1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DỰ THẢO:ĐỀ ÁNPHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾNNĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

92 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù đã có nhiều nỗ lựctrong phát triển NNL du lịch của tỉnh Quảng Ngãi nhưng vẫn còn nhiều bất cậpnhư: Quy mô đào tạo còn manh mún cả về quy mô và cơ cấu, chất lượng đào tạochưa đáp ứng y

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI

DỰ THẢO:

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN

NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Quảng Ngãi, tháng 11 năm 2019

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

UBND: Ủy ban nhân dân

NNL: Nguồn nhân lực

Trang 3

Biểu đồ 4 Số buồng lưu trú du lịch của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2018Biểu đồ 5 Quy mô nhân lực ngành du lịch của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 -2018

Bảng 1 Quy mô nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2018

Bảng 2 Số lượng lao động du lịch trực tiếp tại Quảng Ngãi

Bảng 3 Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với nguồn nhân lực của đơn vịBảng 4 Nhu cầu của doanh nghiệp về lao động trong thời gian đến

Bảng 5 Danh mục cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Bảng 6 Số cơ sở đào tạo có đào tạo chuyên ngành du lịch của một số địaphương

Bảng 7 Trình độ đào tạo hiện có tại các cơ sở đào tạo trong Vùng KTTĐMTBảng 8: Mức hỗ trợ đào tạo nghề theo cấp trình độ đào tạo

Bảng 9 Tổng nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2020 - 2025 và năm2030

Bảng 10 Nhân lực theo trình độ ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2020

-2025 và năm 2030

Bảng 11 Nhân lực ngành du lịch theo vị trí làm việc và ngành nghề kinh

doanh tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2020 - 2025 và năm 2030

Bảng 16 Hình thức, chương trình, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2020 - 2025

Hình 1 So sánh số cơ sở đào tạo về du lịch của Quảng Ngãi và các địa phươngkhác thuộc Vùng KTTĐMT

Hình 2 Các chương trình đào tạo hiện có

Trang 4

III Mục tiêu, yêu cầu xây dựng đề án 2

IV Đối tượng và phạm vi 3

V Phương pháp xây dựng đề án 3

Phần thứ nhất 5

ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 5

TỈNH QUẢNG NGÃI 5

1.1 Tổng quan về kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi 5

1.1.1 Về kinh tế 5

1.1.2 Về xã hội 6

1.2 Khái quát đặc điểm, tài nguyên du lịch tỉnh Quảng Ngãi 8

1.3 Tình hình phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi 9

1.3.1 Tăng trưởng du lịch 9

1.3.2 Phát triển sản phẩm du lịch 14

1.3.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tỉnh Quảng Ngãi 16

1.3.4 Doanh nghiệp du lịch 17

1.3.5 Công tác xúc tiến, quảng bá và hợp tác phát triển du lịch 17

1.4 Đánh giá chung thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ngãi 19

1.4.1 Những kết quả đạt được 19

1.4.2 Tồn tại hạn chế và nguyên nhân 20

Phần thứ hai 22

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 22

TỈNH QUẢNG NGÃI 22

2.1 Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi 22

2.1.1 Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực du lịch 22

2.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực du lịch 25

2.1.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của NNL du lịch 26

2.2 Đào tạo nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi 28

2.2.1 Tại Quảng Ngãi 28

2.2.2 Tại Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 31

2.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi 34

2.3.1 Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh 34

2.3.2 Chính sách thu hút NNL du lịch chất lượng cao 36

2.3.3 Các hình thức hỗ trợ đào tạo và phát triển NNL 37

Trang 5

2.3.4 Tạo dựng môi trường thuận lợi phát triển NNL du lịch 38

2.3.5 Liên kết phát triển NNL du lịch 39

2.4 Đánh giá tổng quan về phát triển NNL du lịch tỉnh Quảng Ngãi 40

2.4.1 Những thành công 40

2.4.2 Những hạn chế 40

Phần thứ ba 42

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 42

3.1 Bối cảnh tác động đến phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi 42

3.2 Định hướng và mục tiêu phát triển ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi 43

3.2.1 Mục tiêu phát triển ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi 43

3.2.2 Định hướng phát triển ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi 44

3.3 Phương hướng phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 46

3.3.1 Quan điểm 46

3.3.2 Định hướng 47

3.3.3 Mục tiêu 48

3.4 Những yếu tố tác động đến phát triển nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 49

3.4.1 Các yếu tố quốc tế 49

3.4.2 Các yếu tố trong nước 51

3.5 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi từ 2020 đến 2025 và năm 2030 53

3.5.1 Căn cứ để dự báo 53

3.5.2 Dự báo số lượng nhân lực du lịch 54

3.5.2 Dự báo theo vị trí làm việc và theo ngành nghề 55

3.6 Nội dung đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch 57

3.6.1 Đào tạo theo hình thức tập trung 57

3.6.2 Hình thức bồi dưỡng ngắn hạn 57

3.7 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi 59

3.7.1 Nâng cao nhận thức và tăng cường tuyên truyền về phát triển nguồn nhân lực du lịch 59

3.7.2 Tăng cường công tác quản lý nhà nước về nguồn nhân lực du lịch 60

Trang 6

3.7.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức ngành du

lịch 61

3.7.4 Nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo ngành du lịch 61

3.7.5 Tăng cường liên kết trong phát triển nguồn nhân lực du lịch 64

3.7.6 Huy động nguồn lực xã hội hóa 65

3.8 Dự kiến kết quả đóng góp và dự toán kinh phí thực hiện của đề án 66

3.8.1 Dự kiến kết quả đóng góp của đề án 66

3.8.2 Dự toán kinh phí thực hiện của đề án 66

3.9 Tổ chức thực hiện 67

3.9.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 67

3.9.2 Sở Nội vụ 67

3.9.3 Sở Giáo dục và Đào tạo 67

3.9.4 Sở Tài chính 68

3.9.5 Sở Kế hoạch và Đầu tư 68

3.9.6 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội 68

3.9.7 Sở Thông tin và Truyền thông 68

3.9.8 UBND huyện, thành phố 68

3.9.9 Các trường đại học và cao đẳng có liên quan đến chuyên ngành du lịch trong tỉnh 69

3.9.10 Hiệp hội du lịch Quảng Ngãi 69

KẾT LUẬN 70

PHỤ LỤC 1 71

Trang 7

MỞ ĐẦU

I Sự cấp thiết xây dựng đề án

Với tiềm năng du lịch vô cùng to lớn, du lịch Quảng Ngãi đã tận dụngnhững tiềm năng đó và đã có sự phát triển bứt phá trong những năm gần đây.Lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi đã vượt trên 1 triệu khách năm Doanh thu

du lịch tăng không ngừng và giá trị gia tăng của du lịch đã đóng góp vào GRDPcủa tỉnh khoảng 5% năm 2018

Để phát triển du lịch nhanh và bền vững thì vai trò quyết định thuộc vềnguồn nhân lực (NNL), nhất là chất lượng nguồn lực này Sự phát triển nhanhcủa các cơ sở kinh doanh du lịch tỉnh Quảng Ngãi đang được làm nảy sinhnhững vấn đề lớn – mất cân đối giữa nhu cầu NNL với khả năng đáp ứng nguồnlực này Sự thiếu hụt so với nhu cầu cả nhân lực quản trị, lữ hành, nhân viênnghiệp vụ… du lịch đã và đang hạn chế đà phát triển này Dù đã có nhiều nỗ lựctrong phát triển NNL du lịch của tỉnh Quảng Ngãi nhưng vẫn còn nhiều bất cậpnhư: Quy mô đào tạo còn manh mún cả về quy mô và cơ cấu, chất lượng đào tạochưa đáp ứng yêu cầu đề ra, cơ sở vật chất cho đào tạo thiếu, sự hỗ trợ của chínhquyền chưa nhiều và chưa như mong đợi của doanh nghiệp, tập trung đào tạomới mà chưa chú trọng đào tạo lại hay bổ sung Đây cũng là vấn đề làm nảnlòng các nhà đầu tư vào du lịch nói riêng và nền kinh tế nói chung Điều này đãđược phản ánh trong chỉ số thành phần năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI về dịch

vụ giáo dục đào tạo là 6.44, khá thấp so với 8.07 của Đà Nẵng và 6.52 củaQuảng Nam

Để đáp ứng yêu cầu phát triển NNL du lịch của tỉnh thúc đẩy phát triểnngành kinh tế đầy tiềm năng của Quảng Ngãi rất cần thiết có một đề án về pháttriển nguồn lực này Đó chính là lý do để thực hiện đề án này

II Căn cứ pháp lý xây dựng dự án

- Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triểnngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn;

- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/07/2011 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020;

- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm

Trang 8

- Quyết định số 2350/QĐ-TTg ngày 24/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Duyên hải NamTrung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 3066/QĐ-BVHTTDL ngày 29/9/2011 của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành dulịch giai đoạn 2011 - 2020;

- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX;

- Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 27/10/2011 của Hội đồng nhândân tỉnh Quảng Ngãi về Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãigiai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 21/01/2014 của UBND tỉnh QuảngNgãi về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãiđến năm 2020 và định hướng đến năm 2025;

- Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 19/10/2016 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi vềphát triển dịch vụ, du lịch Quảng Ngãi giai đoạn 2016-2020;

- Quyết định số 504/QĐ-UBND ngày 10/4/2019 của UBND tỉnh QuảngNgãi về việc phê duyệt Đề cương và Dự toán kinh phí xây dựng Đề án phát triểnnguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

III Mục tiêu, yêu cầu xây dựng đề án

3.1 Mục tiêu

Đề án đánh giá thực trạng NNL du lịch của tỉnh Quảng Ngãi những nămqua và đề xuất định hướng và giải pháp phát triển NNL du lịch nhằm đáp ứngđược các yêu cầu của ngành du lịch của tỉnh trong thời gian đến

3.3 Yêu cầu xây dựng đề án

- Quán triệt những nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển nhân lựctỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020 đã được UBND tỉnh thông qua trongQuyết định 2037/QĐ-UBND ngày 20/12/2011; Cụ thể hóa những mục tiêu,phương hướng và giải pháp của đề án trên cơ sở tính toán, cân nhắc nhữngđiều kiện và đặc điểm phát triển của ngành Du lịch

Trang 9

- Thể hiện rõ quyết tâm, cam kết mạnh của ngành Du lịch cả nhận thức vàhành động trong phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Dulịch cho đến 2030.

- Thống kê, đánh giá hiện trạng phát triển nhân lực về số lượng, chấtlượng và cơ cấu, xác định rõ những điểm mạnh và yếu kém của nhân lực sovới nhu cầu phát triển; Nguồn cung nhân lực bên trong và bên ngoài tỉnh; đánhgiá các chính sách phát triển NNL du lịch của tỉnh; những biện pháp đã thựcthi, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất hướng hướng khắc phục trong thờigian tới

- Đề xuất định hướng giải pháp, nhất là giải pháp về các nguồn lực vàbước đi trong tổ chức thực hiện đề án phát triển nhân lực ngành Du lịchđảm bảo hiện thực và khả thi

IV Đối tượng và phạm vi

- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn tỉnhQuảng Ngãi

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng, chính sách, yếu tố tácđộng đến phát triển nguồn nhân lực du lịch tại tỉnh Quảng Ngãi; đề xuất đưa

ra các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi đáp ứngyêu cầu trong thời gian đến

V Phương pháp xây dựng đề án

Để đáp ứng yêu cầu về nội dung nghiên cứu, đề án sẽ được thực hiện trên

cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra, phân tích xã hội học: để đánh giá thực trạng nhânlực du lịch của địa phương và các yếu tố tác động đến phát triển nhân lực du lịch

- Phương pháp thực địa: nhằm mục đích kiểm tra, bổ sung sự tương thíchgiữa lý thuyết và thực tế từ đó có cái nhìn khách quan, tin cậy hơn đối với vấn

- Phương pháp dự báo: được sử dụng để dự báo các chỉ số phát triển nguồnnhân lực du lịch của tỉnh đến năm 2025 Từ đó làm cơ sở cho việc đưa ra cácđịnh hướng và đề xuất các giải pháp cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch

Trang 10

tỉnh Quảng Ngãi

- Phương pháp kinh tế lượng: Phương pháp này được sử dụng để tính toán

hệ số co dãn giữa tăng trưởng lượng khách du lịch và số lượng nhân lực du lịchcủa tỉnh Quảng Ngãi Số liệu sử dụng từ năm 2010 đến 2018 Hệ số này là cơ sở

để xác định số luộng nhân lực cho năm 2020 - 2025 và năm 2030

- Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý cóliên quan

Trang 11

Phần thứ nhất ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

TỈNH QUẢNG NGÃI

1.1 Tổng quan về kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là một trong năm tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọngđiểm miền Trung, nằm ở vị trí trung độ của cả nước, cách thủ đô Hà Nội 898 km

về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 830 km về phía Nam Diện tích tựnhiên của tỉnh Quảng Ngãi là 5.155,78 km2 (2018), bao gồm 01 thành phố trựcthuộc, 06 huyện đồng bằng ven biển, 06 huyện miền núi và 01 huyện đảo.Quảng Ngãi có đường bờ biển dài khoảng 130 km và một số đảo nhỏ ngoàikhơi, trong đó đáng kể nhất là đảo Lý Sơn (10,39 km2) Ranh giới tỉnh về phíaBắc giáp Quảng Nam, phía Nam giáp Gia Lai và Bình Định, phía Tây giáp KonTum và phía Đông giáp biển Đông

Quảng Ngãi có đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy qua thuậnlợi cho giao lưu theo trục Bắc Nam Bên cạnh đó, tỉnh có vị trí liền kề với vùngTây Nguyên - địa bàn có tiềm năng về kinh tế nói chung và du lịch nói riêng hếtsức phong phú, là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Nam Lào, ĐôngBắc Thái Lan và Bắc Campuchia Vị trí này tạo cho Quảng Ngãi điều kiện hếtsức thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng, vớicác tỉnh Tây Nguyên và cả nước, kích thích sự phát triển của các ngành kinh tếtrong tỉnh, là cơ hội để đầu tư khai thác tiềm năng, phát triển du lịch của tỉnh

1.1.1 Về kinh tế

Năm 2018, kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉtiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra Tổng sản phẩm trên địa bàn(GRDP) theo giá hiện hành đạt 76.134,5 tỷ đồng, tăng 11,9% so với năm 2017.Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2010 - 2018 là 12,7%/năm GRDP bìnhquân đầu người năm 2018 đạt 59,8 triệu đồng/người, tương đương 2.601USD/người

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọngcủa ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngànhnông, lâm, thủy sản Tính đến hết năm 2018, tỷ trọng của các ngành trong cơcấu GRDP của tỉnh Quảng Ngãi là: Nông, lâm, thủy sản còn 17,78%; Côngnghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 52,68% (trong đó Công nghiệp là 48,09%);Dịch vụ 29,53%, trong đó du lịch đóng góp gần 4%, cho thấy tiềm năng phát triển

du lịch còn lớn hay động lực thúc đẩy tăng trưởng từ du lịch khá rõ

Trang 12

Tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2018 đạt 20.099.99

tỷ đồng, tăng mạnh so với năm 2017 (15.139,43 tỷ đồng), trong đó thu nội địa đạt16.734,99 tỷ đồng, chiếm hơn 80% tổng thu NSNN của tỉnh Trong năm 2018,tổng chi ngân sách địa phương đạt 17.269,9 tỷ đồng, là 1 trong 03 địa phươngtrong vùng KTTĐMT cân đối ngân sách luôn ở trong trạng thái dương (thu nhiềuhơn chi); tín dụng ngân hàng ổn định, nợ xấu trong tầm kiểm soát

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh đạt 42.977,7 tỷ đồng, tăng 99%

so với năm 2017 Năm 2018, UBND tỉnh đã triển khai quyết liệt nhiều biện phápcải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, xúctiến đầu tư Đã cấp phép đầu tư cho 99 dự án trong nước với vốn đăng ký 10.380

tỷ đồng, trong năm có 14 dự án đi vào hoạt động Hạ tầng kinh tế xã hội, nhất là

hạ tầng giao thông, đô thị tiếp tục được đầu tư xây dựng và nâng cấp

Kim ngạch xuất khẩu đạt 591 triệu USD, tăng 29,1% so với năm 2017,vượt 31,4% kế hoạch Đa số các sản phẩm xuất khẩu đều tăng, một số sản phẩmtăng mạnh như: dầu FO tăng 73,5%; sơ, sợi dệt các loại tăng 25,2%, giày dépcác loại tăng 101,7%; bên cạnh đó, có một số sản phẩm xuất khẩu giảm mạnhnhư: thủy sản, hàng thực phẩm chế biến, điện tử các loại và linh kiện Kimngạch nhập khẩu đạt 1.055 triệu USD, tăng 116% so với năm 2017, vượt 12,2%

kế hoạch, chủ yếu là do nhập khẩu máy móc, phụ tùng và sắt thép phục vụ xâydựng Khu liên hợp gang thép Hòa Phát - Dung Quất

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đạt 51.012 tỷ đồng, tăng10,4% so với năm 2017, đạt 100% kế hoạch Hoạt động vận tải (không kể vậntải đường sắt) tiếp tục tăng trưởng, chất lượng dịch vụ vận tải ngày càng đượccải thiện Doanh thu vận tải và các dịch vụ vận tải đạt 3.931 tỷ đồng, tăng45,06% so với năm 2017

1.1.2 Về xã hội

Theo số liệu thống kê năm 2018, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 1,2 triệu dân,trong đó dân số trong độ tuổi lao động là 779.248 người, chiếm hơn 60% dân sốtoàn tỉnh Tỷ lệ lao động trẻ hiện đang làm việc trong nền kinh tế của tỉnh chiếmtới hơn 95% dân số trong độ tuổi lao động (763.537 người), trong đó có 17,49%lao động đã qua đào tạo Số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việctrong các khu vực kinh tế được cơ cấu như sau: Nông, lâm và thủy sản: 375.200người (chiếm 49,14%), Dịch vụ: 238.245 người (chiếm 31,2%), trong đó laođộng trong ngành du lịch là 12.400 (chiếm 5% của dịch vụ); Công nghiệp và xâydựng: 150.092 người (chiếm 19,66%) Đây là nguồn lực rất quan trọng cho pháttriển kinh tế - xã hội nói chung và cho phát triển du lịch nói riêng của tỉnh Tỷ lệthất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi chỉ chiếm 2,02%

Trang 13

Công tác giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động có nhiều chuyển biếntích cực Tỉnh đã ban hành chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nướcngoài theo hợp đồng; chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm Thôngqua 26 phiên giao dịch việc làm có hơn 1.200 doanh nghiệp, cơ sở dạy nghềtham gia tuyển dụng, tuyển sinh giải quyết việc làm trong nước cho 7.833 laođộng, đưa 1.800 người đi lao động nước ngoài, đạt 100% kế hoạch Đào tạonghề gắn với giải quyết việc làm được thực hiện bằng nhiều mô hình mới vàhiệu quả, nhất là ký kết đặt hàng đào tạo nghề, cung ứng nhân lực cho Công ty

cổ phần Thép Hòa Phát và một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hỗ trợ cácdoanh nghiệp tự tổ chức đào tạo cho 816 lao động chính sách ưu đãi của tỉnh Tỷ

lệ lao động qua đào tạo nghề ước đạt 51%

Công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục được tập trung chỉ đạo, thực hiện

Tỷ lệ học sinh đỗ kỳ thi tốt nghiệp PTTH quốc gia 2017 - 2018 đạt hơn 93%.Đến cuối năm 2018, tăng 32 trường đạt chuẩn quốc gia so với cuối năm 2017,trong đó: có 19 trường mầm non, 06 trường tiểu học, 06 trường THCS và 01trường THPT; lũy kế có 374 trường đạt chuẩn, trong đó: Mầm non có 81/214trường đạt chuẩn quốc gia (tỷ lệ 38,32%); Tiểu học 153/215 trường (71,16%);THCS 118/167 trường (70,66%); THPT: 21/38 trường (55,26%) Ngoài ra, tỉnhcũng đã triển khai thực hiện việc rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở mầmnon, phổ thông phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương gắn vớinâng cao chất lượng giáo dục Tiếp tục đầu tư xây dựng, sửa chữa, chống xuốngcấp các trường, lớp học đáp ứng nhu cầu dạy và học trong năm 2018 - 2019.Chất lượng khám, chữa bệnh và tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ ybác sỹ, nhân viên trong các cơ sở y tế có bước cải thiện Hoàn thành đưa vào sửdụng các hạng mục công trình nâng cấp, sửa chữa Bệnh viện Đa khoa tỉnh; 04trạm y tế xã Đến cuối năm 2018, có 21 xã được công nhận lại đạt tiêu chí quốcgia về y tế xã, lũy kế có 154/184 (83,15%) xã, phường, thị trấn đạt chuẩn; tăng

số gường bệnh/vạn dân lên 27,3 giường Chủ động trong công tác phòng, chốngdịch bệnh; tăng cường nhân lực, trang thiết bị, thuốc kịp thời ứng phó dịch bệnhtrên địa bàn tỉnh Thường xuyên kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh thựcphẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình; chăm sóc sức khỏe sinh sản, cảithiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em và tiêm chủng mở rộng thực hiện đầy đủ,không có tai biến nghiêm trọng do tiêm chủng Hoàn thành việc sắp xếp các đơn

vị y tế trực thuộc theo hướng thu gọn đầu mối, giảm 07 đơn vị

Chính sách an sinh xã hội được thực hiện tốt Đến cuối năm 2018, tỷ lệ hộnghèo toàn tỉnh còn 9,39%, giảm 1,77%; trong đó, miền núi còn 31,44%, giảm

Trang 14

1.2 Khái quát đặc điểm, tài nguyên du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là vùng đất hội tụ nhiều tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng

và phong phú, trong đó có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên đặc sắc, tiêu biểu là

du lịch biển đảo Trên dọc bờ biển dài gần 130 km của tỉnh Quảng Ngãi là nhiềubãi biển đẹp và vẫn giữ vẻ đẹp nguyên sơ và yên bình, thuận lợi, tiềm năng và

có giá trị để khai thác phát triển thành các khu du lịch tổng hợp hấp dẫn và cótính cạnh tranh cao như Mỹ Khê (TP Quảng Ngãi), Sa Huỳnh (Đức Phổ), KheHai - Dung Quất (Bình Sơn), Minh Tân, Tân Định (Mộ Đức)… Thêm vào đó,điểm du lịch mới Gành Yến với nét hoang sơ và đa dạng sinh thái, đặc biệt làsan hô, cùng với những bức bích họa vẽ 3D tại thôn Thanh Thủy "độc nhất vônhị" ở Quảng Ngãi và hiếm hoi trong cả nước cũng điểm nhấn du lịch mới của

du lịch Quảng Ngãi

Trong những năm gần đây, du lịch đảo Lý Sơn ngày càng phát triển Vẻđẹp thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ cùng với nền văn hóa - lịch sử lâu đời, đậm đàbản sắc dân tộc đã và đang tạo sức hút mạnh mẽ du khách vượt trùng khơi đếnvới đảo Lý Sơn Đặc biệt, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa - di sản phi vật thể cấpquốc gia, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách đến với nơi đây cùng vớilòng tự hào dân tộc của người dân Việt Nam về truyền thống bất khuất, kiêncường đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, điều này cũng để lại

ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế Đảo Lý Sơn còn nổi tiếng với thương hiệuhành, tỏi Lý Sơn cùng nhiều đặc sản biển tươi ngon

Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, mang dấu ấn đặc trưng củamiền Ấn - Trà, Quảng Ngãi còn là mảnh đất giao thoa của các nền văn hóaChăm Pa, Sa Huỳnh và văn hóa người Việt Cổ Đặc biệt, Quảng Ngãi vốn làmảnh đất địa linh, nhân kiệt, là quê hương của nhiều danh nhân dân tộc mà tiêubiểu là Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bình Tây Đại Nguyên soái TrươngĐịnh ; là mảnh đất kiên cường trong hai cuộc kháng chiến nên Quảng Ngãi cònlưu giữ nhiều di tích văn hóa - lịch sử lâu đời Hiện nay, toàn tỉnh có 30 di tích,danh thắng được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, trong đó có

1 di tich cấp quốc gia đặc biệt; 03 di sản văn hóa phi vật thể (Lễ Hội ĐiệnTrường Bà Trà Bồng, nghề dệt Thổ Cẩm Làng Teng và Lễ Khao lề Thế línhHoàng Sa) Trải qua nhiều thế hệ, Quảng Ngãi đã để lại các sự kiện lịch sử cógiá trị mà nhiều người biết đến như: Chứng tích Sơn Mỹ, chiến thắng Ba GiaVạn Tường, khởi nghĩa Ba Tơ, Trà Bồng quật khởi, sự kiện về di tích và nhật kýcủa liệt sĩ bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm… và nhiều di tích lịch sử văn hóa, khảo cổnhư di chỉ văn hóa Sa Huỳnh, Thành Cổ Châu Sa, chùa Ông, chùa Hang, cùngvới nhiều di tích lịch sử cách mạng có giá trị trong thời kỳ chiến tranh chống

Trang 15

Pháp - Mỹ Đây được xem là những nét lớn tạo thế mạnh trong phát triển du lịchđịa phương, thu hút sự quan tâm của khách du lịch trong nước và quốc tế

Một nét hấp dẫn khác của Quảng Ngãi là những món ăn không giống bất

cứ vùng nào trên cả nước, đó là cá bống Sông Trà, kẹo gương, mạch nha, đườngphèn, đường phổi, món don… đậm đà hương vị của của các làng nghề ven biển;cũng góp phần quan trọng vào phát triển du lịch về văn hóa ẩm thực của vùngđất Quảng Ngãi

1.3 Tình hình phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi

1.3.1 Tăng trưởng du lịch

Việc phân tích số liệu thống kê về các chỉ tiêu phát triển du lịch tỉnh QuảngNgãi giai đoạn 2010 - 2018 cho thấy:

a Về tổng thu nhập từ du lịch:

Tổng thu từ du lịch của tỉnh tăng nhanh, nếu năm 2010 tổng thu nhập từ dulịch của tỉnh là 215 tỷ đồng thì đến năm 2018 con số đó đã tăng lên 950 tỷ đồng(theo giá hiện hành), tăng 4.4 lần, tốc độ tăng trưởng trung bình toàn giai đoạn

2010 - 2018 là 21,1%/năm (Biểu đồ 1) Tỷ lệ tổng thu từ du lịch của Quảng Ngãi

so với vùng KTTĐMT (gần 60 nghìn tỷ đồng) năm 2018 là 1,5%

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Doanh thu bình quân/khách du lịch từ mức 0,65 triệu đồng năm 2010 đãtăng lên 9,5 triệu đồng năm 2018

Trang 16

b Về khách du lịch:

Tổng lượng khách du lịch đến tỉnh tăng nhanh với tốc độ tăng trưởng trungbình giai đoạn 2010 - 2018 là 13,8%/năm Nếu như năm 2010, toàn tỉnh mớiđón được gần 330 nghìn lượt khách, trong đó có gần 25 nghìn lượt khách quốc

tế, thì năm 2018 lượng khách đến tham quan tăng mạnh, ước đạt khoảng 1 triệulượt người, đạt 117% so với kế hoạch, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2017,chiếm 4,8% lượng khách du lịch của toàn vùng KTTĐMT (19.058.194 người);trong đó, có 86.000 lượt khách quốc tế (chiếm 1,14% lượng khách quốc tế củatoàn vùng KTTĐMT), đạt 122% so với kế hoạch và tăng 25% so với cùng kỳnăm 2017 Riêng huyện đảo Lý Sơn đón 230.320 lượt khách trong năm 2018,tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước Diễn biến về lượng khách đến tỉnh QuảngNgãi được thể hiện trên Biểu đồ 2

Biểu đồ 2: Khách du lịch đến tỉnh Quảng Ngãi giai

đoạn 2010 - 2018 (ĐVT: Nghìn lượt khách)

Tổng số lượt khách du lịch Tổng số lượt khách quốc tế Tổng số lượt khách nội địa

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Như vậy, có thể thấy dòng khách du lịch đến tỉnh Quảng Ngãi có xu thế tăngqua từng năm, cả về số lượng khách quốc tế và nội địa Thị trường khách du lịchnội địa chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng khách đến Quảng Ngãi, được xác định rất

đa dạng và thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều thành phần nghề nghiệp khác nhau Thịtrường khách du lịch quốc tế tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng đây là dấu hiệu tíchcực về khả năng thu hút khách quốc tế của tỉnh Sự thay đổi về cơ cấu thị trườngkhách du lịch quốc tế đến tỉnh Quảng Ngãi được đưa ra trên Biểu đồ 3

Trang 17

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Có thể thấy, khách du lịch từ một số thị trường trọng điểm như Pháp,Indonesia và Hàn Quốc là ổn định và tăng đều qua các năm Cùng với sự tăngnhanh lượng khách từ các thị trường này, lượng khách từ thị trường Đức đã tăngdần đều trở lại cho dù năm 2012 có dấu hiệu giảm nhẹ Đặc biệt, số lượt khách

du lịch từ Trung Quốc (chủ yếu là khách công vụ) đến với tỉnh Quảng Ngãi tăngnhanh từ 3 năm trở lại đây và năm 2017 chiếm tỷ lệ 8,9% tổng số lượt kháchquốc tế đến tỉnh (trong khi tỷ lệ này tương ứng là 4,9% vào năm 2014)

Theo Báo cáo thực hiện Nghị quyết của tỉnh, số ngày lưu trú của kháchquốc tế và khách nội địa tăng ổn định qua các năm Nếu trong năm 2010, sốngày lưu trú của khách quốc tế chỉ là 2,5 ngày và khách nội địa là 1,9 ngày thìđến năm 2018, con số này đã tăng lên là 2,9 ngày và 2,7 ngày tương ứng vớilượng khách quốc tế và khách nội địa lưu trú tại tỉnh Quảng Ngãi Theo đó, mứcchi tiêu bình quân của khách quốc tế năm 2010 là 70 USD/ngày và khách nội địa

là 600.000 đồng/ngày Con số này tương ứng trong năm 2018 là 86 USD/ngày

và 810.000 đồng/ngày, cho thấy sự mức chi tiêu của khách du lịch tại tỉnhQuảng Ngãi đang từng bước được thúc đẩy, góp phần cải thiện phần thu cho dulịch của tỉnh

c Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch:

- Về Cơ sở lưu trú: Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch từng bước phát triển và

ngày càng hoàn thiện, đáp ứng kịp thời nhu cầu phục vụ khách du lịch, chuyêngia, khách công vụ đến tham quan và làm việc tại Quảng Ngãi Tính đến năm

2018, trên địa bàn tỉnh có 300 cơ sở lưu trú du lịch (năm 2010 chỉ có 59 cơ sở),

Trang 18

Tịnh, Lý Sơn… Tổng số buồng lưu trú trên địa bàn tỉnh cũng tăng đáng kể đểđáp ứng nhu cầu của du khách Năm 2010, tổng số buồng của tỉnh là 1080buồng song đến năm 2018 con số này là 4020 buồng, tốc độ tăng trưởng trungbình cả giai đoạn 2010 - 2018 là 10,8%/năm Trong đó, số buồng đạt tiêu chuẩn3-5 sao và dưới 3 sao năm 2010 là 538 buồng và 129 buồng, con số này đến năm

2018 tương ứng là 538 buồng và 347 buồng Có thể thấy hệ thống cơ sở lưu trú

ở tỉnh Quảng Ngãi chỉ tăng về số lượng mà không có nhiều sự thay đổi tích cực

về chất lượng, theo đó số buồng đạt tiêu chuẩn 3-5 sao giai đoạn 2010 - 2018 làkhông thay đổi (Biểu đồ 4)

Biểu đồ 4: Số buồng lưu trú du lịch của tỉnh Quảng

Ngãi giai đoạn 2010 - 2018 (ĐVT: buồng)

Tổng s ố buồng Buồng 1 - 2 s a o Buồng 3 - 5 s a o

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi

- Về Cơ sở ăn uống: Các dịch vụ ăn uống bên ngoài, tại các điểm tham quan

cũng đang trên đà phát triển mạnh, quy mô của các nhà hàng được mở rộng để cókhả năng đón các đoàn khách lớn Bài trí của nhà hàng, độ phong phú của món ăn

và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được chú trọng

- Về Dịch vụ vận chuyển du lịch: Các doanh nghiệp vận tải có chất lượng

cao như: Chín Nghĩa, Sao Vàng, Bình Tâm… phát triển mạnh, tiếp tục được đầu

tư đổi mới phương tiện có chất lượng cao, nâng cao dịch vụ vận tải nhằm phục

vụ khách du lịch và người dân, nhất là các tuyến vận tải khách liên tỉnh từQuảng Ngãi đi Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Vũng Tàu, các tỉnhTây Nguyên và một số địa phương khác Bên cạnh đó, dịch vụ vận tải bằng taxi

Trang 19

khách du lịch Các tuyến xe buýt từ thành phố Quảng Ngãi đi các huyện trongtỉnh được khai thác mạnh để nâng cao hiệu suất phục vụ Tàu cao tốc tuyến Sa

Kỳ - Lý Sơn cũng được tăng cường về số lượng và tần suất hoạt động hàngngày, tạo thuận lợi cho việc đưa khách du lịch đến đảo Lý Sơn

- Về Các dịch vụ thương mại khác gắn với phục vụ du lịch: Đến cuối năm

2018, hệ thống siêu thị ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu mua sắm của dukhách, trong đó có một số siêu thị lớn như Coop Mart, Vincom ShophouseQuảng Ngãi, siêu thị Thành Nghĩa… và 16 chi nhánh của ngânt hàng được mởtại tỉnh; các ngân hàng đã mở rộng các hoạt động dịch vụ rút tiền ở một số trungtâm huyện, thành phố và khu kinh tế Dung Quất Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 5sàn giao dịch chứng khoán được mở, tạo điều kiện cho du khách tham gia giaodịch chứng khoán (Công ty CP Đầu tư Thiên Việt, Công ty CP Đầu tư Tài Phát,

CN Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, CN Ngân hàng Công thương, CN Ngânhàng Sài gòn Thương Tín) Dịch vụ 3G, 4G phát triển với đường truyền dữ liệu

và truy cập Internet tốc độ cao…góp phần hấp dẫn và tăng thêm thời gian lưutrú của khách

d Về lao động :

Sự phát triển du lịch đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm (trực tiếp và giántiếp) cho xã hội Số lượng nhân lực ngành du lịch của tỉnh những năm gần đâytăng trưởng mạnh Số liệu thống kê về lao động trong lĩnh vực du lịch ở tỉnhQuảng Ngãi cho thấy tỷ lệ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010 - 2018 là10,7%/năm, trong đó đối với lao động trực tiếp là 10,7%/năm Theo đó, năm

2010, nếu tổng số lao động trong ngành du lịch ở tỉnh là 6.045 người (lao độngtrực tiếp là 1.950 người) thì đến năm 2018 con số này đã tăng lên 12.400 người(lao động trực tiếp là 4.000 người) Đáng lưu ý là, lao động gián tiếp có xuhướng tăng với quy mô lớn hơn, phản ánh vai trò của ngành du lịch và tínhhiệu quả của việc xã hội hoá hoạt động du lịch (Biểu đồ 5) Tuy nhiên, số laođộng trực tiếp bình quân trên một buồng của cơ sở lưu trú trong năm 2010 là1,08% thì con số này tương ứng trong năm 2018 chỉ còn xấp xỉ 1% Có thểthấy rằng, hệ số sử dụng lao động trên một buồng ở của tỉnh là còn khá thấp,gây khó khăn trong việc đảm bảo và duy trì chất lượng dịch vụ cho du kháchđến lưu trú tại địa phương

Trang 20

Biểu đồ 5 Quy mô nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng

Ngãi giai đoạn 2010 - 2018 (ĐVT: Người)

Tổng s ố lao động ngành du l ịch La o động trực tiếp La o động gián tiếp

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi

1.3.2 Phát triển sản phẩm du lịch

Trong thời gian qua, sản phẩm du lịch Quảng Ngãi ngày càng được đa dạnghóa và nâng cao chất lượng hơn, trong đó nổi bật là các sản phẩm gắn với dulịch biển, đảo Đây là loại hình du lịch chủ đạo của tỉnh, có sức hấp dẫn và cạnhtranh nổi trội nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch về cảnh quan thiênnhiên, văn hóa, lịch sử của địa phương Năm 2018, loại hình du lịch biển, đảotiếp tục phát triển mạnh, thu hút một lượng lớn khách đáng kể đến tham quan,tập trung ở các khu, điểm du lịch trọng điểm như: Khu du lịch Mỹ Khê, SaHuỳnh, điểm du lịch Lý Sơn và một số điểm tham quan khác Hiện nay Banquản lý công viên địa chất Lý Sơn đang tiến hành các bước để bảo tồn, pháttriển, song song với việc lập hồ sơ trình UNESCO công nhận Công viên địa chất

Lý Sơn và các vùng phụ cận là Công viên địa chất toàn cầu Nếu được côngnhận thì điều này sẽ là đòn bẩy để kích thích sự phát triển du lịch Quảng Ngãi vàtạo sức hút đối với du khách đến với tỉnh nhà

Ngoài du lịch biển, các sản phẩm du lịch văn hóa như tham quan di tíchlịch sử văn hóa, bản sắc dân tộc gắn với lễ hội, tâm linh, thăm lại chiến trườngxưa cũng phát triển khá mạnh và có những dấu ấn riêng nhờ những nổi bật của

Trang 21

hệ thống tài nguyên gắn với các danh nhân, với lịch sử chiến tranh của dân tộctrên địa bàn và với bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Phát triển du lịch lễ hội

để khai thác hiệu quả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh, thu hút dukhách đến tham quan các điểm di tích, tham dự các lễ hội truyền thống, nhất là

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ hội Điện Trường Bà Trà Bồng, lễ Ngã Rạ củangười Cor, lễ cúng cá Ông, lễ ra quân đánh bắt đầu năm… của cư dân ven biển

và miền núi, phục vụ nghiên cứu văn hóa bản địa và phát triển du lịch Khuyếnkhích phát triển loại hình du lịch tâm linh gắn liền với việc bảo tồn và phát huygiá trị các di tích, văn hóa tín ngưỡng của nhân dân địa phương như Chùa Thiên

Ấn, Chùa Ông, Chùa Hang, Điện Trường Bà, chùa Minh Đức và khu văn hoáThiên Mã Loại hình này đã và đang khai thác tốt, thể hiện rõ ở việc tích cựctập trung đầu tư, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa nhằm tạo ra nhữngsản phẩm du lịch hấp dẫn, có sức thu hút khách du lịch

Ngoài ra, du lịch gắn với sự kiện cũng là sản phẩm đang được quan tâmcủa ngành du lịch Quảng Ngãi Thành phố Quảng Ngãi ngày càng chứng tỏ vị tríthích hợp tổ chức các sự kiện quan trọng như hội nghị, hội thảo, hội chợ, thểthao Phát triển du lịch sinh thái lấy Cà Đam làm trọng điểm, gắn với rừngnguyên sinh suối Chí, suối nước nóng khoáng Thạch Bích, suối nước nóngNghĩa Thuận, thác Trắng (Minh Long), khu du lịch Bãi Dừa (Tư Nghĩa), GànhYến (Bình Sơn) ; hay du lịch tham quan làng nghề cũng đã được hình thành tạicác làng nghề như mạch nha, kẹo gương Đức Tân (Mộ Đức), dệt thổ cẩm LàngTeng (Ba Tơ) gắn việc tham quan với mua bán hàng lưu niệm Bên cạnh việcphát triển sản phẩm, hệ thống các dịch vụ đi kèm gồm ăn uống và mua bán cácsản vật tự nhiên như cá bống sông Trà, tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng đã góp phầnlàm hấp dẫn thêm các chương trình du lịch của tỉnh

Tỉnh chỉ đạo triển khai kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng tại

04 huyện: Lý Sơn, Bình Sơn, Nghĩa Hành và Ba Tơ Phát triển du lịch cộngđồng trên cơ sở khai thác các yếu tố văn hoá bản địa đặc sắc để xây dựng cácchương trình trải nghiệm chân thực, hướng tới phát triển xã hội du lịch Tháng11/2018, sở VHTTDL tỉnh đã tổ chức khảo sát điểm du lịch cộng đồng Thọ An,huyện Bình Sơn với sự tham gia các cơ quan thông tấn báo chí, doanh nghiệpkinh doanh lữ hành và hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh nhằm xây dựngsản phẩm du lịch mới phục vụ khách du lịch trong năm 2019

Tuy nhiên, các sản phẩm du lịch của tỉnh còn khá đơn điệu và nghèo nànvới quy mô và cơ cấu nhỏ lẻ, chưa đa dạng và chưa định hình rõ được sản phẩmđặc trưng của địa phương, gây bất lợi trong việc phát triển và thu hút khách dulịch đến lưu trú và chi tiêu tại tỉnh Quảng Ngãi Điều này sẽ gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của các cơ sở lưu trú du lịch, dẫn đến việc

Trang 22

sử dụng lao động mang tính thời vụ, chưa chuyên nghiệp gây khó khăn cho cácđơn vị trong việc đảm bảo yêu cầu, hạn chế trong việc nâng cao và duy trì chấtlượng phục vụ

1.3.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Để có thể tiếp cận khai thác được những giá trị tài nguyên du lịch và biếnnhững giá trị đó thành sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu đa dạng của du kháchthì hệ thống hạ tầng đóng vai trò hết sức quan trọng Đây cũng được xem lànguồn lực để phát triển du lịch của bất kỳ lãnh thổ nào và Quảng Ngãi cũngkhông phải là ngoại lệ

Trong những năm qua, hệ thống hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông ởtỉnh Quảng Ngãi phát triển khá nhanh và đồng bộ để phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội, trong đó có du lịch của tỉnh Tuyến giao thông huyết mạch quan trọngnhất là quốc lộ 1A chạy dọc xuyên suốt qua tỉnh với chiều dài 98 km từ Dốc Sỏiđến Phổ Thạnh, nối với các tỉnh lân cận là Quảng Nam ở phía Bắc và Bình Định

ở phia Nam đã được nâng cấp mở rộng Đặc biệt, đoạn cao tốc Đà Nẵng - QuảngNgãi đã khánh thành đi vào sử dụng từ ngày 2/9/2018, là cơ hội thuận lợi pháttriển kinh tế - xã hội Quảng Ngãi trong đó có du lịch Quốc lộ 24 và 24B cũng

đã được nâng cấp cải tạo để nâng cao khả năng khai thác cảng Sa Kỳ và thôngthương với các tỉnh Tây Nguyên

Cùng với hệ thống giao thông đường bộ, tuyến đường sắt Bắc - Nam trênđịa phận tỉnh Quảng Ngãi chạy từ ranh giới tỉnh Quảng Nam đến ranh giới tỉnhBình Định với 10 ga, góp phần đáng kể trong việc vận chuyển hành khách vàhàng hóa, tạo sự giao lưu với các tỉnh trong toàn quốc

Về giao thông đường thủy, tiềm năng của mạng lưới đường sông ở QuảngNgãi là hiện thực nhưng cơ sở kỹ thuật hạ tầng và phương tiện vận chuyển cònlạc hậu, khối lượng vận chuyển đường sông chưa đáng kể, việc tổ chức vậnchuyển hành khách bằng đường sông chưa được quan tâm Giao thông đườngsông hiện nay chủ yếu được dùng cho vận tải các loại hàng hóa Tỉnh QuảngNgãi có bờ biển dài 130 km với hệ thống cảng biển phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội khá phát triển gồm 2 cảng chính Dung Quất và Sa Kỳ, ngoài ra còn cáccửa biển, bến cảng nhỏ khác như cảng Cổ Lũy, cảng cá Lý Sơn, cảng cá SaHuỳnh, cảng Mỹ Á…có tiềm năng về giao thông đường thủy, thương mại và

Trang 23

từ Quảng Ngãi về 2 trung tâm kinh tế phía Bắc và phía Nam, cũng như đưanguồn khách du lịch đáng kể đến với Quảng Ngãi Riêng huyện Lý Sơn có 01sân bay phục vụ máy bay trực thăng

Trong thời gian qua, tỉnh đã thu hút được một số doanh nghiệp lớn, cóthương hiệu trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch triển khai một số dự án nghỉ dưỡng,vui chơi giải trí cao cấp, trong đó điểm nhấn là tổ hợp khách sạn, nghỉ dưỡng và

đô thị của tập đoàn FLC, một số dự án của các nhà đầu tư khách tại khu vựcbiển Bình Sơn, TP Quảng Ngãi và Sa Huỳnh, khi đi vào hoạt động sẽ mang lạisức sống mạnh mẽ, tạo sự lan tỏa và hấp dẫn cho du lịch Quảng Ngãi vươn lên Tại Lý Sơn, cùng với phát triển loại hình du lịch homestay, khách sạnMường Thanh (vốn đầu tư 250 tỷ đồng) đi vào hoạt động đã đáp ứng nhu cầucủa khách du lịch cao cấp, góp phần tạo ra một điểm nhấn nhất định về hạ tầng

du lịch của huyện đảo Lý Sơn Khách sạn Mường Thanh cũng đã giúp cho dulịch MICE (loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo) ở Lý Sơn phát triển, đápứng nhu cầu của các đơn vị, doanh nghiệp trong tình hình mới

1.3.5 Công tác xúc tiến, quảng bá và hợp tác phát triển du lịch

a Về công tác xúc tiến, quảng bá du lịch

Công tác tuyên truyền quảng bá xúc tiến du lịch được quan tâm và tăngcường nhất là tại các hội chợ, hội thảo và sự kiện văn hóa, thể thao và du lịchcủa tỉnh Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã tham gia các sự kiện, hội nghị, hội thảo, hộichợ, triển lãm trong nước và ngoài nước nhằm quảng bá, xúc tiến du lịch, tìmkiếm đối tác, mở rộng thị trường, tăng cường thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch.Gần đây nhất, trong năm 2018, tỉnh đã tham gia Ngày hội Du lịch thành phố HồChí Minh và Hội chợ VITM Hà Nội, tuần Văn hóa – Du lịch tỉnh Kon Tum năm

2018 Tổ chức, tham gia các chương trình xúc tiến điểm đến du lịch trong nước:Các chương trình, sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch trong nước nhằm quảng báhình ảnh du lịch Quảng Ngãi để khai thác nguồn khách từ các địa phương trên

cả nước theo tuyến du lịch xuyên Việt, các vùng phụ cận và các địa phươngthuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên; tổ chức các chuyến

Trang 24

xúc tiến du lịch đến các tỉnh có thế mạnh về du lịch và các tỉnh nằm trongchương trình liên kết phát triển du lịch.

Xác định mục tiêu đẩy mạnh xúc tiến có trọng tâm, trọng điểm theohướng chuyên nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến, quảng bá dulịch, tăng cường thu hút đầu tư, tỉnh cũng đã tích cực quảng bá du lịch QuảngNgãi trên các phương tiện truyền thông trong nước và quốc tế bằng nhiều hình

thức Nhiều bài viết cùng với những hình ảnh, phóng sự tuyên truyền, giới thiệu

về tiềm năng du lịch Quảng Ngãi, đặc biệt là du lịch Lý Sơn được đăng tải trêncác phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương Sở Vănhóa, Thể thao và Du lịch tỉnh đã phối hợp với Trung tâm Quảng cáo & Dịch vụtruyền hình (Đài Truyền hình Việt Nam) xây dựng chương trình quảng bá, giớithiệu về du lịch Quảng Ngãi phát sóng trên kênh VTV1 - Chương trình ”S ViệtNam - một Việt Nam kỳ diệu”

Sở VHTTDL tỉnh tập trung xây dựng, phát triển marketing điện tử phục

vụ xúc tiến, quảng bá du lịch, cụ thể: Phối hợp với Báo Quảng Ngãi thực hiệnquảng bá du lịch Quảng Ngãi; thay đổi giao diện, chỉnh trang, đăng tải thông tin,hình ảnh trên website Du lịch Quảng Ngãi, đăng ký thêm tên miền(dulichquangngai.info, quangngaitourism.com) để tạo thuận tiện cho người đọctrong việc truy cập, hình ảnh hóa nội dung Bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động

du lịch; cập nhật thông tin về du lịch trên fanpage, facebook để phục vụ đắclực cho công tác xúc tiến, quảng bá

Các ấn phẩm, vật phẩm phục phục vụ quảng bá du lịch được quan tâmđầu tư, đổi mới phục vụ công tác quảng bá, xúc tiến đạt hiệu quả Tái bản in ấn,phát hành các tư liệu về du lịch phục vụ công tác quảng bá, thu hút đầu tư tronglĩnh vực du lịch (Cẩm nang du lịch Quảng Ngãi, tập gấp đảo Lý Sơn và Di sảnvăn hóa phi vật thể quốc gia ”Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” bằng tiếng Việt vàtiếng Anh) để phục vụ công tác quảng bá, xúc tiến

b Về hợp tác phát triển du lịch

Đẩy mạnh hợp tác phát triển du lịch và tiếp tục triển khai thực hiệnchương trình liên kết, hợp tác về văn hóa, thể thao và du lịch, di sản đã ký kếtvới các tỉnh, thành phố như: Bình Định, Kon Tum, TP Hồ Chí Minh, QuảngNam, Đà Nẵng, Hà Nội, các tỉnh Tây Nguyên – Nam Lào – Đông Bắc Thái Lan,hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh Tiếp tục triển khai thực hiện một số hoạtđộng quảng bá, xúc tiến, xây dựng kết nối tour nhằm tăng cường hợp tác pháttriển văn hóa, thể thao, du lịch, di sản; trong đó chú trọng xây dựng các sảnphẩm du lịch liên vùng, phát huy hiệu quả giá trị tài nguyên, góp phần thúc đẩy

du lịch Quảng Ngãi phát triển

Trang 25

Thường xuyên giám sát, hướng dẫn doanh nghiệp và các thành phần kinh

tế hoạt động trong lĩnh vực du lịch kịp thời tháo gỡ khó khăn trong kinh doanh,

mở rộng phát triển thị trường quốc tế Hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh du lịchtrên địa bàn tỉnh mở rộng thị trường khách du lịch, mở rộng liên kết, hợp tác pháttriển du lịch trong nước và quốc tế; góp phần thực hiện hiệu quả tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế Khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tham giacác hoạt động theo Chương trình Xúc tiến du lịch quốc gia của Tổng cục Du lịch

và các tỉnh thành trong nước tổ chức nhằm mở rộng quan hệ hợp tác, thị trườngkinh doanh… Cung cấp những thông tin về tình hình du lịch của địa phương vàcác chương trình xúc tiến du lịch, các sự kiện lớn được tổ chức trong và ngoàinước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá, giới thiệu sản phẩm Khuyến khíchcác doanh nghiệp lữ hành lớn trong nước như Vietravel, Fiditour, Sài GònTourist tiếp tục xây dựng chương trình du lịch đưa khách về Quảng Ngãi

Tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển du lịch giữa tỉnh Quảng Ngãi vớicác tỉnh thuộc các nước Lào, Campuchia, Thái Lan và các nước trong khu vực,tiến tới hình thành các tuyến du lịch quốc tế nhằm khai thác nguồn khách du lịchbằng đường bộ theo trục hành lang kinh tế Đông - Tây và đường hàng khôngđến các tỉnh miền Trung, Quảng Ngãi và ngược lại Tiếp tục tham mưu phối hợptriển khai lồng ghép các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch trong hợp tác vớicác đối tác, địa phương nước ngoài: Triển khai thực hiện nội dung ký kết giữatỉnh Quảng Ngãi với tỉnh Champasak, CHDCND Lào giai đoạn 2016 - 2020 vềlĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch; triển khai hoạt động của Tổ hỗ trợ du khách

để kịp thời xử lý thông tin, phản ánh của khách du lịch (đặc biệt là hỗ trợ khách

- Du lịch tỉnh đang trên đà phát triển và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò

trong nền kinh tế của tỉnh Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu về lượng khách, thu

nhập tăng với tốc độ khá cao góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho nhân dân

- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được quan tâm đầu tư xâydựng và phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng để từng bước đáp ứng nhucầu khách du lịch

Trang 26

- Sản phẩm du lịch đang dần hình thành, từng bước được đa dạng và nângcao chất lượng để khẳng định vị thế đối với du lịch cả nước và tạo tiền đề pháttriển du lịch trong giai đoạn tiếp theo.

- Công tác xúc tiến, quảng bá, hợp tác phát triển du lịch đạt được nhữngthành tựu đáng khích lệ góp phần nâng cao hình ảnh tiềm năng và triển vọngphát triển du lịch, thu hút được nhiều nhà đầu tư và khách du lịch

- Công tác quản lý nhà nước về du lịch đã được quan tâm Chất lượng vàhiệu quả công tác quản lý nhà nước dần từng bước được nâng cao Các quyhoạch chung và tổng thể về phát triển du lịch, quy hoạch chi tiết các khu du lịch

và các dự án lớn đã được xây dựng, phê duyệt là định hướng cho công tác quản

lý và thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản lý tài nguyên du lịch

- Nhận thức của các cấp, các ngành và người dân, đặc biệt là trong cộngđồng dân cư tại các trọng điểm du lịch về vị trí, vai trò của du lịch được nâng lên,tạo điều kiện thuận lợi nhiều mặt, hỗ trợ cho hoạt động du lịch đồng thời giảiquyết công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống chongười dân

1.4.2 Tồn tại hạn chế và nguyên nhân

Tuy đạt được một số kết quả nhất định song du lịch của tỉnh vẫn cònnhiều khó khăn, hạn chế:

- Quy mô ngành du lịch còn khá khiêm tốn và đóng góp của du lịch vàotăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu chưa nhiều

- Quảng Ngãi chưa tạo được những sản phẩm du lịch đặc sắc nổi trội, sảnphẩm tham quan còn nghèo nàn, chưa tạo được những sản phẩm đặc thù riêng

và sức cạnh tranh còn nhiều hạn chế Chưa có khu nghỉ dưỡng, vui chơi giải tríquy mô, hiện đại nên chưa thu hút được nhiều khách du lịch, không kéo dài đượcthòi gian lưu trú và tăng khả năng chi tiêu của khách, đặc biệt là khách quốc tế vàngười có thu nhập cao

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dulịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông, bến cảng; quy mô và chất lượng các dịch vụcòn nhiều hạn chế, chưa xây dựng được các khu, điểm du lịch hấp dẫn

- Ngân sách các cấp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch còn hạn hẹp;các doanh nghiệp đầu tư vào các khu du lịch còn ít, năng lực đầu tư yếu, quy mônhỏ; phần lớn cơ sở lưu trú chưa được xây dựng và trang bị đồng bộ, đảm bảochất lượng, các loại hình dịch vụ bổ trợ còn ít

- Hoạt động kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp du lịch tại Quảng Ngãiquá ít, thiếu tính chuyên nghiệp, khả năng tiếp cận thị trường bên ngoài còn yếu,

Trang 27

đa phần chỉ tổ chức các dịch vụ từng phần hoặc nối tour, bán tour; do đó hiệuquả kinh doanh mang lại thấp.

- Công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch hiệu quả thấp, nộidung còn chung chung, thiếu tính chuyên nghiệp; chưa gắn với các khu, điểm vàsản phẩm du lịch để thu hút các doanh nghiệp lữ hành lớn trong nước và quốc tếliên doanh liên kết với các doanh nghiệp của tỉnh đưa khách tới Quảng Ngãi

* Nguyên nhân của những hạn chế trên là do:

- Điểm xuất phát của ngành du lịch Quảng Ngãi còn thấp Quảng Ngãi làtỉnh nghèo, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, chưa đủ sức hấp dẫn, thu hút cácnhà đầu tư nên khó khăn, hạn chế trong đầu tư phát triển du lịch của địa phương

- Vai trò, vị trí của du lịch chưa được chưa được đánh giá và nhận thứcđẩy đủ để tập trung nỗ lực phát triển

- Công tác xây dựng kế hoạch, đầu tư đào tạo phát triển, thu hút nguồnnhân lực du lịch có chất lượng chưa đạt hiệu quả cao

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn thiếu, chất lượng thấp, chưa tạo đượcnhững sản phẩm du lịch đặc thù có chất lượng cao

- Thiếu các doanh nghiệp lớn mạnh có đủ năng lực đầu tư xây dựng các

dự án du lịch lớn, tạo chuyển biến lớn cho phát triển du lịch

- Hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch chưa cao Một số cấp uỷ đảng, chínhquyền chưa cụ thể hoá việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quy hoạch, kếhoạch về phát triển du lịch đã ban hành

Trang 28

Phần thứ hai THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH

TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi

2.1.1 Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực du lịch

Nguồn nhân lực du lịch bao gồm toàn bộ các lao động trực tiếp và gián tiếptham gia vào quá trình phục vụ khách du lịch Trong đó lao động trực tiếp lànhững người trực tiếp phục vụ khách du lịch tại khách sạn, nhà hàng, công ty lữhành, cửa hàng phục vụ khách du lịch, bao gồm: lễ tân, phục vụ buồng, bàn, đại

lý lữ hành, hướng dẫn viên du lịch,… Lao động gián tiếp là những lao độngkhông trực tiếp phục vụ khách du lịch nhưng thực hiện các công việc mang tínhquản lý, hỗ trợ cho các lao động trực tiếp Ví dụ như cán bộ quản lý về du lịch tạicác cơ quan hành chính; cán bộ quản lý, hành chính tại công ty lữ hành, kháchsạn; những nhà nghiên cứu về du lịch; giảng viên tại các cơ sở đào tạo du lịch

Bảng 1 Quy mô nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2018

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh QuảngNgãi, tính đến hết năm 2018, tổng số lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịchtrên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là 12.400 người Trong đó, số lượng lao động trựctiếp là 4.000 người chiếm 32,3% tổng số lao động ngành du lịch, lao động giántiếp là 8.400 người chiếm 67,7%

Số lượng nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2010 - 2018 có sự tăng trưởng,năm sau tăng cao hơn năm trước Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này là9,4% Cụ thể: năm 2010, số lao động du lịch của địa phương là 6.045 người,chiếm 0,83% lực lượng lao động toàn tỉnh Đến năm 2018, tổng số lao động dulịch Quảng Ngãi là 12.400 người, tăng 14,3% so với năm 2017 và gấp 2,1 lần sovới năm 2010, chiếm tỷ lệ 1,6% tổng số lao động địa phương

Trang 29

a Cơ cấu phân theo lĩnh vực hoạt động

Bảng 2 Số lượng lao động du lịch trực tiếp tại Quảng Ngãi

TT Đối tượng

Số lượng

(Lao động)

Nguồn: Kết quả khảo sát và ước tính

Cơ cấu lao động du lịch trực tiếp của tỉnh Quảng Ngãi phân theo lĩnh vựchoạt động như sau:

- Có 305 cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.Lao động làm việc tại các cơ sở này chiếm tỷ trọng lớn nhất, đến 71,9%, tươngđương 2.877 lao động

- Lao động làm việc tại 25 đơn vị kinh doanh lữ hành là 90 người, chiếm2,3%

- Lao động tại các nhà hàng, cơ sở ăn uống, khu điểm du lịch và các dịch

vụ khác là 1.033 người, chiếm 25,8%

b Cơ cấu phân theo giới tính

Du lịch là một ngành đặc thù, sản phẩm chủ yếu của ngành là dịch vụ.Đối với phục vụ buồng, phục vụ bàn - bar,… đòi hỏi sự khéo léo và tính tỷ mĩnên tỷ trọng lao động nữ thường cao hơn nam Trong khi đó, ở các lĩnh vực vậnchuyển, hướng dẫn viên du lịch thì nam giới chiếm số lượng lớn hơn Kết quảkhảo sát cho thấy có sự phân hóa về giới theo công việc của lao động du lịch củađịa phương, tỷ lệ lao động nữ hoạt động trong lĩnh vực du lịch của Quảng Ngãinhiều hơn nam giới (61,9% so với 38,1%, tương đương 2.476 lao động nữ so với1.524 lao động nam)

c Cơ cấu phân theo độ tuổi

Lao động trẻ thường có trình độ kiến thức chuyên môn tiến bộ, được trang

bị các kỹ năng nghề nghiệp và ngoại ngữ, cũng như khả năng tiếp thu kiến thứcmới nhanh, nhưng thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp Ngược lại, các lao động cóthâm niên công tác thường có nhiều kinh nghiệm nhưng lại thiếu tính năngđộng, linh hoạt trong công việc, đồng thời cũng gặp nhiều khó khăn trong việctiếp thu những kiến thức mới

Trang 30

Kết quả khảo sát cho thấy 81,6% nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi có

độ tuổi còn rất trẻ (dưới 45 tuổi), trong đó dưới 25 tuổi chiếm 11,6% Đây làmột lợi thế của ngành du lịch địa phương Nhóm tuổi từ 45-60 chỉ chiếm 18,4%.Đây là độ tuổi bình quân của nhóm lao động đòi hỏi yêu cầu nghiệp vụ cao(nhóm cán bộ quản lý), điều này là do yêu cầu công việc, phải có kinh nghiệmthì mới đảm bảo trọng trách công việc

d Cơ cấu phân theo địa lý

Trong số 4.000 lao động du lịch trên địa bàn, lao động nhập cư là 312người chiếm tỷ trọng 7,8%, lao động tại địa phương là 3.688 người, chiếm92,2% Đây là một nguồn cung lao động lớn cho các doanh nghiệp trên địa bàn

Trang 31

2.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực du lịch

a Về trình độ đào tạo chuyên ngành du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ nên đòi hỏi người lao động phải cótrình độ chuyên môn nghề nghiệp Lao động du lịch có trình độ từ trung cấp trởlên chiếm hơn một nửa số lao động đang làm việc trong ngành với 2.108 ngườichiếm tỷ lệ 52,7% (trong đó trên đại học 6.2%, đại học chiếm 14,6%, cao đẳngchiếm 15,4% và trung cấp chiếm 16,5%), lao động được đào tạo ngắn hạn có

900 người (trong đó sơ cấp nghề chiếm 14,8%, bồi dưỡng ngắn hạn chiếm7,7%) Trong khi đó, số lao động chưa qua đào tạo là 868 người chiếm tỷ lệ21,7% tổng số lao động trực tiếp của ngành

Nhận thấy tỷ trọng nhân lực được đào tạo sau đại học và đại học chưa đápứng nhu cầu phát triển và hội nhập quốc tế của ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo ở cấp đại học và trên đại học cholao động trong ngành, nhất là ở vị trí cán bộ quản lý

Tỷ trọng lao động chưa qua đào tạo khá cao (21,7%) Một phần nguyênnhân là do đặc thù của ngành du lịch là theo thời vụ, có mùa cao điểm và mùathấp điểm Vào thời gian cao điểm, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải sửdụng một số lượng khá lớn lao động thời vụ, lượng lao động này thường ít đượcđào tạo chuyên sâu về du lịch hoặc được đào tạo nhưng trình độ chuyên mônkhá thấp và hạn chế là nguyên nhân dẫn đến kết quả khảo sát tỷ lệ lao động chưaqua đào tạo còn cao

b Về năng lực ngoại ngữ

Đặc thù của ngành du lịch là cần phải giao tiếp với khách nước ngoàinhưng tỷ lệ lao động không được đào tạo về ngoại ngữ của tỉnh Quảng Ngãi khálớn, chiếm 76,8% trong tổng số lao động ngành du lịch của địa phương Đây làmột trở ngại lớn cho việc phát triển du lịch thành phố, cần có biện pháp mạnh

mẽ để khắc phục, vì ngoại ngữ - đặc biệt là ngoại ngữ chuyên ngành là yêu cầutối quan trọng và không thể thiếu trong phục vụ du lịch

Kết quả khảo sát cho thấy trong số lao động du lịch đã qua đào tạo ngoạingữ thì chiếm tỷ trọng lớn nhất là tiếng Anh với 21,9%, tiếp sau đó là tiếngPháp, tiếng Trung và tiếng Nga (1,34%), không có tiếng Nhật, Hàn Tỷ lệ laođộng có thể sử dụng ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh còn rất thấp, chưa đáp ứngđược sự phát triển của thị trường khách quốc tế đến với Quảng Ngãi

c Về thu nhập của người lao động

Thu nhập được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong việc duytrì và tạo động lực cho người lao động Theo kết quả khảo sát, mức thu nhậpbình quân hàng tháng của 1 người lao động là 4 triệu đồng, thu nhập của quản lý

Trang 32

cao hơn, khoảng 6 triệu đồng Thu nhập khá thấp so với mặt bằng chung nênkhó tạo động lực làm việc cho người lao động Thu nhập trung bình lao động dulịch ở Quảng Nam là hơn 6,2 - 6,5 triệu đồng, các doanh nghiệp công nghiệpcũng khoảng hơn 6 triệu, thu nhập trung bình của lao động công nghiệp ở ĐàNẵng là từ 6,7 - 7,2 triệu đồng (kết quả khảo sát) Bên cạnh đó, thu nhập thấp cóthể dẫn đến hiệu quả công việc không cao, nhân viên thiếu tính cam kết với tổchức, sẽ dễ nghỉ việc Thu nhập thấp cũng khó thu hút lao động từ các ngànhnghề khác.

2.1.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của NNL du lịch

Nhằm đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của lực lượng lao độngtrong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh QuảngNgãi, các doanh nghiệp tham gia khảo sát được yêu cầu đánh giá về năng lựclàm việc, các kỹ năng, thái độ phẩm chất và khả năng quản lý theo thang điểm

từ mức 1 đến mức 5 (từ hoàn toàn hài lòng đến hoàn toàn không hài lòng) Kếtquả khảo sát cho thấy 8 tiêu chí đánh giá hài lòng, thì chỉ có 2 tiêu chí đạt trên50% ý kiến hài lòng, cụ thể là 59,6% doanh nghiệp hài lòng (tương ứng với mức

1 và 2 của thang đo) về kinh nghiệm công tác và 53,5% doanh nghiệp hài lòng

về khả năng quản lý Có 6 tiêu chí có mức không hài lòng đạt trên 50% Cụ thể:55,5% doanh nghiệp không hài lòng (tương ứng với mức 3,4 và 5 của thang đo)

về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; 57,9% doanh nghiệp không hài lòng về chấtlượng công việc; 57,5 % doanh nghiệp không hài lòng về tác phong làm việc;57,6% doanh nghiệp không hài lòng về tính chủ động, sáng tạo trong xử lý côngviệc; 52,9% doanh nghiệp không hài lòng về ý thức tổ chức kỷ luật và 50,6%doanh nghiệp không hài lòng về trình độ ngoại ngữ

Bảng 3 Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với nguồn nhân lự của

đơn vị (ĐVT: %)

Hoàn toàn hài lòng

Hài lòng

Bình thường

Không hài lòng

Hoàn toàn không hài lòng

Trình độ chuyên môn,

Trang 33

Khả năng quản lý 18,2 35,3 36,4 10,1 0

Nguồn: Kết quả khảo sát

Như vậy mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của NNL du lịch của tỉnhhiện nay vẫn còn chưa được như kỳ vọng của các doanh nghiệp nhất là các mặtTrình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Chất lượng công việc; Tác phong làm việc;Tính chủ động, sáng tạo trong xử lý công việc, Ý thức tổ chức kỷ luật và Trình

- Đối với nhân viên cơ sở lưu trú: Các doanh nghiệp không hài lòng vớicác tiêu chí kỹ năng ngoại ngữ, tác phong chuyên nghiệp; ý thức tổ chức kỷ luật

và Chất lượng công việc

- Đối với nhân viên lữ hành: Các doanh nghiệp không hài lòng và cần đàotạo thêm nghiệp vụ liên quan với vị trí công việc như: kỹ năng quản lý, kỹ nănggiao tiếp, kỹ năng ngoại ngữ, khả năng sáng tạo và chịu áp lực công việc chongười lao động

Đánh giá về mức độ cần thiết của việc đào tạo nhân viên ở các vị trí, hơn77,3% các doanh nghiệp du lịch được khảo sát cho biết đơn vị có thực hiện đàotạo lại đối với lao động đã tuyển dụng Lý do là (i) phần lớn lao động đượctuyển dụng không được đào tạo về chuyên ngành du lịch, nên chưa được đào tạo

về kỹ năng, nghiệp vụ cũng như các kỹ năng mềm khác liên quan như ngoạingữ, giao tiếp, xử lý tình huống, am hiểu kiến thức về văn hóa - xã hội - du lịch.(ii) nhóm sinh viên tốt nghiệp các trường đào tạo về du lịch cũng thiếu, chưa cóhoặc có ít kinh nghiệm làm việc thực tế, không được đào tạo đầy đủ về kỹ năng,nghiệp vụ cũng như các kỹ năng mềm cần thiết Nội dung cần đào tạo lại củacác doanh nghiệp chủ yếu là: ngoại ngữ chuyên ngành, nghiệp vụ lễ tân, nghiệp

vụ buồng phòng, nghiệp vụ điều hành tour,…Nhưng không phải doanh nghiệpnào cũng có khả năng thực hiện đào tạo lại nên rất cần Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch làm đầu mối huy động nguồn lực và tổ chức đào tạo

Kết quả khảo sát cũng cho thấy thực trạng lao động hiện nay chưa đápứng nhu cầu của doanh nghiệp Có 38,1% doanh nghiệp không có nhu cầu thayđổi nhân sự và 61,9% đơn vị trả lời khảo sát cho biết trong tương lai, doanhnghiệp có nhu cầu tuyển dụng thêm nhân sự, mức tăng bình quân là 26,25% sovới số lượng lao động hiện tại

Trang 34

Bảng 4 Nhu cầu của DN về lao động trong thời gian đến

trung bình

Nguồn: Kết quả khảo sát

2.2 Đào tạo nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi

2.2.1 Tại Quảng Ngãi

a Về đào tạo mới:

Đào tạo là công việc quan trọng để nâng cao chất lượng cho lực lượng laođộng Số lượng các cơ sở đào tạo về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi còn ít,quy mô đào tạo nhỏ, còn thiếu các cơ sở đào tạo có quy mô lớn Hiện nay, QuảngNgãi có 5 cơ sở giáo dục có đào tạo các chuyên ngành du lịch, ở tất cả các bậc: sơcấp, trung cấp, cao đẳng và đại học; và chưa có cơ sở đào tạo riêng về du lịch Xéttheo loại hình sở hữu, các cơ sở đào tạo tại địa phương chủ yếu là các cơ sở đàotạo công lập trong nước, chưa có cơ sở nào có vốn đầu tư nước ngoài

Bảng 5 Danh mục cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

TT Cơ sở đào tạo Ngành nghề đào tạo Quy mô

đào tạo

Bậc đào tạo

Sơ cấpQuản trị nhà hàng và

Hướng dẫn du lịch 35 Trung cấpNghiệp vụ lễ tân 90 Trung cấp

5 Trường Trung cấp

nghề Quảng Ngãi

Kỹ thuật chế biếnmón ăn

90

Trung cấp

Trang 35

Nguồn: Tổng hợp từ website của các cơ sở đào tạo

- Hình thức đào tạo: Các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tổ chức

đào tạo theo hình thức chính quy và không chính quy, các hệ ngắn hạn và dài hạn

- Giảng viên đào tạo: Đội ngũ giảng viên cơ hữu chưa đáp ứng nhu cầu đào

tạo tại địa phương nên vẫn phải mời giảng viên thỉnh giảng từ địa phương khác(Thừa Thiên Huế)

- Ngành nghề, chương trình, quy mô đào tạo: Ngành nghề đào tạo của các

cơ sở đào tạo còn ít, chưa được phong phú Cơ cấu đào tạo chưa thật hợp lý giữacác ngành nghề Các cơ sở đào tạo chỉ thiên đào tạo về Du lịch và Khách sạn(chưa có chương trình đào tạo riêng về Lữ hành) Có thể nhận thấy một sốchương trình hiện chưa được tổ chức đào tạo bao gồm: Quản lý và nghiệp vụBar, Điều hành du lịch, Ngoại ngữ (Tiếng Anh cho khách sạn, Tiếng Anh cho lữhành), Du lịch học, Việt Nam học

Các chương trình đào tạo nghề về du lịch được xây dựng theo Khungchương trình đã được Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động, Thương binh và Xãhội ban hành Với 11 chương trình đào tạo hiện đang được các cơ sở đào tạo tổchức trên địa bàn, có 46,2% số chương trình dành cho bậc Đại học, Cao đẳng;53,8% số chương trình dành cho bậc Trung cấp và thấp hơn Không có chươngtrình nào dành cho bậc Sau đại học Điều này cho thấy không có nhiều cơ hộihọc tập/đào tạo cho các vị trí quản lý

Dự kiến nhu cầu nhân lực du lịch chất lượng cao của Quảng Ngãi sẽ tănglên khi Khu du lịch nghỉ dưỡng FLC Quảng Ngãi được đưa vào khai thác Trongkhi đó, quy mô đào tạo của các trường tại Quảng Ngãi còn thấp so với nhu cầucủa địa phương và so với các cơ sở đào tạo khác trong khu vực Dự báo đến năm

2020, nhu cầu nhân lực của ngành Du lịch địa phương là 15.000 người, trong đólao động trực tiếp là 5.000 người1 Tuy vậy, quy mô đào tạo của các cơ sở hàngnăm chỉ đạt khoảng 700 người

Nhóm ngành có quy mô đào tạo cao là Kỹ thuật chế biến món ăn (32,6%

so với tổng quy mô đào tạo), Nghiệp vụ lễ tân (13,3%), Nghiệp vụ phòng(8,9%) Đây chủ yếu là các nhóm ngành thuộc về lao động nghiệp vụ, chỉ đượcđào tạo ở mức độ chuyên môn thấp là trung cấp hoặc sơ cấp Các nhóm ngànhthuộc lao động quản lý được đào tạo ở trình độ chuyên môn cao hơn tại cáctrường đại học, cao đẳng

* Hạn chế của hệ thống đào tạo nhân lực du lịch của tỉnh

1 QĐ 577/QĐ-UBND ngày 17/8/2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt Đề án phát triển Dịch vụ, Du lịch

Trang 36

Về cơ bản các cơ sở đào tạo nhân lực du lịch trong tỉnh đã không đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho ngành du lịch cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng đào tạo

Không đảm bảo đủ số lượng vì các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh hiệnnay là không tuyển sinh được và không đủ học viên để mở lớp đào tạo Nguyênnhân một phần là do (i) xu hướng không thích học nghề, học trung cấp cao đẳng;(ii) không muốn học các trường địa phương vì các chuyên ngành đều mới; (iii)văn hóa của người dân địa phương, không thích người thân làm việc trong lĩnhvực du lịch nên các trường đào tạo về du lịch trên địa bàn Quảng Ngãi gặp nhiềukhó khăn trong việc thu hút học viên, mở lớp đào tạo

Chất lượng đào tạo không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp như kết quảkhảo sát trình bày ở mục cũng là một hạn chế lớn của địa phương Thực tế chothấy, nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường lao động địaphương chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, nhất là nguồn nhân lực quản

lý Ngay cả khi tuyển đúng người học ngành du lịch, các doanh nghiệp vẫn mấtthời gian, công sức đào tạo lại Kết quả khảo sát cho thấy 77,3% doanh nghiệp chobiết, đội ngũ lao động được tuyển dụng cần được huấn luyện, đào tạo lại

Phần lớn chưa có sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp Hiệnchỉ có Trường cao đẳng nghề Quảng Ngãi đã có chương trình liên kết đào tạo dulịch với chương trình theo tiêu chuẩn của Canada và quá trình thực hiện có sự thamgia của các chuyên gia và nhà quản lý du lịch Các trường vẫn chủ yếu đào tạo theokhả năng của mình chứ chưa thực sự đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp

b Về tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng 2 :

Trong những năm qua, ngành du lịch tỉnh đã phối hợp với Tổng cục Dulịch, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và các cơ sở đào tạo nghề tổ chức 30lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch cho hơn 1.200 lao động là cán bộ quản

lý và nhân viên các doanh nghiệp du lịch, gồm: nghiệp vụ lễ tân, hướng dẫn vien

du lịch tại điểm, nghiệp vụ buồng, bàn, quản lý khách sạn, nghiệp vụ du lịch cholái xe và nhân viên phục trên xe ô tô vận chuyển khách du lịch Qua các lớp tậphuấn, đào tạo và bồi dưỡng, đội ngũ lao động của ngành phát huy tốt hơnchuyên môn và kỹ năng nghề đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Bên cạnh đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh còn tổ chức cho một

số huyện đi tham quan học hỏi kinh nghiệm về tổ chức homestay và quản lý nhànước về du lịch tại một số tỉnh như: Quảng Nam, Khánh Hòa, Bến Tre, TiềnGiang, Đồng Tháp, Lâm Đồng Ủy ban nhân dân huyện Lý Sơn đã tổ chức cáclớp nghiệp vụ giao tiếp, tiếng anh thông dụng

2 Báo cáo Sơ kết 2 năm thực hiện NQ số 04-NQ/TU ngày 19/10/2016 của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 5, khóa XIX

Trang 37

Ngoài ra, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi còn tổ chức Hộinghị triển khai Luật Du lịch và các văn bản quy định chi tiết cho cán bộ, côngchức, viên chức và người lao động đang công tác tại các sở, ban, ngành, địaphương và doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh.

Hạn chế lớn nhất là việc tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu do SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi tổ chức dựa vào nguồn ngân sáchnhưng nguồn này rất hạn chế nên số lượng lớp không nhiều Các doanh nghiệp

du lịch không thể tổ chức đào tạo được vì quy mô nhỏ

2.2.2 Tại Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Trong những năm qua ngành du lịch luôn giữ vị trí, vai trò quan trọngtrong phát triển kinh tế - xã hội của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Đứngtrước nhu cầu phát triển đó, việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu chongành rất được các địa phương quan tâm

Để phục vụ hoạt động đào tạo, số lượng các trường đại học, cao đẳng,trung cấp, cơ sở đào tạo nghề tại Vùng có sự gia tăng Vùng kinh tế trọng điểmmiền Trung hiện có 24 cơ sở tham gia đào tạo chuyên ngành du lịch và cácngành có liên quan, hỗ trợ cho du lịch (như đào tạo ngoại ngữ) ở các trình độ đạihọc, cao đẳng, trung cấp và đào tạo ngắn hạn gồm: 10 trường đại học, 9 trườngcao đẳng, 5 trường trung cấp/trung tâm đào tạo nghề Giáo dục và đào tạo về dulịch ở Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung hiện nay do một số lượng lớn các cơ

sở Giáo dục và đào tạo nghề Du lịch công lập và dân lập thực hiện

Bảng 6 Số cơ sở đào tạo có đào tạo chuyên ngành du lịch

của một số địa phương

tâm đào tạo nghề

Đà Nẵng và Bình Định là 2 tỉnh, thành phố có số lượng cơ sở đào tạo về

du lịch nhiều hơn, quy mô và chương trình đào tạo cũng đa dạng hơn so vớiQuảng Ngãi Đặc biệt, Đại học Đà Nẵng là một trường đại học trọng điểm củaVùng, hiện có 07 trường đại học thành viên, là một cơ sở đào tạo nhân lực quản

lý du lịch có chất lượng của Vùng

Ngoài ra, các doanh nghiệp du lịch lớn cũng có tổ chức đào tạo nhân lực

Đó là Vinpeal Nam Hội An, Furama Đà Nẵng… Tổng số học sinh tốt nghiệp

Trang 38

Nhìn chung, Số lượng NNL du lịch được đào tạo tại Vùng Kinh tế trọngđiểm miền Trung ngoài Quảng Ngãi hàng năm dường như vẫn thấp hơn nhu cầuNNL cho du lịch tại đây Do vậy, rất khó để Quảng Ngãi có thể thu hút từ nguồnnày đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển du lịch.

Hình 1 So sánh số cơ sở đào tạo về du lịch của Quảng Ngãi và

các địa phương khác thuộc Vùng KTTĐMT

Về chương trình đào tạo:

Chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo trong khu vực khá phong phú,đáp ứng nhu cầu cơ bản của các ngành, nghề cho du lịch Có 17 chương trìnhđào tạo khác nhau so với chỉ 10 chương trình đào tạo hiện có của các cơ sở đàotạo tại Quảng Ngãi Chương trình được đào tạo phổ biến nhất là Ngoại ngữ(52,2% cơ sở có đào tạo), Kỹ thuật chế biến món ăn (47,8%) Một số chươngtrình được tổ chức đào tạo rộng rãi bao gồm: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành(39,1%), Quản trị khách sạn (43,5%), Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống(39,1%), Nghiệp vụ lễ tân (30,4%), Nghiệp vụ nhà hàng (34,8%)

Hình 2 Các chương trình đào tạo hiện có

Trang 39

Về trình độ đào tạo:

Từ bảng dưới có thể thấy những chương trình đào tạo về du lịch của các

cơ sở đào tạo được tổ chức ở cả 4 bậc trình độ: Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng vàĐại học Không có chương trình nào được đào tạo ở bậc Sau đại học

Một số điểm nổi bật có thể nhận thấy:

- Chỉ có Chương trình đào tạo Quản trị Khách sạn được tổ chức ở cả 4 bậctrình độ

- Có 03 chương trình chỉ được tổ chức ở 1 bậc đào tạo: Quản trị resort chỉđược tổ chức ở trình độ Cao đẳng; Nghiệp vụ Buồng và Nghiệp vụ Bar chỉ được

tổ chức ở trình độ Sơ cấp

- Cao đẳng là bậc đào tạo phổ biến nhất với 11 chương trình đào tạo khácnhau như Quản trị nhà hàng, Quản trị lữ hành, Hướng dẫn du lịch, Việt Namhọc, Ngoại ngữ, Kỹ thuật chế biến món ăn,

Các chương trình và trình độ đào tạo ở Vùng Kinh tế trọng điểm miềnTrung khá đa dạng và được xây dựng gữa trên nhu cầu nhân lực cung cấp chocác cơ sở kinh doanh lưu trú, nhà hàng, lữ hàng hiện nay

Bảng 7 Trình độ đào tạo hiện có tại các cơ sở đào tạo trong VKTTĐMT

1 Quản trị Dịch vụ du lịch và Lữ hành Đại học, Cao đẳng

Trung cấp, Sơ cấp

3 Quản trị Nhà hàng và Dịch vụ ăn uống Đại học, Cao đẳng

Trang 40

5 Ngoại ngữ Đại học, Cao đẳng

Nguồn: Tổng hợp từ website của các cơ sở đào tạo

2.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ngãi

2.3.1 Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh

Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011

-2020 đã được UBND tỉnh thông qua trong Quyết định 2037/QĐ-UBND ngày20/12/2011 Trong đó, mục tiêu phát triển nêu rõ: “Phát triển nhân lực đảm bảo

đủ về số lượng và không ngừng nâng cao chất lượng, đào tạo nguồn nhân lựcphát triển toàn diên về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, đạo đức, tác phong, đápứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển nền kinh tế và ổn định

xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Hình thành được đội ngũ nhân lực chấtlượng cao cho các ngành và lĩnh vực có tiềm năng thế mạnh nổi trội và sựchuyển giao hợp tác về nhân lực giữa các địa phương của tỉnh để điều tiết cungcầu lao động trên thị trường lao động toàn tỉnh, nhằm đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, góp phần đưa Quảng Ngãi cơ bản trở thànhtỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”

Với mục tiêu nâng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong tổng

số lao động của tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2015 khoảng 55% và năm 2020khoảng 70% nhằm đáp ứng yêu cầu lao động có kỹ thuật cho phát triển kinh tế;

cả khu vực thành thị và nông thôn, tỷ lệ dân số họat động kinh tế có trình độchuyên môn kỹ thuật tăng nhanh hàng năm, đặc biệt lao động đội ngũ công nhân

kỹ thuật có tay nghề cao Năm 2020 nhu cầu lao động làm việc 806.557 ngườitrong đó lao động qua đào tạo và dạy nghề là 564.590 người (chiếm 70%) Chia

ra dạy nghề có 443.606 người, chiếm 55% (dưới 3 tháng 16,95%; sơ cấp chiếm19,34%; trung cấp nghề 12,28%, cao đẳng nghề chiếm 6,43%;); Đào tạo có

Ngày đăng: 02/04/2021, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w