Do Lan có vẻ bề ngoài rất bắt mắt không chỉ màu sắc của hoa mà còn hình thù đặc biệt của thân và lá của lan rừng nên Lan rừng đang được khai thác với mục đích buôn bán, làm thuốc và là
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯỜNG VĂN HẢI
ĐA DẠNG VÀ BẢO TỒN LOÀI LAN THUỘC CHI
LAN HOÀNG THẢO (Dendrobium) TẠI KHU BẢO
TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH MÙ CANG CHẢI
TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Thái Nguyên - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯỜNG VĂN HẢI
ĐA DẠNG VÀ BẢO TỒN LOÀI LAN THUỘC
CHI LAN HOÀNG THẢO (Dendrobium) TẠI
KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH MÙ
CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi dưới sự hướng dẫn của giảng viên TS Hồ Ngọc Sơn
Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa hề sử dụng cho một khóa luận nào
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
TS Hồ Ngọc Sơn Lường Văn Hải
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký,họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tập và rèn luyện tại trường thì thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và quan trọng cho mỗi sinh viên Thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu, tổ chức quản lý và chỉ đạo sản xuất, là cơ hội cho sinh viên tự hoàn thiện kiến thức của bản thân đã được học tập tại trường trong thời gian qua Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ
nhiệm Khoa Lâm nghiệp, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài “Đa dạng
và bảo tồn loài lan chi lan Hoàng thảo (Dendrobium) tại khu bảo tồn loài và
sinh cảnh Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái ” Tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ từ nhiều tập thể và cá nhân trong và ngoài nhà trường Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô giáo trong trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói chung và Khoa Lâm nghiệp nói riêng đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu trong suốt những năm qua Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Hồ Ngọc Sơn người đã tận tình bảo
ban hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của chính quyền tại địa bàn thuộc khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái, cán bộ Kiểm lâm và người dân tại địa phương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Vì thời gian thực tập ngắn, trình độ bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót
Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn
để bổ sung cho đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞI ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 3
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới 5
2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 7
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19
2.3.1 Tổng thuật tài liệu về khu vực nghiên cứu 19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.2 Nội dung nghiên cứu 27
3.2.1 Đặc điểm sự hiểu biết của người dân về các loài lan 27
3.2.2 Đa dạng loài lan trong chi Hoàng thảo 27
3.2.3 Đặc điểm phân bố của các loài lan 27
3.2.4 Đặc điểm nổi bật về hình thái của các loài lan 27
3.2.5 Một số đặc điểm sinh thái của các loài lan 27
3.2.6 Thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển loài Lan 28
3.2.7 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Lan 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.3.1 Phương pháp điều tra thành phần loài 28
3.3.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu 31
3.3.3 Phương pháp nội nghiệp 31
Trang 6Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Đặc điểm sự hiểu biết của người dân về các loài Lan 32
4.1.1 Sự hiểu biết của người dân về các loài Lan rừng 32
4.1.2 Thực trạng khai thác và sử dụng các loài Lan thuộc chi lan Hoàng Thảo của người dân 36
4.2 Đa dạng loài các loài lan thuộc chi lan Hoàng Thảo 37
4.2.1 Đặc điểm phân loại của các loài lan 38
4.2.2 Đặc điểm phân hạng bảo tồn của các loài lan 39
4.3 Đặc điểm phân bố của các loài lan 40
4.3.1 Phân bố theo tuyến 41
4.3.2 Phân bố theo độ cao 41
4.3.3 Các loài lan người dân thu hái và gây trồng 45
4.4 Một số đặc điểm sinh thái của các loài Lan 46
4.4.1 Các loài cây chủ (giá thể) của các loài Lan 46
4.5 Thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển loài Lan 48
4.5.1 Thuận lợi 48
4.5.2 Khó khăn 48
4.5.3 Các nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên của các loài lan 48
4.6 Đề xuất giải pháp phát triển tài nguyên lan thuộc Chi Hoàng Thảo 49
4.6.1 Đề xuất khoanh vùng vườn quốc gia lan thuộc Chi Hoàng Thảo 49
4.6.2 Đề xuất biện pháp phát triển loài Lan 51
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm các loại đất chính khu BTL&SC Mù Cang Chải 22
Bảng 2.2: Các kiểu thảm thực vật và độ che phủ của Khu Bảo tồn loài và Sinh cảnh Mù Cang Chải 26
Bảng 3.1 Các tuyến điều tra 29
Bảng 4.1 Nhận biết các loài lan thuộc Chi Hoàng Thảo của cộng đồng 34
Bảng 4.2: Tri thức bản địa về sử dụng và gây trồng các loài Lan 37
Bảng 4.3 Các loài lan thuộc Chi Hoàng Thảo tại KBT loài và sinh cảnh Mù Cang Chải 38
Bảng 4.4 Phân cấp bảo tồn các loài lan thuộc Chi Hoàng Thảo tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 4.5: Phân bố các loài Lan theo tuyến 41
Bảng 4.6 Phân bố các loài lan thuộc Chi Hoàng Thảo tại khu vực nghiên cứu 42
Bảng 4.7: Các loài Lan người dân trồng 45
Bảng 4.8: Các loài cây chủ của các loài lan thường cộng sinh 46
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FFI Fauna & Flora International
IUCN International Union for Conservation
of Nature and Natural Resource
Trang 9PHẦN 1 MỞI ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Được biết đến như một trong những nước thuộc Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có ĐDSH cao nhất trên thế giới Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính ĐDSH cao, Việt Nam có chứa đựng một thiên nhiên vẫn rất hoang sơ tại các khu bảo tồn trên cả nước đang được bảo vệ một cách nghiêm ngặt trong đó còn có vô vàn những điều diệu kỳ vẫn chưa được khám phá ra hết Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á với diện tích trên 330,500km nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa,
là một trong những nước có tính ĐDSH cao Trong đó đa dạng về các loài Lan
vô cùng cao, Việt Nam có 137-140 chi gồm trên 800 loài lan rừng [6] Là những sắc màu tô điểm cho cánh rừng Do Lan có vẻ bề ngoài rất bắt mắt không chỉ màu sắc của hoa mà còn hình thù đặc biệt của thân và lá của lan rừng nên Lan rừng đang được khai thác với mục đích buôn bán, làm thuốc và làm cảnh điều này cũng đang dẫn đến hệ lụy vô cùng nguy hiểm cho các loài Lan rừng, rất nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do khai thác quá mức của con người và đang cần được bảo tồn, nhưng bên cạnh đó trong rừng sâu, trên những hốc đá treo leo hiểm trở mà con người chưa đặt chân đến vẫn còn rất nhiều các loài Lan đẹp và có giá trị khoa học cao chưa được tìm ra Một trong những Chi Lan có số lượng các loài phong phú nhất ở Việt Nam là Chi Hoàng
Thảo (Dendrobium) bên cạnh đó Chi này còn có sự sặc sỡ về màu sắc hoa như:
Hoàng thảo bạch nhạn, long nhãn, tím huế, tím hồng, vảy rồng, mắt trúc Điểm nổi bật của chi lan này là sức sống cao, mùa hoa dài hầu như quanh năm
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải nằm ở mút phía Tây dãy núi cao Púng Luông – Xà Phình Được nối với dãy núi này bằng một dải dông cao khoảng 1.600m – 1.700m Nhìn trên tổng thể, khu bảo tồn gần như biệt
Trang 10lập với dãy Hoàng Liên Sơn Khu vực có toạ độ địa lý và ranh giới Từ
17038’16’’đến 21047’55” vĩ độ Bắc Từ 103055’58” đến 140010’05” kinh độ Đông Tổng diện tích khu bảo tồn: 20.293,1ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 15.128,7ha và phân khu phục hồi sinh thái là 5.164,4ha Sau
đó theo quyết định số 578/QĐ-UBND ngày 22/5/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Yên Bái thì tổng diện tích của khu bảo tồn là 20.108,2 ha [2]
Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải có tính đa dạng và đặc hữu cao về thực vật, qua kết quả 3 đợt điều tra của Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI) năm 2000, 2002 và Trung tâm Tài nguyên môi trường năm
2002 bước đầu đã thống kê được 788 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 488
chi, 147 họ và 5 ngành Ngành Ngọc Lan (Magnoliphyta) chiếm tỷ trọng cao nhất (>89%), tiếp đến là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), 3 ngành còn lại
mỗi ngành chỉ có 1 đến 7 loài Trong 788 loài có 190 loài cho gỗ thuộc 54 họ, chủ yếu là nhóm gỗ hồng sắc và tạp mộc Những loài cho gỗ có giá trị kinh tế cao như Pơmu, Bách xanh ở đây không nhiều Các họ có nhiều loài cho gỗ là
Lauraceae (28 loài), Fagaceae, Symplocaceae, Euphorbiaceae (7loài), Araliaceae, Hamamelidaceae (6 loài); các hộ khác mỗi họ chỉ có từ 1 đến 4
loài Đã thống kê được 267 loài thuộc 95 họ thực vật bậc cao có mạch có thể dùng làm thuốc và đã ghi nhận có 77 loài cây làm cảnh Với tiểu vùng khí hậu tương đối ôn hòa: nóng ẩm mưa nhiều, rất thích hợp cho việc phát triển thảm thực vật nói chung và phong lan nói riêng Trên khắp các cánh rừng của Yên Bái có rất nhiều loài lan quý như: Hoàng Thảo, Thanh đạm, Hạc đính, Giáng hương, Ngọc điểm, Phượng vĩ, Cẩm báo, Vân đa, Hài gấm, Thạch hộc, Tuy
nhiên, đối với Chi Hoàng Thảo (Dendrobium) ở đây chưa được quan tâm
nhiều và chưa có công trình, tài liệu nghiên cứu nào về Chi Hoàng Thảo
(Dendrobium) Vai trò của các loài Lan trong sinh thái rừng và trong đời sống
con người là rất lớn Chúng là một mắt xích quan trọng trong tự nhiên vừa có
Trang 11giá trị về làm cảnh lại còn có giá trị về khoa học giúp ích cho việc tìm ra các loại thuốc chữa trị các bệnh khó chữa
Với mục đích cung cấp những thông tin cơ bản về thành phần loài, vùng phân bố, giá trị khoa học và các mối đe dọa tới các loài trong Chi Hoàng
Thảo (Dendrobium) và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ có hiệu quả và
các phương pháp giám sát thường kỳ đối với khu bảo tồn loài và sinh cảnh
Mù Cang Chải, việc nghiên cứu “Đa dạng và bảo tồn loài chi lan Hoàng
Thảo (Dendrobium) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái” là rất cần thiết
1.2 Mục tiêu
- Xác định được thành phần loài và phân bố của các loài lan trong chi
Hoàng Thảo (Dendrobium) tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải
- Lập danh lục với các thông tin chi tiết (tên loài, họ) các loài lan trong chi
Hoàng thảo (Dendrobium) tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải
- Xác định được phân bố các loài quý hiếm trong KBT để có kế hoạch bảo tồn và khai thác hợp lý
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm quản lý các loài Lan trong Chi
Hoàng Thảo (Dendrobium) tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung các dẫn liệu khoa học về sự ĐDSH của các loài lan trong Chi
Hoàng Thảo (Dendrobium) tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Giúp hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài lan
chi Hoàng Thảo trong khu vực nghiên cứu
- Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và
các loài lan trong chi lan Hoàng Thảo nói riêng
Trang 12- Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ
và phát triển rừng hiện nay
- Kết quả điều tra sẽ góp phần cho địa phương hoạch định các chính sách, phương pháp/giải pháp quản lý ĐDSH nói chung và các loài lan trong chi Hoàng Thảo nói riêng trong khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Về cơ sở sinh học
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực
vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật
Về cơ sở bảo tồn
Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo
vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên Bộ khoa học và công nghệ Việt Nam – Viện khoa học và công nghệ việt nam, sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật [13],
đã công bố Việt Nam có 66 loài lan thuộc nhóm bị đe doạ gồm:
4 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Rất nguy cấp – CR
52 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Nguy cấp – EN
10 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Sẽ nguy cấp –VU
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới
2.2.1.1 Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen
Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi
trường Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh
Trang 14học (ĐDSH) của thế giới Kanowski và Boshier (1997) [25] nên sự suy thoái
về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là:
1 Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên),
2 Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen)
3 Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên
Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài
Đặc điểm của nguồn gen các loài lan rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chưa có ích hoặc chưa biết giá trị sử dụng của chúng, số loài được gây trồng và sử dụng không nhiều Nên ngoài nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen các loài lan rừng còn có nét đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên Phải có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính
2.2.1.2 Tổng quan về các loài Lan
Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vùng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa
Trang 15Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: + Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi
+ Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi
+ Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi
+ Châu Đại Dương: 50 - 70 chi
+ Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi
+ Bắc Mỹ: 20 - 25 chi
2.2.1.3 Những nghiên cứu về Lan
Cây hoa lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 trước công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được giống mới đem lại kinh tế cao Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất là Thái lan
Cây lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến lan (được tìm ra đầu tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa lan Ở Phương Đông, lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa Vì vậy trong thực tế lan được chiêm ngưỡng trước tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ)
Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong lan đã đi khắp các miền của địa cầu Lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập, Hạc Đính rồi Kiến Lan lan chính thức ra nhập vào ngành hoa cây cảnh trên thế giới hơn 400 năm nay
2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.2.1 Tổng quan về nghiên cứu sinh thái
Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên,
Trang 16ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân (2000) [5]
Đã nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu Sinh thái thực vật nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh Mỗi loài cây sống trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hoá lâu dài, ở hoàn cảnh sống khác nhau các loài thực vật thích ứng và hình thành những đặc tính sinh thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành nhu cầu của cây đối với hoàn cảnh
Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và môi trường, theo Lê Mộng Chân (2000) [5]
Phan Kế Lộc (1970) [10] đã xách định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ, tác giả đã đề nghị áp dụng công thức đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới
Thái Văn Trừng (1978) [15] thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [7], khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của san van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài
Nguyễn nghĩa Thìn (1997) [16] đã thống kê thành phần loài của VQG có khoảng 2000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc ngành: Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín, các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau
Lê Ngọc Công (2004) [3] nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ,
Trang 17468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995) [4] nghiên cứu thành phần loài, dạng sống sa van bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện loài thuộc 47
họ khác nhau
Đỗ Tất Lợi (1995) [11] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bảm địa hoang dại hữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay
2.2.2.2 Tổng quan về loài Lan thuộc Chi Hoàng Thảo
a hệ thống phân loại
Trong hệ thống phân loại thực vật, chi lan Hoàng Thảo (Dendrobium) thuộc họ lan hay họ phong lan (Orchidaceae), bộ lan (Orchidales), phân lớp Hành (Liliidae), lớp một lá mầm (Liliopsida), ngành thực vật hạt kín (Angiospermanophyta), phân giới thực vật bậc cao (Cosmobionia), giới thực vật (Plantae) (Trần Hợp, 1998; Hoàng Thị Bé, 2004; Leitch và cs., 2009; Evans và cs., 2012) [9] [1][23] [21]
Dendrobium: có tên từ chữ Hy Lạp ghép lại: Dendro (Cây) và bios (cuộc sống) để chỉ các loài sinh sống trên cây cao Tên gọi Dendrobium đã được nhà thực vật người Thụy Điển Swartz đưa ra lần đầu tiên vào năm 1799 trong “Nova Acta Regiae Societatis Scientiarum Upsaliensis 6” Từ đó đến nay hầu hết các nhà nghiên cứu hoa lan đều dùng tên gọi này (Dương Đức Huyến, 2007) [6]
Tuy nhiên, từ trước đó Loureiro đã công bố hai loài có tên gọi là Ceraia simplicissima và Callista amabilis trong “Flora Cochinchinensis” (1970) mà các nhà nghiên cứu sau này xếp vào chi Dendrobium Tên gọi Ceraia và Callista ít được quan tâm nên sau này nó trở thành tên đồng nghĩa của Dendrobium (Dressler, 1993) [20] Đại đa số các nhà phân loại như Lindley (1830) [24], Reichenbach (1861), Bentham và Hooker (1883),
Trang 18Pfitzer (1890), Holttum (1953), Seidenfaden (1985) đều chia Dendrobium thành các nhóm khác nhau (section) Song cũng có vài tác giả chọn cách phân chia chi Dendrobium thành các phân chi (subgennus) như Kraenzlin (1910) (Dressler, 1993; Leitch và cs., 2009) [20] [23]
Nghiên cứu phân loại chi lan Hoàng Thảo (Dendrobium) ở Việt Nam thường dựa trên hệ thống của Seidenfaden (1985) Hệ thống này rõ ràng, không phức tạp, có độ tin cậy cao và phù hợp với các đại diện của chi lan Hoàng Thảo ở Việt Nam (Trần Hợp, 1998; Dương Đức Huyến, 2007) [6][9]
b Đặc điểm hình thái
Thân
Các đại diện của chi lan Hoàng Thảo rất dễ nhận biết ở ngoài thiên nhiên Đó là các cây thân thảo, mọc nhóm, đứng thẳng hoặc rủ thõng, phân đốt, sống phụ sinh trên các cây gỗ hoặc ít gặp các loài sống bám trên đá, trong rừng ẩm Tuy nhiên phân biệt các taxon trong chi gặp nhiều khó khăn bởi tính
đa dạng của chúng thể hiện ở cơ quan sinh dưỡng cũng như cơ quan sinh sản Thân của các đại diện chi lan Hoàng Thảo đều phân đốt, hình trụ, hình con suốt, hình chùy, hình trứng, có chiều dài thay đổi từ 3cm đến 120cm hoặc đôi khi hơn, kích thước phổ biến là 20-50 cm (Trần Hợp, 1998) [9]
Lát cắt ngang thân có thể hình tròn, hình bầu dục, đôi khi hình 4 cạnh nhưng gọi chung kích thước ngang này là chiều dày, thay đổi từ 0,3cm đến 1,5cm nhưng đa số hay gặp là khoảng 0,5-1cm
Thân có thể mảnh, đôi khi dẹp bên hoặc là dày mập lên Phần dày mập lên của thân gồm một vài lóng ở sát gốc hoặc sát ở đỉnh Đôi khi phần dày lên có hình con suốt có 4 gờ sắc Ở cá biệt vài loài chỉ có các mấu dày lên, còn lóng thì hầu như không làm thân có dạng tràng hạt (D pendulum) hoặc sự dày lên là dần dần độc lập ở mỗi lóng làm thành dạng đùi gà nối tiếp (D nobile, D wardianum) Phần tận cùng là gốc, nơi xuất phát của rễ, thường
Trang 19là nhỏ mảnh nhưng cũng không ít trường hợp phình to ra (Hoàng Thị Bé, 2004; Dương Đức Huyến, 2007) [1] [6]
Lá
Lá mọc thành hai dãy so le nhau, không có cuống mà chỉ có bẹ ôm thân, ít khi không có bẹ Lá phân bố suốt dọc thân nhưng ở nhiều đại diện lá tập trung 2-5 chiếc ở đỉnh thân, cũng có khi phần đỉnh thân chỉ có hoa mà không có lá (D.acinaciforme, D.dalatense) Tùy loài mà lá có thể còn tồn tại hoặc rụng đi trước khi hoa nở Số lượng lá thay đổi từ rất nhiều đến khi chỉ còn 3-5, hiếm khi 2 hoặc 1 Lá thường cứng, dạng da, bóng, ít khi nạc và mềm, bề mặt thường nhẵn, đôi khi bề mặt bẹ và lá (thường là khi lá còn non)
có phủ lông cứng ngắn màu đen sớm rụng Lá nguyên, mép nhẵn, màu xanh
có các gân hình cung Lá thường hình mác, bầu dục, đôi khi hình kiếm, hình thuôn hoặc ít khi lá hình thoi dài Đỉnh lá nhọn hoặc tù, rất nhiều trường hợp
lá xẻ 2 thùy nhọn, tù hoặc là tròn lệch nhau Chiều dài của lá thay đổi từ 19cm và chiều rộng lá từ 0,3-3,5 cm Lá hình trụ thường có bề dày (đường kính) từ 0,2-0,4cm (Trần Hợp, 1998; Averyanov, 2004) [9] [19]
1- Hoa
Hoa thường là nhiều hoa, đôi khi ít hoa hoặc hoa đơn độc Nhóm hoa dài thường rủ thõng xuống, nhiều loài có nhóm hoa đẹp có giá trị làm cảnh (Trần Hợp, 1998)[9] Hoa lưỡng tính, đối xứng hai bên Màu sắc hoa đa dạng, sặc sỡ Hoa đa số các loài có hương thơm Bao hoa chia hai vòng, vòng ngoài gồm 1 lá đài giữa và 2 lá đài bên, vòng trong gồm có 2 cánh hoa và 1 cánh môi
* Cằm: Là một bộ phận hình thành nhờ mép phần gốc 2 lá đài bên dính nhau và dính với chân cột, có các hình bán cầu, hình túi đến hình cựa, hình trụ cong ít nhiều
* Cánh môi: So với lá đài, cánh hoa ít nhiều có kích thước và màu sắc khác biệt Tuy nhiên, ngay trong các cánh hoa thì cánh môi khác nhiều so với các thành phần còn lại của bao hoa cả về màu sắc, kích thước lẫn hoa văn
Trang 20Hoa văn đa dạng trên cánh môi (đốm, vạch, diềm tua, u lồi, đường sống, lông phủ) chiếm vị trí khá quan trọng trong phân loại Nhiều đại diện có gốc cánh môi dính với chân cột tạo thành cựa
* Cột hoa (trụ nhị - nhụy): Cột hoa hay còn gọi là trụ nhị-nhụy, có khi còn được gọi là trụ, thường thấp, mặt trước hơi lõm lòng máng; đỉnh cột lõm
để chứa khối phấn, hai mép đỉnh cột có 2 răng cột, phủ lên đỉnh cột là nắp bao phấn (thường gọi đơn giản là nắp)
Ở gốc cột có mỏ, thường là một phần phụ, dạng màng nhô ra nhằm ngăn cách bao phấn với nhụy (hốc đặt phấn) Chỗ thấp nhất phía dưới cột là chân cột, thường hình tam giác thuôn và có tuyến mật Bao phấn hình mũ, bề mặt thường nhẵn hoặc có nhú mịn, đôi khi có lông bao phủ Khối phấn hình chùy, không có chuôi, số lượng là 4, xếp thành 2 cặp Bầu hạ, thường nhỏ và thon dần xuống cuống hoa, ranh giới giữa bầu và cuống hoa không rõ rệt, bầu
3 ô, rất nhiều noãn
Quả
Quả nang thường là hình chùy hoặc hình con suốt, chứa rất nhiều hạt nằm xen lẫn những sợi lông mảnh Khi quả già, gặp trời ẩm sợi này sẽ hút nước và trương lên, phá vỡ vỏ quả giải phóng hạt ra ngoài Hạt rất nhỏ, hầu như không trọng lượng, bao quanh hạt là lớp màng, ạng mắt võng, trong suốt, chứa đầy không khí, dễ dàng bay cùng hạt trong không khí nhờ gió
So với những chi gần cận là Flickingeria, Epigenium, Eria thì Dendrobium có những đặc điểm phân biệt căn bản sau đây:
- Các đại diện của chi Dendrobium luôn mọc nhóm và có thân phân đốt chứ không mọc đơn độc trên thân rễ và chỉ có 1 lóng như các đại diện của Flickingeria
- Dendrobium luôn có số lượng khối phấn là 4 chứ không phải là 2 như
ở chi Epigenium hoặc 8 như ở Eria
Trang 21- Chi Dendrobium không có lông mềm mịn trên lá hay các bộ phận của hoa như chi Eria
Rễ
Rễ của các đại diện chi lan Hoàng Thảo là rễ khí sinh, thường mảnh, hình trụ, màu xanh và chuyển thành nâu khi già, chúng thường ôm lấy giá thể hoặc buông thõng xuống Độ dày của rễ từ 0,1-0,3cm Rễ thường mọc ra từ phần gốc của thân hoặc đôi khi có thể ở mấu thân một vài loài (D Bilobulatum;
D parcum)…(Trần Hợp, 1998; Dương Đức Huyến, 2007) [6][9]
Hạt
Lan rất nhiều, nhỏ li ty Hạt cấu tạo bởi một khối chưa phân hóa, trên một mạng lưới nhỏ xốp chứa đầy không khí Phải trải qua 2 – 18 tháng hạt mới chín Hạt muốn nẩy mầm trong tự nhiên phải có sự cộng sinh của nấm Phizotonia
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về các yếu tố địa lý, khí hậu cũng như nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng, rất thích hợp với việc trồng phong lan Rừng Việt Nam có nhiều loài phong lan quý Do đó nếu chúng ta biết bảo vệ các loài lan hiện có và mở rộng việc trồng lan cùng với sự giao lưu, trao đổi những giống lan quý với các nước bạn thì giá trị khoa học cũng như giá trị kinh tế của các loài lan ở nước ta sẽ tăng lên đáng kể Hiện nay, nhu cầu về hoa lan trên thế giới rất cao, nghề nuôi trồng hoa lan đã trở thành một bộ phận chủ yếu nhất của ngành trồng hoa cảnh xuất khẩu của nhiều nước
Việt nam là quê hương của khoảng 91 chi, 463 loài lan và khoảng 1000 giống nguyên thủy Những cây lan này phân bố tại vùng rừng, núi các tỉnhYên Bái, Thái Nguyên, Cao bằng, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy nhơn, Kontum, Pleiku, Đắc Lắc, Đà lạt, Nam Cát Tiên Trong số lan của Việt Nam
có rất nhiều cây hiếm quý và có những cây trước kia chỉ thấy mọc ở Việt nam như cây lan nữ hài Paphiopedilum delenati, cánh trắng môi hồng do một binh
sĩ người Pháp đã tìm thấy ở miền Tây Bắc Việt Nam vào năm 1913, sau đó
Trang 22đến năm1922 đã phát hiện chúng có phân bố tại miền Trung Việt Nam và đến năm 1990-1991 phát hiện được ở Khánh Hòa
Nghề trồng hoa lan ở Việt Nam có lịch sử rất lâu đời Vua Trần Nhân Tông lập nên "Ngũ bách viên" trong đó có 500 loài hoa quý được sưu tập từ khắp các vùng đất nước, chủ yếu là kiếm lan (loài lan bản địa có nhiều hương) thuộc chi Cymbidium, ngày đó các chậu lan còn được coi là vật báu quốc gia Các loài lan đó còn tồn tại đến ngày nay, được các nhà nho, quan lại, các gia đình khá giả thích chơi các loài lan này phát triển trong dân gian, hiện nay còn một số loài lan quý hiếm vẫn tồn tại như Thanh Ngọc, Mạc đen, Đại mạc biên, Đại mạc, Hoàng vũ, Thanh trường, Hoàng điểm giá trị mỗi chậu lan nhỏ lên tới vài triệu đồng thậm chí cả chục triệu đồng khi tến đến xuân về Theo Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp (1995) [8]
Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “ Flora cochin chinensis” gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam là aerides, Phaius và Sarcopodium
mà đã được Ben Tham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera plante rum” (1862- 1883), theo Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp (1995) [8] Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu được công
bố, đáng kể là F.gagnepain và A.gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả
3 nước Đông Dương trong bộ "Thực vật Đông Dương chí" (Flora Genera Indochine) do H Lecomte chủ biên, xuất bản từ những năm 1932 - 1934 Nguồn gen hoa phong lan của Việt Nam rất phong phú trong đó lan Hoàng Thảo chiếm khoảng 30 – 40% trong tổng số các loài lan của Việt Nam, theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2000) [17]
Trong điều kiện hội nhập, đầu tư phát triển công nghiệp, đô thị và du lịch với tốc độ cao, nhu cầu về hoa cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu gia
Trang 23tăng mạnh Hoa, cây cảnh mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người trồng hoa, đồng thời thúc đẩy du lịch, hội nhập và đời sống văn hóa tinh thần của quốc gia Đã có những công ty hàng năm sản xuất và tiêu thụ hoa lan doanh thu lên hàng tỷ đồng như Sài gòn Orchidex, công ty hoa Hoàng Lan, song các công ty này chủ yếu buôn bán các giống lan nhập nội
Hiện nay trong nước có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu về lan, có những Công ty trồng lan để bán trong nước và xuất khẩu nhưng với số vốn hạn hẹp, kỹ thuật thô sơ nên không thể nào cạnh tranh nổi với các nước láng giềng như Thái Lan, Đài loan đã có mặt trên thị trường quốc tế từ lâu
Ngoài ra do luật quốc tế bảo vệ các giống động vật và cây hiếm quý do Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã bị đe doạ tuyệt chủng (CITIES) đã cấm mua bán một số đặc sản, cho nên hoa lan của Việt nam khó lòng được chính thức nhập khẩu vào Hoa kỳ Trong khi đó nhiều lái buôn đã thuê người vào rừng thẳm, núi cao để kiếm lan bất kỳ lớn, nhỏ quý giá hay không đem bán cho các lái buôn Trung Quốc, Thái lan hoặc Đài loan với giá: 2 – 3 USD/kg Nói đến Đà Lạt, không thể không nhắc đến địa lan với hàng trăm loại cùng sinh sống và sinh trưởng với địa lan ngoại nhập Theo các nhà nghiên cứu, hiện tại Đà Lạt có khoảng 300 loài phong lan
và trên 300 giống địa lan nội và ngoại nhập cùng khoe sắc tỏa hương Trong
đó Cymbidium còn gọi là kiếm địa lan, phong phú đa dạng hơn cả Các loài địa lan thuộc họ Cymbidium như: Lan Lô Hội, Thanh Lan, Xích Ngọc, Gấm Ngũ Hồ, Bạch Lan, Mặc Lan, Bạch Hồng, Hoàng Lan, Tử Cán…Từ những năm 1990, Liên hiệp khoa học và sản xuất Đà Lạt đã thực hiện một số phương pháp lai ghép giữa các loài lan, gieo hạt lan trong ống nghiệm để duy trì nguồn lan tự nhiên của địa phương Bên cạnh còn có một giống lan mà duy nhất chỉ có ở Đà Lạt đó là giống lan Cymbidium Insigne var Dalatensis (Hồng lan), đây là loài địa lan vô cùng độc đáo, màu sắc hoàn toàn khác biệt với
Trang 24những giống lan đã biết, các nhà khoa học đang cho nhân giống, và trồng rộng rãi
Viện Công nghệ Sinh học thực vật, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã thành công trong việc nghiên cứu một số môi trường nhân nhanh một số giống phong lan Hồ Điệp (Phalaenopsis), theo Nguyễn Quang Thạch và cộng tác viên (2005) [18]
Tóm lại: Những nghiên cứu về lan rừng ở nước ta đã công bố nhận thấy:
1 Lan rừng Việt Nam rất đa dạng và phong phú về số loài, giống nguyên thủy;
2 Số liệu về chi, loài, giống không thống nhất Nguyên nhân do chưa
có công trình nào điều tra nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống, vì vậy
số liệu công bố có sự không thống nhất;
3 Đã có những công trình nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống (chủ yếu
là nuôi cấy mô) cho một số loài đang được thị trường ưa chuộng như lan Đai châu, một số giống lan Hoàng thảo Chưa có công trình nào nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp giâm hom các loài lan rừng đặc biệt là đối với những loài thân đốt
Những kết quả nghiên cứu trên đây của các tác giả đã công bố là cơ sở
để Nhiệm vụ khoa học này lựa chọn phương pháp điều tra đem lại kết quả cao nhất, lựa chọn loài để nghiên cứu phương pháp nuôi cấy mô để tránh nghiên cứu trùng lặp với những kết quả đã công bố
c Phân bố vùng sinh thái
Chi Hoàng Thảo trên thế giới phân bố chủ yếu ở lục địa Đông Nam Á
và các đảo thuộc Philippin, Malaixia, Inđônêxia, Đông Bắc Ôxtrâylia Riêng Việt Nam, chi Lan Hoàng Thảo gồm hơn 100 loài phân bố chủ yếu ở vùng núi suốt từ Bắc, Trung, Nam và ở trên một số đảo ven biển nước ta (Trần Hợp,
Trang 251998; Averyanov, 2004) [9] [19] có thể kể đến một số loài điển hình là đại diện của các vùng miền trên cả nước như:
Vùng Đông Bắc: Hoàng Thảo Ri vơ (D rivesti), Hoàng Thảo Mỡ Gà (D haveyanum), Hoàng Thảo Tuyết Mai (D crumenatum Sw)
Vùng Tây Bắc: Hoàng Thảo Sợi (D tenellum Ldl), Hoàng Thảo mỹ dung (D devonianum Paxt), Hoàng Thảo Thủy Tiên (D farmeri Paxt), Hoàng Thảo Gai Dài (D longicornu Ldl)
Vùng Trung Du Bắc Bộ: Hoàng Thảo Vảy Rồng (D lindleyi), Hoàng Thảo Giả Hạc (D Superbum Rchb.f), Hoàng Thảo Hợp (D fimbriatum Hook), Hoàng Thảo Xoắn (D tortile Ldl), Hoàng Thảo Tam Đảo (D
daoense)
Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ: Hoàng Thảo Lệch (D aduncum Wall), Hoàng Thảo Dẹt (D nobile Ldl), Hoàng Thảo Trúc (D hancockii), Hoàng Thảo Thái Bình (D moschatum)
Vùng Bắc Trung Bộ: Hoàng Thảo Xoắn (D tortile Ldl), Hoàng Thảo Long Nhãn (D fimbriatum), Hoàng Thảo Tím Huế (D hercoglossum Rchb.f), Hoàng Thảo Tiểu Hộc (D podagraria Hook.f), Hoàng Thảo Nanh Sấu (D
Trang 26Vùng Đông Nam Bộ: Hoàng Thảo Móng Rùa (D anceps Sw), Hoàng Thảo Thạch Hộc Vôi (D cretaceum Lindl), Hoàng Thảo Trụ Cứng (D
caryaecolum Guill), Hoàng Thảo Trúc Lan (D cathcartii Hook.f)
Vùng Đồng Bằng Nam Bộ: Hoàng Thảo Lá Cong (D acinaciforme Roxb)
2.2.2.3 Giá trị sử dụng của Lan thuộc Chi Hoàng Thảo
Lan Hoàng Thảo là một chi có ý nghĩa kinh tế lớn bởi rất nhiều loài trong chi có dáng cây đa dạng, hoa đẹp để trồng làm cảnh Lan Hoàng Thảo
có khả năng thích nghi rộng với điều kiện sống, phân bố rất rộng nên có ý nghĩa thương mại lớn Đặc biệt có nhiều loài là đặc hữu, được đưa vào Sách
Đỏ Việt Nam rất quý hiếm như Ngọc Vạn, Phương Dung (Averyanov, 2004) [19] Ngoài ý nghĩa làm cảnh, một số loài Hoàng Thảo cũng là một vị thuốc
dân tộc cổ truyền Các loài D nobile, D gratiosissimum, D crumenatum
được dùng để chữa sốt nóng, khô cổ, bứt rứt, kém ăn, giảm thị lực Các vị thuốc từ Hoàng Thảo có tên là Shih-Hu hay Shihu có vị ngọt, tính hàn có tác dụng bồi bổ cơ thể, tăng lực, bồi bổ dạ dày, gây tiết nước bọt, tăng sự ngon miệng Đó cũng là bài thuốc dùng khi sốt cao, khát nước và đổ mồ hôi trộm, đuối sức Nhiều nghiên cứu cho thấy những loại canh mọi người thường dùng như canh hành tây, canh cà chua, canh cà rốt…nếu cho thêm một số vị thuốc đông y trong đó có Lan Hoàng Thảo sẽ có tác dụng phòng chống ung thư rất
tốt Lan Hoàng thảo Long Tu (D primulinum Lindl) ngoài được trồng làm cảnh
vì dáng cây mềm mại, hoa dày đặc trên giả hành không có lá, nở nhiều vào dịp Tết Nguyên Đán thì giả hành của loài này có tính mát nên được dùng để làm thuốc trị bỏng lửa, tê liệt nửa người, bệnh mẩn ngứa Thân của Hoàng Thảo Phương Dung Hoàng Thảo Thạch Hộc môi rang, Hoàng Thảo vẩy rắn có vị ngọt, nhạt, hơi mặn, tính hàn, có tác dụng tư âm tích vị, sinh tân chỉ khát nên thường dùng để chữa bệnh sốt cao, tổn thương bên trong cơ thể, miệng khô
Trang 27Trước đây “Vua chơi lan, quan chơi trà” thể hiện thú chơi lan chỉ dành cho các bậc đế vương Ngày nay, nhu cầu tiêu thụ cũng như thưởng thức loài hoa vương giả này ngày càng trở nên phổ biến Lan Hoàng Thảo cũng không nằm ngoài nhu cầu của người tiêu dùng, đặc biệt là các dịp lễ Tết
Nước ta là nước có điều kiện thuận lợi cho các loài lan sinh trưởng và phát triển, cho nên Hoa Lan đã được nhân dân ta thuần hóa và trồng từ lâu đời Càng ngày các loài lan càng trở nên phong phú và đa dạng nhờ được bổ sung các giống mới do lai tạo và nhập nội Đối với người Việt Nam, Hoa Lan là hình ảnh rất gần gũi và thân thiết vì nó là loài hoa vừa đẹp vừa dễ trồng Trồng lan không những là thú vui tiêu khiển bổ ích giúp con người hòa hợp với thiên nhiên mà còn là nghề đem lại nguồn thu nhập kinh tế khá cao Nó phù hợp với tình hình kinh tế của nước ta hiện nay, tại điều kiện để mở rộng các mặt hàng xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm cho mọi người ở mọi lứa tuổi Ngoài ra trồng lan tốn ít đất, không phải sử dụng đất của nông nghiệp Trồng Lan còn tạo vùng cây xanh cho gia đình, làm không khí thêm trong lành, góp phần tích cực vào việc bảo vệ mội trường nhất là ở thành phố Trồng lan còn nâng cao đời sống tinh thần của chúng ta, giúp ta biết hưởng thụ và cảm nhận cái đẹp, biết yêu và bảo vệ thiên nhiên (Nguyễn Văn Kết và
cs , 2005; Trần Duy Quý, 2005) [14]
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Tổng thuật tài liệu về khu vực nghiên cứu
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải nằm ở phía Tây có địa hình núi cao Púng Luông – Xà Phình Được nối với dãy núi này bằng một dải dông cao khoảng 1.600m – 1.700m Nhìn trên tổng thể, khu bảo tồn gần như biệt lập với dãy Hoàng Liên Sơn
Trang 28Về hành chính, khu Bảo tồn nằm trong xã Chế Tạo; phần còn lại là các sườn núi ở độ cao trên 1.700m thuộc các xã Lao Chải, Dế Xu Phình, Púng Luông, Nậm Khắt Trung tâm Khu bảo tồn, cách huyện lỵ Mù Cang Chải 15km theo đường chim bay, 40km theo đường ôtô
Khu vực có toạ độ địa lý và ranh giới như sau:
Từ 17038’16’’ đến 21047’55” vĩ độ Bắc
Từ 103055’58” đến 1400 10’ 05” kinh độ Đông
Tổng diện tích khu bảo tồn: 20.293,1ha, trong đó:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 15.128,7ha
- Phân khu phục hồi sinh thái: 5.164,4ha
Sau đó theo quyết định số 578/QĐ-UBND ngày 22/5/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Yên Bái thì tổng diện tích của khu bảo tồn là 20.108,2 ha
2.3.1.2 Địa hình, địa thế
Khu bảo tồn loài sinh cảnh Mù Cang Chải có địa hình núi cao Có thể hình dung khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải là một vòng cung được tạo thành bởi dãy núi cao từ 1.700m – 2.500m, bao quanh xã Chế Tạo và vùng đầu nguồn của suối Nậm Chải Lần lượt từ phía Tây Bắc sang phía Đông và Nam có các đỉnh núi sau: Phú Bà (2.200m), Tà Lãnh (2.150m), Phù Tiên Văn (2.298m), đỉnh Tà Sùa (2.443m) Từ dãy núi cao, hạ dần độ cao theo một dông núi xuống đến 300m ở bên bờ Nậm Chải
Nhìn chung đại bộ phận đất đai của khu bảo tồn ở độ cao từ 1.700m trở lên đến 2.445m, với độ phân cách địa hình quá sâu đã tạo lên một thung lũng rất hẹp
Tuy vậy, ở độ cao 2.250 – 2.300m có một mảnh đất bằng gần đỉnh Phù Lao Đây là vùng có nước quanh năm và rừng nguyên sinh với nhiều loài cây quí hiếm, kích thước lớn
Khu vực có các kiểu địa hình chính sau đây:
Trang 29- Kiểu địa hình núi cao (N1, > 1.700m): Do uốn nếp, khối núi được nâng
lên mạnh mẽ, tạo thành dải núi cao mà hẹp nằm ở xung quanh xã Chế Tạo Trong đó có rất nhiều đỉnh cao > 2.000m, chúng được cấu tạo chủ yếu bằng đá Riolit và đá biến chất Octogonai Tính chất xâm thực và mức độ chia cắt rất mạnh Đó là nguyên nhân làm cho địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn
- Kiểu địa hình Núi trung bình (N2, 700m – 700m): Vùng này bao
chiếm phần nhỏ ở phía tả ngạn suối Nậm Chải thuộc xã Chế Tạo Tuy cấu trúc sơn văn khá phức tạp, nhưng do được cấu tạo chủ yếu bằng đá biến chất
và trầm tích nên địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn
- Kiểu địa hình Núi thấp (N3, 300m – 700m): Kiểu địa hình này chỉ
chiếm một diện tích rất nhỏ về phía tả ngạn Nậm Chải khoảng hơn 200ha Tuy diện tích nhỏ bé và độ cao tuyệt đối thấp, nhưng độ dốc lại rất cao (trung bình >
350) vì hiện tượng xâm thực và bào mòn của nước mặt xẩy ra rất mạnh mẽ
2.3.1.3 Địa chất, đất đai
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải và vùng đệm nằm phía Tây Nam dãy núi cao Xà Phình – Púng Luông Đoạn phía Đông của Hoàng Liên Sơn có đỉnh cao nhất là Pu Song Sung (2.985m) và nhiều đỉnh có chiều cao tương tự Khối núi này đều được cấu tạo bằng các loại đá có nguồn gốc mácma và phun trào axít như Tuf, Ryolit, Ortofia và là những loại đá cứng, khó phong hoá nên tầng mẫu chất mỏng Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới núi cao ẩm, các loại đá này đều có vỏ phong hoá khá dầy ở chân núi Nhưng
do ở sườn và đỉnh bị nước mặt hoạt động dữ dội nên tốc độ phong hoá không bù lại được với tốc độ xâm thực, đá gốc thường lộ ra và tầng phong hoá rất mỏng Điều đó tạo cho núi có đỉnh nhọn và sắc Bản thân các dẫy núi được hình thành
do vận động tạo núi Calcendon, các khối xâm nhập nhô lên cao hơn, làm tăng cường khả năng xâm thực của nước Dựa vào các đường nứt nẻ lớn sẵn có trong
Trang 30đá Mácma, các sông suối cứ dần dần cắt xẻ vào khối núi này khiến cho sườn núi
có độ dốc rất lớn, dựng đứng xuống tận chân núi
Trong đại Pyteorzoi, vỏ lục địa khối núi này đã tương đối ổn định, hình thành lên một số hệ tầng trầm tích (Sa thạch và phiến thạch sét) và hệ tầng biến chất (Mica, Thạch anh, Amphybolit) Trong dải này có một số các hoạt động xâm nhập Macma, tạo thành các khối Gabro, Diaba, Aldezit ở phía Tây
và Tây Bắc khu bảo tồn thuộc xã Chế Tạo, và Lao Chải
Dựa vào các dẫn liệu từ khảo sát thực địa và tham khảo bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000 của Yên Bái, các loại đất chính trong vùng được trình bày tại bảng 2.1
Bảng 2.1: Đặc điểm các loại đất chính khu BTL&SC Mù Cang Chải
Tổng diện tích 20.293
1 Đất mùn Alit
núi cao (HA) 18.588
Đất mùn Alit núi cao phát triển trên Macma axit (Riolit, Octogonai) tầng mùn thô dầy nhất (nhiều nơi dầy 50-60cm, TB là 25-30cm), tầng đất mỏng màu vàng nhạt
Phân bố từ độ cao > 1.700m -2.500m của các đỉnh núi cao xung quanh Mù Cang Chải
Phân bố từ độ cao 700m -1.700m chiếm hầu hết vùng
Trang 31đỏ hay đỏ nâu (tuỳ đá mẹ)
mẹ khác nhau Tầng đất dày đến trung bình, tầng mùn mỏng TPCG trung bình, nhiều nơi bị xói mòn khá mạnh do
độ dốc lớn
Phân bố vùng núi Tây Nam KBT Độ cao < 700m thuộc lưu vực Nam Chai
2.3.1.4 Khí hậu thủy văn
a Khí hậu
Mặc dù nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do địa hình núi cao chi phối, nên Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Mù Cang Chải có chế độ khí hậu á nhiệt đới rõ rệt
Chế độ nhiệt: Qua số liệu khí tượng tại trạm Mù Cang Chải ở độ cao
975m thì nhiệt độ bình quân năm là 18,70 C, với tháng giêng lạnh nhất (12,40 C) và tháng 6 nóng nhất (22,60 C) Càng lên cao nhiệt độ càng giảm
Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa trung bình năm 1.813,4mm với 157 ngày
mưa và mưa theo mùa Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 91,1% lượng mưa năm
+ Sương muối: đôi khi xuất hiện vào mùa khô lạnh, có đợt kéo dài 2-3 ngày, thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 năm sau
+ Tuyết: Có năm có tuyết rơi 1 đến 3 ngày vào tháng 12 đến tháng 1 ở khu vực xã Chế Tạo
+ Gió: Hướng gió chính là gió Đông Bắc vào mùa đông và gió Tây Nam vào mùa hạ Mùa khô thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió Lào,
Trang 32gây ảnh hưởng không nhỏ tới cây trồng, vật nuôi và đời sống sinh hoạt của con người
Nhìn chung khí hậu khu vực nghiên cứu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa miền núi phía Bắc Việt Nam, mang tính chất khí hậu Á nhiệt đới rõ rệt, mưa ẩm vào mùa hè, lạnh khô vào mùa đông Riêng mùa đông lạnh có sương mù sương muối, có thể có tuyết rơi; Mùa hè có gió lào hoạt động thường xuyên, đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất Nông-Lâm nghiệp
có nước quanh năm
Nhìn chung, mạng lưới suối phân bố khá đều và dầy, mật độ trung bình từ 1,5 – 2.0 km/km2 Vì vậy hệ thống suối ở Mù Cang Chải cung cấp đủ nước quanh năm cho Động vật rừng sinh sống
2.3.1.5 Thảm thực vật
Thảm thực vật tự nhiên hiện nay của Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải chủ yếu là rừng thường xanh núi cao trên 1300m Điều này thể hiện sự suy giảm đáng kể diện tích rừng so với trước khi có người dân sinh sống Ở khu vực ở dưới thấp hơn, vùng gò đồi đã bị người dân sử dụng làm nương dãy nên hầu hết thảm thực vật đã bị tác động
Điều tra sơ bộ về thực vật tại các cánh rừng nguyên sinh Mù Cang Chải cho thấy thành phần và cấu trúc mang tính đặc trưng của dãy núi Hoàng Liên Sơn Tính theo đai độ cao thì các rừng này có thể chia thành ba kiểu khác nhau: Rừng núi thấp, rừng núi cao và rừng lùn núi cao Trong đó:
Trang 33 Rừng núi thấp: Xuất hiện độ cao 700-1800m, có diện tích 210ha
rừng nguyên sinh Kiểu rừng này có tán thay đổi liên tục và đạt tới độ cao 30m Thành phần chủ yếu là các hộ Dẻ, Mộc lan, Côm Tầng vượt tán lên tới 40-50m với các loài cây lá rộng thuộc họ Dẻ, Long não và cây lá kim: Pơ mu Tầng dưới <20m là các cá thể non, cùng với các loài cây ưa bóng ôn đới Các loài phụ sinh phổ biến là dương xỉ, cây họ Ráy và Phong lan
20- Rừng núi cao: Kéo dài từ độ cao 1.600m- 2.300m Loại rừng này hầu
như chưa bị tác động và chịu ảnh hưởng của khí hậu á nhiệt đới Cấu trúc của chúng tương tự cấu trúc của tầng tán thấp và chúng chưa vượt tán Tầng tán
có độ cao từ 15-25m thành phần các loài cây tương tự các vùng núi thấp gồm các loài trong họ Dẻ, Long não, Mộc lan Nhưng các quần hợp trên núi cao còn xuất hiện một số cây lá kim mà rừng núi thấp không có, bao gồm các loài:
Amentotaxus argotaenia, Tsuga chinensis, Cunninghamia sp Ngoài ra tầng
đất còn có các bụi tre dày thuần loại của loài Arudunaria sp, các loài thực vật
biểu sinh phong phú và đa dạng hơn rừng núi thấp
Rừng lùn núi cao: Chiếm 4% toàn bộ diện tích thảm rừng và 2% diện
tích khu bảo tồn, tuy nhiên thảm thực vật này chỉ phát triển trên độ cao 2.300m Nơi đây có khí hậu khá khắc nghiệt mang tính đặc thù, do đó sự đa dạng loài và cấu trúc rừng không phức tạp Rừng chỉ có 2 từng: tầng thấp (5-
10 m) với loài cây ưu thế là Rhododendron (Ericaceae) Tầng mặt dày gồm
các bụi trúc lùn, rêu, dương xỉ Một số loài thực vật biểu sinh được tìm thấy ở đây như: dương xỉ, địa y
Thảm thực vật trong KBT Loài và sinh cảnh Mù Cang Chải bao gồm chủ yếu là các loài cây lá rộng thường xanh Một vài nơi còn sót lại rải rác
cây lá kim như: Pơmu (Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus
neriifonius) Đặc biệt trên phần đỉnh của hệ thống núi phía Đông có thung
lũng nhỏ khoảng >1 km2, rất bằng phẳng có xuất hiện kiểu rừng hỗn giao lá
rộng, lá kim Á nhiệt đới với một số loài cây ưu thế như: Thiết sam (Tsuga
Trang 34dumosa), Bông sứ (Michelia hypolamra), Re hương (Cinnamomun iners), Sồi
lào (Lithocapus laoticus) và một số loài khác Diện tích rừng tự nhiên nguyên
sinh ít bị tác động chiếm 44% Rừng thứ sinh hiện bao phủ 15% diện tích khu bảo tồn Loại rừng này chủ yếu phân bố ở nơi cao, dốc, xa khu dân cư, khó có thể tiếp cận, do đó chỉ có một số hoạt động khai thác gỗ lẻ tẻ hoặc thu hái những sản phẩm lâm sản phụ khác như mật ong, lan thuộc Chi Hoàng Thảo Chính vì vậy cấu trúc rừng còn tương đối đồng nhất, tán rừng thường phẳng, chiều cao cây khá đồng đều Tuy nhiên gần 33% diện tích thảm thực vật trong KBT đã bị tàn phá bởi nhiều hoạt động của con người, tán rừng bị phá vỡ, chất lượng rừng đã bị suy giảm nghiêm trọng như chặt trắng, chặt chọn và du canh, du cư đã khiến cấu trúc rừng trở nên đơn giản hơn nhiều so với rừng nguyên sinh trước đây, phần lớn là các loài cây mọc nhanh như
Mallotus, Schima và Styrax, có độ che phủ trên 50% Những đặc điểm cơ bản
của từng loại rừng được cụ thể ở bảng 3.2:
Bảng 2.2: Các kiểu thảm thực vật và độ che phủ của Khu Bảo tồn loài và
Sinh cảnh Mù Cang Chải
Tỉ lệ % độ che phủ của rừng
Tỉ lệ % tổng diện tích
Trang 35PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đối tượng điều tra: Là các loài lan trong chi lan hoàng thảo (Dendrobium) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đa dạng loài, một số đặc điểm sinh
học và phân bố của chi lan hoàng thảo (Dendrobium) tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh mù Cang Chải tỉnh Yên Bái
Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ 1/1/2019 đến 30/5/2019
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu, khóa luận nghiên cứu có các nội dung chính sau:
3.2.1 Đặc điểm sự hiểu biết của người dân về các loài lan
- Sự hiểu biết của người dân về các loài Lan tại địa điểm nghiên cứu
- Thực trạng khai thác và sử dụng các loài Lan
3.2.2 Đa dạng loài lan trong chi Hoàng thảo
- Danh lục loài lan
- Cấp độ bảo tồn các loài lan quý hiếm
3.2.3 Đặc điểm phân bố của các loài lan
- Phân bố theo tuyến
- Phân bố theo độ cao
- Các loài lan người dân thu hái và gây trồng
3.2.4 Đặc điểm nổi bật về hình thái của các loài lan
- Hình thái thân cây, rễ, lá, hoa, quả
3.2.5 Một số đặc điểm sinh thái của các loài lan
- Các loài cây chủ (giá thể) của các loài lan thường cộng sinh
- Đặc điểm về ánh sáng nơi các loài lan phân bố
Trang 36- Đặc điểm về tái sinh của loài
3.2.6 Thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển loài Lan 3.2.7 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Lan
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Kế thừa các thông tin thu thập được trong và ngoài nước và việc cập nhật
và phát hiện mới nguồn tài nguyên các loài Lan thuộc Chi Hoàng Thảo của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải nói riêng và của khu vực miền Bắc Việt Nam nói chung
3.3.1 Phương pháp điều tra thành phần loài
Phương pháp này thường được áp dụng trong điều tra thực vật hiện nay
ở Việt Nam, cũng như trên thế giới Người cung cấp tin thường là những người am hiểu về Lan rừng như:
+ Những người thường đi rừng lấy Lan rừng, v.v…
+ Các cán bộ khu bảo tồn
+ Các chuyên gia về Lan rừng
Mục tiêu điều tra là xác định thành phần loài và đánh giá hiện trạng loài trong khu bảo tồn Các bước thực hiện bao gồm:
- Xác định tuyến điều tra
Tuyến điều tra được xác định dựa trên thực trạng thực vật, địa hình và phân bố các loài lan thuộc Chi Hoàng Thảo trong khu vực Để bảo đảm tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên đi qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau
Trang 37Bảng 3.1 Các tuyến điều tra Tuyến
số
Tọa độ: Bắt đầu/Kết thúc Chiều
dài (km)
Dạng sinh cảnh
1 104°03'47.6"E 21°41'57.0"N 4,84 Sinh cảnh rừng thứ sinh,
rừng nguyên sinh, suối 104°05'19.9"E 21°40'55.9"N
2 104°03'25.7"E 21°43'28.3"N 4,56 Sinh cảnh rừng thứ sinh,
rừng nguyên sinh, suối 104°06'01.5"E 21°44'04.8"N
3 104°01'23.4"E 21°44'18.5"N 4,47 Sinh cảnh rừng thứ sinh,
rừng nguyên sinh, suối 103°59'44.6"E 21°46'11.5"N
4 104°00'25.1"E 21°43'26.9"N 4,33 Sinh cảnh rừng thứ sinh,
rừng nguyên sinh, suối 103°58'01.8"E 21°42'42.8"N
5 104°01'25.3"E 21°41'57.4"N 3,18 Sinh cảnh rừng thứ sinh,
rừng nguyên sinh, suối 104°00'57.1"E 21°40'18.0"N
- Thu thập thông tin tại thực địa
Người cung cấp tin và điều tra viên cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất kì loài Lan rừng nào trên đường đi hay khi có sự thay đổi về điều kiện lập địa, sinh cảnh và phỏng vấn đối với tất cả các loài Lan thuộc Chi
Hoàng Thảo (Dendrobium) hiện có trong khu vực đó Thông tin cần phỏng vấn: tên các loài Lan (theo tên địa phương), khu vực sống Để tiết kiệm thời
gian in sẵn một sổ thu mẫu có các nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá trình điều tra Bất kì dấu hiệu nào được người cung cấp thông tin xác định là Lan rừng đều được thu thập để xác định
tên khoa học
- Xử lý số liệu
Thông tin thu thập được theo phương pháp này thường có tính chất
Trang 38định tính, bao gồm: danh mục loài (Tên địa phương, tên khoa học, đặc điểm, phân loại, họ), ước lượng tần số xuất hiện trong tuyến điều tra
- Thu mẫu tiêu bản
Thu mẫu tiêu bản đối với những loài Lan không thể xác định hoặc định danh được tên loài Các mẫu này sẽ được thu thập và được gắn nhãn ghi rõ các thông tin như: Kí hiệu mẫu, thời gian, địa điểm thu mẫu và người thu mẫu Trong quá trình thu mẫu, một vài trường hợp cần thiết cho việc định danh chính xác loài thì chụp hình các mẫu đã xác định được Sử dụng máy định vị GPS đánh dấu tọa độ điểm thu mẫu để ghi nhận nơi phân bố của loài lan thuộc Chi Hoàng Thảo trong vùng
- Phỏng vấn
Việc phỏng vấn được thực hiện trực tiếp đối với các người có kinh nghiệm và hiểu biết như; người dân sống xung quanh, người đi rừng, các chuyên gia về Lan rừng phỏng vấn trên các cá thể loài đã được đeo nhãn sử dụng một câu hỏi như nhau cho mỗi cá thể và mỗi người cung cấp tin Nội dung phỏng vấn có thể biến đổi tuỳ mục đích điều tra nhưng tối thiểu bao gồm: tên loài (Tên địa phương), đặc điểm, ước tính số lượng… Phỏng vấn với số lượng là 30 phiếu gồm người dân sống trong khu bảo tồn và người chơi lan hoặc có thể dao động tuỳ thuộc mức độ điều tra, có thể chỉ là những người cung cấp tin quan trọng, hay là các đối tượng xã hội khác nhau (Danh sách người trả lời phỏng vấn được liệt kê tại bảng 01 phần phụ lục)
- Điều tra đặc điểm sinh thái của các loài Lan
Trên tuyến khi bắt gặp các loài lan tiến hành xác định tên loài (sơ bộ)
Trang 393.3.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu
a) Phương pháp thu mẫu
Điều tra phân bố và đặc điểm sinh học của Lan thuộc Chi Hoàng Thảo theo phương pháp điều tra thực vật truyền thống, bao gồm: Điều tra thực vật trên tuyến: Trên các tuyến điều tra tiến hành thống kê, thu thập mẫu thực vật, chụp ảnh, định vị toạ độ loài Lan thuộc Chi Hoàng Thảo
Thu mẫu nhằm xác định các loài không thể định loại được ngoài thực địa Tuỳ theo từng loài và dạng địa hình, đề tài sử dụng hai biện pháp thu mẫu chính: Chụp ảnh và lấy vật mẫu[13]
b) Xử lý mẫu ngoài thực địa
Thu thập mẫu vật Lan thuộc Chi Hoàng Thảo, chụp ảnh và lấy mẫu Sau đó tham vấn ý kiến của các cán bộ chuyên môn, các chuyên gia để định dạng loài
3.3.3 Phương pháp nội nghiệp
Kết quả thu thập được phân tích và xử lý theo từng nội dung nghiên cứu, thông qua việc sử dụng phần mền như Excel, dùng để thống kê tọa độ trong quá trình điều tra trên tuyến, thống kê loài, số lượng loài