từng trăn trở nhiều về vấn đề dạy học môn Toán nói chung và phần giải toán có lời văn nói riêng để đạt kết quả dạy học tốt nhất.Và với bài viết này tôi không có tham vọng lớn bàn về vấn [r]
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC&ĐÀO TẠO TAM DƯƠNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC HƯỚNG ĐẠO
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Một số giải pháp giúp cho học sinh lớp 5
giải toán có lời văn
Tác giả sáng kiến: Lê Thị Thu Hòa
Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hướng Đạo
Số Điện thoại: 0976 280 389
E-mail: info@123doc.org
Vĩnh Phúc, năm 2017
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Một số giải pháp giúp cho học sinh lớp 5
giải toán có lời văn
Vĩnh Phúc, năm 2017
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Trang 3Ở bậc tiểu học môn Toán là một trong những môn học chiếm một vị trí quan trọng Vì vậy, để giúp học sinh nắm được kiến thức, kỹ năng cơ bản ban đầu về Toán học không phải là đơn giản
Toán học rất đa dạng, phong phú, có nhiều loại bài toán ở nhiều dạng khác nhau Trong đó loại toán có lời văn luôn giữ một vị trí quan trọng, bởi
nó bộc lộ mối quan hệ qua lại với các môn học khác cũng như trong thực tiễn cuộc sống.Nó góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh tiểu học ,giúp học sinh củng cố kiến thức ,kĩ năng giải toán Đồng thời giáo viên dễ dàng phát huy những ưu điểm ,khắc phục những khuyết điểm cho học sinh
Trong các bài toán có lời văn có giá trị đặc biệt quan trọng và xuất hiện
ở các khâu của quá trình dạy học ở tiểu học,từ khâu hình thành khái niệm, quy tắc tính toán đến khâu hình thành trực tiếp các phép tính, vận dụng tổng hợp các tri thức và kỹ năng của số học, đại số, hình học…Vì vây trong cấu trúc nội dung môn toán có thể sắp xếp các bài toán có lời văn gắn với nội dung học khác nhau trong từng khâu của từng tiết học
Rõ ràng qua sự phân bố chương trình, ta thấy rõ phần giaỉ toán có lời văn
có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình môn toán tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng
Xuất phát từ thực tế giảng dạy của tôi cũng như các đồng nghiệp ở Trường Tiểu học Hướng Đạo, chúng tôi thấy việc giải toán có lời văn còn nhiều hạn chế chưa giúp học sinh phát triển tốt năng lực tư duy, suy luận trong quá trình giải toán Các em còn nhầm lẫn giữa các dạng toán, rập khuôn theo mẫu hoặc theo công thức mà không giải thích được cách làm Đặc biệt không nhận thấy được mối liên hệ giữa các số liệu, dữ kiện cụ thể của bài toán dẫn đến hiểu sai nội dung bài toán nên lựa chọn phép tính không đúng
Số học sinh giải được bài toán theo nhiều cách chiếm số ít Do vậy trước thực
tế đó, để giúp học sinh giải toán tốt (phần giải toán có lời văn) là một việc làm cần thiết đối với giáo viên Tiểu học, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán Do đó bản thân tôi cũng là một giáo viên Tiểu học, cũng đã
Trang 4từng trăn trở nhiều về vấn đề dạy học môn Toán nói chung và phần giải toán
có lời văn nói riêng để đạt kết quả dạy học tốt nhất.Và với bài viết này tôi không có tham vọng lớn bàn về vấn đề giải toán ở Tiểu học Tôi chỉ muốn
đưa ra “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 giải toán có lời văn ”phần
nào đó sẽ giúp chúng ta tìm ra cách giảng dạy tốt nhất,đạt được yêu cầu của
bộ môn nhằm góp phần vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay.Tôi rất mong nhận được sự bổ sung của các bạn đồng nghiệp
2 Tên sáng kiến: Một số giải pháp giúp học sinh lớp 5 giải toán có lời văn
Địa chỉ công tác: Trường Tiểu học Hướng Đạo-Tam Dương -Vĩnh Phúc
Điện thoại: 0976280389
Email: info@123doc.org
3 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Lê Thị Thu Hòa
4 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Sáng kiến được áp dụng trong giảng dạy Toán có lời văn cho học sinh lớp 5B và áp dụng rộng rãi đối với học sinh khối 5 trong trường, đồng thời có thể được áp dụng để bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu
5 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Sáng kiến bắt đầu được áp dụng thử ngày 1 tháng 10 năm 2016
6 Mô tả bản chất của sáng kiến
* Cơ sở lí luận:
Dạy Toán ở Tiểu học nhằm giúp cho học sinh vận dụng những kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú, những vấn đề thường gặp trong cuộc sống
Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của ngời lao động mới
Vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho với cái cần tìm, trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán
Dạy giải Toán giúp học sinh tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định…
Trang 5Các bài toán số học ở Tiểu học đợc phân chia thành các bài toán đơn và khối các bài toán hợp Để giải quyết được những bài toán này, giáo viên đã biết kết hợp các phương pháp dạy học: Phương pháp nêu vấn đề, phương pháp giảng giải - minh hoạ, phơng pháp thực hành - luyện tập…
*Cơ sở thực tiễn
Tình hình dạy học giải toán của giáo viên hiện nay đang được áp dụng phương pháp nêu vấn đề để rồi học sinh tự tìm hướng giải quyết Song học sinh lại rất lúng túng với phương pháp này vì các em không biết tìm “khoá”để
mở bài toán (đặc biệt là toán hợp) Nếu giáo viên giảng giải nhiều sẽ bị coi là không đổi mới phương pháp và cũng đồng thời không phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh Bản thân học sinh không biết cách trình bày bài giải thế nào hoặc không xác định đợc dạng toán điển hình để có những bước tính phù hợp Đó chính là những khó khăn khi dạy giải toán ở Tiểu học
* Thực nghiệm
- Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 5B-Trường Tiểu học Hướng Đạo
- Đối tượng đối chứng: Học sinh lớp 5A, 5C – cùng trường
Sau khi dạy bài “ Giải toán về tỉ số phần trăm và diện tích hình thang” tôi đã
ra đề kiểm tra 15 phút để 3 lớp cũng làm với đề bài sau:
Câu 1: (4 điểm)
Một huyện có 320 ha đất trồng cây cà phê và 480 ha đất trồng cây cao su Hỏi:
a) Diện tích trồng cây cao su bằng bao nhiêu phần trăm diện tích trồng cây
cà phê?
b) Diện tích trồng cây cà phê bằng bao nhiêu phần trăm diện tích đất trồng cây cao su?
Câu 2: (6 điểm)
Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn dài 120 m, đáy bé bằng 23 đáy lớn và hơn chiều cao 5 m Người ta cấy lúa trên thửa ruộng đó , cứ 100 m2 thu hoạch được 64,5 kg thóc Hỏi thửa ruộng đó thu hoạch được bao nhiêu tạ thóc?
Trang 6Qua chấm bài kiểm tra cho học sinh ở 3 lớp tôi nhận thấy rằng:
Đối với lớp 5A, 5C
Câu 1 :
Với bài tập 1, có rất nhiều học sinh đã giải như sau:
Bài giải a) Diện tích đất trồng cây cao su bằng phần trăm diện tích trồng cây cà phê
là:
480 : 320 = 1,5 1,5 = 150%
b) Diện tích đất trồng cây cà phê bằng phần trăm diện tích trồng cây cao su
là:
320 : 480 = 0,66 0,66 = 66%
Đáp số: a) 150%
b) 66%
Ở bài tập 1, hầu hết các em biết làm bài nhưng câu trả lời chưa phù hợp với phép tính
Bài tập 2: Các em đã biết vận dụng đúng công thức để tính song có một số bài rơi vào tình trạng sau:
+ Các em xác định tính độ dài đáy bé, chiều cao của hình thang
+ Hoặc: sau khi tính được diện tích hình thang các em lấy diện tích nhân với
số kg thóc thu được từ 100m2.
Bài giải
Độ dài đáy bé của thửa ruộng hình thang là :
120 : 3 × 2 = 80 (m) Chiều cao của thửa ruộng hình thang là :
80 – 5 = 75 (m) Diện tích của thửa ruộng hình thang là:
(120 + 80) × 75 : 2 = 7500 (m2)
Số thóc thu được trên thửa ruộng đó là :
7500 × 64,5 = 483750 (kg) = 4837,5 (tạ thóc)
Đáp số : 48,375 tạ thóc
* Đối với lớp 5B:
Trang 7Có những bài HS tính được số thóc thu hoạch được trên thửa ruộng thì các
em không chuyển đổi về đơn vị tạ mà lại để nguyên kết quả đó ghi đáp số Chẳng hạn, một số HS đã giải bài toán như sau:
Bài giải
Độ dài đáy bé của thửa ruộng hình thang là :
120 : 3 × 2 = 80 (m) Chiều cao của thửa ruộng hình thang là :
80 – 5 = 75 (m) Diện tích của thửa ruộng hình thang là:
(120 + 80) × 75 : 2 = 7500 (m2)
Số thóc thu được trên thửa ruộng đó là :
7500 : 100 × 64,5 = 4837,5 (kg) Đáp số : 4837,5 kg thóc Điều này chứng tỏ học sinh còn vội vàng, hấp tấp, không đọc kĩ bài toán, các em rất lúng túng trong việc xử lí dữ kiện của đề bài Trong khi phân tích
đề chưa chú ý đến những “ thuật ngữ” toán học để tìm ra “ chìa khoá” mở bài toán Trong quá trình trình bày bài giải, học sinh còn dập xoá vì chưa xác định
kĩ câu lời giải hoặc câu lời giải chưa phù hợp với phép tính, chưa ngắn gọn để đáp ứng được yêu cầu toán học và nó cũng xuất phát từ việc trong phần giảng bài hoặc dự kiến sai lầm giáo viên đưa ra chưa phù hợp
Với đề bài trên tôi thu được kết quả như sau:
Lớp Số lượng
học sinh
Nội dung điều tra
Kết quả điều tra Hoàn thành Chưa hoàn thành
Trang 8Từ những lý do về mặt lý luận và thực tiễn, trên cơ sở phân tích thực trạng việc giải toán có lời văn của học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp
5 nói riêng, tôi thấy cần thiết thực hiện giải pháp của mình với các nội dung
cụ thể như sau:
6.1 Về nội dung:
Người giáo viên muốn dạy tốt phải nắm chắc nội dung chương trình và đặc trưng của môn Toán lớp 5 gồm:
- Yếu tố số học
- Yếu tố đại lượng và đo đại lượng
- Yếu tố hình học
- Yếu tố thống kê
- Yếu tố giải toán có lời văn
Mặt khác giáo viên chuấn bị tốt các phương tiện, các đồ dùng cần thiết cho tiết học Luôn chọn cho mình phương pháp dạy phù hợp nhất cho từng dạng toán, bài toán Đặc biệt là phương pháp giải toán có lời văn ở lớp 5
6.2 Giải pháp giúp học sinh lớp 5 giải toán có lời văn.
6.2.1 Chuẩn bị cho việc giải toán
Để giúp học sinh có kĩ năng trong việc giải toán có lời văn, giáo viên không những hướng dẫn các em trong giờ học toán khi các em còn lung túng
mà còn luyện cho các em kĩ năng nói trong các tiết học ở môn Tiếng Việt
Trước hết người giáo viên gần gũi với học sinh, khuyến khích các em trong giao tiếp, tổ chức các trò chơi để các em luyện nói giúp các em có vốn
từ lưu thông Bên cạnh đó, người giáo viên phải chú ý nhiều đến kĩ năng đọc
và phần tìm hiểu bài của phân môn Tiếng Việt để từ đó các em có kĩ năng phán đoán yêu cầu cơ bản mà bài tập Toán đề ra
6.2.2 Giúp học sinh nắm được trình tự của việc giải một bài toán có lời văn
Dạy học giải toán là một trong những con đường hình thành và phát triển tư duy của học sinh (phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét…) Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao, người giáo viên phải biết tổ chức, hướng dẫn cho học sinh (cá nhân, nhóm, cả lớp ) hoạt động theo chủ đích nhất
Trang 9định với sự trợ giúp đúng mức của giáo viên, của sách giáo khoa và của đồ dùng dạy học, để mỗi cá nhân học sinh” khám phá” tự phát hiện và giải quyết bài toán Mục đích của dạy học giải toán ở Tiểu học là giúp học sinh
tự mình tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải bài toán
Để đạt được mục đích trên, giáo viên phải thực hiện các yêu cầu sau:
a) Hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ:
- Bài toán có lời văn nêu các vấn đề thường gặp trong đời sống, các vấn đề
đó gắn liền với nội dung (khái niệm, cấu trúc, thuật ngữ) toán học Do vậy giáo viên cần cho học sinh nắm vững khái niệm thuật ngữ toán học Chẳng hạn tổng của 2 số; hiệu của 2 số; số này hơn số kia,…
Hướng dẫn học sinh giải toán và nêu thành các bài toán điển hình (bài toán
có phương pháp giải thống nhất), chẳng hạn:
- Các bài toán liên quan đến quan hệ tỉ lệ
- Các bài toán liên quan đến quan hệ tỉ số
- Các bài toán về tỉ số phần trăm
- Các bài toán về chuyển động đều
- Các bài toán có nội dung hình học…
b) Tổ chức thực hiện các bước giải toán
*) Tổ chức cho học sinh tìm hiểu nội dung bài toán bằng các thao tác:
- Đọc bài toán (đọc thầm, đọc to)
- Tìm hiểu một số từ ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm bắt bài toán cho biết cái gì, bài toán yêu cầu phải tìm cái gì?
Ví dụ:
Dạy diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật bằng cách triển khai trên đồ dùng trực quan để học sinh nhận thấy diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật chính là diện tích của một hình chữ nhật lớn vừa triển khai được
Trang 10Khi áp dụng công thức để tính diện tích hoặc thể tích thì phép tính giải trong mỗi bước tính thường là phải tính “giá trị của biểu thức chữ”, do đó khi trình bày bài giải học sinh không phải viết kết quả của phép tính trung gian mà ghi ngay kết quả của biểu thức
Chẳng hạn: Một hình hộp chữ nhật có chiều dài 20 cm, chiều rộng 12 cm, chiều cao 10 cm Tính diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật đó
Bài giải Diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật là:
(20 + 12) × 2 × 10 = 640 (cm2) Đáp số: 640 cm2
Học sinh không phải viết kết quả phép tính:
20 + 12 = 32; 32 × 2 =64; 64 × 10 =640
Khi viết bài giải các bài toán có nội dung hình học, thông thường HS không phải vẽ hình đối với những bài mà khi tính (chu vi,diện tích, thể tích) chỉ áp dụng công thức để tính Đối với những bài toán mà yêu cầu theo đề bài cần phải vẽ hình thì HS cần phải vẽ hình khi làm bài
Chẳng hạn: Bài 1(trang 104)
Tính diện tích của mảnh đất có kích thước
như hình vẽ bên 3,5m
3,5m 3,5m
6,5m
4,2 m
*) Giáo viên cho học sinh tìm hiểu bài toán qua hệ thống câu hỏi:
-Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
*) Tìm cách giải bài toán bằng các thao tác:
Trang 11- Tóm tắt bài toán (tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng cách vẽ hình).
Hình vẽ sẽ giúp HS minh hoạ lời giải của mình một cách rõ ràng và cụ thể hơn
- Lập kế hoạch giải toán:
Giáo viên yêu cầu học sinh lập kế hoạch giải toán từ yêu cầu của bài Học sinh phải xác định được rằng:
+ Chia mảnh đất thành nhiều hình nhỏ, đánh số như hình vẽ cách giải 1, 2 khác nhau
+Tính diện tích của mỗi hình sau khi đánh số
+Cuối cùng tính diện tích mảnh đất
*) Thực hiện cách giải và trình bày lời giải bằng các thao tác:
- Thực hiện các phép tính đã xác định
- Viết câu trả lời
- Viết phép tính tương ứng
- Viết đáp số
Cách 1: Bài giải
Chia mảnh đất thành 1 hình chữ nhật và 2 hình vuông bằng nhau (như hình vẽ)
3,5m 3,5m 3,5m
6,5m
4,2 m
Diện tích của mảnh 1 và mảnh 2 là:
3,5 × 3,5 × 2 = 24,5 (m2) Diện tích của mảnh 3 là:
(6,5 + 3,5 ) × 4,2 = 42 (m2) Diện tích của mảnh đất là:
24,5 + 42 = 66,5 (m2) Đáp số: 66,5 m2
Cách 2: Bài giải
1 2
3
Trang 12Chia mảnh đất thành 2 hình chữ nhật (như hình vẽ)
3,5cm
3,5 m 3,5m
6,5m 4,2m
Chiều dài của mảnh 1 là:
3,5 + 4,2 + 3,5 = 11,2 (m) Diện tích mảnh 1 là:
11,2 × 3,5 + 39,2 (m2) Diện tích mảnh 2 là:
6,5 × 4,2 = 27,3 (m2) Diện tích của mảnh đất là:
39,2 + 27,3 = 66,5 (m2) Đáp số: 66,5 m2
Ví dụ: Bài 4 trang 145
Hai thành phố A và B cách nhau 135 km Một xe máy đi từ A đến B với vận tốc 42 km/ giờ Hỏi sau khi khởi hành 2 giờ 30 phút xe máy đó còn cách B bao nhiêu ki-lô-mét?
Giáo viên cho học sinh tìm hiểu bài toán qua hệ thống câu hỏi:
-Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
*) Tìm cách giải bài toán bằng các thao tác:
- Tóm tắt bài toán (tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng hình vẽ, tóm tắt bằng sơ đồ)
Ví dụ: Bài 4 trang 145
Sau khi tìm hiểu nội dung bài toán, giáo viên định hướng cho học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ:
Xe máy: 42 km/giờ 2giờ 30 phút
1
2