Một tổ hợp gồm các chuỗi hình nét được liên kế theo những cách thức nhất định dạng thức viết của ngôn ngữ để ghi lại lời nói âm thanh và trở thành phương tiện truyền đạt nội dung trong l
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm
Chữ viết là kí hiệu bằng hình ảnh thị giác (các hình nét) ghi lại tiếng nói Mỗi hình nét tương ứng với một đoạn âm thanh có ý nghĩa của tiếng nói Một tổ hợp gồm các chuỗi hình nét được liên kế theo những cách thức nhất định (dạng thức viết của ngôn ngữ) để ghi lại lời nói âm thanh và trở thành phương tiện truyền đạt nội dung trong lời nói Chính tả thực hiện những quy ước xã hội đối với chữ viết; đề phòng, ngăn ngừa sự vận dụng tuỳ tiện, vi phạm các quy ước làm trở ngại cho tri giác ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp
Trẻ em đến tuổi học, thường bắt đầu quá trình học tập bằng chữ viết
ở giai đoạn đầu tiên (bậc tiểu học) trẻ em tiếp tục được hoàn thiện năng lực nói tiếng mẹ đẻ Trẻ em biết chữ mới có phương tiện để học Tiếng Việt và học các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội khác Mà muốn biết đọc thông viết thạo, trẻ em phải được học chính tả Chính tả là phân môn có tính chất công cụ Nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của trẻ em
II- Cơ sở lý luận
Viết đúng chính tả không chỉ là những vận động của cơ bắp như sự phối hợp thuần thục các ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay mà còn là thao tác trí óc của người viết
Việc hình thành kỹ năng chính tả khẳng định vai trò của ý thức Kĩ năng chính tả có ý thức phải đạt tới mức độ tự động hoá một cách tự giác
Để viết đúng chính tả nếu đã nắm được sự phân tích cấu trúc âm đoạn của
âm tiết và thuộc bảng chữ cái, thì chỉ việc phát thành tiếng hay đọc thầm
Trang 2từng âm tiết và biểu hiện cách kết hợp chữ cái để thể hiện các âm đoạn theo trật tự của chúng.
III - Cơ sở thực tiễn:
Trong những năm gần đây học sinh viết chính tả thường mắc nhiều lỗi Một số em chưa nắm được quy tắc chính tả đơn giản Điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiếp thu tri thức văn hoá, khoa học
Học sinh viết không đúng làm ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp, tư duy Học sinh không thể chuyển lời nói dưới dạng văn bản viết - vốn là một loại văn bản có khả năng chuyển đạt và bảo lưu mọi tư tưởng của loài người qua mọi thời gian và không gian trong mọi hoàn cảnh và với mọi đối tượng
sử dụng
IV- Biện pháp tiến hành:
Qua thực tế giảng dạy, để có định hướng đúng trong quá trình sửa lỗichính tả cho học sinh, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân viết sai chính tả của các
em Có thể nêu một số nguyên nhân chính sau đây:
a Do ảnh hưởng của phương ngữ, thổ ngữ:
Phương ngữ biến dạng của ngôn ngữ toàn dân ở địa phương cụ thể với những nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân về cách phát âm, dùng từ hay diễn đạt
Thổ ngữ là biến dạng của ngôn ngữ toàn dân ở phạm vi lãnh thổ nhỏ hẹp hơn so với phương ngữ
Học sinh thuộc phương ngữ Bắc Bộ có ưu điểm là không viết sai thanh điệu và vần song thường hay viết lẫn lộn một số chữ in phụ đầu: tr/ch, s/x, r/d/gi, l/n
Để khắc phục hiện tượng này tôi áp dụng theo nguyên tắc kết hợp ghi nhớ hình thức chữ viết của từ và nghĩa từ của chúng biểu hiện Muốn vậy cần đặt từ đó trong ngôn ngữ cạnh để học sinh dễ hiểu
Ví dụ: Em để dành cho bé Hà chiếc kẹo Em không giành lấy phần hơn cho mình Tôi thường xuyên cho các em luyện tập qua các dạng bài tập như: Điền từ vào chỗ trống trong câu, dùng từ đặt câu điều này có tác dụng rất lớn trong việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh;
b Do hạn chế vốn từ:
Muốn viết đúng chính tả, người viết phải hiểu nghĩa của từ và cách viết cụ thể của từ đó
Ví dụ: muốn khi nào viết “truyện” khi nào viết “chuyện” người viết phải
phân biệt được sự khác nhau về nghĩa của hai từ này để từ đó rút ra cách viếtđúng chính tả
- Viết là “truyện” khi muốn chỉ tác phẩm văn học được in (VD:
truyện ngắn, truyện cười )
Trang 3- Viết là “chuyện” khi muốn chỉ một sự việc được kể lại (VD: câu
chuyện, chuyện tâm tình, hay chỉ một công việc cụ thể như: chưa làm nên chuyện)
Trước khi viết một từ do giáo viên đọc, học sinh có thể hiểu nghĩa cỉa từ đó bằng cách mô tả sơ lược hoặc đặt câu với từ đó Để giúp học sinh nghe hiểu và chủ động viết đúng tôi có thể kết hợp “liên tưởng” hay “so
sánh” ngắn gọn về chữ khó viết ngay trong khi đọc chính tả [ví dụ: trăng khuyết (khuyết trong khuyết điểm), đi làm nương (nương khác lương trong
lương thực)]
Một biện giúp học sinh viết đúng chính tả là luyện cho học sinh phát
âm đúng ví dụ so sánh phát âm l/n Giáo viên nên tạo điều kiện cho học sinh
được phát âm và tri giác chữ viết, tạo điều kiện cho học sinh quan sát chữ viết, tự phân tích tiếng (theo 3 bộ phận: phụ âm đầu, vần, thanh điệu) được luyện theo thao tác chữ viết để ghi nhớ mặt chữ lâu hơn Trong các tiết học trước khi viết bài tôi cho học sinh viết bảng con, viết nháp phân tích tiếng khó
c Do chưa thuộc quy tắc chính tả:
Muốn viết đúng quy tắc chính tả, học sinh phải học và nắm vững các quy tắc chính trả trong tiếng việt Trong giảng dạy, trước khi viết chính tả, theo tôi giáo viên nên hướng dẫn học sinh nắm quy tắc chính tả trước khi viết
Ví dụ: Tìm những chữ trong bài phải viết hoa?A
Tại sao những chữ này phải viết hoa (tên riêng, đầu câu) từ đó học sinh tự rút ra quy tắc chính tả “Những chữ đầu câu và tên riêng phải viết hoa” hoặc quy tắc ng/ngh, c/k, g/gh, i/y)
Nắm được nguyên nhân mắc lỗi của học sinh, giáo viên phải rèn luyện về chính tả thông qua các bài luyện tập Đây cũng là phần củng cố, trau dồi kĩ năng viết đúng chính tả một cách có hệ thống
Ví dụ: Sau khi viết xong bài chính tả “Có công mài sắt có ngày nên kim”- giáo viên cho học sinh làm bài tập củng cố quy tắc chính tả qua bài tập:
Điền vào chỗ trống: c hay k?
- im khâu; ậu bé; iên nhẫn; bà ụ
Một trong những yêu cầu quan trọng của việc dạy chính tả là giáo viên phải chấm, chữa bài cho học sinh thật chu đáo và trách nhiệm cao Tôi
đã thực hiện chấm toàn bộ học sinh trong bài chính tả Chấm xong mỗi bài chính tả của học sinh giáo viên thống kê các loại lỗi đã mắc từ đó có kế hoạch rèn sửa chính tả cho các em Trong khi chấm tôi dùng bút đỏ gạch dưới những chữ viết sai chính tả và yêu cầu học sinh viết lại cho đúng chữ mắc đã mắc lỗi để ghi nhớ, mỗi chứ 1-2 dòng Qua việc thực hiện một số
Trang 4biện pháp vừa nêu trên trong giờ dạy chính tả, qua một thời gian tôi thấy các
em học sinh lớp tôi đã đạt được một số kết quả nhất định
V - kết quả:
Học sinh đã viết đúng chính tả một cách có ý thức, không bị viết sai
do chưa được biết, chưa được học
Học sinh nắm được quy tắc chính tả - tạo thành thói quen Ví dụ: Chữ đầu dòng, đầu câu viết hoa
Đứng trước i, e, ê, là ngh
- Biết phân tích tiếng khó trươc khi viết
- Do đó học sinh bị mắc lỗi giảm xuống rõ rệt, tốc độ viết nhanh hơn.Lớp đạt danh hiệu viết sạch chữ đẹp chiếm tỷ lệ 82%
Trên đây là một số biện pháp của tôi trong giờ chính tả Tôi rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2004
Trang 5Phòng Giáo dục-Đào tạo quận Đống Đa
Chương trình cũ, giờ kể chuyện giáo viên kể mẫu xong chỉ có cáccâu hỏi như: Câu chuyện này có mấy nhân vật? là những nhân vật nào? đểcho các em nhớ lại cốt truyện, sau đó là để các em kể lại theo đoạn và cả câuchuyện Với hình thức dạy kể chuyện theo chương trình cũ, nhiều khi họcsinh không thể nắm bắt được cốt truyện ngay trên lớp, trừ một số em đã đọctruyện đó ở nhà một hai lần Do đó hạn chế kỹ năng kể lại và nhận xét bạn
kể của các em Điều đó cũng ảnh hưởng đến việc rèn khả năng nghe, nói chohọc sinh
Cái mới ở phân môn kể chuyện trong bộ SGK mới là không cóquyển Truyện kể dùng riêng cho các giờ Kể chuyện Trên lớp, học sinh chỉ
kể lại hoặc dựng lại dưới hình thức hoạt cảnh những câu chuyện đã họctrong tiết tập đọc đầu tiên trong tuần
Người viết : Nguyễn Thị Thành
Trường Tiểu học Cát linh
Năm học 2004 - 2005
Trang 6Như vậy hình thức câu hỏi và bài tập sẽ chi phối phương pháp dạyhọc trong giờ kể chuyện ở chương trình mới, trong giờ kể chuyện giáo viênchỉ là người điều khiển, hướng dẫn, còn học sinh là người chủ đạo trong giờhọc đó Các em sẽ phải làm việc nhiều hơn, nghĩa là phải nói nhiều hơn vànghe chăm chú hơn để nhận xét bạn kể Do các câu chuyện tương đối ngắnlại phân nhỏ ra làm nhiều đoạn, cho nên trong một tiết dạy học kể chuyện, sốlượng học sinh phải kể lại, phải nhận xét bạn kể lại cũng rất nhiều Với cáchdạy học như thế công việc của giáo viên sẽ nhẹ nhàng hơn so với cách dạycủa chương trình cũ.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “áp dụng một số biệnpháp để rèn kĩ năng nói trong giờ kể chuyện cho học sinh lớp 2”
Phần II: Cơ sở thực tiễn để giải quyết đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước đòi hỏi phảiđổi mới chương trình giáo dục phổ thông Nhân tố quyết định thắng lợi lànguồn lực con người Việt Nam trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao,cho nên trước hết phải chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớpngười lao động có những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu pháttriển đất nước trong giai đoạn mới Điều này cần được bắt đầu từ giáo dụcphổ thông
Năm 2003 - 2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã áp dụng thay sách giáokhoa lớp 2 trên toàn quốc ở chương trình tiểu học mới, phân môn kể chuyện
có mối quan hệ gắn bó với các phân môn khác như Tập đọc, Tập làm văn
Nó có sự gắn bó không chỉ ở sự phân bố giờ học mà còn ở nội dung dạy, thểhiện rõ quan điểm tích hợp trong việc xây dựng chương trình ở chương trìnhtiểu học mới, tạo ra một phong cách mới trong dạy học phân môn kể chuyện.Việc lấy văn bản ở bài Tập đọc làm ngữ liệu cho giờ kể chuyện, giúp giáoviên tiết kiệm được khá nhiều thời gian, giúp học sinh tìm hiểu truyện; ghinhớ cốt truyện Do đó, chương trình đã dành được nhiều thời gian cho việcrèn kỹ năng nói cho học sinh
Như chúng ta đã biết, việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh nhằmđáp ứng mục tiêu giáo dưỡng mà chương trình đề ra là một việc làm không
dễ dàng, đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và sự phối hợp chặt chẽ giữacác phân môn Kể chuyện không phải là phân môn duy nhất có nhiệm vụ rèn
kỹ năng nói Vì vậy chương trình Tiếng Việt tạo ra mối quan hệ giữa phânmôn kể chuyện với phân môn Tập đọc và Tập làm văn là một việc làm khoahọc
Kể chuyện là khả năng sử dụng ngôn ngữ ở dạng nói có tính nghệthuật Đây là một dạng đặc biệt của đối thoại
Trang 7Thực tế cho thấy kể chuyện có một sức hấp dẫn kỳ lạ, đặc biệt vớihọc sinh lứa tuổi tiểu học Sức hấp dẫn đó không hề giảm đi dù câu chuyện
đã được các em đọc trước nhiều lần Bởi lẽ khi kể một câu chuyện, người kểkhông trình bày nguyên văn một bản viết hay đọc lại văn bản đó, mà lúc nàyngười kể nhập vào một thế giới, khác với thế giới đang sống, đó là thế giớicủa câu chuyện Trong câu chuyện ấy, người kể lúc là người dẫn chuyện, lúclại là nhân vật này hoặc nhân vật khác Người kể thể hiện tâm trạng củanhững nhân vật khác nhau, khi thì vui sướng, hả hê, lúc lại buồn rầu, lo lắng Như vậy, kể chuyện thực sự mang tính tổng hợp Nó sử dụng các hiểubiết và kĩ năng dùng từ, đặt câu kĩ năng nghe, nói Tiếng việt, kĩ năng trình bàytrước công chúng Nói cách khác đó là khả năng vận dụng những hiểu biết vềngôn ngữ, lý thuyết sản sinh lời nói và sự hiểu biết về văn học vào việc kểchuyện
Như vậy là học sinh đã được rèn luyện một hoạt động kĩ năng kểchuyện, kĩ năng giao tiếp bằng lời của mình Hệ thống các kĩ năng kểchuyện cũng chính là hệ thống hoạt động sản sinh lời nói nhưng ở dạng kĩnăng sản sinh văn bản mới
Như vậy trên cơ sở hiểu biết về lý thuyết, lời nói, chúng ta có thể ứngdụng để hướng dẫn học sinh hình thành những kĩ năng kể chuyện, giúp các
em kể tốt hơn và cũng là rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt khúc triết,lưu loát, ứng xử nhanh nhẹn, thông minh
Một trong những lý do khiến trẻ rất thích giờ Kể chuyện là các emđược kể chuyện cho người khác nghe Các nhà nghiên cứu cũng cho thấyrằng: trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc giao lưu với bạn, san sẻ những thunhận mới lạ của mình Vì thế, kể lại cho cô, bố mẹ, ông bà nghe là mộtnhu cầu của học sinh tiểu học Để giúp các em thỏa mãn nhu cầu đó, ngoàiviệc vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ, lý thuyết sản sinh lời nói, giáoviên cần giúp học sinh vận dụng những hiểu biết về văn học, vận dụng nănglực cảm thụ văn học để lựa chọn cho mình giọng kể phù hợp Ví dụ các emnhận biết được trong câu chuyện đâu là lời thoại, đâu là lời dẫn chuyện, các
em sẽ có giọng kể khác nhau Hay nếu các em cảm thụ tốt, hiểu được tâmtrạng của các nhân vật, tính cách, hoàn cảnh của họ thì các em sẽ tìm đượcgiọng điệu thích hợp với từng tâm trạng, từng tích cách mà có khi người lớnkhó có thể hình dung được
Như vậy, trong giờ kể chuyện, hầu như học sinh được phát huy tối đakhả năng nói của mình Ngoài ra, để hình thành kỹ năng kể chuyện cho họcsinh còn phụ thuộc vào phương pháp, hình thức tổ chức của giáo viên Phânmôn kể chuyện của chương trình tiểu học mới đã rất tiến bộ khi đưa vàonhững phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp cho việc rèn luyện kĩ năngnói của học sinh Chẳng hạn về phương pháp: có phương pháp kể chuyện
Trang 8bằng tranh, phương pháp đàm thoại, phương pháp nhập vai, phân vai Về hình thức tổ chức: hình thức lớp - bài, hình thức học theo nhóm trong đóhình thức học theo nhóm là chủ yếu Hình thức học này giúp học sinh bìnhtĩnh, tự tin hơn và mạnh dạn nói ra ý kiến của mình ở đây, học sinh đượctham gia nói nhiều hơn, được phát huy khả năng nói của mình.
Phần III: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh qua phân môn kể chuyện lớp 2, chương trình mới
Trong cấu trúc SGK Tiếng Việt lớp 2, các câu chuyện được phân bốnhư sau:
Thể loại truyện Số lượngTên truyện
Bà cháuTìm ngọcÔng Mạnh thắng Thần Gió
Trang 9Thể loại truyện Số lượngTên truyện
Những quả đào
Bạn của Nai nhỏChim Sơn ca và bông cúc trắngBác sĩ Sói
1 Rèn luyện kĩ năng nói qua phương pháp, hình thức tổ chức dạy học:
Theo luật giáo dục về yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục tiểu học thì: phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động của từng học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, mônhọc, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho họcsinh
Đổi mới phương pháp dạy học là một khâu quan trọng không thểthiếu được trong quá trình giáo dục Đổi mới phương pháp dạy học được thểhiện đậm nét trong chương trình mới ở chỗ:
Chương trình tiểu học mới tập trung vào cách dạy học, đặc biệt là giúphọc sinh biết cách học và có nhu cầu tự học, khuyến khích dạy học cá nhân vàdạy h ọc hợp tác để phát triển năng lực theo tốc độ học, khả năng của từng họcsinh
Là một phân môn nằm trong chương trình tiểu học mới, phân môn kểchuyện lớp 2 cũng được dạy theo phương pháp mới Trong giờ kể chuyện,giáo viên chỉ nêu đầu bài, yêu cầu và mục đích của tiết kể chuyện Học sinh
tự kể (cá nhân) hoặc nhóm theo các yêu cầu đó Giáo viên chỉ là người đạodiễn, hướng dẫn, chỉ đạo, còn học sinh là diễn viên, là người thực hiện, chủđạo trong tiết kể chuyện đó Giáo viên chỉ kể mẫu một lần, thậm chí giáoviên không cần kể mẫu, mà gọi một học sinh khá kể mẫu, cho học sinh xungphong kể mẫu Còn lại các học sinh khác lần lượt kể theo đoạn và cả câuchuyện bằng nhiều hình thức khác nhau Trong khi học sinh kể, chỗ nào các
em quên, lúng túng thì giáo viên nhắc một cách khéo léo, tế nhị hoặc mờimột học sinh khác nhắc giúp bạn học Như vậy, trong giờ dạy học kểchuyện, học sinh sẽ phát huy được khả năng nghe nói của mình một cách tối
đa Hơn nữa giáo viên lại sử dụng các phương tiện dạy học như tranh ảnh,một số dụng cụ thật với hình thức kể chuyện sắm vai, làm cho giờ học kểchuyện thực sự sôi nổi, hấp dẫn
Hình thức dạy học cũng được đổi mới: giáo viên có thể tổ chức dạyhọc theo lớp, theo nhóm Trước kia giáo viên chỉ dạy theo lớp là chủ yếu,học sinh ít được học theo nhóm Học theo hình thức mới này sẽ giúp cho họcsinh phát triển kĩ năng nói trước lớp, trước đám đông
Trang 10Ví dụ bài: Con chó nhà hàng xóm (Tiếng Việt 2 - tập 1 trang 128)yêu cầu dựa vào tranh kể lại từng đoạn câu chuyện đã học Với tiết kểchuyện này, giáo viên cho học sinh làm việc theo nhóm Giáo viên cho họcsinh quan sát tranh 1, sau đó đặt câu hỏi gợi ý:
Sau khi quan sát tranh 1, nghe giáo viên đặt câu hỏi, học sinh phải huy độngnhiều thao tác: nghe để nhớ câu hỏi, hiểu câu hỏi rồi các em vừa quan sáttranh vừa nhớ lại nội dung câu chuyện đã được học để xác định nội dung câutrả lời Cuối cùng các em phải trình bày được câu trả lời của mình dưới hìnhthức nói Như vậy, để trả lời được câu hỏi, học sinh phải sử dụng nhiều thaotác bộ phận của kĩ năng nói: nghe-nhớ, nghe-hiểu, xác định nội dung câu trảlời, nói Đó là từng hoạt động của từng học sinh, mỗi học sinh trong nhómthảo luận với nhau để tìm ra câu trả lời chính xác
Sau khi học sinh đã nhớ lại được đoạn 1 của câu chuyện, giáo viên cho họcsinh kể Đây là lúc các em bước đầu rèn luyện kĩ năng nói nhưng mới chỉ ởdạng độc thoại Lời kể của các em diễn ra liên tục, do đó các em ít có thờigian để ngừng nghỉ, chuẩn bị Chính vì vậy đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị
kĩ càng nội dung kể, tâm thế kể chuyện (thậm chí cả ngôn từ và các yếu tốphụ trợ) Khi kể chuyện, ngoài việc tự nghe mình kể, các em còn phải lưu ýquan sát những phản ứng từ người nghe, để có sự điều chỉnh phù hợp về nộidung, giọng kể, điệu bộ
Những học sinh khác, khi bạn kể chú ý nghe để nhận xét lời kể của bạn vềnội dung, về cách diễn đạt, cách thể hiện để bạn rút được kinh nghiệm vàchính bản thân các em cũng được bổ trợ những kinh nghiệm đó để điềuchỉnh mình khi kể
Qua đây, ta thấy: rõ ràng phương pháp kể chuyện mới này đã có những tiến
bộ rõ rệt: trong tiết học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn chỉ đạo còn họcsinh mới thực sự là người làm cho tiết học sôi nổi, hấp dẫn hơn Bởi trongtiết kể chuyện, hoạt động của học sinh chiếm 2/3 tiết học Như vậy có nghĩa
là học sinh được chủ động trong việc nghe nói, đẩy ngôn ngữ nói của các emlên một mức cao hơn
2 Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện theo tranh:
a Thế nào là kể chuyện theo tranh?
Chúng ta cần phân biệt kể chuyện theo tranh và sử dụng tranh minhhoạ cho truyện Tranh ảnh là đồ dùng trực quan có thể được sử dụng trongbất kì một môn học nào Nhưng các môn học khác, sử dụng tranh khi giớithiệu khái niệm hoặc nhằm minh hoạ cho khái niệm, nhưng ở tiết dạy kểchuyện của chương trình cải cách giáo dục, giáo viên sử dụng tranh vẽ đểminh hoạ cho nội dung truyện, làm cho lời kể mẫu của mình sinh động và
Trang 11hấp dẫn hơn Còn hình thức kể chuyện theo tranh của chương trình mới thìhoàn toàn khác Giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ tranh vẽ thể hiện nội dung,diễn biến của câu chuyện Học sinh dựa vào tranh vừa là phương tiện trợgiúp trí nhớ một cách đắc lực, vừa là công cụ làm cho việc thể hiện lại câuchuyện một cách sinh động và hấp dẫn Hình thức kể chuyện theo tranh làhình thức rất hay, phát huy được khả năng quan sát, óc tưởng tượng, đặc biệt
là phát huy khả năng nói (ngôn ngữ) ở các em
b Hướng dẫn kể chuyện theo tranh của sách giáo khoa và sách giáo viên:
* Trong sách giáo khoa:
Đa số các câu chuyện đều được kể theo tranh, mỗi bức tranh sẽ tương ứngvới nội dung của một đoạn truyện, thường thì mỗi câu chuyện có từ 3 đến 4đoạn nên có từ 3 đến 4 bức tranh minh hoạ Nhưng cũng có những truyện có
từ 5 đến 6 đoạn nên được minh hoạ bằng 5 đến 6 tranh, ví dụ như truyệnTìm ngọc (Tiếng việt 2-trang 140 tập 1)
Tranh sử dụng trong kể chuyện có hai loại: tranh kèm lời gợi ý (dùng trongnhững tuần đầu năm học) và tranh không kèm lời gợi ý (dùng trong nhữngtuần sau)
Trong việc áp dụng biện pháp này, giáo viên có thể sử dụng tranh trong sáchgiáo khoa hoặc vẽ tranh lớn treo trên bảng
+ Hướng dẫn đối với những truyện có tranh kèm theo lời gợi ý: Ví dụ truyện
“Có công mài sắt có ngày nên kim” (lớp 2-tập 1), sách giáo viên hướng dẫnnhư sau:
* Quy trình hướng dẫn:
- Cho học sinh quan sát từng tranh
- Giáo viên đặt câu hỏi gợi ý
- Cho từng học sinh kể
- Sau mỗi lần cho một học sinh kể, cho lớp nhận xét:
+ Về nội dung: Kể đã đủ ý chưa? Kể có đúng trình tự không?
+ Về cách diễn đạt: Nói đã thành câu chưa? Dùng từ có hợp không? Đã biết
kể bằng lời của mình chưa( mức độ cao)?
+ Về cách thể hiện: Kể có tự nhiên không? Đã biết phối hợp lời kể với điệu
bộ, nét mặt chưa? Giọng kể có thích hợp không?
* Kể theo tranh 1:
Câu hỏi gợi ý:
+ Cậu bé đang làm gì? Cậu đọc sách như thế nào?
+ Em hãy nhớ lại truyện đã đọc: Cậu bé tập viết như thế nào?
- Ví dụ về lời kể có sáng tạo: Ngày xưa có một cậu bé làm gì cũng chóngchán Cứ cầm đến quyển sách, đọc được vài ba dòng là cậu đã ngáp ngắnngáp dài, rồi gục đầu ngủ lúc nào không biết Lúc tập viết, cậu cũng chỉ nắnnót được mấy chữ đầu, rồi viết nguệch, viết ngoạc cho xong chuyện