1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại hoàng văn viện thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc

63 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHU THỊ NGÂN Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DỮƠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI TRẠI HOÀNG VĂN VIỆN THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨN

Trang 1

CHU THỊ NGÂN

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DỮƠNG, PHÒNG

VÀ TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI TRẠI HOÀNG VĂN VIỆN THỊ XÃ PHÚC YÊN,

TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

CHU THỊ NGÂN

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DỮƠNG, PHÒNG

VÀ TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI TRẠI HOÀNG VĂN VIỆN THỊ XÃ PHÚC YÊN,

TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS La Văn Công

Thái Nguyên - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

‘Học đi đôi đôi với hành’ Song song với việc tiếp thu những tri thức, kiến thức trên sách vở thì còn cần tự trải nghiệm những vấn đề đó trong thực

tế, vận dụng những kiến thức vào thực tiễn trong sản xuất Xuất phát từ lý do

đó BGH nhà trường, cùng các thầy cô trong khoa chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung và bản thân em nói riêng được tham gia học tập và rèn luyện kĩ năng tay nghề tại cơ sở thực tập

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học vừa qua

Đặc biệt em xin gửi lừi cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS La Văn Công đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đồng thời, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới ông Hoàng Văn Viện cùng toàn thể anh em kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt 6 tháng thực tập vừa qua

Trong qua trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực thế, chỉ dựa vào kiến thức đã học, thời gian ngắn nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót

Em kính mong được nhận sự góp ý, nhận của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày 23 tháng 12 năm 2020

Sinh viên

CHU THỊ NGÂN

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo theo thời gian xuất hiện 17

Bảng 3.1.Quy định khối lượng thức ăn chuồng nái đẻ 28

Bảng 3.2 Lịch sát trùng áp dụng tại trại lợn nái 33

Bảng 3.3 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại 34

Bảng 4.1 Kết quả thống kê đàn lợn của trại từ tháng 12/2019 - 5/2020 38

Bảng 4.2 Số lợn trực tiếp chăm sóc và nuôi dữơng trong 6 tháng thực tập 39

Bảng 4.3 Một số thao tác kỹ thuật trên đàn lợn con 41

Bảng 4.4 Kết quả theo dõi tình hình sinh sản của lợn nái ở trại 42

Bảng 4.5 Kết quả công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại 43

Bảng 4.6 kết quả phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn nái của trại 44

Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn con theo mẹ tại trại 45

Bảng 4.8 Kết quả chẩn đóan bệnh cho đàn lợn nái đẻ của trại 46

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái tại trại 47

Bảng 4.10 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con tại trại 48

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BGH: Ban giám hiệu

CNTY: Chăn nuôi Thú y

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức trại 4

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 5

2.1.4 Đánh giá chung 7

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước 7

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 7

2.2.2 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh trong chăn nuôi 12

2.2.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 15

2.2.4 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 24

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27

3.1 Đối tượng và phạm vi 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.3 Nội dung tiến hành 27

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 27

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 27

Trang 7

3.4.2 Phương pháp thực hiện 27

Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 38

4 1.Tình hình chăn nuôi tại trại Hoàng Văn Viện thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 38

4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con tại trại Hoàng Văn Viện thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc 39

4.2.1 Số lượng lợn nái được trực tiếp chăm sóc và quản lý 39

4.2.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại 41

4.3 Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con của trại Hoàng Văn Viện thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc 43

4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 43

4.3.2 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 44

4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại 46

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Phần 5 KẾT LUẬN ĐỂ NGHỊ 51

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nông nghiệp giữ một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng đang trên đà phát triển và dần trở thành ngành chính trong nền kinh tế nông nghiệp Được sự quan tâm của nhà nước ngành chăn nuôi lợn đang phục hồi và phát triển, chăn nuôi lợn cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dữơng cao, đáp ứng tiêu dùng trong nước và góp một phần đáng kể cho xuất khẩu, mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định đời sống của người dân

Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn cũng đang chuyển từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó đã giúp ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng

cả về số lượng và chất lượng, bao gồm cả trang trại trong nhà nước và tư nhân Đồng thời thúc đẩy các ngành khác phát triển như: Công nghiệp chế biến thực phẩm, trồng trọt, thủy sản…Trong xu thế đó, nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập các giống lợn có năng xuất có chất lượng cao nhằm mục đích nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm Mặt khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn như nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn dồi dào, sự đầu tư của nhà nước…

Để phát triển mạnh ngành chăn nuôi lợn ở nước ta thì chăn nuôi lợn nái là một khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công của ngành chăn nuôi lợn Để có đàn lợn con nuôi giống, sinh trưởng, phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, thì chăn nuôi lợn nái là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả

về số lượng và chất lượng

Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn thì tình hình dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp, ảnh hưởng lớn đến cơ cấu phát triển của đàn

Trang 9

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa CNTY – Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng vứi sự giúp đỡ của

giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em thực hiện chuyên đề:’ Thực hiện

quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Hoàng Văn Viện thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc’

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

- Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con

theo mẹ

- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ

- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ nuôi tại trại lợn Hoàng Văn Viện, Phúc Yên, Vĩnh Phúc

- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản

và lợn con theo mẹ

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ đồng thời học tập và bổ sung những kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất

- Ứng dụng các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ vào thực tiễn chăn nuôi lợn tại trang trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Địa giới hành chính thị xã Phúc Yên:

 Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

 Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên

 Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

 Phía Bắc giáp thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Thị xã Phúc Yên có hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ có các tuyến Quốc lộ 2, Quốc lộ 23, đường xuyên Á Hà Nội - Lào Cai đi qua; có đường sắt

Hà Nội - Lào Cai, giáp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tạo điều kiện cho Phúc Yên có tiềm lực, lợi thế để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, giao lưu kinh tế, văn hoá

- Điều kiện khí hậu

Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi, nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu hướng tăng mạnh

Trang 11

Xã Cao Minh cũng như thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa Hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa Đông Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng nhất là ngành chăn nuôi gia súc gia cầm

Nhiệt độ không khí có các đặc trưng sau:

Cực đại trung bình năm là 20,5°C

Cực đại tuyệt đối 41,6°C

Cực tiểu tuyệt đối 3,1°C

Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%

Hướng gió chủ đạo về mùa Đông là Đông - Bắc, về mùa Hè là Đông - Nam, vận tốc độ gió trung bình năm là 2,4 m/s Vận tốc độ gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s, 20 năm là

Tổng thu ngân sách các thành phần kinh tế trên địa bàn Phúc Yên chiếm trên 2/3 tổng thu Ngân sách của tỉnh Vĩnh Phúc Thị xã Phúc Yên luôn xứng đáng là vùng trọng điểm kinh tế, là đầu tàu kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.2 Cơ cấu tổ chức trại

Trại Hoàng Văn Viện mới được xây dựng xong đầu năm 2016 nên cơ sở vật chất vẫn còn mới Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

- 01 quản lý trại

Trang 12

- 02 kỹ thuật trại

- 01 tổ trưởng chuồng bầu

- 01 tổ trưởng chuồng đẻ - cai

- 01 tổ trưởng chuồng thịt

- 08 công nhân làm ngày và 01 công nhân trực đêm

- 04 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như

tổ chuồng đẻ - cai, tổ chuồng nái chửa Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại

Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ và hoàn thiện

Khu vực sản xuất theo thứ tự: khu vực xuất lợn thịt, chuồng cai sữa, sau

đó lần lượt là các chuồng nái đẻ (1 - 2), chuồng nái bầu (1 - 2) Phòng pha chế

và bảo quản tinh, kho thuốc được trang bị kính hiển vi, tủ lạnh, nhiệt kế

Trại có 1 nhà kho để dự trữ cám ở đầu khu vực sản xuất

Ở khu vực cuối trại có hệ thống biogas, máy ép phân để xử lí phân và nước tiểu tiếp đến là nhà tiêu hủy lợn chết và nhau lợn

Điện, nước:

Có hệ thống lưới điện được kéo khắp khu vực trại, có một máy phát điện được dùng khi mất điện

Trang 13

Nước được cung cấp bởi hệ thống giếng khoan, nước được bơm từ giếng lên bể chứa và được xử lí với clo

Chuồng bầu:

Có 1 chuồng bầu chia làm 4 dãy, có sức chứa tối đa là 320 con Dãy 1 và dãy 2 để thử, ép, phối lợn và nuôi nhốt nái chửa kỳ 1, dãy 3 và dãy 4 nuôi lợn nái chủa kỳ 2 Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 8 quạt hút gió phía cuối chuồng Sàn toàn bộ là bê tông, cao hơn hơn so với nền chuồng thuận tiện cho công việc vệ sinh, khử trùng Ở đầu dãy 1 và dãy 2, mỗi dãy có 1 ô rộng là nơi để kiểm tra lên giống và ép giống, tiếp đó là 2 ô lợn đực giống, còn lại là các ô lợn nái Các ô trong chuồng đều có vòi uống tự động cao 50 -

55 cm Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng, xịt gầm

Chuồng nái nuôi con:

Có 1 chuồng nái nuôi con, chia làm 2 dãy, có sức chứa tối đa là 80 con

Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 8 quạt hút gió phía cuối chuồng Sàn cho lợn mẹ là sàn bê tông còn lại toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng

Mỗi ô để có vòi uống tự động cho cả lợn con và lợn mẹ, có hệ thống máng tập ăn cho lợn con được lắp vào lúc 5 ngày tuổi Có hệ thống ống dẫn

nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, xịt gầm

Chuồng cai sữa:

Có 1 chuồng cai sữa gồm 18 ô, chia làm 2 dãy có sức chứa tối đa là 720 con Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 4 quạt hút gió phía cuối chuồng Toàn bộ sàn cho lợn cai sữa là sàn nhựa, có hệ hống máng ăn tự đông và vòi uống tự động, có 2 ống dẫn nước dọc hành lang hai bên và một máy áp lực bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa chuồng

 Chuồng cách ly:

Mỗi chuồng đều có ô cách ly phía cuối chuồng gần quạt thông gió

Trang 14

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày

Trang 15

giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho

ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi

đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải luôn được

vệ sinh sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ

và các dụng cụ cần thiết Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, sạch sẽ, ấm về mùa đông, mát về mùa hè và có đầy đủ ánh sáng Sau khi

vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, lợn nái cần được tắm rửa sạch sẽ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn mẹ bị viêm vú và lợn con sơ sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chuyển lợn

từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm và các dụng cụ đỡ đẻ lợn con Ô úm rất quan trọng, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con và tạo cho lợn con môi trường sống

lý tưởng để phát triển

Trang 16

- Những hiểu biết về sinh lý đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn

để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài

+ Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường

+ Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ

25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung

mở, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh - thể dịch Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng

10 - 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ nhằm phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

Trang 17

2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 17%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ

1 - 2 - 3kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2,4kg + (số con x 0,4kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 3 bữa (sáng, chiều và đêm)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

Trang 18

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu

có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ ăn ít hoặc không ăn, hạn chế uống nước

- Đối với lợn nái nội

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc

Vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ

3 -7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì

có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 20°C, độ ẩm 70 - 75%

Trang 19

2.2.2 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh trong chăn nuôi

2.2.2.1 Hiểu biết về phòng bệnh

Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể haṇ chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi khuẩn tồn tại trong môi trường,

đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi,

lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu

vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghiã to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào

đẻ Nhiệt đô ̣trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30°C đối với lợn sơ sinh và 28 - 30°C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để

đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

Trang 20

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong

30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

- Phòng bệnh bằng vắc xin

Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất.Vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật

có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay

mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

Trang 21

2.2.2.2 Hiểu biết về điều trị bệnh

- Nguyên tắc để điều trị bệnh là:

+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dung thuộc + Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh + Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

Trang 22

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh.Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2.2.3.1 Bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [20], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2α và làm xáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh, Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [19], kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc

Bộ cho thấy: Tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ đầu đến lứa thứ 8

Trang 23

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 - 10 ngày

* Nguyên nhân

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [20], có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn

có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức

đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển

để gây nên các triệu chứng

Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [6], nguyên nhân gây ra bệnh

viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,

Klebriella, dung huyết E coli, còn có thể do trùng roi (Trecbomonas fortus)

và do nấm Candda albicans Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ

khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo

Theo Phan Địch Lân và cs (2003) [11], thì: Bệnh viêm tử cung do vi

khuẩn Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang

lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Theo Urban (1983) [31], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung có trong nước tiểu của lợn, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái

sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn E.coli, Staphylococcus aureus,

Streptococcus spp

Trang 24

Bảng 2.1: Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo theo thời gian xuất hiện

Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn Từ

cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mạch tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn Theo Nguyễn Văn Thanh (2004) [18], tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

Trang 25

- Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Theo Trần Thị Dân (2004) [4], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau

là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ

đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

* Biện pháp phòng trị

- Phòng bệnh

Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [15], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

Trang 26

Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để

nhiễm khuẩn Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để

nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng

vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những

trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai

Theo Smith (1995) [28], Taylor (1996) [29], tăng cường vệ sinh chuồng

trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa

nhiễm trùng sau khi sinh

*Điều trị

Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], khi gia súc bị bệnh viêm

tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng

các chất sát trùng với thể tích lớn Các tác giả đề nghị nên dùng Oxytoxin kết

hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Theo Trần Ngọc Bích và cs (2016) [3], chữa bệnh viêm tử cung bằng cách

sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái,

điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao: streptomycin 0,25 g, penicillin 500.000

UI, dung dịch KMnO4 0,1% 40 ml + VTM C (smith và cs, 1995) [28]

Theo Trần Văn Điền (2015) [9], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng

cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracylin vào âm đạo từ 5-7 ngày Tiêm

Amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ

Theo Popkov (Liên Xô cũ) (1999) [27], đã sử dụng phương pháp tiêm

kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái viêm tử cung đạt kết quả cao

Trang 27

+ Tylan + Polysul: tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1ml/5 - 10 kg TT/ngày Liên tục 3 - 4 ngày

+ Tiêm thuốc giảm viêm: Hydrocortizone, Dectancyl, Prednizolone…

- Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin B1, C, B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm Vitamin C không dùng chung với kháng sinh Peniciline, Sufamid và Vitamin B12…

- Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxine ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể đã hạ xuống bình thường

2.2.3.2 Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân

Trầy xước vú do sàn, nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến

sữa Hai loài vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và

Streptococcus agalactiae Ngoài ra còn các nguyên nhân gây viêm như số con

quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng hoặc do

kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm Do vệ sinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh Do lợn mẹ sát nhau, lợn con khi sinh ra không được bấm răng nanh ngay Lợn mẹ ăn quá nhiều thức

ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm sữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lại trong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ về số lượng và độc lực (Nguyễn Như Pho, 2002) [16]

* Triệu chứng

Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [22], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42°C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ

lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [13] Vắt sữa ở những vú bị viêm

Trang 28

thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [5], trước khi đẻ lau, xoa vú

và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1h đẻ, cắt răng nanh lợn con Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh: Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú

bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các

vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục

Nếu điều trị hợp lý lợn sẽ khỏi trong vòng 3 - 5 ngày

Các loại kháng sinh thường dùng: Dufamox 15% LA.INJ, Ampicilline, Cephalexine, Gentamycine, Norfloxacine và có thể dùng Corticoide để giảm viêm kết hợp với vitamin Ngoài ra trong trường hợp nái đẻ bị viêm nặng chúng ta có thể chườm cát nóng kết hợp xoa bóp bầu vú trong lúc đẻ

Theo Trekaxova A.V và cs (1983) [30], chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng Novocain phong

bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 8 - 10cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh

Trang 29

khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong Novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần

2.2.3.3 Bệnh sát nhau

* Nguyên nhân

Theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [24], sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung

Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau

2.2.3.4 Hội chứng tiêu chảy

* Nguyên nhân:

+ Do virus: Porcine circovirus type 2 (PCV2), Rotavirus, TGE, PED,

Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus

+ Do vi khuẩn: Chủ yếu do Escherichia coli, Salmonella

Trang 30

+ Do ký sinh trùng: Theo Phan Văn Lục và Phạm Văn Khuê (1996) [12], sán lá ruột lợn và giun đũa lợn ký sinh ở đường tiêu hóa, chúng làm tổn

thương niêm mạc đường tiêu hóa gây viêm ruột ỉa chảy

+ Do chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh thú y, thức ăn thiếu không đảm bảo phẩm chất, thiếu dinhh dưỡng Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển gây bệnh

+ Do thời tiết khí hậu: Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [6], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu

+ Do stress: Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1996) [10], hệ thống tiên hóa của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng + Do điều kiện chuồng nuôi: Đào Trọng Đạt và cs (1996) [8], cho rằng các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 đến 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là vô cùng quan trọng Theo Phan Địch Lân và cs (1997) [11], chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa

* Điều trị

+ Phạm Ngọc Thạch (2005) [21], cho biết: Để điều tri ̣hội chứng tiêu chảy ở gia súc nên tập trung vào 3 khâu là: Loại trừ sai sót trong nuôi dưỡng như loại bỏ thức ăn kém phẩm chất, chăm sóc nuôi dưỡng tốt Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn Điều tri ̣hiện tượng mất nước và chất điện giải

Trang 31

+ Theo Trịnh Tuấn Anh (2010) [1], các chủng Salmonella spp mẫn cảm

với Ofloxacin và Norfloxacin (100%), tiếp đến là Ciprofloxacin (90%) và Neomycin (80%)

2.2.4 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển Các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuy nhiên, vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu

về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao

Theo Urban và cs (1983) [31], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung

có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu

lợn nái sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn E coli, Staphylococcus aureus,

Streptococcus spp

Tuy nhiên, các nghiên cứu của các tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Do đó, theo Smith (1995) [28], Taylor (1995) [29], tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh Khi mổ khám những lợn vô sinh, các tác giả đã xác định được nguyên nhân do cơ quan sinh sản là 52,5%, lợn nái đẻ lứa đầu là 32,1%, lợn nái cơ bản có biến đổi bệnh lý là viêm vòi tử cung có mủ

Ở Pháp, các tác giả Pierre Brouillet (2003) [23] đã nghiên cứu và kết luận: Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, xác

Ngày đăng: 02/04/2021, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Tuấn Anh (2010), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp trọng hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp (2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salmonella spp
Tác giả: Trịnh Tuấn Anh
Năm: 2010
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt, Nx4b. Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 29-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Năm: 2000
3. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII (số 5)
Tác giả: Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh
Năm: 2016
4. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
5. Phạm Hữa Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sa
Tác giả: Phạm Hữa Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
6. Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình,sinh sản gia súc, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình,sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
9. Trần Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Trần Văn Điền
Năm: 2015
10. Phạm Khắc Hiếu , Bùi Thị Tho (1996), “Kết quả kiểm tra tính kháng kháng sinh của E.coli phân lâp ̣ từ lợn con bi ̣phân trắng tại các tỉnh phía Bắc trong 20 năm qua (1975 - 1995)”, Tạp chí KHKT Thú y, Tập III, số 4. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả kiểm tra tính kháng kháng sinh của E.coli phân lâp ̣ từ lợn con bi ̣phân trắng tại các tỉnh phía Bắc trong 20 năm qua (1975 - 1995)”, "Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu , Bùi Thị Tho
Năm: 1996
11. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Phan Văn Lục, Phạm Văn Khuê (1996), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú
Tác giả: Phan Văn Lục, Phạm Văn Khuê
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
13. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
14. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và triều trị bệnh lợn cao sản, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và triều trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên (2016), Giáo trình Dược lý học thú y, Nxb Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên
Nhà XB: Nxb Đại học Hùng Vương
Năm: 2016
16. Nguyễn Như Pho (2002), “Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật chăn nuôi đến hội chứng M.M.A và khả năng sinh sản của heo nái”, Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật chăn nuôi đến hội chứng M.M.A và khả năng sinh sản của heo nái
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Năm: 2002
17. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Nguyễn Văn Thanh (2004), Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở gia súc, gia cầm, Nxb Lao động và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở gia súc, gia cầ
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Lao động và xã hội
Năm: 2004
19. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại tại vùng đồng bằng Bắc Bộ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XIV (số 3), tr. 38 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại tại vùng đồng bằng Bắc Bộ”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
20. Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ (2016), Giáo trình bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm