Trước những thực trạng trên, để bảo vệ hợp lý tài nguyên rừng nói chung và một số loài cây bản địa nói riêng, để nâng cao hiệu quả bảo tồn một số loài cây bản địa tại mô hình trường Đại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG THÚY QUỲNH
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG MỘT SỐ LOÀI CÂY BẢN ĐỊA TẠI MÔ HÌNH KHOA LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khóa học : 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG THÚY QUỲNH
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG MỘT SỐ LOÀI CÂY BẢN ĐỊA TẠI MÔ HÌNH KHOA LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Quốc Hưng
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Quốc Hưng
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng năm 2019
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên
PGS.TS Trần Quốc Hưng Hoàng Thúy Quỳnh
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của hội đồng chấm
Khóa luận tốt nghiệp
(Ký, họ và tên)
Trang 4thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng một số loài cây bản địa tại mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực tập tốt nghiệp của em đã hoàn thành
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn chúng em
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Quốc Hưng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn nhà trường và khoa Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp
em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Hoàng Thúy Quỳnh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của 5 loài cây bản địa trong mô hình vườn cây bản địa 29 Bảng 4.2: Sinh trưởng đường kính của 5 loài cây bản địa trong mô hình vườn
cây bản địa 32 Bảng 4.3: Sinh trưởng về chiều cao của 5 loài cây bản địa trong mô hình 38 Bảng 4.4: Tình hình sâu bệnh của 5 loài cây bản địa 44
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Cây Nghiến 18
Hình 2.2: Cây Ngọc am 19
Hình 2.3: Lim xanh 21
Hình 2.4: Cây Thông tre 22
Hình 2.5: Cây Giổi xanh 23
Hình 4.1: Đo đường kính gốc cây 31
Hình 4.2: Kết quả đường kính D(00) của 5 loài cây bản địa 33
Hình 4.3: Đo chiều cao Hvn 37
Hình 4.4: Kết quả sinh trưởng về chiều cao của 5 loài cây bản địa 39
Hình 4.5: Sâu ăn lá trên Thông tre 43
Hình 4.6: Sâu ăn lá trên Nghiến 43
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 8
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 16
2.3.1 Đất đai 17
2.3.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 17
2.4 Khái quát chung về đặc điểm sinh thái của các loài cây nghiên cứu: 18
2.4.1 Nghiến (Burretiodendron hsienmu) 18
2.4.2 Ngọc am (Cupressus funebris) 19
2.4.3 Lim xanh (Erythrophleum fordii) 20
2.4.4 Thông tre (Podocarpus neriifolius) 22
Trang 92.4.5 Giổi xanh (Michelia meduocris dandy) 23
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp chăm sóc 25
3.4.2 Nghiên cứu sinh trưởng 25
3.4.3 Xử lý số liệu 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Đánh giá tình hình sinh trưởng của 5 loài cây bản địa trồng trong mô hình vườn cây bản địa tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 29
4.1.1 Kết quả tỷ lệ sống của 5 loài cây nghiên cứu 29
4.1.2 Kết quả sinh trưởng đường kính của 5 loài cây bản địa trong mô hình vườn cây bản địa 31
4.1.3 Kết quả đặc điểm sinh trưởng chiều cao của 5 loài cây bản địa trong mô hình vườn cây bản địa 37
4.2 Đánh giá tình hình sâu bệnh hại 43
4.3 Hoàn thiện các bước trong xây dựng mô hình vườn cây bản địa tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 45
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích phát triển mô hình vườn cây bản địa 48
4.4.1 Về kỹ thuật 48
4.4.2 Về nguồn lực 49
Trang 10PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Tồn tại 51
5.3 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá đối với nước ta Ngoài việc đem lại giá trị về gỗ và lâm sản ngoài gỗ, rừng còn là yếu tố địa lý không thể thiếu trong tự nhiên giúp điều hòa khí hậu bảo vệ đất đai chống sói mòn Chính vì vậy rừng không chỉ có chức năng kinh tế - xã hội, mà rừng còn mang giá trị sinh thái cảnh quan, bảo vệ môi trường, du lịch, bảo tồn,…
Mặc dù thời gian đã có những nỗ lực không ngừng của các cấp các ngành trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng nhưng nhìn chung kết quả đạt được chưa toàn diện, thiếu vững chắc Tình trạng phá rừng khai thác và sử dụng đất lâm nghiệp trái phép vẫn diễn ra ở nhiều nơi ,đặc biệt ở các địa phương còn nhiều rừng tự nhiên Nhiều băng nhóm phá rừng chuyên nghiệp ,đường dây buôn bán lâm sản chưa dược theo dõi ,phát hiện và bắt giữ kịp thời.Nhiều điểm nóng về phá rừng nghiêm trọng kéo dài chưa được giả quyết triệt để Theo Tổng cục Lâm Nghiệp (Bộ NN&PTNT) chỉ hơn 5 năm (2012-2017), diện tích rừng tự nhiên bị mất do chuyển mục đích sử dụng rừng tại các dự án được duyệt chiếm 89% tổng diện tích rừng giảm; còn lại là do phá rừng trái pháp luật làm mất 11%
Vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Nhà nước đã có nhiều chương trình xúc tiến đẩy mạnh quá trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và trồng rừng kinh tế với hiệu quả ban đầu tương đối khả quan Nhưng do chạy theo xu thế phát triển kinh tế, vốn đầu tư còn hạn chế nên các chương trình trồng rừng ở nước ta mới chỉ tập trung vào các loài cây mọc nhanh như: Keo, Bạch đàn, Bồ đề,.v.v những loài cây này mới chỉ đáp ứng được mục tiêu kinh tế là chính, tính bền vững chưa cao
Trang 12Trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp, nghành Lâm nghiệp đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa đang ngày càng bị thu hẹp lại về cả diện tích cũng như số loài do những hiểu biết về chúng ngày càng nhiều những lợi ích to lớn mà các loài cây bản địa mang lại, không chỉ đơn thuần là cung cấp lâm đặc sản mà chúng còn là những loài cây "của tự nhiên", có sự phát sinh và tiến hoá trong thời gian dài nên có khả năng thích nghi cao với điều kiện nơi mọc và có tính bền vững cao, "thân thiện với môi trường sinh thái"
Ngoài ra, chúng mang những ý nghĩa nhân văn to lớn trong đời sống của các cộng đồng dân cư sống gần rừng, gắn liền với kiến thức bản địa và phong tục tập quán của họ, do vậy việc đem gây trồng chúng cũng sẽ có nhiều phần lợi hơn Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tiến hành gây trồng mô hình trồng một số loài cây bản địa , Theo đánh giá ban đầu, các mô hình này đã đạt được những thành công nhất định Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu định lượng cụ thể nào nhằm đánh giá tình hình sinh trưởng của các loài cây bản địa này mà mới chỉ
có điều tra sơ bộ để đánh giá và chọn ra một số loài có triển vọng tại khu rừng trồng Trước những thực trạng trên, để bảo vệ hợp lý tài nguyên rừng nói chung và một số loài cây bản địa nói riêng, để nâng cao hiệu quả bảo tồn một số loài cây bản địa tại mô hình trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên,
việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng một số loài cây bản địa tại
mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” là
thực sự cần thiết để đưa ra những đánh giá, giải pháp phù hợp trong việc phát triển, bảo vệ các loài cây bản địa hiệu quả
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của 5 loài cây bản địa (Nghiến, Giổi, Thông tre, Ngọc am, Lim xanh) trồng trong mô hình vườn cây bản địa tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại tới 5 loài cây bản địa trong mô hình nghiên cứu
- Nghiên cứu xây dựng và tạo ra mô hình rừng cây bản địa, nhằm mục
đích tạo cảnh quan sinh thái và vườn thực vật cây bản địa, tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật trồng các loài cây bản địa trong việc nhân rộng địa bàn trồng của vườn thực vật đến nhiều nơi khác nữa
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập
- Giúp củng cố lại kiến thức đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những
lý thuyết đã học trong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành
- Tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong việc nghiên cứu xây dựng và tạo ra mô hình rừng cây bản địa Đây là những kiến thức rất cần cho quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc sau này
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu góp phần lựa chọn được một vài loài cây như: Nghiến, Giổi, Thông tre, Ngọc am, Lim xanh tốt nhất để đưa vào mô hình tạo cảnh quan sinh thái và vườn thực vật cây bản địa cho trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá sinh trưởng cây rừng nói chung và đánh giá sinh trưởng các loài cây bản địa nói riêng là nội dung rất quan trọng, cần thiết trong việc gây trồng ở địa điểm mới, nhằm đưa ra được kết quả chúng có phù hợp với khu vực để đưa các loài cây này vào công tác xây dựng vườn thực vật và đồng thời mở rộng diện tích và cả quy mô
- Vườn thực vật chuyển vị nơi chứa đựng rất nhiều loài cây quý hiếm và
có tên trong các danh lục đỏ hay nghị định đang đứng trên bờ vực nguy hiểm, với mục đích bảo tồn về nguồn gen và xây dựng nơi nghiên cứu khoa học cho mọi người thì việc xây dựng vườn thực vật rất cần thiết với thực trạng hiện nay
- Khái niệm về biển pháp chuyển vị: Là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu quả trong bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học Biện pháp bảo tồn ngoại vi là chuyển dời và bảo tồn các loài hoặc các nguyên liệu sinh học của chúng trong môi trường mới không phải là nơi cư trú tự nhiên vốn có của chúng Bảo tồn ngoại vi bao gồm bảo quản giống, loài, nuôi cấy
mô, thu thập các cây để trồng và các loài động vật để nuôi nhằm duy trì vốn gen quý hiếm cho sự nghiên cứu khoa học, nâng cao dân trí và giáo dục lòng yêu thiên nhiên cho mọi tầng lớp nhân dân
- Trên cơ sở đang xây dựng 1 vườn thực vật trong mô hình khoa Lâm nghiệp giống như hình thành 1 tế bào nhỏ và sẽ nuôi tế bào ấy lớn mạnh theo thời gian để các loài cây bản địa luôn được giữ và bảo tồn Đó cũng là 1 trong những mục tiêu để phát triển rừng một cách bền vững
Trang 152.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Do trồng rừng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu nhằm tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằng nhiều loài cây khác nhau trong đó đa số là sử dụng cây bản địa Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm và trồng rừng hỗn loài thành công bằng loài cây này Sau đây là một số công trình nghiên cứu điển hình:
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
*Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa:
Đứng trước những yếu tố đó nên con người đã xây dựng nên các vườn thực vật nhằm giải quyết vấn đề về sự suy giảm số lượng lớn các loài thực vật nói chung và các loài thực vật quý hiếm nói riêng, bên cạnh đó kết hợp tham quan giải trí và lồng ghép giáo dục về thiên nhiên thay đổi nhận thức và là cơ sở cho con người học tập, nghiên cứu
Tại Malaysia, năm 1999 trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên,
rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 – 15 tuổi và 2 – 3 tuổi
Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30m trong rừng tự nhiên, trên mỗi băng người ta có thể trồng 6 hàng cây bản địa
và trồng 14 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo tai tượng Thí nghiệm đối với rừng Keo tai tượng dự án chia thành 2 khu:
Khu chặt theo băng:
Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa;
Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa;
Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa;
Khu chặt theo hàng:
Chặt 1 hàng Keo trồng 1 hàng cây bản địa;
Chặt 2 hàng Keo trồng 2 hàng cây bản địa;
Trang 16Chặt 4 hàng Keo trồng 4 hàng cây bản địa;…
Kết quả cho thấy, trong các loài cây bản địa được trồng trong các băng
có 3 loài cây gồm: Shorea roxburrghii; S.ovalis; S.leprosula có khả năng sinh
trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất Tỷ lệ sống giữa các công thức khôngkhác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng trong băng 10m và băng 40m tốt hơn băng 20m Kết quả thí nghiệm trồng theo hàng đã chỉ ra rằng trồng 1 hàng cho tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng chiều cao cao hơn nơi trồng từ 2 – 4 hàng Về khả năng sinh trưởng đường kính lại tốt ở công thức trồng 6 hàng và 16hàng Dự án cònvạch ra kế hoạch điều chỉnh các công thức
trồng tại những thời điểm 2, 8, 12, 18, 28, 34, 41, 47 năm sau khi trồng (dẫn
theo Lê Minh Cường, 2007) [5]
Tại Đan Mạch, thông qua nghiên cứu sinh trưởng của Jensen (1983)
cho thấy rằng Vân sam (Abies) trồng hỗn giao với Linh sam bạc (Abies alba)
có sản lượng cao hơn chính nó trồng thuần loài Tương tự, Bulô hỗn giao với Thông tốt hơn Bulô thuần loài Hỗn giao giữa Betula pendula với Abies theo
tỷ lệ 25-50% đã làm tăng sản lượng của Abies ở tất cả các tuổi (dẫn theo
Nguyễn Đức Thế, 2007) [16]
Tại Costa Rica, ba kiểu rừng trồng, mỗi kiểu rừng trồng là hỗn giao của 4 loài cây bản địa chịu bóng khác nhau trong vùng đất thấp ẩm ướt cho thấy từ 2 - 4 6 năm tuổi, đường kính ngang ngực trong các quần thụ hỗn giao
lớn hơn trong các quần thụ thuần loài của những loài mọc nhanh (dẫn theo
Nguyễn Đức Thế, 2007) [16]
Một nghiên cứu khác tại Costa Rica, Haggar.J và J.Ewel (1995) đã
trồng hai loài cây Hyeronima alchorneoides và Cordia alliodora ở vùng đất
thấp theo hai phương thức khác nhau là thuần loài và hỗn loài Các tác giả đã nhận định rằng cả hai loài trồng hỗn giao với nhau đều sinh trưởng tốt hơn trồng thuần loài Hơn nữa, hai loài cây này trồng phối hợp với nhau khá thích
Trang 17hợp Bởi vì, sự phân bố của hệ thống rễ cũng như tán lá ở các vị trí khác nhau trong không gian tạo nên sự phối hợp hỗ trợ lẫn nhau nhiều hơn là cạnh tranh không gian dinh dưỡng Cũng hai tác giả này, khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của loài Cordia alliodora trong rừng hỗn loài ở Costa Rica thì thấy loài này sinh trưởng nhanh hơn so với các quần thụ thuần loài (7,9m
trong hỗn giao và 4,9m trong thuần loài ở giai đoạn 2 năm tuổi) (dẫn theo
cây trong trong lâm phần (Dẫn theo Hoàng Văn Thắng, 2007) [14]
Điều này cho thấy, để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựa vào khả năng sinh trưởng cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp Đây là cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừng trồng hỗn loài
*Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây lá kim với cây bản địa
lá rộng
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây lá kim phục vụ cho công tác trồng rừng như ở Anh, Pháp, Úc, Canada, Đan Mạch… Đa số các công trình tập trung chủ yếu là nghiên cứu các quy luật phân bố, quy lụât tăng trưởng, cấu trúc, đặc tính cơ lý gỗ, một số tính chất lý hoá học đất, tính chất hoá học của nhựa…Về trồng rừng hỗn loài giữa cây lá kim và cây lá rộng bản địa đã có một số nước nghiên cứu về vấn đề này song chưa nhiều
Trang 18Nghiên cứu trồng cây lá kim hỗn giao với cây bản địa điển hình là ở Đài Loan và một số nước Châu Á Sau khi trồng phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán Kết quả cho thấy đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về cây bản địa và trồng rừng hỗn loài trên thế giới tuy chưa nhiều, song với những thông tin thu thập được về cách lợi dụng độ tàn che tầng cây cao, cách sử dụng cây phù trợ và các phương thức bố trí loài cây trong các mô hình thí nghiệm và với những thông tin về tiểu hoàn cảnh rừng … là những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm
có giá trị
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa:
Rất nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu thử nghiệm các phương pháp trồng cây và chăm sóc khác nhau nhằm mang lại hiệu quả tốt trong trồng rừng nhất
Việt Nam là 1 quốc gia được đánh giá rất cao về tính đa dạng loài cả trong khu vực cũng như trên Thế Giới Nhất là hệ thực vật với khí hậu nhiệt đới mưa ẩm đã tạo giúp cho Việt Nam có những khu rừng rộng lớn với nhiều loài, nhưng do nhu cầu đáp ứng cuộc sống của chính chúng ta mà dẫn đến suy thoái sự đa dạng này Chính vì vậy, Nhà nước đã có nhiều chương trình
dự án hỗ trợ để xây dựng các vườn hỗn loài, khu bảo tồn nhằm bảo vệ được tính đa dạng nguồn gen của những loài cây bản địa vừa phục vụ mục đích học tập và nghiên cứu khoa học
Trong giai đoạn 1930-1980 có rất ít các công trình nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài và nghiên cứu chọn loài cây trồng cũng chỉ tập trung cho một
số loài cây thuộc họ Dầu Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng
Trang 19hỗn loài bằng các loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả số lượng loài cây và diện tích rừng trồng Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa chọn để nghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả nước Các loài cây lá rộng bản địa được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế cao
Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây nguyên và Nam
bộ như: Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia oliveri), Căm xe (Xylia xylocarpa), Tếch (Tectona grandis) và được trồng chủ yếu tại các
trạm thực nghiệm Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, Lang Lanh và Măng Linh tỉnh Lâm Đồng, Ekmat tỉnh Đắc Lắc, Tân Tạo Thành Phố Hồ Chí Minh Ở miền Bắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài là Lim xanh
(Erythurophleum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinnensis), Giổi xanh (Mechelia mediocris), Re gừng (Cinamomum ilcidioides), Mỡ (Manglietia
conifera), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Ràng
ràng mít (Ormosia balansae), Xoan đào (Prunus arborea), Vạng trứng (Endospermum chinense)
Trần Ngũ Phương (2000) [12], cũng đã nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng rừng hỗn loài tạo ra rừng nhiều tầng tán nhằm mục đích cho phòng hộ và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau nhờ hỗn loài giữa cây cao với cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao Căn cứ kết quả của các công trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu ở rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam, tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều phân thành nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm tươi Dựa trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô hình hỗn loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng
và rừng sản xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng
Trang 20Năm 1962, các nhà lâm học Học viện Nông lâm đã tiến hành thí
nghiệm trồng rừng hỗn loài, lấy cây Mỡ (Manglietia glauca) làm đối tượng
chính của rừng hỗn loài và dùng các loài cây bạn theo từng cặp: Mỡ
(Manglietia glauca) + Lim Xanh (Erythrophloeum); Mỡ (Manglietia glauca) + Xà cừ (Khay senegalensis), Mỡ (Manglietia glauca) + Tếch (Tectona
grandis) Mỗi loài trồng 1 hàng, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 2m, kết
quả cho thấy Xà cừ và Tếch không thích hợp với phương thức trồng này nên tốc độ sinh trưởng chậm và bị các loài cây khác cạnh tranh, cuối cùng chỉ còn
Mỡ thuần loài Đối với Lim xanh, 2 năm đầu sinh trưởng kém, nhưng giai đoạn tiếp theo Lim xanh phát triển chiều cao nhanh hơn, đến tuổi 10 – 12 Lim xanh đã vươn lên cùng tầng với Mỡ Trần Nguyên Giảng đã nhận xét rằng Lim xanh có khả năng trồng hỗn loài với Mỡ nhưng chưa tìm được tỷ lệ thích hợp Xét về mặt cải thiện đất, cây Lim xanh có thể là cây cải tạo đất khá tốt, nhưng Xà cừ và Tếch thể hiện tác dụng này chưa rõ
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) [7], Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải (1996) [11], đã xây dựng 20 khu nghiên cứu định vị ở Tây Nguyên dưới các dạng thảm thực vật có cấu trúc khác nhau Đây là những công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về xói mòn đất rừng ở nước ta, đặc biệt là đã làm rõ vai trò phòng hộ chống xói mòn và điều tiết nước của rừng Các nghiên cứu của Võ Đại Hải cho thấy khi giảm độ tàn che từ 0,7 - 0,8 xuống mức 0,3 - 0,4 thì dòng chảy mặt tăng 30,4% đối với rừng tự nhiên và 33,8% đối với rừng Le Khi độ dốc tăng lên thì thì lượng dòng chảy cũng tăng lên Chẳng hạn khi độ dốc tăng lên 2 lần thì lượng dòng chảy mặt tăng lên 58,1%
Từ năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng bằng các loài cây bản địa
lá rộng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Nổi bật là công trình nghiên cứu phục hồi rừng vùng Sông Hiếu thông qua việc xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một số loài cây khác của Nguyễn Bá Chất (1994)[3]
Trang 21Tác giả đã trồng hỗn loài Lát hoa (Chukrasia tabularis) với một số loài cây lá rộng bản địa như: Lim xẹt (Peltophorum tonkinense), Giổi xanh (Michelia
mediocris), Thôi chanh (Alangium barbatum), Lõi thọ (Gmelina Arborea),
Ràng ràng (Orosia Pinnata) nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý Mô
hình này được theo dõi đến năm thứ 10 kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nhận thấy việc chọn loài phối hợp với Lát hoa đang còn khoảng trống cơ sở lý luận và thực tiễn Thí nghiệm trồng hỗn
giao Lát hoa với các loài Trai (Garcinia fagraeo), Nghiến (Burretiodendron
13 tonkinense), Bứa (Garcinia oblongifolia)… ở tuổi 5 chưa thấy có ảnh
hưởng đến sinh trưởng của Lát hoa [3]
Khi đánh giá một số mô hình trồng rừng hỗn loài giữa cây bản địa với Keo tai tượng ở các tỉnh phía Bắc, Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2005) [15]
đã có nhận xét rằng hầu hết cây trồng chính trong các mô hình rừng hỗn loài đều đã và đang bị cây phù trợ (Keo tai tượng) lấn át mạnh Nhưng đối với mô hình trồng rừng hỗn loài trong nghiên cứu đã điều chỉnh được cây phù trợ kịp thời nên bước đầu đã tạo điều kiện cho cây trồng chính sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao từ 80 – 93% Tỷ lệ sống chung cho cả lâm phần đạt trên 90% Tác giả còn đề xuất được 2 mô hình có triển vọng nhất đó là mô hình trồng hỗn loài với thảm che Keo tai tượng 7 tuổi ở Ngọc Lặc - Thanh hóa và mô hình trồn hỗn loài với cây phù trợ Keo tai tượng trồng trước 1 năm ở Cầu Hai – Phú Thọ
Khi nghiên cứu trồng rừng hỗn loài giữa các loài cây lá rộng bản địa với cây ngoại nhập (Eucalyptus urophylla) ở Đoan Hùng – Phú Thọ, Nguyễn
Đức Thế (2007)[16] đã cho thấy cây Giổi xanh (Michelia mediocris) trồng xen với Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) có khả năng sinh trưởng cao gấp
1,5 lần so với trồng thuần loài
Trang 22Ngoài các công trình nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng còn có một số công trình nghiên cứu tạo ra rừng hỗn loài giữa cây lá kim với cây lá rộng, giữa các loài cây ngoại nhập với nhau Điển hình là công trình nghiên cứu của Phùng Ngọc Lan (1986)[10] đã cho thấy rừng hỗn loài ở Núi Luốt (Trường Đại học Lâm
nghiệp – Xuân Mai) giữa Thông đuôi ngựa với Keo lá tràm (Acacia
auriculiformis) và Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) theo các tỷ lệ,
mật độ, phương thức, thời điểm khác nhau Kết quả cho thấy sau 2 năm sinh trưởng của Thông trồng hỗn loài tốt hơn so với Thông trồng thuần loài Tỷ lệ hỗn giao chưa có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của Thông trên các công thức thí nghiệm Đất dưới tán rừng được cải thiện tốt hơn, giun đất phát triển nhiều hơn so với nơi trồng thuần loài Điều này chứng tỏ đất dước các mô hình trồng rừng hỗn loài thì các tính chất của đất đã được cải thiện rõ rệt Với thí nghiệm trên sau 2 năm, kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng chiều cao của Thông trồng thuần loài đạt 2,53m trong khi đó chiều cao Thông được trồng hỗn loài với Keo theo tỷ lệ 1:1 là 2,8m và tỷ lệ 1:2 là 2,72m Sinh trưởng đường kính của Thông trồng hỗn loài với Keo theo tỷ lệ 2:1 cũng lớn hơn và nhanh hơn
* Các nghiên cứu về trồng cây bản địa:
Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả đi sau nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài cây bản địa ở Việt Nam
Nguyễn Minh Đức (1998) [6] nghiên cứu sinh trưởng loài Lim xanh tại vườn quốc gia Bến En – Thanh Hóa đã nhận xét: sự thay đổi cường độ ánh sáng dẫn tới sự thay đổi nhiệt độ từ đó làm thay đổi ẩm độ dưới tán rừng và điều này có ảnh hưởng đến sinh trưởng 12 của cây rừng đặc biệt là cây tái sinh [10]
Trang 23Lê Anh Tuấn (1999) [18] đã nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng và sinh trưởng của một số loài cây bản địa trồng thử nghiệm tại Vườn thực vật - Vườn Quốc gia Cúc Phương” Kết quả tìm ra một số loài có sinh trưởng nhanh như Tai Chua, Chò đãi, Trầm hương
Phạm Xuân Hoàn (2002) [8] đã đề xuất 10 loài cây bản địa gồm: Gội
trắng (Aphanamixis grandifolia), Re hương (Cinnamomum iners), Nhội (Bischofia trifoliate), Trám (Cinnamomum sp), Sấu (Dracontomelon
duperreanum), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Lim xanh (Erythrophloeum),
Lim xẹt (Peltophorum tonkinense), Dẻ (Castanopsis) và Kim giao
(Podocarpus fleurgi) để trồng dưới tán các lâm phần Keo lá tràm (A auriculiformis) và Keo tai tượng (A mangium) ở Vườn quốc gia Cát Bà - Hải
Phòng theo phương thức trồng hỗn giao theo hàng Tác giả đã nhận thấy rằng dưới tán rừng Keo tai tượng các loài cây bản địa sinh trưởng kém hơn dưới tán rừng Keo lá tràm Tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trồng hỗn giao dưới tán Keo tai tượng đạt 79,1%, thậm chí loài Sấu chết hoàn toàn Trong khi đó,
ở dưới tán Keo lá tràm tỷ lệ sống đạt tới 95,3% Lượng tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân của cây bản địa dưới tán Keo lá tràm cũng cao hơn so với dưới tán rừng Keo tai tượng Ví dụ như Gội trắng có lượng tăng trưởng bình quân về đường kính gốc 0,61cm, tăng trưởng bình quân về chiều cao vút ngọn đạt 0,45m và tăng trưởng đường kính tán lá đạt 0,8 m Tác giả cho rằng tầng cây cao là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của các loài cây bản địa trồng dưới tán Hoàng Vũ Thơ (1998) cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố
sinh thái đến sinh trưởng của cây Lim xanh (Erythrophloeum) trồng dưới tán
rừng, kết quả cho thấy Lim xanh sinh trưởng tốt nhất ở độ tàn che tầng cây cao từ 0,1- 0,4
Trang 24Việt Nam là một nước đa dạng về hệ thực vật, song đó là sự khai thác các loài thực vật cũng rất lớn đã đẩy sự đa dạng của Việt Nam đang giảm dần, vì vậy nhà nước cũng đẩy mạnh việc xây dựng mới các vườn thực vật hoặc bổ sung mở rộng diện tích các vườn thực vật đã được xây dựng từ lâu như Thảo cầm viên xây dựng từ năm 1864, Thảo Cầm Viên có 1800 cây gỗ thuộc 260 loài, không những thực vật mà còn có cả động vật khoảng 26 loài với diện tích hiện nay khoảng 17 hecta Bên cạnh đó thì một số vườn thực vật được xây dựng ngay trong các khu bảo tồn vừa phục vụ bảo tồn lại vừa lồng ghép tham quan giải trí, giáo dục đem lại nguồn kinh tế ví dụ như vào năm
2012 vườn thực vật tại thôn Cà Đâng, xã Tà Bhinh diện tích xây dựng vườn thực vật này khoảng 50,3 ha trên khu đất nương rẫy trồng cây hàng năm Vườn thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng có diện tích trên 40ha
Cùng với đó chúng ta đã xây dựng các vườn thực vật ngay trong trường giúp học sinh-sinh viên có nơi học tập ngoài giờ lý thuyết khô khan, tất nhiên đồng thời vẫn có thể bảo tồn các loài thực vật như vào năm 2008 trường tiểu học Lương Thế Vinh (Thủ Đức) có diện tích khoảng 300m2 với hơn 100 các loại cây và các trường tiểu học khác gần vùng lân cận trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Dù trên thế giới hay trong nước thì sự cấp thiết của việc bảo tồn các loài thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng là việc cấp bách, bên cạnh đó ta có thể tạo nơi học tập nghiên cứu, tham quan giải trí cho mọi người với thực trạng hiện nay thì việc xây dựng thêm các vườn thực vật đảm bảo cho việc bảo tồn, tăng sự đa dạng sinh học, và hoàn toàn có thể thu được nguồn lợi từ các vườn thực vật như nguồn tri thức, kinh tế và rất nhiều giá trị vô vàn nữa
Các nghiên cứu về cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus
massoniana Lamb) Thực tế đã chứng minh rằng rừng trồng thuần loài, nhất là
rừng trồng một số loài Thông ở nước ta trong những năm qua rất kém bền
Trang 25vững, dịch sâu róm thông thường xuyên xuất hiện không những hạn chế sinh trưởng và khả năng cung cấp nhựa mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái khá rõ cụ thể như:
Từ năm 1937 sâu róm thông đã phá hoại mạnh trên nhiều diện tích trồng Thông thuộc dẫy núi Nham Biền (Yên Dũng - Bắc Giang) Tháng 8 -
1958 sâu róm thông phá hại nghiêm trọng ở Phú Nham, Phú Điền, Sơn Viện thuộc tỉnh Thanh Hoá, diện tích bị sâu ăn trụi lá Thông khoảng gần 100 ha Năm 1958 và 1959 ở Bắc Giang, sâu róm thông lại phát dịch đã gây hại 160
ha rừng Thông đuôi ngựa tại dãy núi Neo thuộc huyện Yên Dũng, sâu còn ăn
cả cây con mới đem trồng được 2 năm, làm thiệt hại khá nhiều cho công tác trồng rừng nơi đây Từ năm 1959 - 1960 ở Nghệ An đã phát sinh nạn dịch sâu róm thông rất lớn làm trụi 515 ha rừng Thông Không chỉ có sâu hại thông mà còn thường xảy ra các loại bệnh dịch nguy hiểm như: Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông… đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng ngàn ha rừng và sản xuất lâm nghiệp ở nước ta
Để khắc phục vấn đề này, gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu trồng một số loài cây bản địa dưới tán rừng Thông nhằm chuyển hóa rừng Thông thuần loài thành rừng hỗn loài, điển hình là một số công trình nghiên cứu sau đây:
Tại Núi Luốt – Đại học Lâm Nghiệp – Xuân Mai, Phạm Xuân Hoàn (2002)[8] đã nghiên cứu về cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông đuôi ngựa
và Keo lá tràm Hai loài cây này được sử dụng để tạo lập hoàn cảnh ban đầu
từ năm 1985, khi độ tàn che của rừng đạt 0,7 – 0,8 vào các năm 1990 – 1991 thì các loài cây bản địa được đưa vào trồng dưới tán rừng Tại khu thực nghiệm này, số loài cây bản địa được đưa vào trồng dưới tán rừng Keo và Thông là 165 loài khác nhau Dưới tán rừng Thông trồng gồm 27 loài, dưới tán rừng Keo trồng gồm 21 loài, số còn lại được trồng dưới tán rừng hỗn loài
Trang 26Thông – Keo lá tràm, Thông – Keo tai tượng và Bạch đàn…Kết quả sau 10 năm trồng cây bản địa dưới tán cho thấy tỷ lệ sống của cây bản địa dưới tán rừng Thông đạt 93,2% và dưới tán rừng Keo lá tràm đạt 91,2% Tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân của cây bản địa có sự phân hóa rõ rệt
ở các loài Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là một số loài cây thường được đánh giá là sinh trưởng chậm như Đinh thối, Re hương, Lim xanh, Sưa…nhưng ở giai đoạn chịu bóng dưới tán rừng Thông và Keo lại có tăng trưởng khá nhanh, cụ thể là: Re hương có ZDoo = 0,5cm, ZHvn = 0,5m, ZDt = 0,2m; Lim xanh có ZDoo = 0,5cm, ZHvn = 0,45m, ZDt = 0,15m Tác giả còn nhận xét khả năng sinh trưởng và phát triển các loài cây bản địa trên chịu sự chi phối, ảnh hưởng rất lớn của các nhân tố độ tàn che của tầng cây cao (giai đoạn chịu bóng…), cường độ ánh sáng, đất đai Cũng tại Trường Đại Học Lâm nghiệp - Xuân Mai đã xây dựng vườn thực vật với gần 300 loài cây bản
địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus massoniana), và Keo tai tượng (A mangium) Sau nhiều năm nghiên cứu đã tìm ra một số loài cây thích hợp trồng dưới tán rừng như: Đinh thối (Fernandoa brilletii), Máu chó (Knema
pierrei), Tai chua (Garcinia cowa), Re hương (Cinnamomun camphora)…
Ngoài ra, ở đây cũng đã xác định được một số loài không thích nghi trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ (dẫn theo Lê Minh Cường, 2007)[6] Nghiên cứu
về đặc điểm sinh lý, sinh thái của một số loài cây gỗ bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ và Keo lá tràm tại Núi Luốt – Trường Đại học Lâm Nghiệp - Xuân Mai
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Vườn thực vật được xây dựng trong mô hình khoa Lâm nghiệp trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Trang 27Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitic trên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ,
dễ bị xói mòn, rửa trôi
Nhóm đất Feralit: Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn
Đất khu vực vườn ươm là đất tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụng nhiều năm Đất là đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ pH của đất thấp, đất nghèo mùn Đất có độ màu mỡ thấp nên cây con sinh trưởng và phát triển mức trung bình, đôi khi có cây phát triển kém
2.3.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm nằm trong khu vực xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ các đặc điểm khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông Có 2 mùa chính: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Trang 282.4 Khái quát chung về đặc điểm sinh thái của các loài cây nghiên cứu:
2.4.1 Nghiến (Burretiodendron hsienmu)
2.4.1.1 Đặc điểm nhận biết
Cây gỗ lớn, cao 30 - 35m, đường kính
tới 80 - 90cm Cành non không có lông Lá
hình trứng rộng, cỡ 10 - 12 x 7 - 10cm; mép
nguyên; gân bên 5 - 7 đôi, trong đó có 3 gân
gốc; cuống lá dài 3 - 5cm Hoa đơn tính Hoa
đực có đường kính 1,5cm Đài hình chuông, ở
đầu xẻ 5 thuỳ sâu, dài 1,5cm Cánh hoa 5, dài
1,3cm Nhị khoảng 25, xếp thành 5 bó; chỉ nhị
dài 1 - 1,3cm; bao phấn hình bầu dục, dài 3
mm Quả khô hình 5 cạnh (giống quả Khế), tự
mở, đường kính 1,8cm
Hình 2.1: Cây Nghiến
2.4.1.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái
Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 8 - 10 Cây ưa sáng, mọc rải rác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi, ở độ cao dưới 800m, tái sinh bằng hạt, cây mạ và cây con gặp khá phổ biến dưới tán rừng
2.4.1.3 Phân bố địa lý
Trong nước: Sơn La (Thuận Châu, Sông Mã, Mộc Châu), Hà Giang, Tuyên Quang (Chiêm Hoá), Cao Bằng (Quảng Hoà, Trùng Khánh, Hạ Lang, Thạch An), Bắc Kạn (Chợ Đồn, Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Liên, Bắc Sơn), Quảng Ninh, Bắc Giang, Hoà Bình (Mai Châu, Pà Cò)
Thế giới: Trung Quốc
Trang 292.4.1.4 Giá trị
Gỗ quý, màu nâu đỏ, cứng, thớ thẳng, vân đẹp, ít co rút, dùng đóng thuyền, làm bệ máy và để xây dựng; cũng thường được dùng làm thớt, làm bệ các tượng mỹ nghệ cao cấp
2.4.2.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái
Cây Ngọc am thường được
trồng xung quanh các chùa chiền,
đền miếu hay trong các khu vực
vườn, đôi khi còn được trồng làm
cây cảnh tạo các khu vực ôn đới ấm
áp khác, đôi khi được dày bán làm
cây trông trong nhà tại các khu vực
lạnh giá hơn Hình 2.2: Cây Ngọc am
2.4.2.3 Phân bố địa lý
Tại Việt Nam, nó mọc rải rác tại các tỉnh Hà Giang và Lạng Sơn, trong các khu rừng nhiệt đới xanh và có mưa mùa ẩm, chủ yếu ở đai núi thấp trên
Trang 30núi đá vôi ở độ cao 400 - 1500m Ở Hà Giang gỗ Ngọc am thường mọc ở khu vực núi cao hiểm trở, có độ cao lên tới 1000m cách xa mực nước biển
2.4.2.4 Giá trị
Gỗ Ngọc am có nhiều tác dụng đối với sức khỏe của con người, tắm bằng gỗ ngọc am giúp cơ thế giải độc, lưu thông khí huyết, ngăn ngừa rôm sảy, giúp tinh thần tỉnh táo, mùi thơm từ gỗ Ngọc am xua đuổi côn trùng tạo mùi thơm dễ chịu đặc trưng nếu để trong phòng, theo quan niệm xưa, việc đặt gỗ Ngọc am trong nhà giúp xua đuổi tà ma, đón rước may mắn và tài lộc,
gỗ Ngọc am được sử dụng rất nhiều trong phật giáo như tạc tượng, làm tràng hạt, điêu khắc…
Tinh dầu Ngọc am có công dụng là chậm quá trình lão hóa nên nó cũng được dùng để cải thiện và hạn chế nám da Tinh dầu Ngọc am hòa vào nước tắm giúp da dẻ hồng hào, giúp cơ thể thoải mái, tinh dầu Ngọc am có thể bôi vào chỗ sưng do ngã, diệt khuẩn, khử mùi, xua đuổi côn trùng, giúp tinh thần sảng khoái
2.4.3 Lim xanh (Erythrophleum fordii)
2.4.3.1 Đặc điểm hình thái
Cây gỗ lớn, cao 37 - 45m, đường kính có khi tới 2 - 2,5m, thường xanh Gốc có bạnh vè, thân tròn, phân cành nhánh lớn, tán lá hình ô, dày, rộng Vỏ màu nâu, bong vảy lớn, khi non có nhiều bì khổng, cây mọc lẻ thường phân cành thấp, cành non màu xanh lục Lá kép lông chim 2 lần với 3 - 5 đôi cuống thứ cấp và mỗi cuống mang 9 - 15 lá chét hình trái xoan, đầu nhọn, gốc tròn dài 4,5 - 6cm, rộng 3 - 3,5cm, hai mặt nhẵn bóng Gân lá nổi rõ ở cả hai mặt
Trang 31Hoa tự kép hình bông, dài 20 -
30cm, hoa nhỏ, màu hoa trắng xanh, hoa
lưỡng tính gần đều, đài 5 cánh hợp hình
chuông, tràng màu xanh vàng 5 cánh hẹp
và dài, nhị 10, chỉ nhị rời, bầu phủ nhiều
lông Quả đậu hình trái xoăn thôn dài, dài
20 - 25 cm, rộng 3,5 - 4 cm Hạt dẹt màu
nâu đen, xếp lập lên nhau, vỏ hạt cứng,
dây rốn dày và to gần bằng hạt Hình 2.3: Lim xanh
2.4.3.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái
Cây mọc chậm, tốc độ thay đổi theo từng giai đoạn tuổi và vùng phân
bố Tăng trưởng trung bình 10 năm đầu 0,5 – 0,7m về chiều cao và 0,5 – 0,7cm về đường kính trong 1 năm, sau đó có thể mọc nhanh hơn
Mùa ra hoa tháng 3 - 5, quả chín tháng 10 - 11 Cây ưa sáng nhưng khi còn nhỏ chịu bóng Mọc tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới mưa mùa nơi có nhiệt độ trung bình năm 22,4 - 24,10C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 42,30C, thấp nhất tuyệt đối -1,40C Lượng mưa trung bình hàng năm 1500 - 2859 mm Năm có 3 - 9 tháng khô
2.4.3.3 Phân bố địa lý
Là cây đặc hữu của Việt Nam, phân bố ở đai thấp vùng có lượng mưa
1500 - 3000 mm/năm, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Huế, Quảng Nam tới Bình Thuận
2.4.3.4 Giá trị
Giác gỗ màu xám vàng nhạt khá dày, lõi màu xanh vàng sau nâu sẫm, dăm thô, thớ xoắn, nặng và chịu được ngoài mưa nắng Giác dễ bị mối mọt
Có thể dùng gỗ để làm các công trình lớn, làm nhà, đóng tàu, đóng bàn ghế, làm tà vẹt Than Lim cho nhiệt lượng cao Vỏ chứa nhiều chất chát dùng để nhuộm
Trang 322.4.4 Thông tre (Podocarpus neriifolius)
2.4.4.1 Đặc điểm hình thái
Cây gỗ nhỡ, có thể cao tơi 25 – 30m,
với đường kính ngang ngược tới 1m; thân
tron, dáng thẳng với tán trái rộng; vỏ màu
nâu nhạt; lá mọc cách thường nhọn dần ở
đầu lá, dài 7 – 15cm và rộng tới 2 cm (lá
non có thể tích đến 20 cm), gân giữa nổi
rõ ở cả hai mặt Non phần tính khác gốc
Cấu trúc mang hạt đơn độc, cuống lá dài Hình 2.4: Cây Thông tre
1 – 2 cm, để có đường kính tới 10 mm, gốc dẹt có hai lá bắc ở gốc, màu tím
đỏ khi chín, phần quanh hạt màu đỏ hồng khi chín Nõn đực đơn độc hay cụm 2 -3 ở nách, thường không cuống và dài tới 5cm; hạt hình trứng, dài tới 1,5cm với đầu nhọn hay tròn
2.4.4.2 Phân bố dịa lý
Việt Nam: Điện Biên, Lào Cai, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Vinh Phúc, Hòa Bình, Hà Tây (cũ), Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huê, Quảng Nam, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang Rải rác
ở tất cả cách tỉnh vùng núi cao của việt nam
Thế giới: Đông Bắc và Đông Nam Ấn Độ, Bangladesh, Nyanma, Nam Trung Quốc (Vân Nam), Thái Lan, Lào, Combodia, Malaysia, Iddoneessia, Philipine, và papua New Guinea
2.4.4.3 Giá trị
Trong danh lục đỏ của IUCN do có phân bố rộng nên loài này được xếp ở vùng ít nguy cấp (LR), cho dù cây đang càng ngày trở nên hiếm hơn tại nhiều địa điểm phân bố của loài, chủ yếu là do nhưng thay đổi sinh cảnh
Trang 332.4.5 Giổi xanh (Michelia meduocris dandy)
2.4.5.1 Đặc điểm hình thái
Cây Giổi xanh là cây thân gỗ
lớn, thường xanh, cao trung bình 30 -
40m, đường kính của cây đạt
khoảng 90 - 100cm Cây thân thẳng,
gỗ tròn, ra cành ở rất cao Cành non có
lông, vỏ cây màu xám, nhẵn, bóng mịn,
lá đơn hình bầu dục dài, mọc cách,
bóng, dài 10 - 15cm, rộng 4 - 6cm
Hình 2.5: Cây Giổi xanh
Gân bên 8 - 15 đôi Hoa đơn độc mọc đầu cành, cuống có lông, cánh hoa màu trắng sữa Quả kép dài 5 - 8cm, gồm nhiều hạt hình bầu dục hay dẹp Hạt khi đến độ già màu đỏ Giổi xanh sống và phát triển tốt với địa hình và đất đai, khí hậu nước ta như: đất feralit, đất bazan , khí hậu tiêu biểu nước ta nhiệt đới ẩm gió mùa Cây ưa sáng, sinh trưởng phát triển nhanh, cây tái sinh nhiều tái sinh nhanh nhờ phát tán hạt tốt Cây có thể sống xen kẽ với
các loài cây khác nhau trong một quần thể cây thực vật
2.4.5.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái
Cây sinh trưởng trung bình, mùa hoa tháng 4-5, mùa quả tháng 9-10 Cây Giổi có biên độ sinh thái rộng, thích hợp trồng ở mọi khu vực đồi núi ở Việt Nam Sau 6 - 8 năm trồng ta thu được quả và 20 năm được thu gỗ khoảng 1m khối /1 cây So với trồng các loại cây lâm nghiệp khác thì cây Giổi đem lại giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều
Trang 34PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là 5 loài cây trồng trong vườn tại mô hình khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Nghiến (Burretiodendron hsienmu)
- Giổi (Michelia mediocris Dandy)
- Thông tre (Podocarpus Neriifoliu)
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Vườn thực vật tại mô hình Khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ tháng 07/ 2018 đến tháng 05/2019
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tình hình sinh trưởng của 5 loài cây bản địa trồng trong mô hình vườn cây bản địa tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại
- Hoàn thiện các bước trong xây dựng mô hình vườn cây bản địa tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích phát triển mô hình vườn cây bản địa
Trang 353.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chăm sóc
Ở giai đoạn đầu của việc trồng cây con, cây vẫn rất yếu nên cần sự chăm sóc đặc biệt Hơn thế nữa giai đoạn trồng vườn thực vật đang trong giai đoạn nắng nóng đỉnh điểm của miền bắc nên càng cần sự chăm sóc chu đáo hơn cho cây con Do địa điểm trồng cây xa nguồn nước nên đã áp dụng phương pháp đào hố nước dải tấm bạt sau đó dòng dây nước vào để bơm nước vào hố để giữ nước trong mô hình tiện cho việc lấy nước đem tưới cho từng cây Mỗi ngày định kỳ tưới nước 1 lần vào lúc 4 giờ chiều trong vòng 1 tháng đầu để đảm bảo cây đủ lượng nước vượt qua giai đoạn nắng nóng và sự thích nghi ở môi trường mới trong mô hình Bên cạnh việc tưới nước thì theo định kỳ làm cỏ 1 tháng 1 lần nhằm giảm sự xâm lấn dinh dưỡng của cỏ với các loài cây bản địa Hình thức làm cỏ bằng cách sử dụng máy cắt cỏ, cắt cỏ bên ngoài cách gốc cây 1 mét sau đó sử dụng cuốc để cuốc cỏ và vun gốc
3.4.2 Nghiên cứu sinh trưởng
Đo đếm đường kính gốc và chiều cao của 5 loài nghiên cứu tại khu vực