1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng tình hình chăn nuôi trâu và kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản tại huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang

55 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN QUỐC CẢNH Tên đề tài: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÂU VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH CHO ĐÀN TRÂU SINH SẢN TẠI HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG KHÓA LUẬN TỐT NGH

Trang 1

NGUYỄN QUỐC CẢNH

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÂU VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH CHO ĐÀN TRÂU SINH SẢN TẠI

HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên, 2020

Trang 2

NGUYỄN QUỐC CẢNH

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÂU VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH CHO ĐÀN TRÂU SINH SẢN TẠI

HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

- Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y đã phân em về Trạm Chăn nuôi

và thú y huyện Chiêm Hóa thực hiện đề tài;

- Trạm Chăn nuôi và thú y huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện cho quá trình học tập, cũng như giai đoạn thực hiện đề tài;

- Ủy ban nhân dân các xã Yên Nguyên, Hòa Phú, Vinh Quang là các cơ quan quản lí nhà nước trên địa bàn triển khai thực hiện đề tài, đã tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện nghiên cứu

Để hoàn thành bài khóa luận này em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới PGS.TS Trần Huê Viên là người thầy hướng dẫn về khoa học, đã giúp đỡ

tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện

bài khóa luận, PGS.TS Nguyễn Hưng Quang, PGS.TS Từ Trung Kiên đã

chỉ bảo tận tình trong quá trình thực nghiệm nghiên cứu cũng như thực hiện bài khóa luận này

Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thực hiện của các thú y xã

và các hộ dân tham gia đề tài để em hoàn thành nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp

Do bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu xót

Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, các bạn để đề tài của

em được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2020

Sinh viên Cảnh Nguyễn Quốc Cảnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Số lượng và sự phân bố đàn trâu qua các năm 32

Bảng 4.2 Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ 33

Bảng 4.3 Cơ cấu đàn trâu theo lứa tuổi 34

Bảng 4.4 Trực trạng tình hình chuồng trại trong chăn nuôi trâu 35

Bảng 4.5 Công tác vệ sinh, thú ycho đàn trâu nuôi tại địa phương 35

Bảng 4.6 Kết quả tập huấn kỹ thuật chăn nuôi trâu sinh sản 37

Bảng 4.7: Kết quả tiêm phòng vacxin cho đàn trâu cái sinh sản đại trà 38

Bảng 4.8: Kết quả tiêm phòng vacxin cho trâu đực sinh sản đại trà 39

Bảng 4.9: Kết quả tiêm phòng vacxin cho đàn trâu sinh sản mô hình 40

Bảng 4.10 Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu cái sinh sản đại trà 41

Bảng 4.11 Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu đực sinh sản đại trà 41

Bảng 4.12 Kết quả tẩy ký sinh trùng cho trâu cái sinh sản khảo nghiệm 42

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT :

LMLM : Lở Mồm Long Móng

UBND : Ủy ban nhân dân

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn KH&CN : Khoa học và công nghệ

Cs : Cộng sự

KG : Ki-lô-gam

F : Pasciola

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT : iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1

1.2 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.3 Ý nghĩa của chuyên đề 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

2.1 Một số đặc điểm chung của địa bàn triển khai chuyên đề nghiên cứu 3

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 3

2.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp 4

2.2 Cơ sở khoa học về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 6

2.2.1 Phòng bệnh 6

2.2.2 Điều trị bệnh 8

2.3 Một số bệnh thường gặp chủ yếu ở trâu sinh sản 9

2.3.1 Bệnh giun đũa bê, nghé 9

2.3.2 Bệnh sán lá gan 12

2.3.3 Bệnh lở mồm long móng 16

2.3.4 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò 19

2.3.5 Bệnh tiên mao trùng 24

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

2.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28 PHÂN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

Trang 7

3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.1.2 Thời gian nghiên cứu 30

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 30

3.2 Nội dung nghiên cứu 30

3.3 Phương pháp nghiên cứu 30

3.3.1 Phương pháp tổ chức nghiên cứu 30

3.3.2 Một số chỉ tiêu theo dõi: 31

3.4 Xử lí số liệu 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Thực trạng tình hình chăn nuôi trâu của huyện Chiêm Hóa 32

4.1.1 Số lượng và sự phân bố đàn trâu của huyện Chiêm Hóa 32

4.1.2 Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ tại huyện Chiêm Hóa 33

4.1.3 Cơ cấu đàn trâu nuôi trong nông hộ theo lứa tuổi 34

4.1.4 Điều kiện chuồng trại chăn nuôi trâu 34

4.1.5 Công tác vệ sinh, thú y 35

4.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản 36

4.2.1 Tổ chức tập huấn kỹ thuật chăn nuôi cho các hộ dân 37

4.2.2 Tiêm phòng vắc xin cho đàn trâu sinh sản 38

4.2.3 Tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu sinh sản 40

4.2.4 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh 43

Phần 5.KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Tồn tại và đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 8

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi có số dân sống dựa và sản xuất nông nghiệp chiếm 78% Cũng như ở nhiều nơi trong cả nước, chăn nuôi trâu là một nghề sản xuất truyền thống lâu đời, con trâu đã trở thành con vật thân thiết, là tài sản quý đối với mỗi người nông dân vì nó không những mang lại giá trị kinh

tế cao, vừa cung cấp sức kéo và phân bón trong sản xuất nông nghiệp

Tuy nhiên, thực tế hiện nay tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Chiêm Hóa nói riêng số lượng trâu nuôi đang bị giảm về số lượng và năng suất sinh sản do việc chọn lọc, quản lý đàn trâu chưa được chú trọng Việc xây dựng đàn trâu sinh sản hiện nay là rất cần thiết Đàn sinh sản sẽ là đàn được chọn lọc tốt, quản lý bài bản để tránh đồng huyết Đàn sinh sản sẽ tạo nên các đàn trâu nuôi thương phẩm Việc xây dựng được đàn sinh sản có chất lượng và được quản lý tốt sẽ giải quyết được tình trạng trâu giống nuôi thương phẩm có chất lượng kém hiện nay trong nông hộ do mức độ đồng huyết cao Những kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thu được sẽ là nền

Trang 9

tảng cơ bản để xây dựng nên các quy trình chọn giống cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y cho đàn giống

Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu nói riêng, bên cạnh công tác giống và đảm bảo nguồn thức ăn dinh dưỡng thì công tác vệ sinh thú y, phòng và trị bệnh cho đàn trâu là nội dung có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp cho trâu có sức đề kháng, hạn chế được sự lây nhiễm và mắc bệnh, giảm những rủi ro đảm bảo hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi

Nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về công tác vệ sinh thú y, phòng và trị bệnh đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn trâu nuôi tại địa

phương, trong phạm vi nội dung chuyên đề: "Thực trạng tình hình chăn nuôi

trâu và kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản tại huyện Chiêm Hóa"

1.2 Mục tiêu của chuyên đề

Đánh giá được thực tế tình hình phòng bệnh và tổ chức triển khai công tác phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang

1.3 Ý nghĩa của chuyên đề

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của chuyên đề bổ sung các cơ sở, số liệu về áp dụng biện pháp

thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang

thuộc nội dung đề tài " Thực trạng tình hình chăn nuôi trâu và kết quả thực

hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản tại huyện Chiêm Hóa"

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của chuyên đề góp phần nâng cao nhận thức cho người dân về việc áp dụng biện pháp thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang và các vùng phụ cận

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 10

2.1 Một số đặc điểm chung của địa bàn triển khai chuyên đề nghiên cứu 2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

Diện tích tự nhiên toàn huyện là 146.061,82 ha, chiếm 24,88% diện tích

tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang Huyện Chiêm Hoá có 25 xã và 1 thị trấn, phân bố trên địa bàn khá rộng, xã xa nhất cách trung tâm huyện trên 45 km

2.1.1.3 Khí hậu thủy văn

Chiêm Hoá thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thấp, được phân chia thành 2

Trang 11

mùa rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, thường có nhiều mưa và mưa rào tập trung từ tháng 5 đến tháng 8, mùa này thường hay xẩy ra lũ lụt; mùa đông kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc, sương mù và sương muối

2.1.1.4 Điều kiện giao thông, thủy lợi

Đường giao thông huyện Chiêm Hóa chủ yếu là đường bộ có nhiều đèo, dốc khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa Hệ thống đường bộ đã đến tận các trung tâm xã Các tuyến đường liên thôn chủ yếu là đường dân sinh đi lại gặp nhiều khó khăn nhất là mùa mưa

Sông, suối của Chiêm Hoá có độ dốc cao, hướng chảy khá tập trung, các con suối, ngòi đều đổ dồn về sông Gâm và sông Lô Con sông lớn nhất là sông Gâm, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, huyện Na Hang, chảy qua Chiêm Hoá với độ dài 40 km và là đường thuỷ duy nhất nối huyện với tỉnh lỵ Tuyên Quang và các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc

Bộ Cùng với các con suối lớn, nhiều khe nhỏ tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú, cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân

và là con đường giao thông, vận tải khá quan trọng

2.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp

2.1.2.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Trồng trọt là ngành sản xuất chủ lực của huyện, tuy nhiên do trình độ dân trí còn có những hạn chế, tập quán canh tác manh mún nhỏ lẻ mang tính truyền thống, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên việc sản xuất ngành trồng trọt của huyện còn gặp nhiều khó khăn

Diện tích đất nông nghiệp lớn với cây lương thực lúa nước là chủ yếu, ngoài ra còn các loại cây trồng khác như: ngô, đậu tương, lạc Ngoài cây nông nghiệp huyện Chiêm Hóa còn đẩy mạnh mở rộng diện tích cây công nghiệp là cây mía đường cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Tuyên Quang

Trang 12

Ngoài ra huyện còn hình thành được một số vùng trồng các loại cây ăn quả như: cây cam, bưởi …

2.1.2.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Ngành chăn nuôi của huyện Chiêm Hóa chủ yếu phát triển theo quy mô nhỏ ở các hộ gia đình, vật nuôi chính là trâu, bò, lợn và gia cầm Chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đang được các cơ quan chính quyền và nhân dân chú trọng đầu tư phát triển Do có diện tích rừng nhiều nên huyện Chiêm Hóa rất phù hợp với việc phát triển chăn nuôi trâu bò với mục đích cung cấp thực phẩm cho con người, cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt

- Tình hình chăn nuôi trâu, bò: Đàn đại gia súc của huyện tương đối lớn, chủ yếu chăn nuôi trâu do nguồn gốc bản địa thích nghi phù hợp với điều kiện tự nhiên tại vùng địa phương

- Tình hình chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn chủ yếu nhỏ lẻ quy mô nông

hộ, tận dụng các loại thức ăn sẵn có, phụ phẩm của nông nghiệp Hiện nay trên địa bàn huyện đã xuất hiện những trang trại chăn nuôi lợn được đầu tư chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn trên 100 con

- Tình hình chăn nuôi gia cầm, thủy cầm: Chủ yếu phát triển ở quy mô

hộ gia đình Các giống gia cầm, thủy cầm được nuôi chủ yếu là các giống địa phương Ngoài ra, ở huyện Chiêm Hóa cũng có một số mô hình chăn nuôi khác như ong, thỏ, chim bồ câu,… song ở quy mô nhỏ và tự phát

2.1.2.3 Công tác thú y

Chiêm Hóa là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nắng mưa thất thường, thời tiết biến đổi phức tạp nên dễ xảy ra dịch bệnh làm ảnh hưởng đến đàn gia súc, gia cầm trong huyện

Đội ngũ cán bộ thú y của huyện tương đối đông đảo và nhiệt tình trong công việc, mỗi thôn/xóm đều có 1 cán bộ thú y thôn bản Hàng năm, huyện tổ chức tiêm phòng bắt buộc theo quy định cho đàn gia súc gia cầm, trình độ nhận

Trang 13

thức của người dân đã từng bước được nâng cao nhưng kết quả công tác phòng chống dịch bệnh vẫn còn hạn chế Hàng năm vẫn lẻ tẻ sẩy ra một số ổ dịchnhỏ với 1 số bệnh như: lở mồm long móng, tụ huyết trùng,… đã gây ra những thiệt hại nhất định cho người chăn nuôi

Công tác kiểm dịch, vệ sinh gia súc còn hạn chế: hiện tượng gia súc ốm chết mổ thịt đem bán ra thị trường vẫn còn xẩy ra, vệ sinh chuồng trại chưa được thực hiện đầy đủ, hàng năm dịch bệnh vẫn còn xảy ra trên địa bàn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi của địa phương

2.2 Cơ sở khoa học về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.1 Phòng bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, bệnh xuất hiện ở vật nuôi thường do nhiều nguyên nhân, có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Với phương châm ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh"‚ nên khâu phòng bệnh luôn được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh dịch xảy ra Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của con vật Các biện pháp được xoay quanh các yếu tố chủ yếu là môi trường, mầm bệnh

và vật chủ

2.2.1.1 Vệ sinh môi trường, chuồng trại

Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh tồn tại trong môi trường Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, thức ăn, nước uống bi ̣nhiễm

vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, con vật giảm sức đề kháng nên dễ bi

cảm nhiễm bệnh

Chuồng nuôi phải đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa

hè, xây dựng nơi cao ráo, khung chuồng và nền phải chắc chắn, mái lợp đảm

bảo Chuồng nuôi phải cách xa nhà ở, khu dân cư, cách xa nguồn nước sinh

Trang 14

hoạt và có nơi thu gom phân chuồng, có hố chứa nước thải Nền chuồng phải cao hơn mặt đất bên ngoài 20 - 30cm, có thể sử dụng nền láng xi măng hoặc nền đất nện Với nền chuồng bằng xi măng cần phải đảm bảo chắc chắn

và có độ nhám thích hợp, tránh làm quá trơn trâu sẽ khó đi lại và dễ bị té ngã Nền chuồng phải có độ dốc hợp lý khoảng 2 - 3% hướng về rãnh thoát nước Mái lợp có thể dùng tôn lạnh hoặc tôn fibro xi măng Nóc chuồng cao

so mặt đất khoảng 3m, đuôi mái cách mặt đất 1,8 - 2m Có thể làm kiểu chuồng 2 hoặc 4 mái, mái lợp phải rộng hơn khung chuồng để tránh mưa tạt

Khi có dịch phải tẩy uế chuồng trại, phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra ngoài môi trường Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

2.2.1.2 Phòng bệnh bằng vac xin

Đây là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Luật Thú y: "Vắc-xin dùng trong thú y là chế phẩm sinh học chứa kháng nguyên, tạo cho cơ thể động vật khả năng đáp ứng miễn dịch, được dùng để phòng bệnh" Nói cách khác, vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…)

đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới, vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho động vật, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

Trang 15

2.2.2 Điều trị bệnh

2.2.2.1 Nguyên tắc điều trị bệnh

- Toàn diện, phối hợp nhiều biện pháp (hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc)

- Điều trị sớm, chẩn đoán chính xác, sớm khỏi bệnh và hạn chế lây lan

- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể có khả chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

2.2.2.2 Quan điểm khi chữa bệnh

- Chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh nguy hiểm cho người không có thuốc chữa thì không nên chữa

2.2.2.3 Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là

- Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ

sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

- Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy

thường dùng để can thiệp trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

- Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng

và một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối

Trang 16

hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng

ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần lưu ý những nguyên tắc sau đây:

+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian

để phát huy tác dụng của kháng sinh

+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm các vitamin, tiêm nước sinh lý

2.3 Một số bệnh thường gặp chủ yếu ở trâu sinh sản

2.3.1 Bệnh giun đũa bê, nghé

Giun đũa là loại ký sinh trùng gây tác hại nhanh, mạnh và rõ nhất trên

bê, nghé Trong điều kiện bất lợi ở vụ đông xuân, tác hại của giun đũa lên bê

Trang 17

nghé càng lớn và để lại những hậu quả nặng nề: Bê, nghé bị viêm ruột, ỉa chảy kéo dài, suy dinh dưỡng, còi cọc thậm chí gây chết bê, nghé

2.3.1.1 Nguyên nhân và đặc điểm của bệnh

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [2], giun đũa

Neoascaris vitulorum ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài

13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 - 16 cm Giun cái ở nghé dài 19 -

23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 0,07 - 0,075 x 80 - 90 mm; giun cái ở bê dài

20 - 26 cm, trứng 0,075 - 0,085 x 0,09 - 0,1 mm Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6] Giun tròn Neoascaris vitulorum

có thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước

và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều lỗ lõm nhỏ, dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,075 mm

Triệu chứng điển hình nhất của bê, nghé bị bệnh giun đũa là dáng vẻ lù

đù, đầu cúi, đuôi cúp, lưng cong, lông xù Theo dõi phân bệnh thấy chuyển từ đen sang vàng đất rồi trắng lỏng có mùi thối khắm đặc biệt Kèm theo đó bê nghé thường xuất hiện từng cơn đau bụng quằn quại, sau đó có thể ngã vật ra mất cảm giác Bệnh súc sốt 40 - 410C, gầy sút rất nhanh Ở những thể bệnh này tỷ lệ chết của bệnh súc rất cao Thời gian tiến triển của bệnh thông thường vào khoảng 11 - 30 ngày, bệnh súc thường chết vào giai đoạn 8 - 10 ngày sau khi mắc bệnh nếu không điều trị kịp thời

Trang 18

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [2] cho biết, trong bệnh

giun đũa Neoascaris vitulorum của bê, người ta dùng Santonin với liều 0,02 g/kg TT, cho uống thuốc tẩy kèm theo

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1999) [7], piperazin,mebendazol, tetramisol, thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho

bê, nghé

Theo Robert J.A (1989) [19], hiệu quả tẩy giun đũa bê nghé của pyrantel là 100%; Febentel là 100%; levamisol (7,5mg/kg TT cho uống) là 83%, levamisol tiêm ( 0,1ml/kg TT) là 73%, piperazine là 57%

Đối với bê nghé dưới 2 tháng tuổi khi mắc bệnh sử dụng phác đồ sau:

- Levamisol: 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm dưới da

- Vitamin ADE: 3 ml/con, tiêm bắp thịt

- Cafein natribenzoat: 5 ml/con, tiêm bắp thịt

Sau 1 tháng tiêm lặp lại lần 2 để chống tái nhiễm

Đối với bê nghé trên 2 tháng tuổi có thể sử dụng ivermectin với liều dùng 1 ml/12 kg thể trọng; tiêm dưới da để đồng thời tiêu diệt các loại ngoại

ký sinh trùng khác như ve, bét, rận Kết hợp dùng các thuốc trợ sức vitamin ADE, cafein natribenzoat

Trang 19

2.3.2 Bệnh sán lá gan

Bệnh sán lá gan là một bệnh khá phổ biến ở trâu, bò Bệnh thường ở thể mãn tính nên chỉ làm cho trâu, bò gầy yếu, chậm lớn mà không gây ốm cấp tính hoặc quỵ ngã ngay Ở nước ta, trâu bò bị nhiễm sán lá gan quanh năm và

xảy ra ở tất cả các lứa tuổi

2.3.2.1 Nguyên nhân

Bệnh sán lá gan ở trâu, bò do hai loài sán lá: Fasciola gigantica và

Fasciola hepatica gây ra

Hình thái : Sán lá F gigantica và F hepatica có màu đỏ nâu Trong đó,

F gigantica là loài sán lá phổ biến ở nước ta Loài sán này có chiều dài từ 25 -

75 mm, rộng từ 3 - 12 mm, hình lá, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy sán không có ‘‘vai’’ Hai rìa bên thân sán song song với nhau,

có hai giác bám: giác bụng và giác miệng Giác miệng ở đầu sán thông với hầu, thực quản, ruột gồm hai manh tràng phân thành nhiều nhánh nhỏ Giác

bụng tròn, lớn hơn giác miệng và ở gần giác miệng Trứng sán F gigantica

màu vàng nâu, hình bầu dục, phình rộng ở giữa, thon dần về hai đầu, đầu hơi nhỏ có nắp trứng, trứng dài 0,13 - 0,18 mm, rộng 0,06 - 0,1 mm

Sán Fasciola gigantica: Cơ thể dẹp, hình lá, màu đỏ nâu; có 2 giác bám:

Giác miệng và giác bụng Sán Fasciola hepatica: hình dạng và màu sắc giống

loài trên nhưng ngắn hơn, sau đầu có hai vai phình rộng ra

Theo Itagaki T và Tsutsumi K (1998) [16], Mas - Coma S và cs (2009)

[17], ở châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương chỉ có loài F hepatica; trong khi

ở châu Á và châu Phi có cả 2 loài F hepatica và F gigantica

Trang 20

- Vòng đời: Sán lá trưởng thành sống trong các ống dẫn mật, đẻ trứng

Trứng theo ống dẫn mật về ruột rồi thải ra ngoài theo phân Khi trứng gặp được các điều kiện thuận lợi như: rơi vào nước, thời tiết nóng ẩm thì trứng sẽ

nở thành mao ấu, di chuyển trong nước Mao ấu tìm và chui vào cơ thể ký chủ trung gian là các loài ốc nhỏ, không có nắp, sống phổ biến ở ao hồ, mương máng, ruộng trũng Trong ốc mao ấu phát triển thành vĩ ấu và chui ra khỏi ốc

Vĩ ấu ra ngoài tự nhiên, rụng đuôi, biến thành “kén” tức ấu trùng cảm nhiễm Kén trôi nổi trong nước hoặc bám vào các loài cây thủy sinh, khi gia súc uống nước, ăn phải cỏ, rau có kén sẽ nhiễm sán lá gan Vào cơ thể ký chủ màng kén

bị phân hủy và giải phóng ấu trùng Ấu trùng tiếp tục di chuyển đến ống dẫn mật, ở lại đó và phát triển đến giai đoạn trưởng thành Thời gian từ khi trâu,

bò nuốt phải kén đến khi thành sán trưởng thành khoảng 3 tháng Một sán lá trưởng thành có thể sống trong ống dẫn mật của gan 3 - 11 năm

Điều kiện tự nhiên ở nước ta rất thuận lợi cho sự cảm nhiễm và gây bệnh của sán lá gan Ở những vùng có mầm bệnh tồn tại, cứ trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong cơ thể trâu, bò, nghĩa là trong trâu, bò lại tạo ra một đời sán mới Con vật đã có sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu, bò (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [4]

2.3.2.2 Đặc điểm dịch tễ

Bệnh xảy ra ở tất cả các loài nhai lại Trâu, bò bị nhiễm bệnh nặng hơn

và ở mọi lứa tuổi Tỷ lệ trâu, bò nhiễm bệnh ở miền núi khoảng 30 - 35%, vùng đồng bằng khoảng 40 - 70% Bê, nghé non bị bội nhiễm sẽ phát bệnh ở thể cấp tính Với điều kiện khí hậu ở nước ta, bệnh có thể xảy ra quanh năm

Trang 21

Trâu, bò nhiễm sán lá gan khi gặp điều kiện không thuận lợi như: làm việc nặng, thiếu thức ăn thô xanh, thời tiết lạnh vào vụ Đông - Xuân sẽ dễ phát bệnh và người chăn nuôi thường nhầm lẫn là bệnh truyền nhiễm

2.3.2.3 Triệu chứng

- Thể cấp tính: Trâu, bò bỏ ăn, chướng hơi dạ cỏ, sau đó ỉa chảy dữ dội,

phân lỏng màu vàng xám, mùi tanh Chỉ vài ngày sau, súc vật bệnh nằm bệt không đi lại được, nếu không được điều trị kịp thời con vật có thể chết trong tình trạng mất nước, rối loạn điện giải và kiệt sức Hiện tượng này thường xảy

ra ở bê, nghé dưới 1 năm tuổi

- Thể mãn tính: Trâu, bò bị bệnh sẽ gầy dần, cơ thể suy nhược, ăn ít,

niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, dễ rụng, thường thủy thũng ở mi mắt, yếm ngực, nhai lại yếu, thiếu máu, chướng bụng nhẹ, ỉa chảy kéo dài, có khi ỉa táo bón, đôi khi có triệu chứng thần kinh Gia súc cái mất dần khả năng sinh sản

và cho sữa Trâu, bò cho sữa bị bệnh thì lượng sữa giảm tới 20 - 50% Trâu,

bò có thể chết do kiệt sức

Lưu ý: Cần phân biệt các triệu chứng trên với bệnh ký sinh trùng đường máu, đó là: trâu bò mắc bệnh ký sinh trùng đường máu cũng có các biểu hiện như: gầy yếu, thiếu máu, sản lượng sữa giảm, hoàng đản, tiêu chảy Nhưng bệnh ký sinh trùng đường máu trâu, bò thường sốt 40 - 420C, khi sốt cao thường thể hiện triệu chứng thần kinh: quay cuồng, đi vòng tròn, run rẩy từng cơn Trong khi bệnh sán lá gan trâu, bò thường ỉa chảy kéo dài, viêm ruột, phân lỏng xám có mùi tanh

2.3.2.4 Phòng bệnh

Để phòng bệnh sán lá gan cần thực hiện 4 quy trình như sau:

- Định kỳ tẩy sán bằng một trong hai loại thuốc trên với 1 - 2 lần/ năm

- Ủ phân để diệt mầm bệnh và trứng sán

Trang 22

- Diệt ký chủ trung gian dó là các loài ốc bằng biện pháp có thể phun sunphats đồng (CuSO4) nồng độ 3 - 4 % lên bãi cỏ, cây thủy sinh

- Nâng cao sức đề kháng cho trâu bò bằng chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho trâu bò ăn uống đầy đủ

2.3.2.5 Trị Bệnh

Có thể thường dùng một trong các phác đồ với các loại thuốc sau:

- Phác đồ 1: Dùng dertyl B với liều 6 - 8 mg/kg thể trọng Nếu dùng

viên dertyl B của công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet thì dùng 1 viên (viên nén tròn có màu hồng) tẩy cho 50 kg thể trọng Cho trâu bò uống vào buổi sáng, uống xong có thể cho trâu bò đi chăn thả bình thường

- Phác đồ 2: Dùng thuốc benvet 600 của Công ty TNHH thú y xanh

Việt Nam, viên nén bầu dục có màu trắng Sử dụng 1 viên cho 60 kg thể trọng Cho uống vào buổi sáng sớm trước khi cho trâu bò đi chăn thả

Hai loại thuốc trên còn dùng để phòng định kỳ hàng năm cho trâu bò, thuốc sử dụng an toàn có hiệu quả phòng trị bệnh cao

Ngoài ra, có thể tẩy sán lá gan cho trâu, bò bằng thuốc fasinex (liều dùng: 12mg/kg thể trọng, cho uống hoặc trộn vào thức ăn), fasciolid, tolzan F, okazan.Trong quá trình dùng thuốc điều trị bệnh cần sử dụng thêm thuốc bồi

bổ, tăng sức đề kháng cho trâu, bò như: VTM C, B1, B12 tiêm theo liệu trình

từ 3 - 5 ngày và có chế độ dinh dưỡng tốt để nhanh hồi phục sức khỏe

Sử dụng thuốc fasinex, liều 12 mg /kg TT tẩy sán lá gan cho trâu, Phan Lục và Trần Ngọc Thắng (1993) [8] cho biết, thuốc có hiệu lực tẩy và hiệu lực tẩy sạch sán đều đạt 100%

Foreyt W J và Drew M L (2010) [14] đã sử dụng thuốc

triclabendazole liều 40 mg /kg TT tẩy sán lá F hepatica cho 3 bò rừng Mỹ

Quan sát sau điều trị thấy bò đều an toàn, không có phản ứng sau dùng

thuốc, hiệu quả tẩy sán cao

Trang 23

2.3.3 Bệnh lở mồm long móng

2.3.3.1 Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh lở mồm long móng (LMLM) hay còn viết tắt là FMD do một loại

virut thuộc họ Foot & Mouth disease gây ra Đây là loại bệnh truyền nhiễm

rất nguy hiểm do virut gây ra trên động vật móng vuốt chẵn như lợn, trâu, bò, hươu hay dê và gây nhiều thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi Dịch lở mồm long móng típ O xuất hiện cả trên trâu, bò và lợn còn tip A chỉ gây bệnh trên trâu, bò Virut lở mồm long móng luôn tồn tại trong môi trường, nó chỉ chờ điều kiện thuận lợi để phát sinh và gây bệnh

Virut xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, virut vào cơ thể qua niêm mạc miệng, ngoài ra virut có thể xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương trên

da nhất là da ở vú Khi virut xâm nhập vào cơ thể nó nhân lên trước tiên ở trong lớp tiểu bì Trong quá trình virut nhân lên nó sẽ làm phân hủy các tế bào thượng bì và hình thành mụn nước sơ phát, sau đó virut lở mồm long móng chứa trong mụn nước sẽ tiến vào máu và phủ tạng Khi virut vào máu sẽ gây sốt, cuối giai đoạn sốt virut nhân lên và gây ra các mụn nước thứ phát ở nơi các tế bào thượng bì đang phân chia mạnh như niêm mạc, khoang miệng, móng, vú Mụn nước sẽ loét khi nhiễm khuẩn kế phát, vi khuẩn sinh mủ gây hoại tử xâm nhập ăn sâu vào trong có khi gây bại huyết, con vật có thể chết

Tại vùng có dịch virut lở mồm long móng tồn tại trong không khí và vật chủ, nó ủ bệnh và đợi điều kiện thuận lợi sẽ bùng phát Virut tồn tại trong vật chủ từ 2 - 10 ngày sẽ phát tán ra môi trường và tồn tại khá lâu trong điều kiện tự nhiên Virut lở mồm long móng sau khi bãi thải ra môi trường trong điều kiện ẩm ướt và rét có thể tồn tại ở môi trường từ 2 - 3 tháng vẫn có khả năng gây bệnh kể cả những con trâu bò đã được chữa khỏi triệu chứng lâm sàng thì virut vẫn tồn tại trong cơ thể và có khả năng bãi thải ra từ 2 - 3 năm

Trang 24

Nguy hiểm hơn virut lở mồm long móng có thể di chuyển theo gió đi khoảng 200km, vì thế vùng dịch cũng mở rộng nhanh chóng và khó kiểm soát

2.3.3.2 Triệu chứng của bệnh

Thời gian nung bệnh từ 2 - 5 ngày, trung bình 3 - 5 ngày có khi chỉ 16 giờ Khi bệnh bắt đầu xuất hiện thì con vật sốt 40 – 41 oC liên tục 2 - 3 ngày, ủ rũ, lông dựng, đầu mũi khô, sản lượng sữa giảm, dáng điệu mệt mỏi, lừ đừ, kém

ăn, thỉnh thoảng nằm gục đầu xuống, tai và đuôi không phe phẩy, nằm xuống đứng lên có vẻ khó khăn, nặng nề, chậm chạp (Cục thú y, 2003) [1]

- Ở miệng: lúc sốt thì miệng nóng, niêm mạc miệng, môi, lợi, chân răng nóng, khô, đỏ ửng lưỡi dày lên và khó cử động, có con không liếm mũi được Mụn nước bắt đầu mọc ở mép, ở môi, lợi, lưỡi, phía trong má và chân răng Những mụn nước này có thể nhỏ bằng hạt kê, hạt ngô hoặc to hơn Ở những nơi có mụn nước xuất hiện, tổ chức liên kết phồng lên, có màng bọc mỏng, bên trong có nước, lúc đầu nước trong vàng, về sau nước vẩn đục dần, sờ vào mụn có cảm giác mềm Mụn có màu trắng hoặc hơi hồng Sau một hai ngày thì mụn vỡ, lớp bọc mụn rách ra xơ xác, để lộ mặt dưới có màu đỏ hoặc mụn thủng một lỗ nhỏ có viền bị rách Nước đục chảy ra hoà lẫn với nước bọt thành chất bọt đặc dính có từng mảng màng Mụn nước vỡ, các màng niêm mạc mất đi để lại vết loét sâu, rộng, màu hồng trắng, có phủ một lớp chất màu vàng, sau vài ngày thì bắt đầu hình thành sẹo Mụn ở lưỡi không rõ như ở hàm, đến khi loét mới thấy rõ Nếu mụn nước mọc nhiều làm mặt lưỡi rộp lên, chỗ lồi chỗ lõm, có khi liền nhau tạo thành mảng to, màu trắng nhạt Mụn nước vỡ thì lưỡi bị loét đỏ, màng lưỡi tróc theo mụn nước, lớp niêm mạc có gai tróc ra Thường thấy loét ở đầu hoặc giữa lưỡi, ít thấy ở gốc lưỡi Những con bị nặng, khi dùng tay kéo lưỡi ra kiểm tra thì lớp niêm mạc lưỡi bong ra từng mảng, tạo thành những mảng loét lớn màu đỏ trên mặt lưỡi

Trang 25

Nước bọt lúc đầu chảy ra ít và trong, khi mụn vỡ thì nước bọt chảy ra nhiều, mùi hôi, trong nước bọt đôi khi có máu hoặc dịch lâm ba màu vàng, tiếng chép miệng đặc trưng (Tô Long Thành và Tạ Hoàng Long, 2008) [11] Sau khi mụn vỡ 1 - 2 ngày, nếu giữ gìn vệ sinh sạch sẽ thì sẽ sinh da non màu trắng, lưỡi liền lại Ngoài các mụn nước mọc ở miệng một số khu vực xung quanh như mũi, mắt cũng sinh mụn Mụn mọc trong niêm mạc mũi, có con loét ra

cả ngoài vành mũi

Nếu mụn mọc ở niêm mạc mắt thì gây chảy nước mắt, đặc như mủ, thường ít thấy triệu chứng ở mắt - Ở chân: khi con vật có biểu hiện kém ăn, móng chân bắt đầu nóng, đau, vành móng hơi sưng, da mỏng có màu trắng hồng, tụ máu phồng lên

Con vật đứng không yên, chân đau, bước đi khó khăn, dò dẫm, không dám bước mạnh Có khi què nặng, con vật nằm một chỗ, vành móng mưng mủ, phồng lên Sau 1 - 2 hôm thì mụn nước bắt đầu thấy rõ ở kẽ chân, mụn trắng dài lấp cả kẽ chân Mụn nước vỡ, làm rách lớp da kẽ chân, phần da sau gót cũng bị loét làm hở móng, có khi long móng ở những con bị nặng Mụn vỡ chảy nước mùi hôi thối và để lộ lớp bì bên trong màu đỏ Nếu giữ gìn vệ sinh tốt, không để bị nhiễm trùng thì sau 10 - 15 ngày lớp bì màu đỏ biến thành

da non, chân lành, con vật đi lại bình thường (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) [5]

Ở vú: bầu vú bị sưng, mụn nước mọc ở đầu núm vú, mụn có thể to bằng quả mận, da xung quanh mụn màu đỏ và đau, sau 2 - 6 ngày thì vỡ để lại vết xước bằng phẳng dưới dạng vảy Bầu vú bị tổn thương, việc vắt sữa khó khăn, sữa thay đổi tính chất: lỏng, màu vàng, mùi hôi và sản lượng sữa giảm nhiều Nếu không vắt sữa thì mụn lâu vỡ nhưng khi vỡ thì mau lành Sau khi khỏi bệnh, sản lượng sữa thấp hơn trước, có trường hợp cạn sữa hẳn

Trang 26

Các triệu chứng khác: ngoài những triệu chứng như mô tả ở trên, có trường hợp sau khi mụn nước ở miệng, móng vỡ thì con vật đi tháo trong 2 -

3 ngày, trong phân có chất nhầy và có khi lẫn máu Có trường hợp thấy mụn mọc ở những vùng da mỏng như ở âm hộ, nách, ngực, bụng, trong đùi Một

số trường hợp khác ở gia súc non hoặc gia súc nuôi nhốt trong chuồng ẩm thấp, thiếu vệ sinh, chăm sóc kém thì mầm bệnh nhiễm vào bộ máy tuần hoàn, vào tim và gây suy tim Cũng có khi bệnh nhiễm vào bộ máy tiêu hóa,

hô hấp làm con vật viêm ruột, viêm phổi

2.3.3.3 Phòng bệnh

Tiến hành nhốt gia súc tại chuồng, không chăn thả (trâu, bò, dê) Hàng ngày phun thuốc sát trùng xung quanh chuồng trại chăn nuôi gia súc Tiến hành tiêm vắc xin phòng cho đàn gia súc khỏe mạnh

Chăm sóc, cho gia súc ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết để tăng sức đề kháng cho chúng

2.3.3.4 Điều trị bệnh

Bệnh lở mồm long móng ở gia súc hiện nay hầu như chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vì vậy chủ yếu chữa các triệu chứng gây bệnh cũng như phòng bệnh nhiễm trùng kế phát:

- Dùng thuốc vimekon liều 1/200 rửa sạch chỗ vết loét hàng ngày

- Dùng thuốc vime blue xịt nơi vết thương bị lở loét giúp nhanh phục hồi da non hơn

- Dùng thuốc penicilline 4M với liều lượng 1 lọ dùng cho 500 – 1000kg thể trọng gia súc

- Ampi 1g với liều lượng 1 lọ dùng cho 100kg thể trọng

- Penstrep 1ml/20kg thể trọng gia súc

2.3.4 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò

Trang 27

Bệnh tụ huyết trùng trâu bò là bệnh truyền nhiễm có đặc điểm: Gây tụ máu, xuất huyết, bại huyết ở trâu, bò Bệnh phổ biến ở khắp nơi trên thế giới nhưng mức độ nặng nhẹ khác nhau ở từng vùng địa lý Ở Việt Nam, bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò hay gặp ở vùng Tây Nam Bộ, Trung và Nam Trung Bộ

Ở các vùng khác bệnh nổ ra lẻ tẻ theo từng địa phương

2.3.4.1 Dịch tễ học

Bệnh tụ huyết trùng trâu bò do cầu trực khuẩn Pasteurella

multocida gây ra Đây là một vi khuẩn gram âm (-), không có lông, không di

động, không hình thành nha bào nhưng hình thành giáp mô trong cơ thể gia súc Vi khuẩn có sức đề kháng yếu với điều kiện ngoại cảnh, ở nhiệt độ 58oC

vi khuẩn bị diệt sau 20 phút, ở 80oC bị diệt sau 10 phút và tại 100oC vi khuẩn

bị diệt sau vài giây

Tất cả các loài Pasteurella gây bệnh cho gia súc, gia cầm đều thuộc

một giống duy nhất, có đặc tính căn bản giống nhau về mặt hình thái, nuôi cấy; chỉ khác nhau ở tính thích nghi gây bênh đối với các loài vật Bệnh chủ yếu lây lan qua đường tiêu hóa, đường hô hấp Tất cả dịch tiết của cơ thể và các cơ quan phủ tạng chứa một lượng lớn vi khuẩn

Trong thiên nhiên, loài nhai lại rất mẫn cảm với mầm bệnh trong đó trâu bò mẫn cảm hơn cả Bê nghé có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn, bệnh từ trâu bò

có thể lây sang ngựa, lợn, gia cầm Trâu bò mọi giống mọi lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh, bệnh chủ yếu mắc vào mùa hè (tháng 3 đến tháng 5), bệnh xảy

ra lẻ tẻ có tính chất địa phương, tỷ lệ mắc bệnh trong đàn thấp nhưng nếu can thiệp điều trị không kịp thời thì tỷ lệ chết cao

Ở các vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên,… bệnh hay đồng nhiễm với bệnh kí sinh trùng đường máu làm tình trạng trầm trọng thêm

và gia tăng tỷ lệ chết

2.3.4.2 Cơ chế sinh bệnh

Ngày đăng: 02/04/2021, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Tập 2: Giun sán ở động vật nuôi, Nxb khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr.91, 259 - 275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập 2: Giun sán ở động vật nuôi
Tác giả: Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật
Năm: 1978
3.Nguyễn Công Định (2012), Ảnh hưởng của khối lượng bố, mẹ và nuôi với mức dinh dưỡng cao đến sinh trưởng và năng suất thịt của trâu. Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của khối lượng bố, mẹ và nuôi với mức "dinh dưỡng cao đến sinh trưởng và năng suất thịt của trâu
Tác giả: Nguyễn Công Định
Năm: 2012
4. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (Giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
5. Nguyễn Tiến Dũng (2000), Bệnh lở mồm long móng (bài tổng hợp), Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập 7, tr. 8 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí "Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2000
8. Phan Lục, Trần Ngọc Thắng (1993), “Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng đường tiêu hóa trâu, bò vùng đồng bằng Sông Hồng và thuốc phòng trị”, Kết quả nghiên cứu khoa học Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (1991 - 1993), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng đường tiêu hóa trâu, bò vùng đồng bằng Sông Hồng và thuốc phòng trị
Tác giả: Phan Lục, Trần Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
11. Tô Long Thành, Tạ Hoàng Long (2008), “Thu thập, bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm trâu, bò, lợn nghi mắc bệnh LMLM từ các ổ dịch”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập 15, tr. 92 - 99.II. Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập, bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm trâu, bò, lợn nghi mắc bệnh LMLM từ các ổ dịch
Tác giả: Tô Long Thành, Tạ Hoàng Long
Năm: 2008
13.Erat S, 2011. Application of linear, quadratic and cubic regression models to predict body weight from different body measurements in domestic cats. Int J Agric Biol, 13: 419–422 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of linear, quadratic and cubic regression models to "predict body weight from different body measurements in domestic cats
14. Foreyt W. J., Drew M. L. (2010), “Experimental infection of liver flukes, Fasciola hepatica and Fascioloides magna, in Bison (Bison bison)”, J. Wildl Dis., pp. 283 - 286 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experimental infection of liver flukes, Fasciola hepatica and Fascioloides magna, in Bison (Bison bison)
Tác giả: Foreyt W. J., Drew M. L
Năm: 2010
15.Ingawale, M. V. and R. L. Dhoble. 2004. Buffalo reproduction in India: an overview. Buffalo Bull. 23:4-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Buffalo reproduction in India: an "overview
16. Itagaki T., Tsutsumi K. (1998), “Triploid form of Fasciola in Japan: genetic relationships between Fasciola hepatica and Fasciola gigantica determined ITS - 2 sequence of nuclear rDNA”, Int. J. Parasitol, pp. 777 - 781 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triploid form of Fasciola in Japan: genetic relationships between Fasciola hepatica and Fasciola gigantica determined ITS - 2 sequence of nuclear rDNA
Tác giả: Itagaki T., Tsutsumi K
Năm: 1998
17. Mas - Coma S., Valero M. A., Bargues M. D. (2009), “Climate change effects on Trematodiases, with emphasis on zoonotic Fascioliasis and Schistosomiasis”, Vet. Parasitol., pp. 264 - 280.41 - 146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change effects on Trematodiases, with emphasis on zoonotic Fascioliasis and Schistosomiasis
Tác giả: Mas - Coma S., Valero M. A., Bargues M. D
Năm: 2009
19. Roberts J. A. (1989), “Neoascaris vitulorum: treatment based on the duration of the infectivity of buffalo cows (Bubalus bubalis) for their calves”, Journal ofveterinary Pharmacolory and Therapeutics, pp. 5 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neoascaris vitulorum: treatment based on the duration of the infectivity of buffalo cows (Bubalus bubalis) for their calves
Tác giả: Roberts J. A
Năm: 1989
1. Cục Thú y (2003), Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc, Nxb Nông nghiệp Khác
7. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1999), Bệnh ở trâu bò và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội tr. 176 – 177 Khác
9-. Phan Thanh Phượng (2000), Bệnh tụ huyết trùng gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống, KHKT Thú y, 7 (2), tr 87 – 96 Khác
10. Phùng Quốc Quảng, Hoàng Kim Giao (2006), Nuôi bò thịt thâm canh trong nông hộ và trang trại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 156 - 158 Khác
12.Azmat Jabeen, Mahrukh Khattak, Shahzad Munir, Qaiser Jamal, Mubashir Hussain (2013), Antibiotic Susceptibility and Molecular Analysis of Bacterial Pathogen Pasteurella Multocida Isolated from Cattle. Journal of Applied Pharmaceutical Science Vol. 3 (04), pp. 106-110 Khác
18.Nanda, A. S. and T. Nakao. 2003. Role of buffalo in the socioeconomic development of rural Asia: current status and future prospectus. Anim. Sci. J.74:443-455 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w