1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều trị hội chứng rối loạn sinh sản ở bò sữa tại trung tâm giống và chuyển giao kỹ thuật công ty cổ phần giống bò sữa mộc châu

71 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thân tử cung được cấu tạo với những lớp cơ trơn dày, cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài, trong cùng là các tuyến sinh dục có khả năng tiết ra những chất giúp cho sự vận động của tinh trùng

Trang 1

CỔ PHẦN GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

CỔ PHẦN GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: TS BÙI NGỌC SƠN

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được

sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, Bộ môn chăn nuôi, tôi được giới thiệu về thực tập tại Trung tâm Giống và chuyển giao kỹ thuật – Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu Tại đây, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi cũng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của nhiều người để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, cùng toàn thể thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp Đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp của TS Bùi Ngọc Sơn , bộ môn Chăn nuôi

Tiếp đến tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám đốc Trung tâm Giống

và chuyển giao kỹ thuật – Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu, cùng các anh chị phòng kĩ thuật của Trung tâm đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ, động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2020

Sinh viên

Lương Văn Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vii

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích chuyên đề và yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập 3

2.1.1 Vài nét về đặc điểm tự nhiên của Trung tâm 3

2.1.2 Vị trí địa lý 3

2.1.3 Địa hình 3

2.1.4 Khí hậu 4

2.1.5 Thuỷ văn 4

2.1.6 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội 4

2.1.7 Tình hình sản xuất của cơ sở 6

2.1.8 Những thuận lợi khó khăn 7

2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 8

2.2.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa trong nước 8

2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu - Sơn La 9

2.2.3 Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái 10

2.2.4 Hoạt động sinh dục của bò cái 14

2.3 Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản 22

2.3.1 Những nghiên cứu hormone hướng sinh dục 22

2.3.2 Những nghiên cứu sử dụng hormone sinh dục nâng cao khả năng sinh sản ở bò 24

Trang 5

2.4 Một số nghiên cứu ở trong và ngoài nước về đặc điểm sinh sản và điều tiết sinh

sản trên bò có liên quan 27

2.4.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài 27

2.4.2.Những nghiên cứu ở Việt Nam 30

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 36

3.2 Nội dung nghiên cứu 36

3.2.1 Đá1nh giá thực trạng hoạt động của buồng trứng bò sau khi đẻ 36

3.2.2 Ứng dụng hormone để điều trị bệnh buồng trứng 36

3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 36

3.3 Phương pháp nghiên cứu 36

3.3.1 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh sản 36

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu sự động dục trở lại của bò sữa đến 120 ngày sau khi đẻ 37

3.3.3 Phương pháp nghiên cứu nguyên nhân gây chậm động dục ở buồng trứng sau khi đẻ ở 120 ngày 37

3.3.4 Phương pháp xác định bệnh ở buồng trứng bò qua khám lâm sàng 37

Bảng 3.1 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh buồng trứng sau khi khám qua trực tràng hai lần liên tục cách nhau 7 đến 10 ngày 38

3.3.5 Phương pháp điều trị bệnh buồng trứng 39

3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 40

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Các chỉ tiêu theo dõi đàn bò tại Trung tâm 42

4.1.1 Cơ cấu đàn bò của Trung tâm trong 2 năm gần nhất (2019 - 5/2020) 42

4.1.2 Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho bò sữa 43

4.2 Đánh giá tình trạng hoạt động của buồng trứng bò sau khi đẻ 49

4.2.1 Động dục trở lại của bò sữa đến 120 ngày sau khi đẻ 49

4.2.2 Nguyên nhân gây chậm động dục ở buồng trứng sau khi đẻ ở 120 ngày 49

4.3 Sử dụng hormone nhằm nâng cao khả năng sinh sản ở bò sữa tại Trung tâm 52

Trang 6

4.3.1 Điều trị buồng trứng không hoạt động và u nang buồng trứngở bò sữa 53

4.3.2 Điều trị thể vàng tồn lưu 55

PHẦN 5 KẾT LUẬN 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Kiến nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh buồng trứng sau khi khám

qua trực tràng hai lần liên tục cách nhau 7 đến 10 ngày 38

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn bò theo độ tuổi của Trung tâm trong 2 năm gần nhất 2019 - 5/2020 42

Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh sát trùng 44

Bảng 4.3 Lịch tiêm phòng vắc xin trong năm 45

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc và quản lý đàn bò sữa 48

Bảng 4.5 Kết quả theo dõi động dục trở lại của bò sữa đến 120 ngày sau khi đẻ 49

Bảng 4.6 Các nguyên nhân trên buồng trứng gây chậm động dục ở bò sữa 50

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh buồng trứng không hoạt động và bệnh u nang buồng trứng 54

Bảng 4.8 Kết quả điều trị thể vàng tồn lưu 56

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Sử dụng vòng CIDR kết hợp hormone GnRH và PGF2α 39

Hình 3.2 Sử dụng GnRH và PGF2α để điều trị bệnh u nang buồng trứng 40

Hình 3.3 Sử dụng PGF2 điều trị bệnh thể vàng tồn lưu 40

Hình 4.1 Các nguyên nhân của buồng trứng gây chậm động dục 50

Trang 9

HF : Holstein Friesian HTNC : Huyết thanh ngựa chửa

LH : Lutein Stimulating Hormone LTH : Luteino Trofic Hormone

Nxb : Nhà xuất bản PGF2 : Prostaglandin PRID : Progestrone Releasing Device

SE : Sai số chuẩn STT : Số thứ tự TTNT : Thụ tinh nhân tạo

Trang 10

Hiện nay, chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đang bị đe dọa bởi hai loại bệnh chủ yếu là bệnh dinh dưỡng và bệnh sinh sản Bệnh dinh dưỡng xảy ra có thể là do khẩu phầu ăn không hợp lý hoặc cách phối trộn thức ăn không đảm bảo đủ các chất làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản cũng như sức sản xuất của đàn bò Tuy là một vấn đề đáng chú

ý, nhưng bệnh dinh dưỡng sẽ do các nhà khoa học về dinh dưỡng nghiên cứu

và tìm ra các phương pháp hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề Điều tôi muốn

đề cập đến ở đây là bệnh sinh sản trên bò sữa, nổi bật lên là bệnh buồng trứng Gồm ba bệnh Thể vàng tồn lưu, U nang buồng trứng và Buồng trứng không hoạt động, đã và đang gây ảnh hưởng rất lớn đến ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta

Trang 11

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh sản và những phương pháp điều trị bệnh buồng trứng nhằm nâng cao khả năng sinh sản của

bò Việc sử dụng kích tố hướng sinh sản để nâng cao khả năng sinh sản cũng như khắc phục những hiện tượng mà bệnh buồng trứng gây ra đã được các nhà khoa học trong nước sử dụng Các kích tố có thể sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau và thu được nhiều kết quả tốt Có thể thấy, những phương pháp điều trị bệnh sinh sản ở nước ta đang cho những kết quả tốt

Xuất phát từ những yêu cầu trên, dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo TS

Bùi Ngọc Sơn, tôi tiến hành chuyên đề: “Điều trị hội chứng rối loạn sinh sản ở bò sữa tại Trung tâm Giống và chuyển giao kỹ thuật - Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu” Mục đích là đánh giá khái quát về bệnh

buồng trứng ở đàn bò tại Trung tâm nói riêng và nước ta nói chung, để đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả

1.2 Mục đích chuyên đề và yêu cầu của chuyên đề

Đánh giá tình hình chăn nuôi tại Trung tâm Giống và chuyển giao kỹ

thuật - Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu

Có được cái nhìn bao quát hơn về bệnh rối loạn sinh sản ở bò sữa

Bổ sung thêm tài liệu về bệnh rối loạn sinh sản ở bò sữa

Áp dụng phác đồ điều trị hiệu quả

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập

2.1.1 Vài nét về đặc điểm tự nhiên của Trung tâm

Trung tâm Giống và chuyển giao kỹ thuật - Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu là trang trại bò sữa với quy mô khoảng 2000 con bò sữa, được Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu xây dựng trên mảnh đất cao nguyên Mộc Châu Với điều kiện khí hậu mát mẻ, vẻ đẹp trời phú cho cao nguyên Mộc Châu thì đây là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của bò sữa, một điều kiện lý tưởng mà hiếm nơi nào có được

2.1.2 Vị trí địa lý

Mộc Châu là huyện miền núi nằm trên cao nguyên đá vôi vùng Tây Bắc với độ cao trung bình hơn 1.050 m so với mặt nước biển, về hướng Đông Nam của tỉnh Sơn La, có diện tích tự nhiên 2.061 km2 Mộc Châu tiếp giáp với các khu vực:

- Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Vân Hồ

- Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Yên Châu

- Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước CHDCND Lào với đường biên giới chung dài 36 km

- Phía Bắc giáp với huyện Phù Yên

2.1.3 Địa hình

Là huyện mang đặc trưng của một huyện miền núi Tây Bắc, địa hình bị chia cắt mạnh có nhiều núi cao hiểm trở và nhiều thung lũng rộng, độ cao trung bình từ 950-1050 m so với mặt nước biển, có cao nguyên rộng lớn và tương đối bằng phẳng

Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình so với mặt biển là 1.050

Trang 13

m, các khu vực xung quanh Mộc Châu như Hòa Bình, Sơn La đều có độ cao trung bình thấp hơn so với Mộc Châu

2.1.4 Khí hậu

Mộc Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh khô, mùa hè mát ẩm và mưa nhiều Mộc Châu có độ cao lớn lại nằm giữa sông Đà và sông Mã do đó khí hậu ở Mộc Châu quanh năm mát mẻ, nhiệt độ không khí trung bình/năm khoảng 18,5 oC, lượng mưa trung bình/năm khoảng 1.560 mm Độ ẩm không khí trung bình 85%

2.1.5 Thuỷ văn

Sông Đà là sông lớn nhất và nằm giáp với huyện Mộc Châu ở phía Đông Bắc và có vai trò quan trọng đối với Mộc Châu Sông Đà vừa là nguồn nước mặt, vừa là tuyến giao thông thủy của Mộc Châu, đồng thời sông Đà cũng có vai trò quan trọng đối với việc điều hòa tạo ra khí hậu quanh năm mát

mẻ cho Mộc Châu

Do địa hình núi đá vôi nên nước mặt ở Mộc Châu rất hạn chế Sông suối ở Mộc Châu có độ dốc lớn, trắc diện hẹp nên có nhiều thuận lợi phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ

Nhìn chung, tài nguyên nước phân bố không đồng đều, do điều kiện phát triển sản xuất mang lại hiệu quả chưa cao Nước ngầm ở Mộc Châu tương đối ít gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và du lịch Tuy nhiên, với hồ thủy điện Hòa Bình, tình trạng này đã được cải thiện nhiều

2.1.6 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội

* Tình hình xã hội

Nhìn chung tình hình dân cư quanh Trung tâm còn nghèo, chưa phát triển so với các xã khác của huyện, nhưng từ nhiều năm trở lại đây với sự phát triển của nghề chăn nuôi bò sữa nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo và coi nghề chăn nuôi bò sữa là nghề làm giàu và họ quyết định chuyển diện tích trồng

Trang 14

lúa, chè, ngô sang chuyên canh trồng cỏ Cũng nhờ nghề nuôi bò sữa mà bộ mặt vùng quê nghèo của tỉnh Sơn La đang từng ngày thay da đổi thịt

* Tình hình phát triển kinh tế

Quá trình hoạt động và nghiên cứu của Trung tâm dựa trên nguồn vốn của nhà nước cấp Mọi chính sách đối với người lao động đều được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật do vậy tạo được tâm lý thoải mái và tin tưởng cho người lao động

Năm 2017 đánh dấu bước dịch chuyển quan trọng của Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu khi tiến hành cổ phần hóa, thoái nguồn vốn Nhà nước, trở thành công ty do Tập đoàn Thống Nhất điều hành

* Cơ cấu tổ chức quản lý của Trung tâm

Trung tâm Giống và chuyển giao kỹ thuật, là 1 thành viên của công ty

Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu, hiện đang quản lý khoảng hơn 1900 bò bê Trung tâm gồm có 63 người:

- 01 giám đốc

- 01 phó giám đốc

- 10 kỹ thuật chính của Trung tâm, gồm:

+ 01 kỹ sư dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi

+ 07 bác sỹ thú y

+ 02 kỹ sư dẫn tinh nhân tạo

- 01 thợ sửa chữa nước

- 02 thợ điện

- 03 thợ cơ khí

- 01 kế toán

- 44 công nhân

Trang 15

2.1.7 Tình hình sản xuất của cơ sở

* Cơ sở vật chất của trung tâm

- Trung tâm được chia thành 3 khu vực chăn nuôi riêng biệt có tên Trung tâm Giống số 1, Trung tâm Giống số 2 và Trung tâm Giống số 3

- Trung tâm Giống số 1 để chăm sóc và nuôi dưỡng bò đang chửa, cạn sữa Diện tích xây dựng 10 ha gồm: 2 chuồng, chiều dài của 1 chuồng là 100

m, rộng 10 m, mỗi chuồng chia thành 2 dãy (có đường đi ở giữa) Mỗi dãy đều có sân cát, mỗi chuồng có 1 sân chơi nền đất

- Trung tâm Giống số 2 để chăm sóc và nuôi dưỡng bò đang trong chu kì sản xuất cho sữa, bò chờ đẻ và bê non ăn sữa Diện tích xây dựng 25 ha gồm:

1 nhà máy sản xuất thức ăn tổng hợp cho bò sữa, 1 nhà máy vắt sữa, 4 chuồng, chiều dài một chuồng là 100 m, rộng 10 m, mỗi chuồng chia thành 2 dãy (có đường đi ở giữa) Mỗi dãy đều có sân cát, mỗi chuồng có 1 sân chơi nền đất

- Trung tâm Giống số 3 để chăm sóc và nuôi dưỡng bê lỡ và bò cái tơ Diện tích xây dựng 10 ha gồm: 2 chuồng, chiều dài của 1 chuồng là 100 m, rộng 10 m, mỗi chuồng chia thành 2 dãy (có đường đi ở giữa) Mỗi dãy đều

có sân cát, mỗi chuồng có 1 sân chơi nền đất

- Mỗi Trung tâm đều có nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của Trung tâm

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

- Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống, nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác được cấp từ một bể lớn, bể được bố trí xây dựng ở đầu chuồng và có hệ thống lọc và xử lí trước khi dẫn nước vào chuồng

- Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên

Trang 16

sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,

- Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư hơn hết

- Có hệ thống quạt gió, phun sương, điện sáng, máng uống nước tự động

- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho bê con vào mùa đông

- Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả Trung tâm sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi khi mất điện

- Trong đó Trung tâm Giống số 2 là đơn vị chăn nuôi chủ yếu

- Mỗi ngày ước tính sản lượng sữa thu được khoảng hơn 10 tấn Sản phẩm sữa của Trung tâm Giống và chuyển giao kỹ thuật đang được cung cấp chủ yếu cho Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu

- Trung tâm có tổng diện tích trồng cỏ là 1000 ha trong đó có 250 ha đất trồng cỏ dự trữ Đây là một điều kiện thuận lợi về thức ăn cho đàn bò Ngoài ra chính sách thuận lợi của Trung tâm đối với hộ nhân dân nhận bò khoán giúp cho sự phát triển đàn bò sữa có hiệu quả

2.1.8 Những thuận lợi khó khăn

- Nuôi bò sữa đòi hỏi có vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn để mua bò

và xây dựng chuồng trại

- Nuôi bò sữa là một nghề mới ở nước ta, đa số người nuôi còn thiếu

Trang 17

kinh nghiệm Trong khi đó nuôi bò sữa cần phải có kỹ thuật chuẩn xác trong tất cả các khâu

- Nuôi bò sữa cần có những dịch vụ chuyên ngành: phối tinh nhân tạo cho bò cái, khám và điều trị bệnh

- Sữa là một sản phẩm dễ hư hỏng, khó bảo quản, nhất là trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta

2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề

2.2.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa trong nước

Giai đoạn 2016 - 2020, ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta đạt kết quả khá khả quan, với đàn bò sữa gần 284 nghìn con, cho sản lượng sữa tươi đạt hơn 795 nghìn tấn Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng cao của người dân, phấn đấu đến năm 2025 có 500 nghìn con bò và đạt một triệu tấn sữa,

chúng ta cần thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trong thời gian tới

Cung chưa đủ cầu

Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ngành chăn nuôi bò hiện nay của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thịt và sữa cho hơn 90 triệu người dân Một số tỉnh, thành phố có số lượng bò sữa lớn như: TP Hồ Chí Minh (nhiều nhất cả nước với hơn 90 nghìn con), Nghệ

An (hơn 62 nghìn con), Sơn La, Lâm Đồng (khoảng 20 nghìn con), Hà Nội (hơn 15 nghìn con)… Nhưng chủ yếu vẫn ở quy mô nhỏ, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân, quy trình chăn nuôi chưa khép kín, khiến các hộ nuôi cá thể gặp nhiều khó khăn Mặt khác, một số công ty, tập đoàn như: TH True Milk, Vinamilk, Mộc Châu, Hoàng Anh Gia Lai, Friesland Campina Vietnam mặc dù có sự đầu tư lớn cho bò sữa, sản lượng sữa tươi nguyên liệu cũng mới chỉ đáp ứng 35 % nhu cầu thị trường

Để đáp ứng cung - cầu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người chăn nuôi bò sữa, nhiều chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

Trang 18

trong chăn nuôi, nhất là lập kế hoạch quỹ đất cho chăn nuôi gia súc lớn như trâu, bò Đáng chú ý là khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào chăn nuôi bò sữa quy mô lớn áp dụng công nghệ cao, chế biến và kinh doanh ở tất

cả các khâu trong chuỗi giá trị sữa

Tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến của các nước để ứng dụng vào sản xuất, chế biến; chọn lọc, đánh giá, đeo số tai, sổ giống, áp dụng tin học trong quản lý đàn bò Tổ chức tập huấn kỹ thuật và năng lực thương mại cho

hộ chăn nuôi; đào tạo tập huấn cho kỹ thuật viên gieo tinh bò nhân tạo kỹ thuật, công nghệ mới Đồng thời, kiên quyết thải loại những cá thể có năng suất thấp, khả năng sinh sản và nhân giống kém Thực hiện sản xuất theo chuỗi, bảo đảm an toàn thực phẩm cho tiêu thụ trong nước và tiến tới xuất khẩu Để chuỗi hoạt động có hiệu quả, các hộ chăn nuôi cần liên kết với nhau thành lập tổ hợp tác, ký hợp đồng với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm Tăng cường xây dựng thương hiệu cho chăn nuôi bò sữa Cùng với đó, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhà máy sản xuất thức ăn TMR (thức ăn trộn hỗn hợp) và thức ăn bổ sung, nhân rộng các mô hình chế biến thức ăn TMR để bảo đảm đầy đủ dinh dưỡng và từng bước nâng chất cũng như năng suất đàn

bò hiện nay Chuyển đổi một phần diện tích canh tác lúa kém hiệu quả sang trồng cỏ, cây thức ăn cho chăn nuôi bò

2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu - Sơn La

Điển hình là vùng chăn nuôi bò sữa trọng điểm của Sơn La và cả nước, năm 2018 đàn bò sữa của huyện là 23.700 con, đến 6 tháng đầu năm 2019, đàn bò sữa của huyện Mộc Châu tiếp tục được phát triển trên quy mô lớn Tính đến nay, đàn bò sữa toàn huyện đạt hơn 24.500 con, sản lượng sữa đạt gần 80.000 tấn/năm Toàn huyện có 800 hộ chăn nuôi bò sữa, trung bình mỗi hộ nuôi 30- 40 con, một số hộ chăn nuôi quy mô lớn 150 - 200 con Chăn nuôi bò sữa trở thành nghề cho thu nhập khá cho nông dân Mộc Châu, không ít hộ gia

Trang 19

đình có thu nhập từ 1-1,5 tỷ đồng/năm Việc áp dụng cơ giới hóa trong chăn nuôi

bò sữa ngày càng được quan tâm, có 100 % hộ gia đình chăn nuôi bò sữa trên địa bàn sử dụng máy thái cỏ, 100 % hộ sử dụng máy vắt sữa và máng cho ăn tự động, 70% số hộ sử dụng hệ thống làm mát cho bò… Tuy nhiên, việc chăn nuôi

bò sữa trên địa bàn huyện Mộc Châu còn mang tính nhỏ lẻ thủ công theo quy mô

hộ gia đình nên việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào chăn nuôi còn hạn chế Trước thực tế đó, những năm qua, Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu đã tích cực hỗ trợ, tư vấn cho nhiều hộ gia đình, chủ trang trại chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện được tiếp cận với nguồn vốn quỹ khuyến nông của Thành phố, để các hộ có điều kiện tăng đàn bò và đầu tư trang thiết bị Từ nguồn quỹ này mà nhiều hộ chăn nuôi bò sữa huyện Mộc Châu có thêm điều kiện mở rộng quy mô trang trại… Ngoài ra Công ty còn có Nhà máy sản xuất thức ăn hỗn hợp TMR, nhà máy sản xuất thức ăn tinh, đảm bảo chủ động nguồn thức ăn cho bà con chăn nuôi với giá cả hợp lý, đảm bảo chất lượng Cùng với đó là dây chuyền sản xuất các sản phẩm sữa của công ty được tối ưu, tự động hóa, nhập khẩu hệ thống 100 % từ nước ngoài, đảm bảo chất lượng của dòng sữa Mộc Châu đến tay người tiêu dùng

2.2.3 Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái

Sinh sản là chức năng vô cùng quan trọng của gia súc cái và cũng là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể Các nhà chăn nuôi từ lâu đã quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu về cấu tạo và chức năng của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan sinh dục của gia súc cái

Cơ quan sinh dục bò cái mang đặc điểm chung của loài và chia làm 2 bộ phận sau: Bộ phận sinh dục bên ngoài (âm hộ, âm vật và tiền đình), bộ phận bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng)

Các bộ phận sinh dục bên ngoài

Âm hộ hay âm môn (Vulva):

Dưới hậu môn là âm môn, phía ngoài âm môn có 2 môi (Labia vulva),

Trang 20

nối liền 2 môi bằng 2 mép (Bima vulvae)

Trên hai môi của âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết, tiết chất nhờn trắng và tiết mồ hôi

Âm vật (Clitoris):

Âm vật giống như dương vật thu nhỏ, trong cấu tạo âm vật cũng có các thể hổng như con đực, trên âm vật có nếp da tạo mu âm vật (Praepatium clitoridis), giữa âm vật bẻ gập xuống dưới

Tiền đình:

Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo, màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo

Tiền đình có một tuyến, tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về

âm vật

Các bộ phận sinh dục bên trong

Bộ phận sinh dục bên trong bao gồm: âm đạo, cổ tử cung, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng

Âm đạo (Vagina): Âm đạo nối tiếp với âm hộ và mở rộng về phía cổ tử

cung Là nơi chứa dương vật của con đực khi tiến hành giao phối tự nhiên hoặc đường đi của dẫn tinh quản khi truyền tinh nhân tạo, cũng là nơi thai ra khi đẻ và thoát nước tiểu

Âm đạo có dạng hình ống, dài khoảng 20-25 cm, thành mỏng dai và đàn hồi Khi động dục, âm đạo được bôi trơn bằng những chất thấm qua biểu mô

âm đạo, bằng dịch nhầy ở cổ tử cung và bằng niêm dịch tuyến nội mạc tử cung Đối với bò, khi giao phối trực tiếp, tinh dịch được phóng vào cuối âm đạo, trước cổ tử cung

Trang 21

Tử cung(Uterus): Tử cung bò hình sừng cừu, thân tử cung ngắn, hai sừng

tử cung dài, lớp niêm mạc trong tử cung và trên hai sừng tử cung có gấp nếp nhiều lần tập trung lại với số lượng 80-120 (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4], đây là tiền thân của núm nhau mẹ

Cổ tử cung (Cervix): Có dạng hình tròn, luôn luôn đóng, chỉ mở khi nào

nó hưng phấn cao độ, hoặc lúc sinh đẻ hay khi bệnh lý Niêm mạc cổ tử cung trâu bò gấp nếp nhiều lần , từ 3-5 lần gọi là nhiều lần hoa nở Có sự khác biệt

về cổ tử cung giữa bò già và bò chưa trưởng thành , giữa bò ít đẻ và bò đẻ nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và đẻ không bình thường

Cổ tử cung dài khoảng 5-10 cm, đường kính từ 2-5 cm

Thân tử cung (Body uterus): Thân tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng

tử cung, có kích thước rất ngắn, chỉ khoảng 2-4 cm Thân tử cung được cấu tạo với những lớp cơ trơn dày, cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài, trong cùng là các tuyến sinh dục có khả năng tiết ra những chất giúp cho sự vận động của tinh trùng cũng như sự phát triển của thai

Sừng tử cung (Horn uterus): Bò cái có hai sừng tử cung trái và phải, độ

dài của sừng tử cung khoảng 15-20 cm (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4] Hai sừng tử cung của bò cái gắn với thân tử cung dính với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng phía trên của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung, dài 3-5 cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bênh lý ở tử cung

Buồng trứng (Ovarium):

Buồng trứng bò hình bầu dục, thường là màu trắng không có lõm rụng trứng Vị trí buồng trứng bò thường nằm ở 2 mút sừng tử cung , gần cạnh trước xương ngồi, hay ở phía dưới sừng tử cung Kích thước buồng trứng (1-2) (1-1,5) 1,5 cm (Nguyễn Tuấn Anh và cs, 1995) [1] Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết dịch nội tiết

Trang 22

Bên dưới lớp màng của buồng trứng là tế bào trứng non (Folliculin ovocyt primario) Khi noãn bao chín thì các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum granulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra một cái xoang có chứa dịch (Liquar folliculin) Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo ra một lớp màng bao bọc ở ngoài, có chỗ lồi lên để chứ tế bào trứng (Ovum) Noãn bao nguyên thủy khi trở thành noãn bao chín (Folliculis ovaricus vesicolosus) được bao bọc một lớp màng mỏng Tổ chức màng liên kết buồng trứng lúc này dày lên để bảo vệ noãn bao chín, giữa màng bảo vệ liên kết và màng mỏng của noãn bao là tổ chức mạch quản dày đặc Noãn bao chín nằm ở phần lồi trên của màng liên kết buồng trứng Noãn bao chín có kích thước 1 cm Tế bào trứng trong noãn bao là tế bào lớn nhất trong cơ thể,

có thể trong thấy được bằng mắt thường, kích thước 0,15-0,25 mm (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [4] Lúc noãn bao đã thành thục thì màng bọc nang, màng liên kết buồng trứng rách ra, tế bào trứng được rời khỏi buồng trứng, cùng với dịch nang, tế bào hạt đi vào loa kèn Màng noãn bao rách xong liền lại ngay, các tế bào hạt trong xoang phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn

để lấp kín xoang noãn bao và trở thành thể vàng (Corpus luteum)

Thể vàng là thể rắn màu vàng, các tế bào thể vàng tiết ra progesterone và các progestin khác Thể vàng có thể đạt đến kích thước tối đa là 20,5 mm vào ngày 15-16 của chu kỳ, sau đó thoái hóa và có đường kính trung bình 12,5

mm vào ngày 18-21 Nếu bò thụ thai thể vàng sẽ không thoái hóa cho đến cuối kỳ mang thai Khối lượng thể vàng và hàm lượng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 8 và giữ tương đối ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hóa thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày 17-18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng không được thụ tinh

Trang 23

Ống dẫn trứng (Oviductus):

Ống dẫn trứng hay còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng, chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau và đồng thời một lúc Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng gần sát buồng trứng và có hình loa kèn, loa kèn là một màng mỏng tạo thành một cái tán rộng và lô nhô không đều ôm lấy buồng trứng Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng nơi xảy ra thụ tinh và phân chia sớm của phôi Phôi được lưu lại trong ống dẫn trứng vài ngày trước khi về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thích hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi bào gồm chất dinh dưỡng và bảo vệ cho tinh trùng, noãn bào và hợp tử sau đó niêm mạc, ống dẫn trứng và tử cung còn tiết ra men hyaluronidaza tham gia vào quá trình thụ tinh Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3-10 ngày Trên đường di hành trong ống dẫn trứng, tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và đoạn eo của ống dẫn trứng (Nguyễn Tuấn Anh và cs, 1995) [1]

2.2.4 Hoạt động sinh dục của bò cái

Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu

Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ tinh, đồng thời tử cung cũng biến đổi để đủ điều kiện cho phôi thai phát triển trong

tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy báo hiệu sự thành thục về tính Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục về thể vóc và thời điểm đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, môi trường sống và mức độ nuôi dưỡng Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn

Trang 24

Bò cái nếu được nuôi dưỡng tốt có thể thành thục tính dục lúc 12 tháng tuổi, nhưng thành thục về thể vóc phải từ 18 tháng tuổi trở lên Đối với bò lang trắng đen Hà Lan, cho ăn đầy đủ, chăm sóc tốt, thành thục tính dục lúc 10-12 tháng tuổi; chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16-18 tháng tuổi Phối giống lần đầu tốt nhất vào lúc 15-18 tháng tuổi

Chu kỳ động dục

Sau khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của bò được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển lớn dần đến độ chín, nổi cộm lên trên bề mặt buồng trứng được gọi là nang Graff, khi nang Graff vỡ, trứng rụng thì gọi là sự rụng trứng Mỗi lần rụng trứng con vật

có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài được gọi là động dục Trứng rụng có chu kỳ nên động dục cũng có chu kỳ Chu kỳ động dục thông thường của bò

là 21 ngày (dao động 18-24 ngày)

Trong một chu kỳ động dục của bò thường có các đợt sóng nang (Foliculas Wave), đây là sự phát triển đồng loạt của một số bào noãn trong cùng một thời gian Theo dõi sự phát triển của buồng trứng bằng phương pháp nội soi và siêu âm cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 đợt sóng nang (một số ít có 4 đợt) Đợt 1 bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu kỳ Đợt 2 vào ngày 11-17 và đợt 3 vào ngày 18-0 (ngày 0 là ngày bắt đầu động dục) Mỗi đợt sóng nang có thể phát triển (huy động) tới

15 nang kích thước từ 5-7 mm Một số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế ở đợt 1; 2; 3 có thể đạt tới 12-15 mm vào các ngày 6; 13; 21 (Saito và cs., 1992) [24]

Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang Một đợt có 1-2 nang trội, vài nang lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm Tuy vậy khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hóa, chỉ có

Trang 25

đợt cuối cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín và rụng trứng Do đặc điểm này các đợt phát triển nang gọi là song phát triển Trong mỗi đợt song như vậy sự tồn tại của các nang không phải nang khống chế dao động từ 5-6 ngày Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát triển của nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6 mm/ngày

Theo Siphilop (1967) [25], chu kỳ động dục của bò biến động từ 18-28 ngày (trung bình 21 ngày), thời gian động dục từ 6-36 giờ (phần lớn kéo dài

từ 25-36 giờ) Chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài và ược chia làm 4 giai đoạn (4 pha) riêng biệt nhưng liên tiếp nhau:

đ-Giai đoạn trước động dục: tính từ thời kỳ thoái hoá thể vàng của chu kỳ

trước cho đến giai đoạn động dục kỳ sau, con vật bồn chồn, đi lại, đái rắt, kém

ăn, nhảy lên con khác, âm hộ sưng nhẹ, sung huyết, bóng ướt, niêm dịch chảy

ra nhiều, lỏng, trong suốt dễ đứt (kéo dài 1-2 cm)

Giai đoạn động dục: kéo dài 8-30 giờ, là giai đoạn bò chấp nhận sự phối

giống Tế bào trứng và nang trứng đạt đến độ chín tối đa Con vật có biểu hiện tìm đực hoặc đến gần con khác, chịu đực, trạng thái mê ỳ, ăn ít hoặc không

ăn, âm hộ bớt sưng, hơi thấm niêm dịch đặc dính co lại, màu đục trong, kéo dài 7-10 cm

Giai đoạn sau động dục: đầu giai đoạn sau động dục xảy ra hiện tượng

nang trứng rách ra và vách của nang trứng rách phát triển thành thể vàng trong vòng 3 ngày Gai đoạn này con vật chịu cho nhảy và phối giống (một thời gian ngắn), con vật ăn ít, âm hộ hết sưng

Giai đoạn cân bằng sinh học: các trạng thái trở về bình thường, giai

đoạn này kéo dài từ 12-15 ngày và thể vàng sản sinh mạnh progesterone (Saito và cs., 1992) [24]

Chu kỳ động dục được điều hòa bởi các hormone được tiết ra từ vùng

Trang 26

dưới đồi (hypothalamus) và buồng trứng

Hypothalamus tiết GnRH (gonadotropin releasing hormone) vào hệ thống động mạch vùng dưới đồi - tuyến yên làm thùy trước tuyến yên tăng tiết FSH và LH, kích thích sự phát triển nang trứng Trong hàng loạt các nang phát triển, xuất hiện nang trứng phát triển nhanh hơn và trở thành nang trội Estradiol và Inhibin được tổng hợp từ các tế bào hạt của nang trội Hàm lượng estradiol tăng cao, tác động ngược dương tính vào hypothalamus, kích thích sản xuất LH tăng cao làm nang trội giải phóng tế bào trứng Inhibin tác động ngược âm tính làm giảm hàm lượng FSH dưới ngưỡng cần thiết đối với sự tồn tại của các nang còn lại, làm thoái hóa các nang trứng còn lại Tuy nhiên, ở hàm lượng FSH thấp nang trội vẫn có khả năng phát triển và rụng trứng do nang trội có sự mẫn cảm với FSH nhờ sự có mặt của IGF-1 (Inhibin-like Growth Factor-1: yếu tố sinh trưởng giống Inhibin) trong tế bào với hàm lượng cao hơn và nang trội có thụ thể tiếp nhận LH của các tế bào hạt sớm hơn các nang khác và do vậy nang trội phát triển đến giai đoạn rụng trứng mà không bị thoái hóa trong điều kiện FSH thấp

Vai trò của FSH

Kích noãn tố gọi tắt là FSH, là một glycoprotein được tìm thấy ở người

và các động vật khác nhau, được tổng hợp và tiết ra bởi các tế bào nội tiết của thùy trước tuyến yên FSH có chức năng điều hòa quá trình sinh trưởng, phát triển, thành thục về tính và các quá trình sinh sản của cơ thể FSH hoạt động thông qua sự liên kết vào các thụ thể (receptor) đặc trưng, được định vị vào một nơi riêng biệt trên tế bào hạt của nang trứng và các tế bào hạt trên buồng trứng, là vị trí đích để FSH hoạt động Các nghiên cứu gần đây cho thấy FSH rất cần thiết cho tất cả các giai đoạn phát triển của nang trứng như: chuyển hóa tiền các tế bào hạt dẹt thành các tế bào hình lập phương, phát triển các nang trứng thứ cấp và chuyển hóa nang trứng từ nang trứng thứ cấp thành

Trang 27

nang trứng phát triển do FSH ảnh hưởng trực tiếp lên sự hình thành nang Vai trò của FSH trong sự điều khiển phát triển các nang trứng nhỏ hơn 1mm được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đến nay vẫn có nhiều quan điểm trái ngược nhau Một số tác giả cho rằng FSH không có chức năng đối với các nang trứng ở trước giai đoạn nang trứng thứ cấp ở bò cũng như các loài động vật có vú khác (Tanaka và cs., 2001) [26] Song một số tác giả gần đây nghiên cứu cho thấy, FSH đóng vai trò trong sự phát triển của nang trứng giai đoạn đầu, thiếu lượng FSH tối thiểu có thể làm giảm tỷ lệ phát triển của nang trứng nhỏ do kéo dài thời gian cần thiết để các tế bào hạt phát triển, FSH

là yếu tố đầu tiên điều khiển quá trình phát triển của nang trứng ở tất cả các giai đoạn khác nhau Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa sự xuất hiện của nang trứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ mang thai và hàm lượng FSH trong huyết thanh của bào thai cái, Tanaka và cs., (2001) [26], thấy rằng trong thời

kỳ bào thai cũng như ở bò trưởng thành, số lượng của các nang trứng và các giai đoạn phát triển của nang trứng được đánh giá thông qua sự thay đổi nồng

độ FSH Ở bò, ngay sau khi các nang trứng nguyên thủy được hoạt hóa, thụ thể FSH được thể hiện lên các màng tế bào hạt Nghiên cứu ở loài gặm nhấm cho thấy FSH cần thiết cho quá trình thành thục của tiền các tế bào hạt dẹt thành các tế bào hạt hình lập phương Các tế bào hình lập phương này đánh dấu cho sự chuyển đổi của quá trình hoạt hóa nang trứng nguyên thủy thành nang trứng sơ cấp Ức chế FSH là hạn chế quá trình hoạt hóa nang trứng nguyên thủy thành nang trứng sơ cấp Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng FSH cần thiết cho tất cả các giai đoạn phát triển của nang trứng như chuyển hóa các tế bào hạt thành các tế bào hạt hình lập phương, phát triển các nang trứng giai đoạn thứ cấp, chuyển hóa nang trứng từ giai đoạn thứ cấp thành nang trứng phát triển và phát triển đến khi rụng trứng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành các xoang của nang trứng

Trang 28

Sự phát triển của các nang trứng ở giai đoạn phát triển, có kích thước nhỏ hơn 1 mm phụ thuộc vào nồng độ FSH trong hệ thống tuần hoàn Trước khi rụng trứng, nồng độ FSH của nang trứng (có kích thước 4-5 mm) lặp đi lặp lại giống như sóng và hàm lượng FSH bắt đầu giảm sau khi nang trứng lớn hơn 5 mm Estradiol và inhibin từ nang trứng 4-5 mm dần tăng tiết tạo ra

sự phản hồi âm tính cho FSH ở trục dưới đồi tuyến yên Sự suy giảm FSH dẫn đến hàm lượng estrogene giảm đó là cơ sở xảy ra đồng thời với sự ưu tiên một nang trội

Vai trò của LH:

Đối với gia súc cái, LH có vai trò kết hợp với FSH làm giảm sự bài tiết của estrogen ở những nang Graff lớn, làm cho bao noãn thành thục Sự có mặt của LH với nồng độ cao có vai trò làm rách vách nang trứng gây rụng trứng Một vai trò quan trọng của LH là kích thích sự tạo và duy trì hoạt động của tế bào thể vàng buồng trứng (thực chất của quá trình này là tăng số lượng thể nhận LH ở các tế bào hạt dưới ảnh hưởng của FSH) Đối với con đực, LH kích thích tế bào kẽ (tế bào leydig) của dịch hoàn sản xuất testosteron

Quá trình mang thai

Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong Trong thực tế, sự có thai của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như tuổi của bò mẹ, điều kiện nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ hoặc tính biệt của thai Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278-290 ngày và được chia làm 3 thời kì cơ bản gồm thời kì phôi (ngày 1-34), thời kì tiền thai (ngày 35-60), thời kì bào thai (ngày 61-đẻ) Mức dao động của thời gian này giữa các cá thể rất nhỏ, chỉ sớm hay muộn hơn so với trung bình là 5 ngày Tuy nhiên, một số bò đẻ non, bê tuy

Trang 29

yếu nhưng vẫn nuôi được và bò sữa vẫn khai thác sữa mặc dù không được cao như chu kì bình thường

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ

Khoảng cách lứa đẻ là thước đo khả năng sinh sản của gia súc Khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm sinh vật của giống, thời gian động dục lại sau đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa

Ở bò, 1 năm 1 lứa là khoảng cách lý tưởng; khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lượng sữa và số bê con được sinh ra trong 1 đời bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ di truyền Gia súc càng mắn đẻ, hệ số tái sản xuất càng cao

Sự hồi phục sau khi đẻ

Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ

Sau quá trình co bóp để đẩy thai ra ngoài, tử cung dần dần co lại (hầu như trở lại kích thước ban đầu), quá trình đó gọi là hồi phục tử cung sau khi

đẻ, là giai đoạn sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phân tiết prostaglandin ở thân sừng tử cung, ảnh hưởng tới khả năng động dục trở lại sau khi đẻ

Trước đây người ta cho rằng thời gian để bộ máy sinh dục của bò cái hồi phục hoàn toàn sau khi đẻ chỉ là 3 tuần Những kết quả nghiên cứu sau này chứng minh rằng thời gian này dài hơn Đối với bò đẻ lứa đầu là 42 ngày, bò đã

đẻ nhiều lần là 50 ngày Kích thước tử cung của bò sau khi đẻ được hồi phục trở lại gần như bình thường vào khoảng ngày thứ 30 nhưng cần thêm 15 ngày nữa thì trương lực cơ tử cung mới được hồi phục hoàn toàn (Saito và cs., 1992) [24] Phương pháp khám qua trực tràng cho biết, 4 ngày sau khi đẻ thể tích tử cung giảm còn 1/2 và tử cung hồi phục gần như hoàn toàn khoảng ngày thứ

18 sau khi đẻ Trong thời gian sau khi đẻ, sự phá hoại của mô nội mạc tử cung kèm theo sự có mặt của số lượng lớn bạch cầu và việc giảm thấp lòng mạch

Trang 30

nội mạc tử cung, các tế bào cổ tử cung giảm về số lượng và kích thước Những biến đổi nhanh chóng và không cân đối có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai sau khi đẻ bị giảm thấp Các mô máu bị tróc và rụng khỏi dạ con 12 ngày sau khi đẻ Sự tái sinh của bề mặt biểu mô ở các núm xuất hiện bằng cách lớn lên từ mô bao bọc xung quanh và được hoàn tất sau khi đẻ 30 ngày (Nguyễn Tấn Anh và cs., 1995) [1] Theo Saito và cs., (1992) [24], quá trình hồi phục tử cung bò sau khi đẻ (nếu không biến chứng) là 45 ngày và để nội mạc tử cung trở lại trạng thái mô bào học bình thường thì cần 15 ngày tiếp theo Ở dê cừu sau khi đẻ 15-20 ngày, tử cung co lại bình thường Theo Nguyễn Trọng Tiến và cs., (1991) [15], sau khi đẻ 60 ngày, 75 % số bò cái có

cơ quan sinh dục được hồi phục, sau 75 ngày có 87 % Đối với bò đẻ khó, sót nhau, thời gian này là 4 tháng Tác giả cũng cho biết ở đàn bò cái sự hồi phục

tử cung phía không mang thai là 11,4 ngày Sự co dạ con còn phụ thuộc vào

cơ thể, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình đẻ và sự hộ lý chăm sóc sau khi đẻ

Rụng trứng và động dục lại sau khi đẻ

Sau khi sinh, nhiều cá thể bò sẽ động dục lại và rụng trứng trong vòng

20-30 ngày Tuy nhiên, hiện tượng “động dục ngầm” hay là rụng trứng “thầm lặng” thường chiếm tỷ lệ cao và những con bò này rụng trứng trở lại vào lúc 45-50 ngày Phần lớn chúng có biểu hiện động dục và những bò như vậy thường ít có vấn đề về sinh sản so với những bò có thời kỳ động dục kéo dài sau đẻ

Vấn đề động dục trở lại sau khi đẻ còn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng (dinh dưỡng) trong thời gian trước và sau khi đẻ Vấn

đề dinh dưỡng và nuôi con, tiết sữa sẽ kéo dài thời gian động dục trở lại sau

100 ngày Một số nguyên nhân khác cũng làm cho thời gian động dục lại kéo dài sau đẻ là nhiễm bệnh (viêm nhiễm ở tử cung), rối loạn trao đổi chất, môi trường sống kém

Trang 31

2.3 Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản

2.3.1 Những nghiên cứu hormone hướng sinh dục

Chế phẩm có hoạt tính GnRH (gonadotropin releasing hormone)

GnRH-hormone giải phóng kích dục tố FSH và LH gây động dục và rụng trứng Các chế phẩm có hoạt tính của GnRH như GnRH của Nhật Bản sản xuất ở dạng ống 2 ml gồm 100 Fertirelin acetate dùng tiêm bắp, tiêm dưới da Hay Fetagyl của hãng Intervet- Hà Lan sản xuất dùng tiêm bắp

Các chế phẩm có hoạt tính Gonadotropin

Huyết thanh ngựa chửa (H.T.N.C)

Huyết thanh ngựa chửa có hoạt tính hướng sinh dục rất cao HTNC vừa

có hoạt tính giống FSH vừa giống LH, được tiết bởi tế bào chín của nội mạc

tử cung ngựa cái

HTNC có hoạt tính cao trong khoảng 90-120 ngày có chửa rồi giảm dần

và mất hẳn hoạt tính khi đạt 150 ngày có chửa

Ở Việt Nam theo nhiều kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Anh và cs, (1995) [1] theo dõi biến động hoạt tính hormone trong huyết thanh ngựa chửa thấy rằng: Ngựa có thai 60-100 ngày có hoạt tính hormone cao, nhưng cao nhất ở thời gian 80-90 ngày chửa (167,14-172,87 đ.v.c/ml) Đã điều chế từ huyết thanh ngựa chửa dạng đông khô có hàm lượng hormone tùy ý từ 500-

3000 đ.v.c/1 lọ Sử dụng trên bò đạt kết quả động dục 79,3 % Sau khi dẫn tinh, tỷ lệ thụ thai đạt 63,8 % Ngoài ra HTNC còn được Viện Khoa học Việt Nam và Viện Quân y sản xuất

HCG kích tố nhau thai người (human chorionic gonadotropin)

HCG được tạo ra từ tế bào lang-hans của màng đệm nhau thai Mô rụng của màng nhau thai không sản xuất HCG mà chỉ chứa một khối lượng lớn kích tố này Đa số tác giả cho rằng sau khi trứng được thụ tinh 2-3 tuần HCG bắt đầu xuất hiện và có thể phát triển được Nồng độ HCG cao từ ngày 46-70,

Trang 32

mỗi ngày thải ra nước tiểu khoảng 40.000-200.000 đ.v.c, tới ngày chửa

110-120 nồng độ HCG giảm xuống còn 5.000-10.000 đ.v.c và giữ nguyên mức đó đến lúc đẻ

Ở nước ta chế phẩm HCG do Viện quân y 103 sản xuất dạng đông khô liều từ 5.000-10.000 UI/lọ

Hiện nay HCG cũng được Công ty Nuôi trồng Thủy sản TW sản xuất, hormone được đông khô chứa từ 2.000-20.000 UI/lọ

Ngoài ra còn có sản phẩm nhập khẩu của hãng Intervet: Chorulon, hormone ở dạng đông khô chứa từ 1500-10000 UI/lọ, Nymfalon chứa 3000

UI HCG và 125 mg progesterone

Các chế phẩm có hoạt tính oestrogen

Việc chiết xuất các oestrogen tự nhiên là một việc khó khăn lớn Gần đây bằng con đường tổng hợp, người ta đã điều chế được những chất có tác dụng đối với cơ thể gia súc cái giống như oestrogen của buồng trứng gồm những chất: ostron, stinbestron, Hexutron, Dietinstinbestron và Dienestron, trong đó chất Dietinstinbestron được sử dụng nhiều trong chăn nuôi

Ở nước ta tiến sĩ hóa học Võ Thí Trí Túc đã điều chế được chất dẫn xuất promo- trifenin- Etylen lấy tên Brosnhet Tác dụng sinh học tương tự oesrtrogen

Các chế phẩm có hoạt tính progesterone

Trong thực tiễn sản xuất, người ta thường dùng các chế phẩm hóa học tổng hợp có tác dụng tương tự như progesterone, gọi chung là progestogen Các chất thường dùng cho ăn như Melengestrol acetate (MGA), 6-metyl-17 acetoxy-progestone (MAP), 6-chloro-dihydro-17 acetoxy-progestone (CAP), Flurogesterone acetate (FGA), Dihydroxy progesterone acetophenide (DHPA) Các chế phẩm đặt âm đạo như CIDR (Controlled Intravaginnal Drug Releasing), PRID (Progestrone Releasing Device)

Trang 33

Các chế phẩm cấy dưới da như Sychro-Mate B (SMB) chứa 6mg Norgestomet (17alpha-acetoxy-11beta-methyl-19nor-pre-4-ene, 20-dione) và một progestagen

Prostaglandin đã được sản xuất trong các xí nghiệp bào chế thuốc từ năm

1966, ở Nhật sản xuất panxelian F2, một chế phẩm của Công ty ICI (Anh) là Estrumate chế phẩm tổng hợp cso tác dụng tương tự Prostaglandin để điều hòa chức năng sinh sản của bò, hiệu lực của nó mạnh gấp 100 lần Prostaglandin tự nhiên Ở Hungary đã tổng hợp PGF2 mang tên Enoprost

Mỹ sản xuất chế phẩm Lutalyse hoàn toàn giống Prostaglandin tự nhiên Ngoài ra còn có chế phẩm tổng hợp của Hàn Quốc Dinorin, Reprodine chế phẩm tổng hợp của Bayer, Prosolvin chế phẩm tổng hợp của Intervet, Dinolytie chế phẩm tự nhiên của Upjohn và Iliren chế phẩm tổng hợp của hãng Hoechst

Dựa vào cơ chế điều hòa chức năng sinh sản và đặc tính, chức năng sinh học của các loại hormone hướng sinh dục, các nhà chăn nuôi có thể chủ động điều khiển chức năng sinh sản của gia súc theo ý muốn của con người

2.3.2 Những nghiên cứu sử dụng hormone sinh dục nâng cao khả năng sinh sản ở bò

Việc sử dụng kích tố hướng sinh dục cho gia súc nâng cao khả năng sinh sản, khắc phục hiện tượng chậm sinh và vô sinh tạm thời đã được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước sử dụng Các kích tố có thể sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau và thu được nhiều kết quả tốt

Sử dụng huyết thanh ngựa chửa ( HTNC)

Nguyễn Tấn Anh và cs., (1995) [1] đã sử dụng HTNC cho bò sữa sinh sản và bò tơ đạt tỷ lệ động dục tương ứng là 76,75 % và 72,94 %, tỷ lệ chửa là 76,05 % và 73,38 %

Trang 34

Sử dụng progesterone hoặc chế phẩm tương đương

Progesterone và chế phẩm tương đương đã được Patez Gacia (Tây Ban Nha, 1994) sử dụng Tác giả đã tiêm 3 lần progesterone các ngày 1,4,7 mỗi lần tiêm 100mg, ngày thứ 9 tiêm 1500 đ.v.c HTNC cho 40 con bò cái hướng thịt Sau khi tiêm 4 ngày có 36 con động dục (90 %), tỷ lệ thụ thai ở chu kỳ là

1 và 2 là 80 %

Progesterone làm kìm hãm chu kỳ động dục ở bò với liều 50 mg progesterone tiêm hàng ngày có khả năng ức chế chu kỳ động dục Khi tiêm progesterone với liều giảm dần hoặc tăng dần sau đó bổ sung thêm 500-1500 đ.v.c HTNC hoặc HCG đạt tỷ lệ động dục của bò là 80-90 %, tỷ lê có chửa đạt 50-60 %

Ở Việt Nam, sau khi tiêm progesterone 6-7 ngày đại bộ phận bò xuất hiện động dục, nhất là sau khi tiêm HTNC và HCG Tuy nhiên số lần tiêm tối

đa là 3 lần, cách nhau 2-3 ngày Như vậy, liệu trình tiêm progesterone từ 6-9 ngày, sau đó 2 ngày tiêm HTNC là thích hợp nhất Ngoài ra, các chế phẩm của progesterone còn được tẩm vào bọt biển rồi đặt vào âm đạo 10-12 ngày, ngày cuối cùng lấy ra tiêm HTNC sẽ gây cho bò động dục đồng loạt

Để sử dụng progesterone gây động dục ở bò, có nhiều phác đồ điều trị và liều lượng khác nhau, có thể dùng riêng biệt hoặc kết hợp với HTNC và HCG

Bò được tiêm progesterone vào các ngày 1, 3, 5 với liều tương ứng 25

mg, 50 mg, 75 mg Ngày thứ 7 tiêm 1.500-1.800 đơn vị chuột HTNC, ngày

9-10 bò sẽ động dục và phối giống

- Tiêm progesterone vào ngày 1,4,7 với liều tương ứng là 30 mg, 60 mg,

90 mg progesterone, ngày thứ 9 tiêm HTNC liều 1.500-1.800 đơn vị chuột HTNC, ngày thứ 11 hoặc 12 bò sẽ động dục và phối giống

Progesterone có thể sử dụng ở dạng bột trộn vào thức ăn, dạng nước để tiêm nhưng ít được ứng dụng trong thực tế Thay thế vào đó các nhà chuyên

Trang 35

môn đã sử dụng progestrone dưới dạng chế phẩm đặt âm đạo:

CIDR (Controlled Intravaginnal Drug Releasing)

CIDR là dụng cụ đặt âm đạo, sử dụng rộng rãi để kích thích chu kỳ động dục của bò Đây là chế phẩm được làm bằng hỗn hợp cao su và silicone có dạng chữ “T” Trong mỗi dụng cụ có chứ 1,9 gram progesterone tự nhiên, chế phẩm này dùng trong các trường hợp như điều khiển chu kỳ động dục ở bò tơ,

bò sinh sản, nâng cao tỷ lệ thụ tinh của bò sau khi đẻ, bò đang vắt sữa nhưng chưa động dục hoặc động dục nhưng không rụng trứng, u nang buồng trứng

và dùng trong công nghệ cấy truyền phôi

Dụng cụ này có thể dùng riêng biệt hoặc kết hợp với HTNC, PGF2 hoặc Cidirol (oestradiol beoate) hoặc cả Cidirol và PGF2 thì kết quả sẽ tốt hơn Theo Tăng Xuân Lưu (1999) [10] nghiên cứu tỷ lệ động dục ở bò sinh sản là 82,4 % và bò tơ là 75 % với tỷ lệ có chửa tương ứng là 65,21 %

Hiện nay chúng ta có thể dùng một loại sản phẩm mới Cuemate cũng là một chế phẩm đặt âm đạo để điều khiển chu kỳ động dục của bò Chế phẩm cũng được chế tạo từ hỗn hợp cao su silicone có dạng hình chữ “Y” Với hai cánh hai bên xoắn vòng lò xo, trong mỗi dụng cụ có chứa 1,56 gr progesterone

PRID (Progestrone Releasing Device)

Chế phẩm được cấu tạo bằng chất dẻo silicone, dạng vòng xoắn có chứa

2 loại hormone là 1,55 gr progesterone và 10 mg Oestradiol benzoate Dùng PRID có nhiều thuận lợi trong việc gây động dục đồng loạt, việc tháo bỏ dụng

cụ PRID sau 12 ngày đặt do chính người chăn nuôi thực hiện mà không có khó khăn gì Dụng cụ này có thể dùng riêng biệt hoặc có thể kết hợp với HTNC, FSH hay PGF2.

Đặt PRID trong vòng 12 ngày khi rút có tiêm hoặc không tiêm thêm 250- 600UI PMSG có tỷ kệ thụ thai là 55-76 % tương ứng với động dục tự

Ngày đăng: 02/04/2021, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong và Đào Đức Thà (1995). Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái, Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học kỹ thuật chăn nuôi Viện Chăn nuôi, (1969 - 1995), Nxb Nông nghiệp, tr. 325 - 329 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái, Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học kỹ thuật chăn nuôi Viện Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong và Đào Đức Thà
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
2. Lê Xuân Cương (1993). Đánh giá đặc điểm sinh sản, sức sản xuất thịt sữa của giống bò địa phương và bò lai đang nuôi tại miền Nam - Việt Nam, Báo cáo khoa học Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, tr. 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đặc điểm sinh sản, sức sản xuất thịt sữa của giống bò địa phương và bò lai đang nuôi tại miền Nam - Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Cương
Năm: 1993
3. Chung Anh Dũng (2001). Sử dụng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ và một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả gieo tinh nhân tạo cho bò sữa, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ và một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả gieo tinh nhân tạo cho bò sữa
Tác giả: Chung Anh Dũng
Năm: 2001
4. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long và Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long và Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
5. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, Đỗ Kim Tuyên, Lưu Công Khánh và Lê Thị Thúy (1997). Công nghệ cấy truyền phôi bò, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ cấy truyền phôi bò
Tác giả: Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, Đỗ Kim Tuyên, Lưu Công Khánh và Lê Thị Thúy
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
6. Lưu Công Khánh, Phan Lê Sơn, Nguyễn Văn Lý, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thị Thoa và Chu Thị Yến (2004). “Gây động dục đồng pha và cấy truyền phôi bò”, Thông tin khoa học kỹ thuật, Viện Chăn nuôi, 6: 12-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gây động dục đồng pha và cấy truyền phôi bò”, "Thông tin khoa học kỹ thuật, Viện Chăn nuôi
Tác giả: Lưu Công Khánh, Phan Lê Sơn, Nguyễn Văn Lý, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thị Thoa và Chu Thị Yến
Năm: 2004
7. Phan Văn Kiểm, Đào Đức Thà, Trịnh Quang Phong, Đỗ Hữu Hoan, Trịnh Văn Thân, Nguyễn Thị Hòa, Vũ Ngọc Hiệu, Nguyễn Quý Quỳnh Hoa và Tăng Xuân Lưu (2006). “Xác định hàm lượng progesterone ở bò lai hướng sữa bằng kỹ thuật miễn dịch Enzyme (ELISA)”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi số 5(87): 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định hàm lượng progesterone ở bò lai hướng sữa bằng kỹ thuật miễn dịch Enzyme (ELISA)”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi
Tác giả: Phan Văn Kiểm, Đào Đức Thà, Trịnh Quang Phong, Đỗ Hữu Hoan, Trịnh Văn Thân, Nguyễn Thị Hòa, Vũ Ngọc Hiệu, Nguyễn Quý Quỳnh Hoa và Tăng Xuân Lưu
Năm: 2006
8. Phan Văn Kiểm, Trịnh Quang Phong và Tăng Xuân Lưu (2000). Kết quả nghiên cứu động thái Luteinizing Hormone tiền rụng trứng ở bò lai hướng sữa (Holstein Friensian x Lai Sind) và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo nhằm đạt tỷ lệ thụ thai cao, Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tr. 47-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu động thái Luteinizing Hormone tiền rụng trứng ở bò lai hướng sữa (Holstein Friensian x Lai Sind) và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo nhằm đạt tỷ lệ thụ thai cao
Tác giả: Phan Văn Kiểm, Trịnh Quang Phong và Tăng Xuân Lưu
Năm: 2000
9. Trần Thị Loan, Nguyễn Văn Thanh, Đặng Thị Dương, Khuất Thị Thu Hà và Nguyễn Yên Thịnh (2012). “Đánh giá khả năng sinh sản và ứng dụng một số hormone hướng sinh dục nâng cao năng suất sinh sản trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì, Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, 5: 26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản và ứng dụng một số hormone hướng sinh dục nâng cao năng suất sinh sản trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì, Hà Nội”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi
Tác giả: Trần Thị Loan, Nguyễn Văn Thanh, Đặng Thị Dương, Khuất Thị Thu Hà và Nguyễn Yên Thịnh
Năm: 2012
10. Tăng Xuân Lưu (1999). Đánh giá một số đặc điểm sinh sản của đàn bò lai hướng sữa tại Ba Vì, Hà Tây và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của chúng, Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một số đặc điểm sinh sản của đàn bò lai hướng sữa tại Ba Vì, Hà Tây và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của chúng
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 1999
11. Tăng Xuân Lưu, Cù Xuân Dần và Hoàng Kim Giao (2001). Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản cho đàn bò lai hướng sữa tại Ba Vì, Hà Tây, Báo cáo Khoa học, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản cho đàn bò lai hướng sữa tại Ba Vì, Hà Tây
Tác giả: Tăng Xuân Lưu, Cù Xuân Dần và Hoàng Kim Giao
Năm: 2001
13. Trịnh Quang Phong, Nguyễn Văn Đức, Phạm Văn Giới, Phạm Bảo Ngọc, Nguyễn Hữu Lương, Phan Văn Kiểm, Phan Trung Hiếu, Đặng Trương Phục, Nguyễn Thái Thức và Nguyễn Đình Đảng (2012). “Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản và phòng chống viêm vú bò sữa tại khu vực Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản và phòng chống viêm vú bò sữa tại khu vực Hà Nội”
Tác giả: Trịnh Quang Phong, Nguyễn Văn Đức, Phạm Văn Giới, Phạm Bảo Ngọc, Nguyễn Hữu Lương, Phan Văn Kiểm, Phan Trung Hiếu, Đặng Trương Phục, Nguyễn Thái Thức và Nguyễn Đình Đảng
Năm: 2012
15. Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, Nguyễn Xuân Trạch và Lê Văn Ban (1991). Giáo trình chăn nuôi trâu bò, Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi trâu bò
Tác giả: Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, Nguyễn Xuân Trạch và Lê Văn Ban
Năm: 1991
16. Nguyễn Xuân Trạch (2004). “Khả năng sinh sản và sản xuất sữa của các loại bò lai hướng sữa nuôi tại Mộc Châu và Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản và sản xuất sữa của các loại bò lai hướng sữa nuôi tại Mộc Châu và Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch
Năm: 2004
17. Nguyễn Thị Ước (1996). Nghiên cứu gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha trong cấy phôi trâu bò, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội.II .TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha trong cấy phôi trâu bò
Tác giả: Nguyễn Thị Ước
Năm: 1996
18. Alinmer, M.A. (2005). Comparison of an oestrus synchronization protocol with Oestradiol benzoate and PGF2 alpha and insemination at detected oestrus to a timed insemination protocol (Ovsynch) on reproductive performance of lactating cows”, Reprod Nutr Dev, pp.699-708 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of an oestrus synchronization protocol with Oestradiol benzoate and PGF2 alpha and insemination at detected oestrus to a timed insemination protocol (Ovsynch) on reproductive performance of lactating cows”
Tác giả: Alinmer, M.A
Năm: 2005
19. Cooper, M.J. and Furr, B.J.A. (1976). The use of prostagladins in the control of the bovine oestrous cycle. In: L.E.A. rowson (Ed.), Egg transfer in cattle, OBE, FRCVS, FRS, Directorate general for Agriculture, pp. 249-265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of prostagladins in the control of the bovine oestrous cycle. In: L.E.A. rowson (Ed.)
Tác giả: Cooper, M.J. and Furr, B.J.A
Năm: 1976
21. Mann, G.E., Mann, S.J., Blache, D. and Webb, R. (2005). Metabolic variables and plasma leptin concentrations in dairy cows exhibiting reproductive cycle abnormalities identified through milk progesterone monitoring during the post partum period, Animal Reproduction Science, 88: 191-202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metabolic variables and plasma leptin concentrations in dairy cows exhibiting reproductive cycle abnormalities identified through milk progesterone monitoring during the post partum period
Tác giả: Mann, G.E., Mann, S.J., Blache, D. and Webb, R
Năm: 2005
12. Tăng Xuân Lưu, Trịnh Văn Thuận, Trịnh Văn Tuấn, Nguyễn Thị Thoa và Phan Văn Kiểm (2010). Báo cáo kết quả cải tiến phương pháp gây động dục đồng pha và cấy truyền phôi bò sữa cao sản bằng công nghệ in vivo và in vitro Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w