1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương câu hỏi và gợi ý trả lời cuộc thi "Tìm hiểu chiến thắng lịch sử điện Biên Phủ"

17 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 231,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; của chủ nghĩa yêu nước, [r]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG CÂU HỎI VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI Cuộc thi "Tìm hiểu chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ"

Câu 1: Tại sao Điện Biên Phủ được lựa chọn là điểm quyết chiến chiến lược giữa quân và dân ta với thực dân Pháp?

* Vài nét về vị trí chiến lược của vùng Tây Bắc và Điện Biên Phủ:

- Vùng Tây Bắc:

+ Tây Bắc là một dải đất ở phía Tây Bắc bộ Việt Nam Phần lớn đất đai là núi cao, rừng rậm núi xen kẽ cao nguyên và thung lũng mà đỉnh Phan xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn là “nóc nhà” của Tây Bắc với độ cao 3.142m Các con sông Mã, sông Đà, sông Thao với dòng nước chảy xiết đã chia Tây Bắc thành nhiều khu vực Đường vào Tây Bắc vừa ít lại phải qua nhiều sông, suối, núi cao hiểm trở nên đi lại cực kỳ khó khăn

+ Tây Bắc là một địa bàn chiến lược quan trọng của Bắc Bộ Việt Nam nói riêng, của Bắc Đông Dương nói chung ở phía Tây tiếp giáp với hai tỉnh Phong Xa

Lì và Sầm Nưa của Lào, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam Trung Quốc Phía Đông là căn

cứ địa Việt Bắc Phía Nam là tỉnh Hoà Bình, nối liền với các tỉnh thuộc Liên khu III

và liên khu IV Do vị trí địa lý của Tây Bắc có đặc thù như vậy đã khiến cả ta và Pháp đều rất chú trọng đến địa bàn chiến lược này

+ Đối với ta, làm chủ được Tây Bắc không những bảo vệ được vững chắc khu đầu não kháng chiến Việt Bắc, tạo thành thế liên hoàn nối liền một dải hậu phương kháng chiến rộng lớn, mà còn có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu quốc tế, đặc biệt là tăng cường thêm tình đoàn kết Việt Lào chống kể thù chung

+ Đối với thực dân Pháp, khống chế được khu vực này, chúng sẽ mở được địa bàn hoạt động nhằm uy hiếp, khống chế bên sườn và sau lưng ta, chia cắt liên lạc và

sự chi viện của ta (giữa Việt Bắc và Liên khu III và Liên khu IV), đồng thời từ đây

có thể che chở cho Thượng Lào cùng kinh đô Luông Pha Băng

- Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn thuộc tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên), giữa vùng núi Tây Bắc, có lòng chảo Mường Thanh (Mường Then-Mường Trời) dài gần 20km, rộng từ 6 đến 8 km, cách Hà Nội khoảng 300km, cách Luông Pha Băng (Lào) khoảng 200km đường chim bay, cách biên giới các nước Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan từ 150 đến 200 km, cách Việt Bắc, khu IV từ 300km đến 500km đường bộ Thung lũng này nằm gần biên giới Việt- Lào, trên một đầu mối giao thông quan trọng, có tuyến đường đi Lào, có con sông chảy theo hướng Nam-Bắc đổ xuống sông Nậm Hu, có sân bay Mường Thanh được xây dựng

Trang 2

từ năm 1889 Dân số Điện Biên Phủ có 2 vạn người thuộc 11 dân tộc khác nhau: (Kinh, Thái, Nùng, Mường, Tày, Lào, Xã, Puộc, Hoa, Pú Noi )

Đế quốc Pháp-Mỹ đánh giá coi Điện Biên Phủ ở vào “một vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông Dương, mà còn đối với miền Đông Nam á” (Bộ Quốc Phòng – Viện lịch sử quân sự Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Tập V, Nxb St H.1992 Tr.70) Nó là “ngã tư chiến lược quan trọng”, nó như “cái bàn xoay có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc (Na va Đông Dương hấp hối Nxb Plông, Pari, 1958 (tiếng Việt)), như “cái chìa khoá” bảo vệ Thượng Lào, từ đó có thể đánh chiếm lại vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1950-1953 và tạo điều kiện để đánh tiêu diệt quân chủ lực của ta tại đây Đồng thời là một căn cứ không quân-lục quân lợi hại, phục vụ cho chính sách xâm lược của Mỹ ở Đông Nam Châu á

Kế hoạch tác chiến của NaVa hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ giành lại thế chủ động chiến lược, chuyển bại thành thắng Ngày 3/12/1953 Nava ra huân lệnh cho quân đội Pháp tập trung lực lượng phòng ngự ở Tây Bắc vào căn cứ Không quân-Lục quân ở Điện Biên Phủ và quyết giữ căn cứ này với bất cứ giá nào Na va quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố là “pháo đài bất khả xâm phạm”, sẵn sàng “nghiền nát” bộ đội chủ lực ta Chấp nhận một trận quyết chiến với ta ở Điện Biên Phủ , thách quân ta lên đó để tiêu diệt với mục đích nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở Đông Dương

- Tây Bắc với địa hình phức tạp rất khó khăn cho hoạt động quân sự của địch nhưng lại rất thuận lợi cho chiến tranh nhân dân của ta Bởi vậy sau ba chiến dịch, vùng Trung du và đồng bằng (chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh), Đảng ta quyết định chọn hướng rừng núi Tây Bắc để tiến công Tại Hội nghị Bộ chính trị bàn về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954, chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động thì

có thể thay đổi Pháp dùng binh là phải thiên biến vạn hoá”

Ngày 6/12/1953, Bộ chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ tổng tư lệnh và Quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ của địch ở đây, giải phóng Tây Bắc

và tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang của Lào giải phóng Bắc Lào, đồng thời tạo điều kiện để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường toàn Đông Dương Điện Biên Phủ trở thành trung tâm điểm của kế hoạch Đông - Xuân 1953 - 1954 của

ta, là trận “quyết chiến chiến lược” lớn nhất giữa ta và Pháp

Trang 3

Trong thư gửi đại Tướng Võ Nguyên Giáp vào ngày 22/12/1953 Hồ Chủ tịch nêu rõ: “ Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự

mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế Vì vậy, toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”

Câu 2: Anh (chị) hãy nêu diễn biến, kết quả các đợt tiến công trong chiến dịch Điện Biên Phủ và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ?

1 Diễn biến, kết quả của các đợt tiến công:

Chiến dịch Điện Biên Phủ được bắt đầu từ ngày 13 tháng 3 năm 1954 đến ngày

7 tháng 5 năm 1954, chia làm 3 đợt tiến công:

* Đợt 1:

- Trưa 13 tháng 3 năm 1954, lần đầu tiên pháo 105 ly của ta đã khai hoả ở Điện Biên Các cứ điểm của địch cũng dùng pháo bắn trả dữ dội nhưng không có kết quả

- Đúng 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta bắn dồn đập hàng loạt phát đại bác vào các vị trí cứ điểm ở Điện Biên Phủ, nhất là Him Lam, gây chấn động toàn bộ cứ điểm Cứ điểm Him Lam bị tổn thất nặng nề Đại đoàn 312 của ta đồng loạt tiến công trên 3 hướng và đến 23 giờ ta tiêu diệt được khu trung tâm và chiếm hoàn toàn cứ điểm Him Lam Trong trận đánh mở màn này, quân ra đã tiêu diệt gần

300 tên, bắt sống hơn 200 tên

- 17 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1954, pháo binh ta bắt đầu bắn vào các cứ điểm của địch Khoảng 6 giờ 30 phút sáng 15 tháng 3, đồi Độc lập hoàn toàn thuộc về ta

Ta bắt sống 200 tù binh và tiêu diệt 483 tên

- Sau khi mất Him Lam và Độc lập tinh thần tiểu đoàn nguỵ Thái ở Bản Kéo suy sụp nhanh chóng Sáng 15 tháng 3, bộ đội ta gửi thư cho phép lính ở Bản Kéo đến đồi Độc Lập nhận thương binh đồng thời khuyên chúng ra hàng Đờ Cát thấy khó mà giữ được Bản Kéo nên ra lệnh cho tiểu đoàn nguỵ Thái BT3 rút về Mường Thanh Tiểu đoàn này vừa ra khỏi đồn đã chạy sang hàng quân ta Chiến thắng Bản Kéo đã kết thúc đợt tiến công thứ nhất của quân ta tại Điện Biên Phủ

*Đợt 2:

- Chiều 30 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng bắt đầu đợt tiến công thứ hai Lợi dụng thời tiết xấu, máy bay địch ít hoạt động, các đơn vị hoả lực của ta đã triển khai chiếm lĩnh trận địa ngay từ buổi sáng

- Đúng 17 giờ ngày 30 tháng 3, sau khi pháo binh ta bắn dồn dập vào sở chỉ huy của Đờ Cát, các trận địa pháo và khu vực quân cơ động ở Mường Thanh, Hồng Cúm quân ta tổ chức tiến công vào 5 điểm cao phòng ngự quan trọng ở phía đông: đồi C1, A1, E1, D1, D2 Tại đồi E1, trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) đã tiêu diệt gọn một bộ phận tiểu đoàn dù nguỵ, làm chủ đồi E1 sau hơn 1 giờ nổ súng Cũng sau 2

Trang 4

giờ chiến đấu, trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) đã hoàn thành việc đánh chiếm các đồi

D, D1 và D2 Các trận đánh ở đồi C1 và A1 diễn ra rất ác liệt và kéo dài Tại đồi C1, sau 45 phút tiến công, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) đã tiêu diệt gọn 1 đại đội, chiếm lĩnh toàn bộ cứ điểm C1 Ngày 8 tháng 4 năm 1954, Pháp cho tiểu đoàn dự bị thứ tư nhảy dù xuống Điện Biên Phủ Được tăng viện, sáng 9 tháng 4, địch phản kích chiếm lại đồi C1 Sau 4 ngày đêm giao tranh, ta và địch mỗi bên chiếm một nửa quả đồi

- Riêng đồi A1, trong đêm 30 tháng 3 quân ta chiếm được 2/3 đồi A1 Sáng 31 tháng 3, Đờ Cát tung nhiều lực lượng có xe tăng, máy bay và pháo binh yểm trợ, hòng chiếm lại A1 Đến ngày 4 tháng 4, ta và địch mỗi bên giữ một nửa điểm cao Sau hơn 20 ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt khoảng 5.000 tên địch, trong đó gồm

4 tiểu đoàn và 9 đại đội Số địch bị diệt chiếm khoảng 1/2 tổng số quân địch ở phân khu Bắc và phân khu trung tâm, quân ta đã khống chế được phần lớn các điểm cao ở phía đông

*Đợt 3:

- Chiều ngày 1 tháng 5 năm 1954, pháo binh ta, với sự góp mặt lần đầu tiên của hoả tiễn 122 bắt đầu bắn mạnh vào khu vực trận địa địch Pháo ta đã làm tê liệt hoàn toàn ngay từ đầu cụm pháo của địch ở Hồng Cúm Tại phía đông, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở một nửa ngọn đồi C1 mà chúng đang chiếm giữ Trên bờ phía đông sông Nậm Rốn, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) tiến công đánh chiếm cứ điểm 505, 505A và tiêu diệt toàn bộ quân địch ở hai cứ điểm này Tại phía tây, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311A Đêm mùng 3 tháng 5 năm 1954, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311B

- 18 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1954, pháo binh và hoả tiễn của ta bắn dữ dội vào các cứ điểm địch, mở đường cho bộ binh tấn công Đến 4 giờ sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ địch ở đồi A1 Cùng trong thời gian A1 bị tiêu diệt, quân ta tiến công đánh chiếm cứ điểm C2, bắt sống 600 tên địch, đồng thời tiến công xoá sổ cứ điểm 506 ở phía bắc Mường Thanh ở phía tây, Đại đoàn 308 giải quyết xong cứ điểm 310

- 14 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) mở cuộc tiến công cứ điểm 507 ở gần cầu Mường Thanh Địch ở 507 kéo cờ trắng ra hàng Đại đoàn 312 tiếp tục tiến công tiêu diệt hai cứ điểm 508 và 509 ở tả ngạn sông Nậm Rốn

Trước tình hình rối loạn và hoang mang của địch, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị không chờ đến tối, mở ngay cuộc tổng công kích vào tập đoàn cứ điểm địch Bộ đội ta đánh đến đâu cờ trắng của địch xuất hiện tới đó 17 giờ 30 phút,

Trang 5

Thiếu tướng Đờ Cát và bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt sống Lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của quân đội ta đã tung bay trên nóc hầm sở chỉ huy địch, binh

lính địch ở các cứ điểm còn lại lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng

2 ý nghĩa lịch sử:

- Quân và dân ta đã làm phá hủy hoàn toàn kế hoạch Nava, đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp

- Chúng ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch thuộc các đơn vị thiện chiến nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương, phá huỷ nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, giải phóng được nhiều vùng đất đai rộng lớn, có ý nghĩa về mặt chiến lược

- Mở ra một cục diện chính trị mới, góp phần quyết định vào thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ 1954 bàn về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương

- Đây không chỉ là chiến thắng của dân tộc Việt Nam, mà còn là thắng lợi của các dân tộc nhỏ trên thế giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân

Câu 3: Anh (chị) hãy cho biết có những đơn vị nào của ta trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và mật danh của những đơn vị này là gì?

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ có 5 đại đoàn trực tiếp tham chiến, đó là:

1 Đại đoàn 308: tức Sư đoàn "Quân Tiên Phong" có ba trung đoàn gồm:

- Trung đoàn 102 tức "Trung đoàn Thủ đô", mật danh "Ba Vì"

- Trung đoàn 88, mật danh "Tam Đảo"

- Trung đoàn 36, mật danh "Sa Pa"

2 Đại đoàn 312 tức Sư đoàn "Chiến thắng", có 3 trung đoàn gồm:

- Trung đoàn 209 tức Trung đoàn Sông Lô, mật danh "Hồng Gai"

- Trung đoàn 165 tức Trung đoàn Lao Hà, mật danh "Đông Triều"

- Trung đoàn 141 tức Trung đoàn Phủ Thông, mật danh "Đầm Hà"

3 Đại đoàn 316: được gọi là "Sư đoàn Sơn chiến, đơn vị ưu tú của Việt Minh chuyên đánh rừng núi", mật danh "Biên Hoà", có 3 Trung đoàn gồm:

- Trung đoàn 98 tức Trung đoàn Tây Bắc, mật danh "Ba Đồn"

- Trung đoàn 174 tức Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng, mật danh "Sóc Trăng"

- Trung đoàn 176, mật danh "Lạng Sơn"

4 Đại đoàn 304: tức Sư đoàn "Vinh Quang", mật danh "Nam Định", có 3 trung đoàn gồm:

- Trung đoàn 57, mật danh "Nho Quan"

- Trung đoàn 9, mật danh "Ninh Bình"

- Trung đoàn 66 (không tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ)

Trang 6

5 Đại đoàn 351: tức Sư đoàn Công - Pháo, mật danh "Long châu", có 4 trung đoàn gồm:

- Trung đoàn 151: công binh

- Trung đoàn 45: lựu pháo, mật danh "Tất thắng"

- Trung đoàn 675: sơn pháo

- Trung đoàn 367: pháo cao xạ, mật danh "Hương Thuỷ"

Câu 4: Anh (chị) hãy nêu vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ?

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng tài ba của toàn dân, quân đội nhân dân Việt Nam Chiến dịch Điện Biên Phủ đã in dấu ấn đại tướng với quyết định chuyển chiến thuật từ cách “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”

- Trận Điện Biên Phủ đánh dấu sự chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã kết thúc ngày 7 tháng 5 năm 1954, nhưng đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì chiến dịch này đã khởi động từ một năm rưỡi trước đó ngay trong các dãy núi Tây Bắc dân cư thưa thớt

- Tháng 7 năm 1952, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có trong tay một đội quân 280.000 người (riêng ở Bắc Bộ có 160.000) để chống lại khoảng 260.000 quân viễn chinh (trong đó 175.000 là người Pháp)

- Bấy giờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có thể đưa cuộc chiến tranh sang một tầm vóc mới, mở rộng ra ngoài khu vực chính của Bắc Bộ, chiến trường mở rộng sang cả nước Lào Ông nghĩ tình hình này sẽ buộc quân viễn chinh phải kéo dài đội hình đến mức phá vỡ cả tuyến phòng thủ nếu muốn bảo vệ Lào và phải đặt các căn

cứ xa xôi rất dễ bị tiến công

- Đại tướng Võ Nguyên Giáp cần có thời gian để tiến hành những cuộc hành quân khác khi tiến thẳng, khi đi ngược trở lại để nghi binh, khi quanh co đi đường vòng qua rừng rậm để đánh lạc sự chú ý của đối phương, làm cho quân Pháp phải sa lầy, phá huỷ ưu thế chiến thuật của địch Sự đối phó của Bộ tham mưu Pháp rất chậm chạp, ngập ngừng thái quá, không bao giờ tận dụng đến khả năng sẵn có Đó là lời phê phán nặng nề nhất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi nhận định về đối sách

bị động của quân Pháp thời đó

- Nà Sản cách Hà Nội 200 ki-lô-mét về phía Tây Bắc Vị trí này đã biến thành một căn cứ bộ – không quân thật sự với một sân bay nằm giữa thung lũng lòng chảo

có núi cao bao bọc xung quanh Chỉ huy sở xây nửa chìm nửa nổi, các điểm tựa bao vây xung quanh, hàng rào dây thép gai dày đặc Đó là một kiểu Điện Biên Phủ thu nhỏ Nà Sản không thất thủ mặc dù Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần định bao vây tiêu diệt như đã từng làm với các vị trí khác: chuẩn bị ráo riết bằng hoả lực pháo binh rồi xung phong nhiều đợt đánh vào các điểm tựa tương đối yếu Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu rằng ông đã mất nhiều sức lực khi tiến đánh Nà Sản mà không tiêu diệt được lực lượng đồn trú ở đây Ông phải hạ lệnh thu quân

Trang 7

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cũng bộ chỉ huy họp rút kinh nghiệm tại một địa điểm gần đường 41 Ông kết luận rằng phải suy nghĩ thêm về loại hình phòng thủ này của quân Pháp và để tiêu diệt một hệ thống cứ điểm kiểu như Nà Sản phải sử dụng hoả lực pháo binh hạng nặng

- Mùa thu năm 1953, tướng Navarre bắt đầu thực thi một kế hoạch mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá là kế hoạch chiến lược quy mô lớn nhằm tiêu diệt chủ lực Việt Minh trong 18 tháng Nava dự kiến, trong giai đoạn đầu sẽ tập trung quân ứng chiến cơ động để tiến công tiêu hao chủ lực Việt Minh ở đồng bằng và chiếm đóng Điện Biên Phủ để biến Tây Bắc thành một căn cứ tác chiến vững chắc

Trong giai đoạn thứ hai kế tiếp, Nava sẽ tận dụng mưa và nhân lúc quân Việt Minh đã mỏi mệt không có những hoạt động lớn tại miền Bắc để tập trung lực lượng bình định miền Nam Cuối cùng trong thu đông 1953, không như những người tiền nhiệm, ông ta phải bị động chạy theo chiến lược của Võ Nguyên Giáp

- Lúc đầu Đại tướng Võ Nguyên Giáp coi Điện Biên Phủ chủ yếu như một căn

cứ tập trung lực lượng đối phương Ông nhấn mạnh: “Kế hoạch Nava bước đầu phá sản ”

- Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại những bài học của giải phóng quân trước đây trong các cuộc xung phong đánh các vị trí thuộc loại này nhưng không mạnh bằng Cho tới nay chiến lược của ông là tiến công trực diện, là phải chọn những hướng tiến công thuận lợi hơn Tuy nhiên để thay đổi cục diện chiến tranh, để có một cơ may nào đó đánh bại quân Pháp sẽ đến một ngày phải đánh một đòn mạnh, Điện Biên Phủ có lẽ là một cơ hội

Nhưng ông muốn chắc ăn trước khi đánh, nếu không giành được thắng lợi thì

ít nhất phải giành được tối đa cơ may về phía mình Vì vậy từ tháng 11 năm 1953, ông đánh giá tỉ mỉ khả năng của quân giải phóng, những cơ may giành chiến thắng,

những điểm yếu của mình cũng như của đối phương Sau khi lên chiến trường, theo

dõi mấy ngày, tướng Giáp băn khoăn quyết định thay đổi phương án Đại tướng đã triệu tập hội nghị quân Uỷ tại mặt trận

Khi Hội nghị quyết định chuyển phương án đánh là phát huy dân chủ trong Đảng uỷ mặt trận thì mọi người cuối cùng nhất trí với quyết định của đại tướng

Ngày 6/12/1953, Bộ chính trị đã thông qua chủ trương đánh chắc thắng chắc Mấu chốt trận Điện Biên Phủ là phương châm chiến lược trên cơ sở nhìn nhận tương quan và ý kiến của tập thể Bộ Chính trị mà trực tiếp là tướng Giáp, người chỉ huy mặt trận

Trận Điện Biên Phủ kéo dài 55 ngày đêm, nhưng chiến dịch cùng tên đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp kéo dài gần ba tháng Phải mất 55 ngày đêm, vượt qua hàng nghìn khó khăn trở ngại, tướng Giáp mới đánh chiếm được tập đoàn cứ điểm

Ngày 7/5/1954 diễn ra cuộc tổng công kích cuối cùng Quân giải phóng tấn công tất cả các hướng cùng một lúc Ngay trong đêm, phân khu phía Nam của tập đoàn cứ điểm thất thủ Đối vớiĐại tướng Võ Nguyên Giáp, đó là thắng lợi trọn vẹn

Trang 8

Ông đã đánh bại đội quân viễn chinh Lần đầu tiên một đội quân giải phóng đã chiến thắng đội quân phương Tây

Đối với vị Tổng tư lệnh Việt Minh, chiến thắng Điện Biên Phủ là đoạn kết thúc bình thường của một loạt chiến dịch Tây Bắc đã trở thành mảnh đất thuận lợi cho các cuộc hành binh của ông

Trong con người chiến thắng ở Điện Biên Phủ, người ta thấy lại nhà sử học về chiến tranh của Việt Nam, trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành toàn bộ tình yêu thương cho đất nước ông và cho lòng trung thành với

lý tưởng cộng sản

Câu 1:

- Diễn biến, kết quả các đợt tấn công trong chiến dịch Điện Biên Phủ và Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ:

Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) giữa quân đội Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp

1945 – 1954 của Việt Nam

Trên phương diện quốc tế, trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương, các khu vực thuộc địa ở Châu Phi của Pháp và buộc nước này rút ra khỏi Đông

Dương Đến năm 1967, Pháp đã buộc phải trao trả quyền độc lập cho tất cả các nước

là thuộc địa của Pháp

Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp lâm vào thế

bị động trên chiến trường, quân đội của chính phủ Hồ Chí Minh đã giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng, và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác họ muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh[cần dẫn nguồn] Kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:

Trang 9

Bước thứ nhất: Thu đông 1953 và xuân 1954 giữ thế phòng ngự ở miền Bắc và thực hiện tấn công chiến lược tại miền Trung và miền Nam

Bước thứ hai: Chuyển từ phòng ngự sang tấn công chiến lược ở phía Bắc để tiêu diệt chủ lực của Việt Minh

Để thực hiện kế hoạch này Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng quân đội bản địa, càn quét bình định vùng kiểm soát Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V., Navarre được nhà nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ Viện trợ Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền tây bắc Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó

Về phía Việt Nam, kể từ sau năm 1950 do nối thông biên giới với Trung Quốc, lại được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xô, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại đoàn) bộ binh và các trung đoàn pháo binh, công binh đã có kinh nghiệm đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn của quân Pháp trong phòng ngự kiên cố

Bộ chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường

kỳ, và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Đây là trận quyết chiến chiến lược của QĐNDVN

Quân đội Nhân dân Việt Nam

Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các đại đoàn bộ binh (304, 308, 312, 316), 1trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu), 1 trung đoàn pháo binh 75 ly (24 khẩu) và súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly (367)(sau được tăng thêm một tiểu đoàn 12 khẩu) vốn là phối thuộc của đại đoàn công pháo 351 (công binh – pháo binh) Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch Thiếu tướng Hoàng Văn Thái

làm tham mưu trưởng chiến dịch Thiếu tướng Đặng Kim Giang làm Chủ nhiệm cung cấp chiến dịch Ông Lê Liêm làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch

Trang 10

- Đánh giá vai trò cảu chiến dịch Điện Biên Phủ trong cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơ-ne-vơ?

Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) năm 1954, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, bãi

bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương Ngày 26 - 4 - 1954, khi Quân đội nhân dân Việt Nam kết thúc chiến dịch tấn công đợt 2 ở Điện Biên Phủ thì Hội nghị Giơ-ne-vơ bắt đầu được khai mạc.Chiến dịch Điện Biên Phủ đóng vai trò là mốc để buộc Pháp kí kết hiệp định,là mầm mống và đồng thời là nền tảng dẫn đến hiệp định Giơ-ne-vơ của Việt Nam

Câu 2:

Nhìn từ chiến thắng Điện Biên Phủ, có thể thấy, đoàn kết một lòng phát huy nội lực và tính dân chủ, kết hợp với nắm chắc tình hình thực tế để kịp thời đề ra giải pháp hợp lý là bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự lãnh đạo của Đảng ngày nay, nhằm góp phần làm nên một “Điện Biên Phủ” mới trong công cuộc đổi mới Bài học đầu tiên và quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu

là Chủ tịch Hồ Chí Minh.Bài học thứ hai là đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự tôn dân tộc, tự lực, tự cường; thực hiệntriệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân chịu trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, tin vào đảng viên, cán bộ, chiến

sĩ khi giao việc cho họ

Bài học thứ ba là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, của toàn dân, của

cả nước

Ngày nay, sức mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, của toàn dân Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cũng đã nhấn mạnh

ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc

Để quan điểm xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân ngày càng thấm nhuần và trở thành hành động của các cấp ủy, bộ, ban, ngành trong bộ máy Đảng và Nhà nước, điều quan trọng là phải thực sự mở rộng dân chủ, lắng nghe ý kiến,

nguyện vọng của nhân dân, tránh dân chủ hình thức Mọi chủ trương, biện pháp, quyết sách lớn cần có sự đóng góp ý kiến, sự phản biện của người dân để đi đến sự nhất trí, đồng thuận, tạo nên sự tin tưởng, gắn bó chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng, chính quyền, với chế độ xã hội

Giữ vững được lòng dân, tạo được sự tin tưởng của nhân dân - đó chính là điều cốt yếu để giữ vững sự ổn định chính trị, tạo nên động lực và sức mạnh đưa công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến thắng lợi Đoàn kết các dân tộc anh em,

Ngày đăng: 02/04/2021, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w