TRẦN CAO ANH NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ CẤU TRÚC RỪNG NƠI PHÂN BỐ CÂY XOAN TA Melia azedarach Linn TẠI HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC THÁI NGUYÊN,
Trang 1TRẦN CAO ANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
VÀ CẤU TRÚC RỪNG NƠI PHÂN BỐ
CÂY XOAN TA (Melia azedarach Linn)
TẠI HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
THÁI NGUYÊN, 2020
Trang 2TRẦN CAO ANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
VÀ CẤU TRÚC RỪNG NƠI PHÂN BỐ
CÂY XOAN TA (Melia azedarach Linn)
TẠI HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Lâm học
Mã số: 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS TRẦN CÔNG QUÂN
THÁI NGUYÊN, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm
học và cấu trúc rừng nơi phân bố cây Xoan ta (Melia azedarach Linn) tại
huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi,
công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Công Quân, Giảng viên khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong Luận văn đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong Luận văn là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
Thái Nguyên, ngày …tháng năm 2020
Người viết cam đoan
TRẦN CAO ANH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng trên thế giới 4
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 4
1.2 Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng ở Việt Nam 9
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 9
1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 12
1.3 Những nghiên cứu về cây Xoan ta trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.3.1 Những nghiên cứu cây Xoan ta trên thế giới 14
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 18
1.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 18
1.4.2 Các yếu tố kinh tế khu vực huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp luận 25
Trang 52.4 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.4.1 Phương pháp kế thừa 25
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn 25
2.4.3 Thu thập số liệu ngoài hiện trường 25
2.4.4 Xử lý số liệu 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Một số yếu tố sinh thái nơi có Xoan ta phân bố tại địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Điều kiện khí hậu nơi có cây Xoan ta phân bố và được trồng 32
3.1.2 Đặc điểm đất đai nơi Xoan ta phân bố 33
3.2 Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao 36
3.2.1 Cấu trúc tổ thành rừng nơi có Xoan ta phân bố 36
3.2.2 Cấu trúc tầng thứ nơi phân bố loài Xoan ta 42
3.2.3 Cấu trúc mật độ toàn rừng và mật độ Xoan ta 45
3.2.4 Chỉ số đa dạng loài tầng cây gỗ nơi phân bố loài Xoan ta 46
3.3 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh và đặc điểm sinh thái nơi Xoan ta phân bố 47
3.3.1 Đặc điểm sinh thái nơi Xoan ta phân bố 35
3.3.2 Đặc điểm đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh 47
3.3.3 Mật độ cây tái sinh của loài Xoan ta 51
3.3.4 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao 52
3.3.5 Số lượng cây tái sinh theo nguồn gốc 55
3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Xoan ta tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng 56
3.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sách: 56
3.4.2 Giải pháp về khoa học kỹ thuật: 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi 29
Bảng 3.1 Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại khu vực nghiên cứu 32
Bảng 3.2 Đặc điểm đất tại nơi Xoan ta phân bố tại xã Yên Thổ 33
Bảng 3.3 Đặc điểm đất tại nơi Xoan ta phân bố tại xã Thái Học 34
Bảng 3.4 Đặc điểm cấu trúc tổ thành trạng thái rừng IIa xã Yên Thổ Chân 37
Bảng 3.5 Đặc điểm cấu trúc tổ thành trạng thái rừng IIa xã Thái Học Chân 40
Bảng 3.6 Chiều cao của lâm phần và Xoan ta xã Thái Học 43
Bảng 3.7 Chiều cao của lâm phần và Xoan ta xã Yên Thổ 43
Bảng 3.8 Mật độ tầng cây cao và mật độ Xoan ta tại xã Thái Học 45
Bảng 3.9 Mật độ tầng cây cao và mật độ Xoan ta xã Yên Thổ 45
Bảng 3.10 Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học theo độ cao (Thái Học) 46
Bảng 3.11 Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học theo độ cao (Yên Thổ) 46
Bảng 3.12 Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng cây tái sinh trạng thái rừng IIa
xã Thái Học 47
Bảng 3.13 Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng cây tái sinh trạng thái rừng IIa
xã Yên Thổ 49
Bảng 3.14 Mật độ cây tái sinh Xoan ta trong các trạng thái 52
Bảng 3.15 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của lâm phần và Xoan ta
xã Thái Học 53
Bảng 3.16 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của lâm phần và Xoan ta
xã Yên Thổ 54
Bảng 3.17 Số lượng và tỷ lệ cây tái sinh theo nguồn gốc 55
Bảng 3.18 Nguồn gốc chất lượng cây tái sinh toàn lâm phần và Xoan ta
xã Thái Học 55
Bảng 3.19 Nguồn gốc chất lượng cây tái sinh toàn lâm phần và Xoan ta
xã Yên Thổ 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, rừng trồng sản xuất của nước
ta đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng Việc đẩy mạnh trồng rừng sản xuất đã mang lại nhiều lợi ích to lớn, không chỉ về mặt phòng hộ môi trường mà quan trọng hơn là nâng cao được thu nhập cho người làm nghề rừng Tuy nhiên, trong thời gian qua việc phát triển trồng rừng sản xuất ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào kinh doanh gỗ nhỏ với các loài cây mọc nhanh, chủ yếu là Keo, Bạch đàn, Bồ đề, Mỡ… Năm 2014, cụm từ “Chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn” lần đầu tiên được đưa ra tạiQuyết định số 774/QĐ- BNN-TCLN ngày 18/4/2014 của Bộ NN- PTNT về việc phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng suất và giá trị rừng trồng Luật Lâm nghiệp năm 2017 khuyến khích các thành phần kinh tế thực hiện chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn ở những nơi thích hợp Trong Quyết định số: 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, về: Danh mục các loài cây chủ lực trồng rừng sản xuất và Danh mục các loài cây chủ yếu trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp vùng Đông Bắc, gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, thì Xoan ta đúng thứ 21 và hầu hết các vùng đều có nhu cầu trồng cây Xoan ta
Xoan ta (Melia azedarach Linn) thuộc họ Xoan (Meliaceae) có nguồn
gốc ở Châu Á, được phân bố rộng rãi khắp thế giới như Lào, Trung Quốc,
Thái Lan và tại Việt Nam Ở Việt Nam, cây Xoan ta (Melia azedarach Linn)
phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Quảng Ninh… và một số tỉnh Tây Nguyên Cây xoan ta phân bố tự nhiên ở rừng tự nhiên lá rộng thường xanh phục hồi và rừng trung bình Gỗ xoan ta thuộc nhóm VI trong bảng gỗ Việt Nam với rất nhiều tên gọi như Pride of India, White cedar, Persian lilac, Paradise tree… và
Trang 9những người dân miền Trung cũng thường gọi cây gỗ Xoan ta là cây Thầu đâu Xoan ta là cây gỗ trung bình và thường cao khoảng 7-20 m, tuy nhiên ở vùng phía Bắc Australia người ta ghi nhận có cây cao hơn 40m, đường kính dao động từ 30-50 cm Thân cây thẳng, vỏ ngoài màu xám nâu, cây mang lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, bìa lá có răng cưa, mặt trên lá xanh thẫm, mặt dưới hơi vàng Các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện thuận lợi để phát triển trồng rừng Xoan ta phục vụ kinh doanh rừng trồng gỗ lớn, thường dùng trong xây dựng, đóng bàn ghế và các đồ gia dụng, đồ mộc Gỗ đun cho nhiệt lượng cao, đốt than làm thuốc súng Vỏ dùng làm thuốc, lá dùng để làm phân xanh, làm thuốc chữa giun sán cho trâu bò, chế biến thuốc phòng trừ sâu bệnh
Hiện nay, ở nước ta các nghiên cứu về loài Xoan ta còn hạn chế, các nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu chọn giống, nhân giống, đánh giá khả năng sinh trưởng của một số xuất xứ và trồng cây Xoan ta, các thông tin về khả năng tái sinh trong tự nhiên còn ít Tuy nhiên, hiện nay những thông tin đặc điểm lâm học và cấu trúc rừng nơi có Xoan ta phân bố tự nhiên còn rất ít
và tản mạn; Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm
lâm học và cấu trúc rừng nơi phân bố cây Xoan ta (Melia azedarach Linn) tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng”, được thực hiện là rất cần thiết và có ý
Trang 10- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển cây Xoan ta ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp thêm những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học và cấu trúc rừng phân bố tự nhiên của cây Xoan ta tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Trên cở sở hiểu biết về đặc điểm sinh thái học (Đặc điểm sinh thái: Điều kiện khí hậu, đất nơi Xoan ta phân bố; đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, cấu trúc tái sinh …), đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhân giống, trồng và phát triển
mở rộng số lượng và diện tích cây Xoan ta hỗn giao với cây bản địa, trồng dưới tán rừng thứ sinh và làm giàu rừng
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các cấp, các ngành trong việc bảo tồn và phát triển cây Xoan ta tại địa phương nói riêng và cho tất cả các địa phương có cây Xoan ta phân bố nói chung
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống hoà thuận trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Baur,G N (1964) [31], Odum P (1971) [34] tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Baur, G N (1964) [31] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động sử lý lâm sinh cải thiện rừng
Odum, P (1971) [34] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ
sở thuật ngữ hệ sinh thái (Ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
Richards, P W (1959, 1968, 1970) [30] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng
Trang 12(thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây
Schumarcher, F X và Coil, T X (1960) [36] đã sử dụng hàm Weibull
để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Peason, Poisson cũng đã được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng
Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ của quần
xã thực vật rừng Đại diện cho hướng phân loại này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng theo ngoại mạo sinh thái
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động, Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh phát triển của rừng
Việc định lượng các đặc điểm cấu trúc rừng đã được tác giả trên thế giới
sử dụng trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái rừng tự nhiên, kể cả các hệ sinh thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới (Weidelt 1968, Brun 1969, Lamprecht H., 1969) [33]
Phương pháp phân tích lâm sinh đã được Lamprecht, H (1969) [33] mô
tả chi tiết Các tác giả nghiên cứu rừng tự nhiên vùng nhiệt đới sau đó đã vận dụng phương pháp này và mở rộng thêm những chỉ tiêu định lượng mới cho phân tích cấu trúc rừng tự nhiên như Kammesheidt (1994) [32]
Trang 13Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh
doanh rừng
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít được quan tâm nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi Van Steenis, J (1956) [37] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưu sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa các cách sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Walton, A B Bernard, R C - Wyatt Smith
Trang 14(1950) [40] với phương thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai; Taylor (1954) [38], Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng ở Nijêria và Gana Nội dung hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur,
G N (1976) [31] tổng kết trong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards,P.W (1952), Bernard Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m; 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ
sở các số liệu thu thập Tayloer (1954) [38], Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [3]
Lamprecht, H (1969) [33] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Tác giả Baur,G N (1976) [31] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém
Trang 15phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây
có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ
và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân
tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [15]
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) [35] nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia
và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy
từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy
Trang 16bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững
1.2 Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình
Trần Ngũ Phương (1970) [12] đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong đó rất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng
Ngày nay, hệ thống phân loại thảm thực vật UNESCO (1973) [39] được coi là khung phân loại chung cho thảm thực vật trên trái đất Hệ thống phân loại này dựa vào cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin chung về sinh thái, địa lý Thảm thực vật chia thành 5 lớp quần hệ: 1 Lớp quần hệ rừng kín; 2 Lớp quần hệ rừng thưa; 3 Lớp quần hệ cây bụi; 4 Lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã gần gũi; 5 Lớp quần hệ cây thảo Trong lớp quần hệ cây bụi chia ra thành 2 phân lớp: phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu thường xanh và phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu rụng lá Trong mỗi phân lớp này được chia thành nhiều nhóm quần hệ và quần hệ thảm cây bụi
Thái Văn Trừng (1978) [20] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết
Trang 17Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000) [21] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần hệ) Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của GS Thái Văn Trừng từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973) [39]
Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn Đây là quy luật cơ bản nhất trong các quy luật kết cấu lâm phần Biết được quy luật phân bố, có thể xác định được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ
sở xác định trữ lượng lâm phần
Nguyễn Văn Trương (1983) [19] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài
đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987) đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng
có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây
Nguyễn Anh Dũng (2000) [5] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông Đà - Hoà Bình
Bùi Thế Đồi (2001) [6] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam
Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (2001) [14] thử nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng
Trang 18lá rộng, hỗn loại thường xanh ở Kon Hà Nừng - Gia Lai cho rằng đa số loài cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động
Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thì việc mô hình hoá cấu trúc đường kính (D1.3) được nhiều người quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của các tác giả như: Đồng Sĩ Hiền (1974) [7] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam
Trần Văn Con (1991) [4] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Đăklăk
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [17], thống kê thành phần loài của Vườn Quốc Gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần và ngành Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Trong các loài trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn như: Hoàng thảo tam đảo (Dendrobium daoensis), Trà hoa dài (Camellia longicaudata), Trà hoa vàng tam đảo (Camellia petelotii), Hoa tiên (Asarum petelotii), Trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)
Đặng Kim Vui (2002) [22], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1
- 2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và
họ Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất 10 loài, sau đó đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Misaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi
họ có 4 loài Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae),
họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu chuẩn cao
Trang 19nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, tỷ lệ phủ thấp nhất 75-80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi
Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm
1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên cứu từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình các kết quả nghiên cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [18] tổng kết và kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam, hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều,
số cây mạ có h < 20cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thước khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên
Trần Ngũ Phương (1970) [12] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng
cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh
tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
Trang 20Phùng Ngọc Lan (1986) [9] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn) Nguyễn Duy Chuyên (1988) [2] đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu
Vũ Tiến Hinh (1991) [8] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ số
tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy
Nguyễn Ngọc Lung (1993) [10] và cộng sự khi nghiên cứu về khoanh nuôi và phục hồi rừng đã cho rằng, nghiên cứu quá trình tái sinh phải nắm chắc các yếu tố môi trường và các quy luật tự nhiên tác động lên thảm thực vật Qua đó xác định các điều kiện cần và đủ để tác động của con người đi đúng hướng, quá trình này được gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [16] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng, chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi Qua đó, tác giả kết luận: rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Trang 21Khi nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An Nguyễn Duy Chuyên (1995) [3] đã nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo chiều cao, phân bố tổ thành cây tái sinh, số lượng cây tái sinh Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây tái sinh cho toàn lâm phần, tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có phân bố cụm
Thái Văn Trừng (2000) [21] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường
Trần Ngũ Phương (2000) [13] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và
sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
1.3 Những nghiên cứu về cây Xoan ta trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Những nghiên cứu cây Xoan ta trên thế giới
1.3.1.1 Phân loại và thực vật học
Xoan ta có tên khoa học là (Melia azedarach Linn), Tên Tiếng khác
nhau : Pride of India, White cedar, Persian lilac, Paradise tree,…Người miền Trung gọi: là thầu đâu
Trang 22Xoan ta là cây gỗ lớn trong điều kiện tự nhiên cây có thể cao tới 7 – 20
m, cá biệt vùng phía Bắc Australia cây cao hơn 40 m, đường kính 30 – 50 cm hoặc hơn, thân thẳng Vỏ ngoài của cây màu xám nâu, Cây mang lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, bìa lá chét có răng cưa, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới xanh vàng Hoa nhỏ màu trắng tim tím, mọc thành chùm tụ tán to, hoa nở rộ nhất vào
độ giữa mùa xuân nhiều cây sung sức, đến mùa phát dục, hoa nở rộ tạo lên cảnh đẹp, nhìn từ xa hầu như không còn nhận ra màu lá, có vỏ màu xanh khi cây còn non, vàng dần rồi nhăn nheo và khô héo khi chín, treo lơ lửng nhiều ngày trên cành, khi rơi rụng hoặc được chim chóc ăn rồi phát tán cây rất nhanh
1.3.1.2 Phân bố cây Xoan ta
Cây phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc, Lào,… là giống cây nguồn gốc ở châu Á, Nhưng phân bố rộng rãi hầu hết khắp thế giới Ở Việt Nam cây mọc hầu hết khắp các địa phương từ Bắc đến Nam, từ đồng bằng cho tới miền núi
1.3.1.3 Đặc điểm sinh thái cây Xoan ta
Xoan ta là cây ưa sáng Thích nghi phát triển tốt với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm
1.3.1.4 Giá trị sử dụng của cây Xoan ta
Gỗ Xoan ta được xếp ở nhóm 6, gỗ bền đẹp có đặc tính cơ lý rất tốt, trọng lượng gỗ trung bình, bề mặt gỗ có màu đỏ nhạt dễ gia công dùng để đóng đồ nội thất và cao cấp trong gia đình
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về cây Xoan ta (Melia azedarach Linn)
1.3.2.1 Phân loại và hình thái cây Xoan ta
Xoan ta có tên khoa học là (Melia azedarach Linn), tên khác theo tiếng
dân tộc Tày là Mạy Riền, nó là một loài thuộc họ Xoan – Meliaceae, với tên khoa học hiện hành là Melia azedarach và các tên đồng nghĩa là M sempervirens, M australis, M japonica với nhiều tên gọi tiếng Anh khác nhau như, Persian lilac, Paradise tree, Pride of India, White cedar…
Trang 23Xoan ta là cây gỗ lớn cao 7-20m, thân thẳng tròn, đường kính 30-50cm
Vỏ ngoài của cây màu xám nâu; Cây mang lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, bìa lá chét có răng cưa, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới xanh vàng
Hoa của Xoan ta nhỏ màu trắng tim tím, mọc thành chùm tụ tán to, hoa
nở rộ nhất vào độ giữa mùa xuân nhiều cây sung sức, đến mùa phát dục, hoa
nở rộ tạo lên cảnh đẹp, nhìn từ xa hầu như không còn nhận ra màu lá,
Quả Xoan ta có vỏ màu xanh khi cây còn non, vàng dần rồi nhăn nheo và khô héo khi chín, treo lơ lửng nhiều ngày trên cành, khi rơi rụng hoặc được chim chóc ăn rồi phát tán cây rất nhanh ở khắp mọi nơi, có thể trong rừng tự nhiên, co thể ven bờ suối…tái sinh hạt khi có điều kiện thuận lợi
1.3.2.2 Phân bố của cây Xoan ta
Cây Xoan ta phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc, Lào,… là giống cây nguồn gốc ở châu Á, nhưng phân bố rộng rãi hầu hết khắp thế giới Ở Việt Nam cây mọc hầu hết khắp các địa phương từ Bắc đến Nam, từ đồng bằng cho tới miền núi Ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang…miền Trung gọi là Thầu đâu, còn được gọi
là Xoan ta (phân biệt với xoan Ấn), xoan nhà (phân biệt với xoan rừng), luyện,
khổ luyện (theo tiếng Hán)
1.3.2.3 Đặc điểm sinh thái cây Xoan ta
Xoan ta là cây ưa sáng, sinh trưởng tương đối nhanh, chu kỳ kinh doanh không quá dài tùy theo mục đích kinh doanh song 10-15 năm cây có thể khai thác gỗ để đóng đồ gia dụng, Xoan ta dễ gây trồng, có thể trồng hỗn giao với nhiều loài cây khác Cây tái sinh mạnh trong các loại rừng thứ sinh có độ tàn che từ 0,3-0,5 Cây Xoan ta có biên độ sinh thái rộng nên có thể gây trồng ở các tỉnh miền Bắc những nơi có lượng mưa bình quân 1500-2500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 20-27°C Có thể trồng ở các loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là những nơi còn tính chất đất rừng hoặc trên là đất Feralit sâu dày,
ẩm mát, thoát nước
Trang 241.3.2.4 Giá trị sử dụng của cây Xoan ta
Gỗ Xoan ta có màu trắng hồng, có vân, nhẹ và mềm nhưng khá bền, ít bị mọt và mục nhưng dễ bị mối Gỗ có tỷ trọng: 0,50 – 0,55 Gỗ Xoan ta xếp nhóm VI, dùng trong xây dựng, đóng đồ, công vụ nông nghiệp Gỗ đun cho nhiệt lượng cao, đốt than làm thuốc súng Vỏ dùng làm thuốc Lá cây xoan nhiều nơi bàn con nông dân vẫn sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên, để bảo quản cầy trồng khác và một số loại lương thực Vì là loại cây có độc tính, chúng ta lưu ý lá xoan, trái xoan đều không thể ăn được Trước các
cụ xưa dùng nhựa cây và tinh dầu cất từ lá và thân cây pha loãng để sử dụng làm giãn tử cung
Gỗ đun cho nhiệt lượng lớn, gỗ xoan ta đốt than làm thuốc súng Vỏ dùng làm thuốc Lá dùng để làm phân xanh, công dụng làm thuốc chữa giun sán cho vật nuôi trâu bò, điều chế thuốc phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng Đặc biệt hoa xoan không hấp dẫn đối với các loài ong bướm Hạt xoan tròn và cứng ngày trước thường được dùng làm chuỗi tràng hạt và các sản phẩm tương tự khác trước khi kỹ nghệ plastic thịnh hành và thay thế vật liệu hạt xoan
Cây xoan là cây cho gỗ khá tốt Gỗ mềm nên dễ sản xuất gia công đồ nội thất, ngâm nước 6 tháng đến 1 năm trước khi sản xuất thì chịu được mối mọt, ít cong vênh, trước kia gỗ xoan ta chỉ được sử dụng làm đồ gia dụng thông thường, nhưng đến hiện tại, gỗ xoan ta đã bắt đầu trở thành một nguồn nguyên liệu phổ biến trong việc xây dựng và đóng bàn ghế gỗ và các đồ nội thất, đồ mộc, sản xuất hàng thu công mỹ nghệ, ốp sàn, ốp tường, trần ốp gỗ,
Rừng trồng Xoan ta trong 5 – 6 năm đầu có thể trồng xen với dứa, chè hoặc đỗ, lạc, sắn, ngô… để tăng thu nhập Từ năm thứ 7 – 8 năm trở đi cây cao trên 10m, đường kính tới 35 – 40 cm, bắt đầu khai thác chọn cây to lấy gỗ làm đồ gia dụng kết hợp tái sinh tự nhiên bằng hạ chồi Đến 10-12 tuổi có thể khai thác Sản lượng khai thác đạt tới 120-150m3/ha
Tóm lại: Qua những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy,
Trang 25Xoan ta là loài cây bản địa đa tác dụng, sinh trưởng nhanh có khả năng trồng thành rừng sản xuất gỗ lớn Đây là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của việc phát triển loài cây này, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển rừng và quản lý rừng bền vững Những công trình nghiên cứu về Xoan ta ở Việt Nam chưa nhiều, mới chỉ thực hiện một số nội dung đơn lẻ trên phạm vi hẹp Các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một số vấn đề như tình hình phân
bố, đặc điểm sinh thái và nghiên cứu bước đầu về kỹ thuật gây trồng Vì vậy, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và trồng cây Xoan ta phục vụ trồng rừng kinh doanh gỗ lớn cho một số tỉnh miền núi phía Bắc là rất cần thiết và có ý nghĩa khoa học nhằm cung cấp giống Xoan ta có chất lượng cao phục vụ công tác trồng rừng kinh doanh gỗ
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
a) Vị trí địa lý
Huyện nằm ở phía tây của tỉnh Cao Bằng, phía bắc và tây bắc giáp huyện Mèo Vạc (Hà Giang), Phía đông bắc có 8 km đường biên giới giáp Trung Quốc, phía tây nam giáp huyện Bắc Mê (Hà Giang), phía nam giáp huyện Na Hang (Tuyên Quang), phía đông giáp huyện Bảo Lạc
b) Khí hậu
Khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao(Khí hậu châu á nhiệt đới) thể hiện 4 mùa trong năm, nhưng rõ rệt nhất là mùa hè và mùa đông, biên độ nhiệt độ thay đổi lớn hơn, lượng mưa ít và phân
bố không đều Mùa hè bắt đầu từ đầu tháng 5 đến tháng 7, mùa này thời tiết nắng nhiều và bất chợt hay có mưa lớn Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, mùa này nhiệt độ có lúc thấp dưới và thường có gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa nhỏ, trời nhiều mây mù
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1300mm – 1500mm, độ ẩm trung bình là 83% Những đặc điểm khí hậu này thuận lợi cho việc bố trí mùa vụ, bố
Trang 26trí cơ cấu loại cây trồng, là điều kiện để phát triển đa dạng, phong phú các loại cây trồng ôn đới, á nhiệt đới
c) Tài nguyên đất đai
Với tổng diện tích tự nhiên là 91.306,15 ha, huyện Bảo Lâm có quy mô diện tích ở mức trung bình so với toàn tỉnh, là một huyện miền múi có dân số thấp nên bình quân diện tích đất tự nhiên theo đầu người tương đối lớn Hiện trạng sử dụng đất của huyện cụ thể như sau:
Đất đang được sử dụng là 91.306,15 ha, bao gồm: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp: 75.211,91 ha
- Đất quy hoạch phát triển rừng:
+ Đất có rừng trồng chưa đạt tiêu chí thành rừng: 278,72 ha
+ Đất có cây gỗ tái sinh chưa đạt tiêu chí thành rừng: 17.789,57 ha
+ Đất có cây bụi thảm cỏ: 13.335,3 ha
Trang 271.4.2 Các yếu tố kinh tế khu vực huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng
a) Thực trạng phát triển kinh tế
Thu nhập và cơ cấu thu nhập của các ngành kinh tế.” Bảo Lâm thuộc vùng đất rộng, người thưa, dân số toàn huyện có 57.028 (2014) người, mật độ dân số: 62,52 người/km2 Theo số liệu thống kê, dân số toàn huyện năm 2014
là 57.027 người, với 11.094 hộ Toàn huyện có 9 dân tộc anh em cùng chung sống đoàn kết gắn bó lâu đời trong đó dân tọc thiểu số chiếm trên 98%, bao gồm: Dân tộc Tày 12.221 người, Nùng 5.748 người, Mông 27.727 người, Dao 4.819 người, Sán Chỉ 4.631 người, còn lại là các dân tộc khác.Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên: 1,3%; Phần lớn các dân tộc thiểu số trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, đời sống còn khó khăn, nguồn lao động hầu như chưa qua đào tạo
Tổng Thu ngân sách trên địa bàn huyện, bình quân mõi năm trong giai đoạn: 36 tỷ đồng; Sản lượng lương thực bình quân năm trong giai đoạn: 24.000tấn; Lương thực bình quân đầu người: 432 kg/người/năm
Trong những năm qua kinh tế rừng đã có bước phát triển Công tác trồng rừng tập trung, chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh và rừng đầu nguồn đạt kết quả: Trong 5 năm qua đã trồng được trên 513,9 ha, trong đó: Rừng phòng
hộ 129,9 ha, Rừng sản xuất 384 ha
Thế mạnh nền kinh tế của huyện là phát triển nghề rừng và sản xuất lâm nghiệp Nhưng thực tế hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp không cao Công tác trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng tái sinh còn hạn chế Việc đầu tư chăm sóc, bảo vệ và trồng mới còn ít, hiện trạng rừng nghèo kiệt là chủ yếu, trữ lượng thấp Đời sống của nhân dân còn khó khăn, chưa có đầu tư để phát triển rừng do đó nguồn thu nhập từ kinh tế rừng chưa đáng kể so với tiềm năng Vì vậy, tiềm năng này chưa được phát huy khai thác, cần có biện pháp tích cực hơn nữa trong công tác bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi và trồng rừng nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao từ rừng, tạo việc làm tăng thu nhập cho nhân dân
Trang 28b) Đánh giá các cơ sở hạ tầng kỹ thuật
+ Giao thông:
Toàn huyện có: 58km đường Quốc lộ chạy qua, trong đó: QL 34 có 32km qua các xã: Vĩnh Quang, Lý Bôn, Thị trấn Pác Miầu, QL 4C có 26km nối từ quốc lộ 34 đi qua xã Lý Bôn đến huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang
Đường huyện: Có 141km, trong đó 44km đường giao thông nông thông loại A mặt đường nhựa hóa, 97km là đường giao thông nông thôn loại B, mặt đường cấp phối đá sít tự nhiên hiện nay đã xuống cấp, có 6 cầu treo bắc qua sông Gâm là cầu có tải trọng yếu) xuống cấp nhanh, hạn chế vận chuyển hàng hóa Đường liên huyện: được đầu tư 2 tuyến có chiều dài 31km, gồm: đường
từ xã Vĩnh Quang, Vĩnh phong huyện Bảo Lâm – xã Hồng trị, Hưng Đạo huyện Bảo Lạc dài 22,2km; Đường Khau Sáng xã Vĩnh Quang huyện Bảo Lâm - Kim cúc huyện Bảo Lạc dài 7,8km; Quy mô đường giao thông nông thôn loại B nền cấp phối được đưa vào sử dụng năm 2013
Đường xã, liên xã: toàn huyện có đường xã và đường thôn xóm khoảng 467km trong đó có khoảng 80 km đường giao thông nông thôn loại B nền cấp phối, 20 km nền đất rộng 3,5m, số còn lại do nhân dân tự làm nền rộng trung bình 1,5 - 2m
Đến nay có 14/14 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 4 xã có đường nhựa, số còn lại nền đường cấp phối, hiện xuống cấp trầm trọng, nhiều xã đi qua sông Gâm bằng cầu treo có tải trọng thấp, làm ảnh hưởng tới vận tải, phát triển KT-XH
Công trình y tế: Bệnh viện đa khoa tại trung tâm huyện đã được đầu tư xây dựng 55 giường bệnh, 01 phòng khám đa khoa khu vực tại Bản Bó xã Thái Học được đầu tư xây dựng năm 1998 nay đã xuống cấp 4/14 trạm y tế đạt chuẩn, còn lại 10 xã và thị trấn xây dựng nhà cấp 4 từ 2012 Các trạm y tế còn thiếu trang thiết bị, thiếu bác sỹ, các trạm đã xuống cấp cần đầu tư nâng cấp
Trang 29Công trình trường học: Từ ngày được thành lập được ưu tiên đầu tư xây dựng trường lớp học bằng nhiều nguồn vốn, tổng số phòng học xây dựng mới cấp 4 trở lên là khoảng 651 phòng, tạm 334 phòng; nhà ở giáo viên 295 phòng, tạm 345 phòng Nhìn chung cơ sở vật chất, trường, lớp học trên địa bàn từng bước xoá được nhiều phòng học tạm bợ và lớp học 3 ca Tuy nhiên, đầu tư còn thiếu tính đồng bộ phần lớn các trường đều thiếu phòng học bộ môn, phòng chức năng, phòng thư viện, nhà ở công vụ giáo viên, phòng học bán trú; phòng hành chính quản trị; cổng, hàng rào, và toàn bộ hệ thống trường mầm non
Công trình chợ: Toàn huyện có 5 công trình chợ được đầu tư xây dựng nhà lồng, 3 chợ còn tranh tre nứa lá, các chợ chủ yếu là bán buôn bán lẻ đáp ứng một phần nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và cung ứng hàng hoá thiết yếu cho nhân dân
Mạng lưới điện: Hệ thống điện quốc gia đến trung tâm 13/14 xã, thị trấn phục vụ cho trung tâm thị trấn, trung tâm xã và các xóm gần trung tâm xã, tính đến năm 2014 có khoảng 42% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia, 01 xã (Nam Cao) trong giai đoạn thi công
Thuỷ lợi: Toàn huyện có khoảng trên 300 công trình thủy lợi quy mô nhỏ, năng lực tưới trên 1.700 ha Số công trình được đầu tư kiên cố 71 công trình/ 450 ha Từ 2010 đến 2014 hỗ trợ được: 17 bộ máy bơm dầu và ống dẫn nước 2.801m; xi măng 40 tấn; ống thép là 372 ống; 43.502 m vải địa HDPE và 17.201 m vải địa HDPE; 6.586 rọ sắt loại 2m3
Nhìn chung các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện có diện tích tưới nhỏ lẻ, phân tán Số công trình được kiên cố chủ động nước tưới chỉ đạt 26% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp, phần diện tích sản xuất còn lại chủ yếu chờ nước mưa
Nước sinh hoạt: Hiện tại có 45 công trình nước sinh hoạt tập trung tại các thôn, xóm, được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn theo Quyết định 134 và
Trang 30một số nguồn vốn khác hiện đang khai thác có hiệu quả, hiện tại còn 107 xóm khó khăn về nứơc sinh hoạt, có trên 2000 hộ cần hỗ trợ xây dựng bể nước phân tán
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Xoan ta (Melia azedarach Linn) bản địa
phân bố tự nhiên tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học và cấu trúc rừng nơi phân bố
cây Xoan ta (Melia azedarach Linn) địa bàn huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng
Thời gian nghiên cứu từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1 Đánh giá một số đặc điểm sinh thái học của cây Xoan ta tại địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện khí hậu nơi có cây Xoan ta phân bố
- Đặc điểm về đất đai nơi có cây Xoan ta phân bố
- Đặc điểm sinh thái nơi có cây Xoan ta phân bố
Nội dung 2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao nơi Xoan ta phân bố
- Cấu trúc tổ thành rừng nơi có Xoan ta phân bố
- Cấu trúc tầng thứ nơi phân bố loài Xoan ta
- Cấu trúc mật độ toàn rừng và mật độ Xoan ta
- Chỉ số đa dạng loài tầng cây gỗ nơi phân bố loài Xoan ta
Nội dung 3 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh
- Đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh
- Mật độ cây tái sinh của loài Xoan ta
- Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao
- Số lượng cây tái sinh theo nguồn gốc
Nội dung 4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Xoan ta tại
Trang 32huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp luận
Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) [26]: Thảm thực vật rừng là tấm gương phản chiếu một cách trung thành nhất mà lại tổng hợp được các điều kiện của hoàn cảnh tự nhiên đã thông qua sinh vật để hình thành những quần thể thực vật Thảm thực vật tái sinh tự nhiên phản ánh ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố sinh thái đến quá trình phục hồi rừng thứ sinh
Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn đại diện ở các trạng thái thảm thực vật rừng có loài Xoan ta xuất hiện, số liệu đảm bảo tính đại diện, khách quan và chính xác
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Phương pháp kế thừa
Đề tài có kế thừa một số tư liệu:
- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng
- Tư liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội
- Sử dụng các kết quả nghiên cứu đã có về cây Xoan ta ở trong và ngoài nước (về đặc điểm sinh thái, phân bố, cấu trúc và điều kiện lập địa …)
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn
Điều tra cộng đồng sử dụng bộ phiếu điều tra để xác định giá trị sử dụng, phỏng vấn 5 hộ dân tại xã Yên Thổ và 10 hộ tại xã Thái Học gồm khu vực phân bố, loại rừng phân bố, mức độ nhiều của loài Xoan ta tại khu vực nghiên cứu
2.4.3 Thu thập số liệu ngoài hiện trường
Để thu thập số liệu ngoài hiện trường, đề tài áp dụng phương pháp điều tra thực nghiệm sinh thái thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn được bố trí trên các
Trang 33điều kiện lập địa khác nhau để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành lâm phần có loài Xoan ta phân bố chủ yếu tại rừng phục hồi và rừng trung bình Lựa chọn 2 xã có loài Xoan ta, tiến hành lập 18 ô tiêu chuẩn/02 xã, mỗi xã lập
9 ô Ô tiêu chuẩn có kích thước 1.000m2 (25x40m) và điều tra theo tuyến, được lập trên điều kiện địa hình khác nhau (chân, sườn và đỉnh)
Trong ô tiêu chuẩn tiến hành điều tra đặc điểm phân bố, sinh vật học, sinh thái học, vật hậu và các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh Các nội dung được thực hiện như sau:
a) Điều tra tầng cây gỗ
Trên mỗi ô tiêu chuẩn tạm thời, tiến hành điều tra tầng cây gỗ gồm các nội dung sau: (1) Xác định tên loài cho tất cả các cây có đường kính 6cm trở lên; (2) Đo đường kính ngang ngực (D1,3) những cây có D ≥ 6cm bằng cách đo chu vi sau đó quy đổi ra đường kính thân cây; (3) Đo chiều cao vút ngọn (Hvn)
và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước sào có chia vạch đến 20cm, sai số đo cao ± 10cm; (4) Đo đường kính hình chiếu tán (Dt) bằng thước dây theo hướng ĐT, NB, sau đó lấy giá trị bình quân với sai số là ± 10cm; (5) Phân cấp phẩm chất cây (tốt, trung bình, xấu)
b) Điều tra cây tái sinh
Trên ô tiêu chuẩn, tiến hành lập một 5 ô dạng bản có kích thước 25m2(5x5m) trong đó 4 góc ở ô tiêu chuẩn và 1 ô ở trung tâm ô tiêu chuẩn Với từng ô dạng bản đã thiết lập, thực hiện các nội dung điều tra sau: (1) Xác định tên loài; (2) Xác định nguồn gốc (chồi, hạt); (3) Chất lượng cây tái sinh (tốt, trung bình, xấu); (4) Đo chiều cao cây tái sinh; (5) Xác định độ tàn che cho ô dạng bản Các ô dạng bản được thiết lập để tiến hành thu thập số liệu về lớp cây tái sinh, đặc điểm tái sinh lâm phần Tổng số ô dạng bản là 90
Tình trạng sức sống của cây tái sinh được phân chia 3 cấp: Tốt, xấu, trung bình Cây tốt là những cây có thân thẳng, không bị cụt ngọn hay hai thân, không bị sâu bệnh, tán lá cân đối và tròn đều Cây xấu là những cây cụt
Trang 34ngọn hay hai thân, cây bị sâu bệnh, cây có tán lá dạng cờ Những cây có đặc điểm trung gian giữa tốt và xấu là những cây có sức sống trung bình
Ngoài ra, để điều tra cây tái sinh Xoan ta xung quanh gốc cây mẹ tiến hành lập các ô dạng bản với diện tích 16m2 (4x4m), 4 ô trong tán, 4 ô ngoài tán cây mẹ, tổng số 8 ô/1 cây mẹ, trong đó: (1) Xác định nguồn gốc (chồi, hạt); (2) Chất lượng cây tái sinh (tốt, trung bình, xấu); (3) Đo chiều cao cây tái sinh c) Điều tra cây bụi thảm tươi
Xác định thành phần loài lớp cây bụi, dây leo và thảm tươi Xác định tên, xác định chiều cao cho cây bụi Tỷ lệ che phủ của cây bụi thảm tươi (tính theo
% tỷ lệ phủ mặt đất) và được đánh giá cho toàn ô tiêu chuẩn
d) Điều tra về đất
Tại mỗi xã đào 3 phẫu diện có kích thước (1,2x0,8x1,0m) gần nơi có cây Xoan ta phân bố và mô tả theo hướng dẫn trong “Sổ tay điều tra quy hoạch rừng” (1995) gồm: loại đất, độ dày tầng đất, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới, độ
ẩm Mỗi dạng địa hình (chân, sườn và đỉnh) chọn 01 phẫu diện đại diện và mỗi phẫu diện thu thập 03 mẫu đất ở độ sâu 0-5cm; 5-10cm; 10-20cm, 20-30cm và 30-50cm Các mẫu này được sử dụng để phân tích các chỉ tiêu lý hoá đất trong phòng thí nghiệm Các chỉ tiêu đo đếm được ghi vào phiếu điều tra đất
2.4.4 Xử lý số liệu
2.4.4.1 Phương pháp xác định trạng thái rừng
Để xác định trạng các thái rừng cho các ô tiêu chuẩn đo đếm tại khu vực nghiên cứu, tác giả đã dựa vào tiêu chuẩn phân loại của Loeschau Tiêu chuẩn phân loại theo thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy đinh về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng
2.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng
a) Công thức tổ thành tầng cây gỗ
Hệ số tổ thành được tính theo công thức của Curtis, J T (1959) như sau:
Trang 35Theo Daniel Marmillod, những loài cây có IV% > 5% là những loài có
ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần và theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần, nhóm loài cây chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Đây là những căn cứ xác định loài và nhóm loài ưu thế Trên cơ sở đó, sau khi xác định giá trị chỉ số IV% cho từng loài, tính tổng giá trị IV% của những loài có trị số này > 5% từ cao đến thấp
- n: Tổng số cá thể của lohài trong các OTC;
- S: Tổng diện tích các OTC (ha)
c) Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học
Để đánh giá tính đa dạng của các quần hợp cây gỗ đã nghiên cứu vì chỉ
số này đánh giá tổng hợp cả độ đa dạng loài (số loài) và độ đa dạng trong loài (số cá thể của từng loài), đề tài đã sử dụng các chỉ số sau:
Trong đó: ni là số cá thể loài “i”; N là tổng số cá thể các loài trong ô mẫu; S là số loài trong ô mẫu
Trang 36* Chỉ số Shannon - Wiener (H’) ' ln( )
s i i
- H`là chỉ số đa dạng sinh học hay chỉ số Shannon-Wiener;
- ni là số lượng cá thể của loài thứ i;
- N là tổng số số lượng cá thểcủa tất cả các loài trong ô nghiên cứu/khu vực nghiên cứu
d) Quy luật phân bố N/D1,3; N/Hvn
Tính toán cho 1 số OTC đại diện đề nắn phân bố theo các hàm sau:
- Theo hàm Mayer: f(x) = α.e-βx (7)
- Theo hàm khoảng cách: y = (1 - γ) (1- α) αx-1 (8) Các bước xử lý được thực hiện bằng phần mềm SPSS 13.0 trên máy vi tính theo hướng dẫn Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi năm 1996
e) Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi và dây leo
Đánh giá độ phong phú loài của lớp cây bụi, thảm tươi và dây leo Độ nhiều (hay độ dầy rậm) của thảm tươi được đánh giá theo Drude (xem bảng)
Bảng 2.1 Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi
Cop1 Thực vật mọc rất nhiều che phủ trên 50 - 75% diện tích
Cop2 Thực vật mọc nhiều che phủ từ 25 - 50% diện tích
Cop3 Thực vật mọc tương đối nhiều che phủ từ 5 - 25% diện tích