ Kirsi, Vallittu Pekka, Jakonen Minna and Kotiranta Ulla
Năm: 2016
[4]. Alghazzawi Tariq F (2016), "Advancements in CAD/CAM technology: Options for practical implementation", Journal of prosthodontic research, 60 (2), pp.72-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advancements in CAD/CAM technology: Optionsfor practical implementation
Tác giả: Alghazzawi Tariq F
Năm: 2016
[5]. Berrendero S., Salido M. P., Valverde A., Ferreiroa A. and Pradies G. (2016),"Influence of conventional and digital intraoral impressions on the fit of CAD/CAM-fabricated all-ceramic crowns", Clin Oral Investig, 20 (9), pp.2403-2410 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of conventional and digital intraoral impressions on the fit ofCAD/CAM-fabricated all-ceramic crowns
Tác giả: Berrendero S., Salido M. P., Valverde A., Ferreiroa A. and Pradies G
Năm: 2016
[8]. Contrepois Mathieu, Soenen Arnaud, Bartala Michel and Laviole Odile (2013),"Marginal adaptation of ceramic crowns: a systematic review", The Journal of prosthetic dentistry, 110 (6), pp. 447-454. e10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marginal adaptation of ceramic crowns: a systematic review
Tác giả: Contrepois Mathieu, Soenen Arnaud, Bartala Michel and Laviole Odile
Năm: 2013
[12]. Ender Andreas and Mehl A (2010), "Full arch scans: conventional versus digital impressions--an in-vitro study", International journal of computerized dentistry, 14 (1), pp. 11-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Full arch scans: conventional versusdigital impressions--an in-vitro study
Tác giả: Ender Andreas and Mehl A
Năm: 2010
[13]. Ferencz J. L. (2015), "Today's CAD/CAM: flexible digital technologies expanding workflow options", Compend Contin Educ Dent, 36 (3), pp. 222-3 [14]. Gjelvold Bjửrn, Chrcanovic Bruno Ramos, Korduner Eva‐Karin, Collin‐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Today's CAD/CAM: flexible digital technologiesexpanding workflow options
Tác giả: Ferencz J. L
Năm: 2015
[15]. Hamza T. A. and Sherif R. M. (2017), "In vitro evaluation of marginal discrepancy of monolithic zirconia restorations fabricated with different CAD- CAM systems", J Prosthet Dent, 117 (6), pp. 762-766 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro evaluation of marginaldiscrepancy of monolithic zirconia restorations fabricated with different CAD-CAM systems
Tác giả: Hamza T. A. and Sherif R. M
Năm: 2017
[16]. Hickel R., Roulet J.-F., Bayne S., Heintze S. D., Mjửr I. A., Peters M., Rousson V., Randall R., Schmalz G., Tyas M. and Vanherle G. (2007),"Recommendations for conducting controlled clinical studies of dental restorative materials", Clinical Oral Investigations, 11 (1), pp. 5-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recommendations for conducting controlled clinical studies of dentalrestorative materials
Tác giả: Hickel R., Roulet J.-F., Bayne S., Heintze S. D., Mjửr I. A., Peters M., Rousson V., Randall R., Schmalz G., Tyas M. and Vanherle G
Năm: 2007
[17]. Holmes J Robert, Bayne Stephen C, Holland Gene A and Sulik William D (1989), "Considerations in measurement of marginal fit", The Journal of prosthetic dentistry, 62 (4), pp. 405-408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Considerations in measurement of marginal fit
Tác giả: Holmes J Robert, Bayne Stephen C, Holland Gene A and Sulik William D
Năm: 1989
[18]. Ioannidis Alexis and Bindl Andreas (2016), "Clinical prospective evaluation of zirconia-based three-unit posterior fixed dental prostheses: Up-to ten-year results", Journal of dentistry, 47 pp. 80-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical prospective evaluationof zirconia-based three-unit posterior fixed dental prostheses: Up-to ten-yearresults
Tác giả: Ioannidis Alexis and Bindl Andreas
Năm: 2016
[19]. Juntavee N. and Sirisathit I. (2018), "Marginal accuracy of computer-aided design- and computer-aided manufacturing-fabricated full-arch zirconia restoration", Clin Cosmet Investig Dent, 10 pp. 9-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marginal accuracy of computer-aideddesign- and computer-aided manufacturing-fabricated full-arch zirconiarestoration
Tác giả: Juntavee N. and Sirisathit I
Năm: 2018
[20]. Laurent M., Scheer P., Dejou J. and Laborde G. (2008), "Clinical evaluation of the marginal fit of cast crowns--validation of the silicone replica method", J Oral Rehabil, 35 (2), pp. 116-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical evaluation ofthe marginal fit of cast crowns--validation of the silicone replica method
Tác giả: Laurent M., Scheer P., Dejou J. and Laborde G
Năm: 2008
[21]. Malik J., Rodriguez J., Weisbloom M. and Petridis H. (2018), "Comparison of Accuracy Between a Conventional and Two Digital Intraoral Impression Techniques", Int J Prosthodont, 31 (2), pp. 107-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison ofAccuracy Between a Conventional and Two Digital Intraoral ImpressionTechniques
Tác giả: Malik J., Rodriguez J., Weisbloom M. and Petridis H
Năm: 2018
[22]. McLean J. W. and von Fraunhofer J. A. (1971), "The estimation of cement film thickness by an in vivo technique", Br Dent J, 131 (3), pp. 107-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The estimation of cementfilm thickness by an in vivo technique
Tác giả: McLean J. W. and von Fraunhofer J. A
Năm: 1971
[23]. Memari Y., Mohajerfar M., Armin A., Kamalian F., Rezayani V. and Beyabanaki E. (2018), "Marginal Adaptation of CAD/CAM All-Ceramic Crowns Made by Different Impression Methods: A Literature Review", J Prosthodont, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marginal Adaptation of CAD/CAM All-CeramicCrowns Made by Different Impression Methods: A Literature Review
Tác giả: Memari Y., Mohajerfar M., Armin A., Kamalian F., Rezayani V. and Beyabanaki E
Năm: 2018
[24]. Nassary Zadeh P., Lumkemann N., Sener B., Eichberger M. and Stawarczyk B. (2018), "Flexural strength, fracture toughness and translucency of cubic/tetragonal zirconia materials", J Prosthet Dent, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flexural strength, fracture toughness and translucency ofcubic/tetragonal zirconia materials
Tác giả: Nassary Zadeh P., Lumkemann N., Sener B., Eichberger M. and Stawarczyk B
Năm: 2018
[27]. Ng J., Ruse D. and Wyatt C. (2014), "A comparison of the marginal fit of crowns fabricated with digital and conventional methods", J Prosthet Dent, 112 (3), pp. 555-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparison of the marginal fit ofcrowns fabricated with digital and conventional methods
Tác giả: Ng J., Ruse D. and Wyatt C
Năm: 2014
[28]. Pedroche L. O., Bernardes S. R., Leao M. P., Kintopp C. C., Correr G. M., Ornaghi B. P. and Gonzaga C. C. (2016), "Marginal and internal fit of zirconia copings obtained using different digital scanning methods", Braz Oral Res, 30 (1), pp. e113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marginal and internal fit of zirconiacopings obtained using different digital scanning methods
Tác giả: Pedroche L. O., Bernardes S. R., Leao M. P., Kintopp C. C., Correr G. M., Ornaghi B. P. and Gonzaga C. C
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w