1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài phán hiến pháp ở một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho việt nam

118 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động bảo hiến không chỉ là sự kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà còn bao gồm nhiệm vụ bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp như là nền tảng của hệ thống pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN NGỌC ANH

TµI PH¸N HIÕN PH¸P ë MéT Sè QUèC GIA TR£N THÕ GIíI

Vµ GîI Më CHO VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN NGỌC ANH

TµI PH¸N HIÕN PH¸P ë MéT Sè QUèC GIA TR£N THÕ GIíI

Vµ GîI Më CHO VIÖT NAM

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 8380101.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUÂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn

đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả

các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định

của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Ngọc Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI PHÁN HIẾN PHÁP 9

1.1 Vị trí, vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia và nhu cầu bảo hiến 9

1.1.1 Vị trí, vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia 9

1.1.2 Nhu cầu bảo hiến 11

1.1.3 Mối quan hệ giữa bảo hiến và Nhà nước pháp quyền 12

1.2 Khái niệm, đặc trưng của tài phán Hiến pháp 17

1.3 Lịch sử của tài phán Hiến pháp trên thế giới 19

1.4 Các mô hình tài phán Hiến pháp tiêu biểu trên thế giới 22

1.4.1 Mô hình Hoa Kỳ - Mô hình Tòa án tối cao và Tòa án các cấp có chức năng tài phán Hiến pháp 22

1.4.2 Mô hình Châu âu lục địa – Mô hình tài phán Hiến pháp bằng cơ quan chuyên trách 25

1.4.3 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến 31

1.4.4 Mô hình toà án Hiến pháp Hàn Quốc (Mô hình chuyển đổi Hiến pháp) 32

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình tài phán Hiến pháp ở một số quốc gia trên thế giới 34

1.5.1 Việc tổ chức quyền lực Nhà nước, hệ thống pháp luật 34

1.5.2 Chế độ chính trị, cấu trúc Nhà nước 35

1.5.3 Sự ảnh hưởng mô hình tài phán Hiến pháp nước ngoài 36

1.5.4 Ưu, nhược điểm của mô hình tài phán Hiến pháp 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

Trang 5

Chương 2: CƠ CHẾ TÀI PHÁN HIẾN PHÁP Ở MỘT SỐ QUỐC GIA

TIÊU BIỂU 39

2.1 Cơ chế tài phán Hiến pháp ở Hoa Kỳ 40

2.1.1 Cơ sở của mô hình tài phán Hiến pháp 40

2.1.2 Cơ quan tài phán Hiến pháp 42

2.1.3 Phương thức tài phán Hiến pháp 45

2.1.4 Thủ tục tài phán Hiến pháp 46

2.1.5 Hệ quả pháp lý 47

2.2 Cơ chế tài phán Hiến pháp ở Cộng hoà Liên bang Đức 48

2.2.1 Cơ sở của mô hình tài phán Hiến pháp 48

2.2.2 Cơ quan tài phán Hiến pháp 49

2.2.3 Phương thức tài phán Hiến pháp 54

2.2.4 Thủ tục tài phán Hiến pháp 56

2.2.5 Hệ quả pháp lý 57

2.3 Cơ chế tài phán Hiến pháp ở cộng hoà Pháp 58

2.3.1 Cơ sở của mô hình tài phán Hiến pháp 58

2.3.2 Cơ quan tài phán Hiến pháp 59

2.3.3 Phương thức tài phán Hiến pháp 62

2.3.4 Thủ tục tài phán Hiến pháp 62

2.3.5 Hệ quả pháp lý 63

2.4 Cơ chế tài phán Hiến pháp ở Hàn Quốc 63

2.4.1 Cơ sở của mô hình tài phán Hiến pháp 63

2.4.2 Cơ quan tài phán Hiến pháp 64

2.4.3 Phương thức tài phán Hiến pháp 66

2.4.4 Thủ tục tài phán Hiến pháp 66

2.4.5 Hậu quả pháp lý 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68

Chương 3: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM VỀ TÀI PHÁN HIẾN PHÁP 69

3.1 Tài phán Hiến pháp theo quy định của các bản Hiến pháp Việt Nam trong lịch sử 69

Trang 6

3.1.1 Tài phán Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1946 69

3.1.2 Tài phán Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1959 70

3.1.3 Tài phán Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1980 71

3.1.4 Tài phán Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 71

3.2 Thực trạng hoạt động bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 72

3.3 Quan điểm xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 83

3.3.1 Quán triệt chủ chương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện mô hình tài phán Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 83

3.3.2 Xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 85

3.3.3 Xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp phải góp phần bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách hữu hiệu 85

3.3.4 Bảo đảm tính đồng bộ, rõ ràng, minh bạch và hiệu lực của xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp, bảo đảm mọi vi phạm Hiến pháp phải được phán quyết và xử lý 86

3.4 Đánh giá sự phù hợp của các mô hình bảo hiến ở Việt Nam 88

3.5 Đề xuất mô hình Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam 93

3.5.1 Mô hình Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam 93

3.5.2 Chức năng và cách thức tổ chức Hội đồng Hiến pháp 95

3.5.3 Thẩm quyền của Hội đồng Hiến pháp 97

3.5.4 Trình tự, thủ tục hoạt động của Hội đồng Hiến pháp 100

3.5.5 Hiệu lực pháp lý phán quyết của Hội đồng hiến pháp 101

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 110

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 8

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp là một đạo luật gốc, có giá trị pháp lý cao nhất, trong đó chứa đựng tính nhân văn, dân chủ và nhân quyền Hiến pháp quy định về chế độ chính trị, các chính sách kinh tế, văn hóa ; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân; tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Tuy nhiên, Hiến pháp cũng mang tính nhạy cảm và mong manh nếu có những thế lực vô tình hay hữu ý xâm phạm đến sự thiêng liêng của Hiến pháp và cũng dễ trở thành công cụ để một nhóm người nô dịch số đông còn lại nhằm phục vụ những mưu đồ riêng của mình Vì sự quan trọng đó, Hiến pháp cần sự bảo vệ của tất cả các công dân và của cả hệ thống pháp luật với những thiết chế đủ mạnh để Hiến pháp thực sự được tôn trọng và vì con người Cơ chế bảo vệ Hiến pháp nhằm mục đích bảo vệ Hiến pháp đồng thời bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ quyền lực mà nhân dân

đã trao cho Nhà nước Hiến pháp và cơ chế bảo hiến trở thành công cụ thiết yếu để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong bất cứ một mô hình Nhà nước dân chủ ở mọi giai đoạn của lịch sử nhân loại Ý nghĩa quan trọng và giá trị pháp lý của Hiến pháp chính là nguồn gốc phát sinh vấn đề bảo vệ, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và là cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến Bởi lẽ, cơ chế bảo hiến chỉ tồn tại khi Hiến pháp có ưu thế hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác Hoạt động bảo hiến không chỉ là sự kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà còn bao gồm nhiệm vụ bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp như là nền tảng của hệ thống pháp luật quốc gia, bảo đảm các quyền hiến định, mối quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan trong tổ chức bộ máy Nhà nước

Đề cao vai trò của Hiến pháp tức là đề cao ý nguyện cao nhất của nhân dân Nhưng sự hiện diện của Hiến pháp chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là đủ của một chế độ dân chủ, của một Nhà nước pháp quyền, nếu như các cơ quan công quyền thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vượt quyền, lạm quyền, vi phạm thẩm quyền được Hiến pháp ghi nhận, ban hành các văn bản hoặc thực hiện các hành vi

Trang 9

trái Hiến pháp có khả năng hoặc thực sự đã gây thiệt hại cho công dân, cho các tổ chức và xã hội Vì vậy, để chế độ Hiến pháp được tôn trọng và bảo đảm trong thực

tế, cần phải có cơ chế hữu hiệu bảo vệ và khôi phục trật tự hiến định

Để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980,

1992 (sửa đổi năm 2001), và 2013 đã có những quy định chung về giám sát Hiến pháp, giao cho tất cả các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương đều có thẩm quyền bảo đảm thi hành Hiến pháp, kiểm tra, giám sát và xử lý các văn bản pháp luật trái Hiến pháp, trong đó Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao Nhưng cơ chế giám sát này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, do "nhiều sãi không ai đóng cửa chùa" Vì đây không phải là chức năng chủ yếu của các cơ quan Nhà nước này, nên từ trước đến nay, chưa có cơ quan Nhà nước nào ở trung ương cũng như ở địa phương, kể cả Quốc hội xử lý văn bản pháp luật trái với Hiến pháp Mặt khác, việc Hiến pháp giao cho Quốc hội tự mình xử lý văn bản luật nếu trái với Hiến pháp cũng là không khách quan Thực tiễn nước ta những năm qua có những Thông tư của Bộ trưởng, Nghị định của Chính phủ, Luật của Quốc hội không phù hợp, thậm chí trái với các quy định của Hiến pháp nhưng không có cơ quan nào có ý kiến gì

Tài phán Hiến pháp có thể được thực hiện bằng Tòa án có thẩm quyền chung, mà đại diện là Tòa án tối cao (khởi đầu từ năm 1803 theo phán quyết của Tòa án tối cao Mỹ do Chánh án D Marsall đứng đầu) hoặc một Tòa án Hiến pháp chuyên biệt (Tòa án Hiến pháp Áo năm 1920) Các cơ chế bảo hiến bằng Tòa án thường hay Tòa án Hiến pháp trong khoa học pháp lý thường được dùng chung một

từ là sự giám sát tư pháp (Judicial Review), tức là được thực hiện bởi một hình thức xét xử theo các nguyên tắc hoạt động tư pháp Năm 2005, hơn 3/4 các quốc gia trên thế giới đã có những hình thức tài phán Hiến pháp được quy định trong Hiến pháp Nếu như năm 1978, chỉ có 26% các bản Hiến pháp trên thế giới quy định việc thành lập Tòa án Hiến pháp, thì đến năm 2005, con số này là xấp xỉ 44% Xét về vị trí địa

lý, ở châu Mỹ Latinh thì giám sát của Tòa án tối cao phổ biến hơn so với việc giám sát bằng Tòa án Hiến pháp, còn ở châu Âu thì ngược lại Tuy nhiên, trên thế giới, chỉ có 32% các bản Hiến pháp quy định tài phán Hiến pháp bằng Tòa án tối cao hoặc Tòa án thường [57]

Trang 10

Trên cơ sở nghị quyết 48 ngày 2/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2020, báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 của Đảng tiếp

tục ghi nhận: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa”, xác định “xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và tính hợp hiến và hợp pháp trong hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền”, xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” [1] Hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp

đã là mục tiêu hướng đến trong một khoảng thời gian rất dài tuy nhiên bởi nhiều lý

do mà một cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam chưa thể hình thành Việt Nam mới hoàn thiện và ban hành Hiến pháp 2013 nhưng nhu cầu hình thành một mô hình tài phán Hiến pháp chuyên trách trong thời kỳ mới vẫn còn tồn tại Vì vậy, xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp nhằm bảo vệ giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp là một trong những nội dung quan trọng để hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Từ những lý do trên, em

xin lựa chọn đề tài: “Tài phán Hiến pháp ở một số quốc gia trên thế giới và

gợi mở cho Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử

Nhà nước và pháp luật Đây là đề tài có tính cần thiết, cấp bách, thời sự

2 Tình hình nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu về Hiến pháp, đặc biệt về cơ chế bảo hiến không phải là đề tài quá mới với các nhà nghiên cứu cả ở thế giới và Việt Nam Mặc dù, trong giai đoạn sửa đổi Hiến pháp năm 1992, hàng loạt những hội nghị, hội thảo, tọa đàm được tổ chức nhằm đưa ra những nghiên cứu, kiến nghị về việc xây dựng mô hình bảo hiến chuyên trách trong Hiến pháp mới Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 không ghi nhận mô hình bảo hiến chuyên trách như kỳ vọng nhưng những nghiên cứu về mô hình bảo hiến, tài phán Hiến pháp đã tạo nền tảng cho việc tiếp tục xây dựng bảo hiến ở Việt Nam trong thời gian tới Trong thời gian qua đã có những nghiên cứu khoa học, công trình khoa học, bài viết, chuyên đề, sách chuyên khảo nổi bật và đáng chú ý bao gồm:

Trang 11

- GS.TSKH Đào Trí Úc, Tài phán Hiến pháp và xây dựng tài phán Hiến

pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10, năm 2006

- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Chủ nghĩa Hiến pháp và vấn đề bảo hiến ở

Việt Nam, Kỷ yếu về Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Văn phòng Quốc hội năm, 2009

- Sách chuyên khảo, “Tài phán Hiến pháp – Một số vấn đề lý luận cơ bản,

kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Như

Phát (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, năm 2011

- Sách chuyên khảo, Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, đồng chủ

biên, Nxb Lao động - xã hội, năm 2012

- Sách chuyên khảo, Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến

pháp ở một số nước trên thế giới, Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm

1992, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2013

- Sách chuyên khảo, Các thiết chế hiến định độc lập kinh nghiệm quốc tế

và triển vọng ở Việt Nam, Viện Chính sách công và pháp luật, Nxb Đại học quốc

gia Hà Nội, năm 2013

- Sách chuyên khảo, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011

- Tài liệu tham khảo Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Văn phòng Quốc hội, Nxb Thời đại, năm 2009

Một số đề tài nghiên cứu thạc sỹ, tiến sĩ liên quan về đề tài bảo vệ Hiến pháp như:

- Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp

luật “Bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền” của tác giả Nguyễn Mậu Tuân, Khoa

Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011

- Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp

luật “Cơ chế bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tác giả Tào

Thị Quyên, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012

- Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp

luật: Cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam của tác giả Bùi Thanh Cương, Khoa

Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014

Trang 12

- Luận văn thạc sĩ luật học, Bùi Hải Đường (2015), Sự lựa chọn mô hình

bảo hiến ở Việt Nam, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,

Các công trình khoa học nghiên cứu tập trung vào những vấn đề lý luận chung về bảo hiến, khái niệm, vai trò bảo hiến, cung cấp những nền tảng cơ bản về

mô hình bảo hiến trên thế giới, mô hình bảo hiến hiện tại ở Việt Nam đồng thời chỉ

rõ ra những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo, cũng như lựa chọn cho mình một mô hình bảo hiến phù hợp với đặc thù quốc gia

Liên quan trực tiếp đến đề tài, cuốn sách do tập thể tác giả, PGS.TS Nguyễn Như Phát chủ biên đã phần nào đi sâu vào nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về vai trò của tài phán Hiến pháp đối với việc duy trì và bảo vệ chế độ Nhà nước và nền dân chủ, xu hướng phát triển của chúng trong thế giới đương đại và đặc biệt là về mô hình lý luận cho việc xây dựng tài phán Hiến pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Những nghiên cứu đã thể hiện những ưu điểm, hạn chế của mô hình bảo hiến Việt Nam hiện tại đồng thời đề xuất khắc phục hạn chế nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiến từ đó tạo nền tảng cho việc xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách ở nước ta Những nghiên cứu khoa học trên là nguồn tham khảo, vận dụng

và học hỏi quan trọng để đề tài luận văn có thể thực hiện hoàn chỉnh Bên cạnh

đó, luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lịch sử bảo hiến ở nước ta, các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình bảo hiến… để đóng góp một phần ý nghĩa thực tiễn và lý luận về cơ chế bảo hiến ở nước ta

Như vậy, vấn đề nghiên cứu pháp luật về tài phán Hiến pháp ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học pháp lý xem xét và nghiên cứu trong thời gian dài nhưng tính thời sự và các vấn đề thực tiễn cần giải quyết vẫn tiếp tục được đặt ra Hiến pháp 2013 ra đời nhưng quy định về bảo hiến, tài phán Hiến pháp còn mờ nhạt, thiếu

cụ thể và hiện thực, chưa đáp ứng sự mong mỏi của những nhà khoa học, nhân dân Với những đòi hỏi của thực tiễn việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu tài phán Hiến pháp ở nước ta trong Luận văn thạc sĩ vẫn là điều cần thiết Vì thế đề tài này dưới góc

độ nghiên cứu khoa học vẫn đảm bảo tính mới, tính cấp thiết của nó

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở tiếp cận tổng thể, phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tài phán Hiến pháp Đồng thời, xác định cơ chế tài phán Hiến pháp ở một số nước điển hình như Hoa Kỳ, Đức, Pháp và Hàn Quốc Trên cơ sở đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về tài phán Hiến pháp, từ đó đề xuất mô hình Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền công dân, quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền

Để hoàn thành mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ:

- Nghiên cứu vị trí, vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia; khái niệm, đặc trưng của tài phán Hiến pháp; lịch sử và các mô hình tài phán Hiến pháp tiêu biểu trên thế giới; các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn mô hình tài phán Hiến pháp ở một số quốc gia trên thế giới

- Nghiên cứu một số yếu tố như cơ sở của mô hình tài phán Hiến pháp, cơ quan bảo hiến, phương thức bảo hiến, thủ tục tài phán Hiến pháp, hệ quả pháp lý của cơ chế tài phán Hiến pháp ở một số nước như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Hàn Quốc, nhằm tìm ra những mô hình phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ở Việt Nam

- Nghiên cứu tài phán Hiến pháp theo quy định của các bản Hiến pháp Việt Nam trong lịch sử và đánh giá thực trạng pháp luật và nhu cầu bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu đưa ra quan điểm xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam và đề xuất mô hình Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu lý luận về tài phán Hiến pháp ở một số quốc gia trên thế giới dưới góc độ mô hình và cơ chế tài phán Hiến pháp, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật và nhu cầu bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, từ đó đề xuất mô hình tài phán Hiến pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn về hệ thống pháp luật tài phán Hiến pháp ở Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Hàn Quốc gồm: Quy định Hiến pháp và quy định luật (chủ yếu) về bảo vệ Hiến pháp Bên cạnh đó, đối với Việt Nam, tập trung chủ yếu vào Hiến pháp năm 2013 và các luật có liên quan Nghiên cứu thực trạng pháp luật

và nhu cầu bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam cũng chủ yếu tập trung vào thời gian từ

năm 2013 tới nay, theo tinh thần bảo hiến của Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật (chủ yếu) trong phạm vi cả nước

Về thời gian nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu từ năm 2013 trở lại đây theo tinh thần bảo hiến của bản Hiến pháp năm 2013; những nghiên cứu về cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật theo các bản Hiến pháp trước đây chủ yếu để khảo sát và đảm bảo tính hệ thống của vấn đề nghiên cứu

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài Luận văn tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền, trong đó Hiến pháp là văn bản pháp lý có giá trị tối thượng của quốc gia và phải được bảo vệ

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp thống kê, so sánh… để phân tích và làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

6 Tính mới của nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu trên nền tảng các mô hình tài phán Hiến pháp của một số quốc gia trên thế giới, đồng thời, nghiên cứu nhu cầu về mô hình tài phán Hiến pháp chuyên trách ở Việt Nam, nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến mô hình tài phán Hiến pháp của một quốc gia, gắn với thực tiễn Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra quan điểm xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay và đề xuất mô hình Hội đồng Hiến pháp phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 15

7 Kết cấu của luận văn

Về kết cấu, Luận văn bao gồm Phần Mở đầu, Phần Kết luận và ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tài phán Hiến pháp

Chương 2: Cơ chế tài phán Hiến pháp của một số nước trên thế giới Chương 3: Đề xuất mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI PHÁN HIẾN PHÁP

1.1 Vị trí, vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia và nhu cầu bảo hiến

1.1.1 Vị trí, vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia

Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nguồn của các văn bản quy phạm pháp luật, cần phải được tôn trọng và bảo vệ nghiêm chỉnh Trong tác phẩm “Constitutionalism: Acient and Modern” [50], một trong những tác phẩm đầu tiên viết về nguồn gốc của Hiến pháp, Hiến pháp có nguồn gốc từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại Trong thời kỳ này, người

Hy Lạp và La Mã cổ đại sử dụng thuật ngữ “Hiến pháp” với nghĩa hẹp để chỉ những đạo luật do hoàng đế ban hành Thuật ngữ “Constitution” bắt đầu được sử dụng từ khoảng năm 1610 có nghĩa là “toàn thể khuôn khổ pháp lý của một Nhà nước” Hay theo học giả người Đức K Hesse thì Hiến pháp là trật tự pháp luật cơ bản của xã hội, Hiến pháp ghi nhận những nguyên tắc chủ đạo cho việc thiết lập

cơ cấu chính trị thống nhất và để xác định nhiệm vụ của Nhà nước, tạo cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp trong xã hội [33, tr 29-30] Theo giáo sự G.I.Vedel

và P.Diveger “Hiến pháp có các quy phạm có tính cơ bản Những quy phạm pháp luật được ban hành trái với Hiến pháp, thiếu những hình thức mà Hiến pháp đã chỉ

ra thì sẽ không có giá trị”

Theo từ điển Luật học của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (1999) “Hiến pháp, đạo luật cơ bản, văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất do Quốc hội thông qua, quy định các vấn đề quan trọng nhất và chung nhất của Nhà nước Hiến pháp là văn kiện cơ bản quy định tổ chức Nhà nước và việc điều hành quyền lực” Có thể thấy những định nghĩa này đưa ra đều căn cứ đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp Nó thể hiện sự phát triển của Hiến pháp qua các thời kỳ khác nhau, từ sự bó hẹp trong những phạm vi liên quan tới tổ chức bộ máy chính quyền Nhà nước đến sự mở rộng đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp sang các lĩnh vực khác như quyền và nghĩa vụ của con người của công dân

Trang 17

Trên cơ sở những cách tiếp cận định nghĩa Hiến pháp như trên, có thể hiểu Hiến pháp là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực cao nhất điều chỉnh những mối quan hệ cơ bản giữa con người, xã hội với Nhà nước, cũng như điều chỉnh tổ chức và hoạt động của chính Nhà nước [33, tr.31]

Có thể hiểu, Hiến pháp chính là một hiện tượng chính trị, xã hội, nó vừa là một bản khế ước xã hội của nhân dân, lại vừa là một biểu tượng của nền văn minh và dân chủ của một dân tộc [8, tr.24] Hiến pháp với ba chức năng chính, trong đó chức năng chung nhất là hợp pháp hóa ở mức cao nhất cơ sở tồn tại của một chế độ xã hội, chế độ Nhà nước, một trật tự các quan hệ xã hội Chức năng thứ hai của Hiến pháp là quy định cơ sở xuất phát điểm và định hướng cho quá trình phát triển và hoàn chỉnh các chế định pháp lý, tạo khuôn khổ pháp lý chung cho toàn bộ hệ thống pháp lý Ngoài ra, Hiến pháp còn có chức năng ổn định hóa các quan hệ xã hội

Tựu chung lại, Hiến pháp chính là đạo luật cơ bản nhất, quan trọng nhất của quốc gia, trong đó ghi nhận Hiến pháp là nền tảng pháp lý, căn cứ chủ đạo đối với việc ban hành toàn bộ các văn bản pháp lý khác của Nhà nước, là cơ sở định hướng hoạt động của tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội cũng như hành vi và ý thức pháp luật của công dân

Như vậy, trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới, Hiến pháp được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng cách hiểu phổ quát nhất về Hiến pháp dựa trên định nghĩa dưới góc độ vật chất (nội dung) và hình thức của Hiến pháp Theo nghĩa

về nội dung, Hiến pháp là hệ thống các quy tắc gốc, cơ bản và quan trọng nhất về giới hạn quyền lực Nhà nước và bảo vệ quyền, tự do của con người [18, tr.74] Theo nghĩa về hình thức, Hiến pháp là hệ thống các quy tắc được soạn thảo, sửa đổi theo một quy trình đặc biệt, ưu thế hơn so với quy trình soạn thảo, sửa đổi một đạo luật thường, có giá trị pháp lý cao nhất và do đó được bảo vệ thông qua cơ chế bảo hiến [18, tr.76] Về ý nghĩa pháp lý, trong các phương thức hạn chế quyền lực Nhà nước, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhân dân, có vị trí tối thượng, là phương thức quan

trọng nhất để hạn chế, kiểm soát quyền lực Nhà nước [7, tr.11] Bởi lẽ, “Trong các

vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người, mà phải trói anh ta lại bằng sợi dây xích Hiến pháp để anh ta không còn làm

Trang 18

được những điều ác” [9, tr.61] Về ý nghĩa chính trị, Hiến pháp là bản văn tuyên bố

chủ quyền của quốc gia, ghi nhận chính quyền hợp hiến, cách thức tổ chức, cơ chế vận hành của quyền lực Nhà nước, quyền và nghĩa vu của công dân Hiến pháp có vai trò quan trọng như vậy, nên việc bảo vệ Hiến pháp khỏi những hành vi vi hiến là điều tất yếu phải làm Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong quá trình thực thi Hiến pháp luôn luôn xảy ra tình trạng vi phạm Hiến pháp

1.1.2 Nhu cầu bảo hiến

Hiến pháp phải được ban hành theo quy trình đảm bảo là đạo luật cơ bản của quốc gia Do đó, quy trình xây dựng và sửa đổi Hiến pháp phải được thiết lập một cách chặt chẽ, đảm bảo cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan Nhà nước phải được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, chính xác, tránh lạm quyền Mặc dù vậy, trên thực tế vi phạm Hiến pháp vẫn có thể xảy ra và việc nghiên cứu các dấu hiệu vi phạm của Hiến pháp là cần thiết Qua đó tìm cách đề ra biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng chống các hành vi vi hiến Hiến pháp phải được bảo vệ tránh bị xâm phạm, làm tốt vấn đề này chính là góp gần đặt nền móng cho chính trị ổn định, xã hội phát triển đúng theo định hướng Nói một cách khác, nhu cầu bảo vệ Hiến pháp xuất phát ngay từ nguyên tắc pháp trị hay nói khác đi là nhu cầu xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền Hoạt động giám sát, bảo vệ Hiến pháp luôn được đề cập tới và đi kèm hoạt động lập hiến Với cách tiếp cận Hiến pháp như trên, có thể hiểu rằng chủ thể có thể vi phạm Hiến pháp phải là các chủ thể được Hiến pháp trực tiếp trao quyền như các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền, trong trường hợp này, chủ thể vi phạm Hiến pháp là các cơ quan Nhà nước,

tổ chức, cá nhân được trao quyền Những hành vi vi phạm này rất khó phát hiện và rất khó xử lý Cho đến hiện nay mặc dù có tới gần 200 nước có Hiến pháp, nhưng chỉ mới có khoảng không đến 10% số Nhà nước có Tòa án chuyên xử việc vi phạm Hiến pháp của các cơ quan và quan chức Nhà nước vi phạm [39, tr.231] Những năm gần đây, ở Việt Nam, đã có nhiều ý kiến về sự cần thiết phải có cơ chế hữu hiệu bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Dân chủ, Nhà nước pháp quyền và

Trang 19

Hiến pháp có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó Nhà nước pháp quyền là nguyên tắc và đòi hỏi chủ yếu nhất của dân chủ, đến lượt mình, Hiến pháp với tính cách là đạo luật cơ bản của Nhà nước có hiệu lực tối cao đối với mọi thiết chế quyền lực trong xã hội là cơ sở pháp lý nền tảng và là nguyên tắc không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền Đề cao vai trò của Hiến pháp tức là đề cao ý nguyện cao nhất của nhân dân Nhưng sự hiện diện của Hiến pháp chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là đủ của một chế độ dân chủ, của một Nhà nước pháp quyền, nếu như các cơ quan công quyền thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vượt quyền, lạm quyền, vi phạm thẩm quyền được Hiến pháp ghi nhận, ban hành các văn bản hoặc thực hiện các hành vi trái Hiến pháp có khả năng hoặc thực sự đã gây thiệt hại cho công dân, cho các tổ chức và xã hội Vì vậy, để chế độ Hiến pháp được tôn trọng và bảo đảm trong thực tế, cần phải có cơ chế hữu hiệu bảo vệ và khôi phục trật tự hiến định Như vậy, theo lý thuyết, để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, xử

lý các vi phạm Hiến pháp của các cơ quan công quyền cần phải có thiết chế tài phán Hiến pháp Đây là xu hướng chung của các Nhà nước dân chủ Xu hướng thiết lập Tòa án Hiến pháp ngày càng được áp dụng nhiều ở các nước, người ta coi Tòa án

Hiến pháp là "vương miện của Nhà nước pháp quyền” [22]

1.1.3 Mối quan hệ giữa bảo hiến và Nhà nước pháp quyền

Xây dựng Nhà nước pháp quyền đang có xu hướng trở thành quy luật của mọi Nhà nước Trong đó, nội dung cốt lõi của tư tưởng pháp quyền là đề cao quyền lực của nhân dân, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, sự thượng tôn Hiến pháp

và pháp luật, đặt các thiết chế quyền lực trong sự ràng buộc của Hiến pháp và pháp luật, kiểm soát quyền lực, bảo đảm tính minh bạch của pháp luật Vậy, tại sao nhà nước pháp quyền là nhà nước mà các quốc gia đang xây dựng và tại sao bảo hiến lại được đề cao trong nhà nước pháp quyền?

Trước hết, Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước không pháp quyền ở khả năng bảo đảm tính phổ quát và tính tuyệt đối của chủ quyền của nhân dân, chủ quyền của quốc gia và dân tộc Về phương diện pháp lý, Hiến pháp với tính cách là bản khế ước của nhân dân, là cơ sở pháp lý cao nhất và đầy đủ nhất bảo đảm sự

Trang 20

khẳng định đó Trong tư cách đó, Hiến pháp có khả năng kết nối các lợi ích xã hội, tạo nên một trật tự hiến định, theo đó sự đồng thuận, giao thoa lợi ích trên nên tảng pháp quyền là đặt trưng chủ đạo nhất của đời sống xã hội và chính trị Mặt khác, về phương thức điều chỉnh, với tính chất đặc trưng của mình, các quy định mang tính

cơ bản và nền tảng của Hiến pháp, những yêu cầu chặt chẽ của quá trình bổ sung, sửa đổi Hiến pháp là điều kiện cho một trật tự pháp lý ổn định cao vốn là đặc trưng của Nhà nước pháp quyền Về mặt thực tiễn, sự bền vững của trật tự hiến định là nền tảng cho sự vận hành một xã hội ổn định - xã hội của các quan hệ bình đẳng, tự

do giữa các chủ thể trong các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội Sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội đồng thuận là yếu tố không thể thiếu được cho sự vận hành hệ thống chính trị trên cơ sở thừa nhận, ủng hộ của các lực lượng xã hội (tính chính đáng của quyền lực), cho phép loại bỏ đến mức thấp nhất những yếu tố phủ định hoặc chống đối trật tự hiện hữu

Chủ nghĩa lập hiến là sự nhận thức về vai trò của Hiến pháp, là sự hiện hữu của Hiến pháp và sự tác động tích cực của nó đến đời sống chính trị và đời sống xã hội Hiến pháp và trật tự hiến định thực tiễn là hai mặt của chủ nghĩa lập hiến Khẳng định ở mức cao nhất về mặt pháp lý và bảo đảm thực hiện trong thực tiễn cuộc sống các lợi ích cao nhất, trường tồn và bền vững nhất của đất nước, của dân tộc, chủ nghĩa lập hiến được coi là yếu tố đầu tiên trong thang giá trị của Nhà nước pháp quyền Bởi vậy, bảo hiến là bảo vệ lợi ích cao nhất, trường tồn nhất, bền vững nhất của đất nước và dân tộc, lợi ích của mỗi cá nhân và của mọi cá nhân, của mỗi giai cấp, tầng lớp Nói khác đi, đó là bảo vệ chủ quyền của nhân dân

- Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước không pháp quyền ở việc xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, giữa quyền lực công với quyền con người Các tư tưởng về chế độ pháp trị, những hệ thống pháp luật đồ sộ trước đó dù

có hoàn hảo đến mấy vẫn chưa vượt qua được logic của sự tùy tiện Nhà nước pháp quyền đặt quyền con người trong tầm ngắm bảo hộ của nó và ở vị trí chủ đạo, từ đó đặt ra yêu cầu về trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ quyền con người từ phía Nhà nước, đòi hỏi sự tự ràng buộc, tự hạn chế của quyền lực trước yêu cầu bảo vệ quyền con

Trang 21

người Là bản khế ước của mọi người, Hiến pháp có hai khả năng quan trọng: một

là, những quy định của Hiến pháp về quyền con người là đầy đủ nhất, toàn diện nhất

so với những quy định của các đạo luật; hai là, chính sự chế ước và hạn chế quyền lực đã trở thành lá chắn hữu hiệu chống lại sự tùy tiện của quyền lực đối với quyền con người Vì vậy, Nhà nước pháp quyền cần có Hiến pháp để bảo đảm được cốt cách đặc trưng của nó Bởi thế, bảo hiến là bảo vệ quyền con người, là thực hiện mục tiêu và đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền

- Chủ nghĩa Hiến pháp là sự nhận thức về vai trò của Hiến pháp, là sự hiện hữu của Hiến pháp và sự tác động tích cực của nó đến đời sống chính trị và đời sống xã hội Hiến pháp và trật tự hiến định là hai mặt của chủ nghĩa Hiến pháp Khẳng định ở mức cao nhất về mặt pháp lý và bảo đảm thực hiện trong thực tiễn cuộc sống các lợi ích cao nhất, trường tồn và bền vững nhất của đất nước, của dân tộc, chủ nghĩa Hiến pháp được coi là yếu tố đầu tiên trong thang giá trị của Nhà nước pháp quyền Bởi vậy, bảo hiến là bảo vệ lợi ích cao nhất, trường tồn nhất, bền vững nhất của đất nước và dân tộc, lợi ích của mỗi cá nhân và của mỗi giai cấp, tầng lớp Suy đến cùng, bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ chủ quyền của nhân dân

Nhà nước pháp quyền với đặc trưng là sự ràng buộc của pháp luật đối với quyền lực nhà nước Do đó, nó khác với nhà nước không pháp quyền ở việc xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, giữa quyền lực công với quyền con người Nhà nước pháp quyền đặt quyền con người là trọng tâm ở vị trí chủ đạo, từ

đó đặt ra yêu cầu về trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ quyền con người từ phía nhà nước, đòi hỏi sự tự ràng buộc, tự hạn chế của quyền lựcnhà nước trước yêu cầu bảo

vệ quyền con người Với tính chất như là bản khế ước, Hiến pháp có hai khả năng quan trọng: Một là, những quy định của Hiến pháp về quyền con người là đầy đủ nhất, toàn diện nhất so với những quy định của các đạo luật Hai là, chính sự chế ước và hạn chế quyền lực đã trở thành lá chắn hữu hiệu chống lại sự tùy tiện của quyền lực nhà nước đối với quyền con người Bởi thế, bảo hiến là bảo vệ quyền con người, là thực hiện mục tiêu và đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền

Xuất phát từ vị trí, vai trò của Hiến pháp trong đời sống chính trị - pháp lý

Trang 22

của mọi quốc gia, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải có cơ chế bảo vệ luật cơ bản của quốc gia Bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ cơ sở tồn tại của chính quyền hợp hiến, bảo vệ nền dân chủ mà bản Hiến pháp đã tạo ra Yêu cầu này, đòi hỏi ngay từ khi lập hiến, các soạn thảo Hiến pháp phải dự liệu được những khả năng, tình huống có thể dẫn tới hành vi vi phạm Hiến pháp Nếu x t dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì luật Hiến pháp là ngành luật, trong đó Hiến pháp là một trong những nguồn quan trọng của ngành luật đó, tất yếu phải thiết lập cơ chế đảm bảo quy phạm Hiến pháp được thực thi Tuy nhiên, Hiến pháp không chỉ là luật cơ bản,

nó còn là bản văn chính trị, do đó nó có những đặc thù Một trong những đặc trưng của quy phạm Hiến pháp đó là nội dung quy phạm Hiến pháp thường có tính chất định tính, mang tính cương lĩnh và tuyên ngôn Do đó, khi nghiên cứu thiết lập mô hình bảo hiến phải tính đến yếu tố đặc trưng này

Cần phải thấy rằng, dân chủ không phải bắt đầu khi nhân dân được công nhận là nguồn gốc của quyền lực trên lời nói, mà phải là khi xây dựng được một hệ thống đảm bảo công dân được thực sự tham gia và kiểm soát được quyền lực nhà nước Từ những vấn đề trên, ta thấy rằng thành tố quan trọng của Nhà nước pháp quyền đó là chủ nghĩa Hiến pháp Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Hiến pháp là:

tự nhiên hiện đại Làm sao chúng ta có thể thoát khỏi tình trạng vô chính phủ mà không rơi vào chế độ chuyên chế Làm sao chúng ta có thể trao cho người cai trị quyền kiểm soát người bị trị trong khi đảm bảo rằng khối quyền lực khổng lồ này không bị lạm dụng Giải pháp dân chủ tự do đối với vấn đề này là chủ nghĩa hợp

Trang 23

hiến Chính quyền tự do là một sự canh tân đối với lý do này, bởi vì nó có ý nghĩa

để giải quyết vấn đề giữa vô chính phủ và chuyên chế trong vòng những hệ thống các quy tắc gắn kết, độc lập” Chủ nghĩa Hiến pháp đòi hỏi phải có Hiến pháp được hình thành theo một thủ tục đặc biệt khác với làm luật Hiến pháp là bản văn luật có hiệu lực tối cao đối với toàn bộ việc tổ chức và hoạt động của nhà nước Hiến pháp phản ánh những giá trị sâu sắc nhất của xã hội và những quy tắc cơ bản của quy trình dân chủ Chủ nghĩa Hiến pháp gắn liền với mục tiêu hạn chế quyền lực nhà nước theo nguyên tắc chủ quyền nhân dân và chính quyền dân chủ, phân quyền và kìm chế đối trọng quyền lực Mục đích của chủ nghĩa Hiến pháp là đảm bảo dân chủ, quyền con người Chủ nghĩa Hiến pháp là tư tưởng coi trọng dân chủ, ý chí và

sự đại diện hợp pháp cho ý chí của nhân dân, hiểu đúng và làm đúng chủ quyền tối cao của nhân dân được phản ánh qua Hiến pháp, các nguyên tắc, các quy định, quy tắc có tính hiến định, toàn bộ các quyền và các tự do cơ bản của người dân Tuy nhiên, chủ nghĩa Hiến pháp chỉ có ý nghĩa khi những nguyên tắc và những đòi hỏi

đó được duy trì và coi trọng trong thực tiễn sinh hoạt xã hội và sinh hoạt quốc gia

Là một bộ phận của học thuyết nhà nước pháp quyền, Hiến pháp là bản khế ước, thông qua nó nhân dân trao quyền lực của mình cho nhà nước (xác định nguồn gốc quyền lực nhà nước) và là bản thiết kế tổ chức bộ máy nhà nước (trong đó xác định cơ cấu tổ chức, thẩm quyền các cơ quan nhà nước) và là bản văn quy định quyền con người, quyền công dân Hiến pháp chính là văn bản hạn chế quyền lực nhà nước, đảm bảo dân chủ và vì vậy, bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ mục tiêu, nội dung của Nhà nước pháp quyền Bởi lẽ, Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong

đó, Hiến pháp và pháp luật có vị trí tối thượng và quyền lực nhà nước bị hạn chế, phương tiện hạn chế quyền lực nhà nước là các văn bản quy phạm pháp luật, đứng đầu là bản Hiến pháp

Như vậy, có thể thấy rằng, bảo hiến là bước phát triển ở tầm cao của kiểm soát quyền lực Và kiểm soát quyền lực là yêu cầu tất yếu đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Chúng ta có thể phân tích khái quát về kiểm soát quyền lực nhà nước như sau:

Trang 24

Kiểm soát quyền lực là một khái niệm chính trị - pháp lý và thể chế, bao hàm

sự hạn chế nhất định đối với quyền lực; là một trong những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền Có hai loại kiểm soát là tiền kiểm soát và hậu kiểm soát Tiền kiểm soát là hành động tự kiểm soát của từng chủ thể trước khi thực hiện hành động Hậu kiểm soát là hành động kiểm soát những gì đã xảy ra, đã được tiến hành Trong trường hợp này, chủ thể kiểm soát và đối tượng kiểm soát là những chủ thể khác nhau; chủ thể kiểm soát không tham gia vào những gì đã diễn ra nên có khả năng tiến hành kiểm soát một cách khách quan, không thiên vị

1.2 Khái niệm, đặc trưng của tài phán Hiến pháp

Ở Việt Nam, thuật ngữ “bảo hiến” được sử dụng phổ biến với nghĩa bảo vệ Hiến pháp, trong khi đó, “tài phán Hiến pháp” với thuật ngữ tiếng anh “Judicial review” thường được sử dụng để chỉ thẩm quyền của các Tòa án trong việc kiểm soát tính hợp pháp của các đạo luật và các hành vi công quyền khác Như vậy, khái niệm bảo hiến có nội hàm rộng hơn, không xác định rõ đặc trưng của quy trình bảo hiến, còn “tài phán Hiến pháp” được hiểu là bảo vệ Hiến pháp bởi quy trình tư

pháp Cụ thể hơn, tài phán Hiến pháp là quy trình tư pháp xử lý các hành vi vi

phạm Hiến pháp được thực hiện bởi các Tòa án thường, Tòa án Hiến pháp hoặc

về nội hàm tài phán Hiến pháp, có thể thông qua một số đặc trưng của tài phán Hiến pháp khi phân biệt với khái niệm bảo hiến:

Thứ nhất, về chủ thể

Chủ thể của bảo hiến có thể là mọi cơ quan Nhà nước như Hội đồng bảo hiến, Tòa án Hiến pháp, Tòa án thường, thậm chí là cơ quan lập pháp (Nghị viện, Quốc hội) được Hiến pháp, pháp luật quy định, có thẩm quyền thực hiện chức năng giám sát để bảo vệ Hiến pháp Trong khi đó, chủ thể của tài phán Hiến pháp chỉ là các Tòa án hoặc thiết chế có tính chất tư pháp Điều đó có nghĩa là chủ thể của tài phán Hiến pháp có phạm vi hẹp hơn, ít hơn so với chủ thể của bảo hiến

Thứ hai, về quy trình thực hiện

Đối với bảo hiến, quy trình thực hiện đa dạng về hình thức, thủ tục, rất khác

Trang 25

nhau về chính trị, hành chính hoặc tư pháp tùy thuộc vào yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia, mỗi hệ thống pháp luật trên thế giới Trong khi

đó, đối với tài phán Hiến pháp được thực hiện theo một quy trình tư pháp (x t xử)

Thứ ba, về đối tượng

Đối tượng của bảo hiến có phạm vi rộng hay hẹp khác nhau tùy thuộc vào từng mô hình bảo hiến cụ thể, bao gồm các đạo luật của Nghị viện, các văn bản pháp luật, quyết định, hành vi của các cơ quan hành pháp, cơ quan quản lý bầu cử, trưng cầu ý dân và chính quyền địa phương Xuất phát từ khái niệm bảo hiến là bảo

vệ tinh thần và nội dung Hiến pháp, bảo vệ mối liên hệ giữa hành pháp, tư pháp và lập pháp, kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi thực hiện bởi thiết chế Nhà nước được quy định trong Hiến pháp [21] Theo đó, hoạt động bảo hiến không chỉ bao gồm hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật mà còn bao gồm cả nhiệm vụ bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, để duy trì vai trò của Hiến pháp như nền tảng của hệ thống pháp luật quốc gia, bảo đảm các quyền hiến định, mối quan

hệ giữa các cơ quan trong tổ chức bộ máy Nhà nước Do đó, đối tượng của bảo hiến

là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, các nhiệm vụ đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp Tài phán Hiến pháp vẫn thực hiện chức năng cơ bản là kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật Tuy nhiên, đối tượng của tài phán Hiến pháp không chỉ bó hẹp ở các đạo luật mà còn được mở rộng đến các văn bản pháp luật, quyết định, hành vi của các cơ quan hành pháp và chính quyền địa phương [34, tr.26] Tòa án Hiến pháp một số quốc gia tiêu biểu như Đức, Hàn Quốc có quyền xem x t tính hợp hiến của hầu hết các hành vi công quyền, các tranh chấp quyền lực (giữa các nhánh quyền lực, chính quyền trung ương/địa phương), các hành vi tham nhũng của các quan chức cấp cao, các hoạt động bầu cử, trưng cầu ý dân, các khiếu kiện của người dân về hành vi sai trái của công quyền, đều trở thành đối tượng xem x t của các Tòa

án Hiến pháp Như vậy, so với đối tượng của bảo hiến, thì đối tượng của tài phán Hiến pháp (Tòa án Hiến pháp) được mở rộng rất nhiều

Thứ tư, cơ sở hình thành tài phán hình pháp

Thuyết tài phán Hiến pháp là một hệ quả tất yếu của thuyết Hiến pháp tối

Trang 26

cao, tuyên bố về tính tối cao của Hiến pháp sẽ trờ thành vô nghĩa nếu không có một chế độ xử lý những hành vi xâm phạm vào Hiến pháp Chính vì vậy, ta đã thấy rằng cùng với lập luận về tính tối cao của Hiến pháp, Hamilton đã đi đến thuyết tài phán Hiến pháp, theo đó tư pháp có chức năng kiểm tra tính hợp hiến các hành vi của chính quyền Tương tự như vậy, Marshall, sau khi luận giải về tính tối cao của Hiến pháp đã rút ra một hệ luận về chế độ bảo vệ Hiến pháp bằng tư pháp Sau này, ở Châu Âu, Kelsen, cũng xây dựng nên lý thuyết tài phán Hiến pháp của riêng mình, sau trở thành mô hình đặc trưng của Châu Âu, trên cơ sở thuyết Hiến pháp tối cao Tóm lại, tài phán Hiến pháp là hệ quả tất yếu của Hiến pháp tối cao [23, tr.42] Do

đó, tài phán Hiến pháp là một yếu tố cấu thành cơ bản của chủ nghĩa hợp hiến Một chính quyền được thiết lập nên bởi Hiến pháp nhưng lại không có một cơ chế Hiến pháp để xử lý những trường hợp chính quyền vi phạm Hiến pháp thì không thể nói chính quyền đó điều hành theo chủ nghĩa hợp hiến

Tóm lại, hoạt động tài phán Hiến pháp tồn tại và xuất hiện trên cơ sở của chủ nghĩa hợp hiến, là tư duy của pháp quyền, chức năng là kiểm soát quyền lực Nhà nước để bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ các quyền và tự do của con người, xem x t và xử

lý những hành vi vi phạm Hiến pháp của công quyền

1.3 Lịch sử của tài phán Hiến pháp trên thế giới

Lịch sử tài phán Hiến pháp thế giới có thể chia làm 4 giai đoạn, trong đó, giai đoạn I bắt đầu từ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai đoạn II tiếp nối

từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước chiến tranh thế giới II, giai đoạn thứ

ba k o dài từ sau chiến tranh thế giới II đến những năm 70 của thế kỷ 20, giai đoạn thứ tư - giai đoạn phát triển của nền tài phán Hiến pháp hiện đại trên toàn thế giới Có thể nói, mỗi giai đoạn đều có những đặc thù riêng về điều kiện chính trị, pháp lý và đều ghi dấu ấn khác nhau đối với sự phát triển của nền tài phán Hiến

pháp thế giới

Một Nhà nước tuân theo chủ nghĩa hợp hiến trước tiên, đòi hỏi chính quyền

đó phải được tổ chức và điều hành trên cơ sở Hiến pháp [23, tr.33] Nói như vậy không có nghĩa Nhà nước chỉ cần xây dựng Hiến pháp là có thể điều tiết được mối

Trang 27

quan hệ giữa Nhà nước với công dân trong việc cân bằng những lợi ích của Nhà nước với các cá nhân khác Một Nhà nước theo chủ nghĩa hợp hiến phải là một Nhà nước có bản Hiến pháp có khả năng điều tiết chính quyền theo hướng giới hạn quyền lực của chính quyền và bảo vệ con người Vậy để làm được điều đó, mọi Nhà nước cần phải xây dựng Hiến pháp là văn bản đứng ở vị trí tối cao so với các văn bản pháp luật khác do chính quyền ban hành Theo học giả Arne Mavcic [56], lịch

sử bảo hiến không phải chỉ xuất hiện trong thời kỳ hiện đại, bảo hiến đã xuất hiện từ thời cổ Hy Lạp (thời kỳ Athen cổ đại) với tư tưởng về tính tối cao của luật, khi pháp

luật nước này phân biệt giữa nomos (văn bản pháp luật có chức năng như Hiến pháp) và một psephima (văn bản có chức năng như luật, có hiệu lực thấp hơn) Theo

đó, một psephisma luôn được xây dựng không trái với quy định của nomos, nếu trái

thì sẽ bị coi là vô hiệu Vì vậy, những quy định này được xem như là quy định đầu tiên về hoạt động bảo vệ Hiến pháp Sau đó, những quy định về hoạt động bảo hiến được áp dụng khoảng năm 1180 trong hệ thống pháp luật Đức trong Hiến pháp Weimar Các hình thức sơ khai về bảo hiến còn được xuất hiện rải rác ở một số nước châu Âu khác như Pháp từ giữa thế kỷ XIII, Bồ Đào Nha từ thế kỷ XVII hay

Na Uy, Áo, Đan Mạch, Hy Lạp từ thế kỷ XIX [23, tr.158] Tuy nhiên, không phải ở tất cả các quốc gia, Hiến pháp đều là văn bản thành văn, có 1 số quốc gia như Anh, mặc dù không có Hiến pháp thành văn, nước Anh cũng được coi là có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lý luận và pháp luật về bảo hiến, vì từ thời trung

cổ, người Anh đã khởi xướng ra thủ tục impeachment (hạch tội để bãi miễn quan chức Nhà nước), đồng thời từ năm 1610 đã đề xướng nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của Hiến pháp và quyền của Tòa án được xem xét tính hợp hiến của các hoạt động của Chính phủ - những điều mà sau đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiết lập cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ Sở dĩ quy định của nước Anh lại ảnh hưởng đến Hoa Kỳ là bởi khoảng năm 1607 – 1732 Hoa Kỳ là thuộc địa của người Anh, do đó pháp luật Hoa Kỳ ít nhiều chịu nhiều ảnh hưởng từ Anh, đặc biệt là tư tưởng bảo hiến Ở Hoa Kỳ, quy định về bảo hiến đầu tiên chưa được quy định trong Hiến pháp liên bang, nó xuất phát từ án lệ Năm 1803, trong vụ án nổi tiếng

Trang 28

Marbury kiện Madison, quyền bảo hiến của Tòa án mới được xác lập một cách chính thức ở Hoa Kỳ Sau vụ kiện này, Chánh án Tòa án tối cao liên bang Hoa Kỳ lúc bấy giờ là ông Marshall đã đưa ra phán quyết mang tính lịch sử liên quan tới quyền bảo hiến của các Tòa án tư pháp, đồng thời xác lập một mô hình bảo hiến kiểu Mỹ, hiện nay được nhiều quốc gia trên thế giới học hỏi và áp dụng

Trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất và trước chiến tranh thế giới lần thứ 2, thời kỳ này được gọi là “thời kỳ của nước Áo” (the Austrian Period) Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của hai nhà luật học Adolf Merkl và Hans Kelsen, Hiến pháp năm 1920 của Áo đã xác lập nền tảng của Tòa án Hiến pháp nước này, với độc quyền xem x t tính hợp hiến của các đạo luật Mô hình Tòa án Hiến pháp chịu trách nhiệm về bảo hiến sau đó được áp dụng ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là ở châu

Âu, trở thành một trong các mô hình bảo hiến chính hiện nay trên thế giới

Đặc biệt, giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ hai được xem như khởi đầu của giai đoạn phát triển thứ hai của lịch sử tài phán Hiến pháp trên thế giới [56, pp.161] Trong giai đoạn này, hàng loạt các thiết chế tài phán Hiến pháp đã ra đời ở các Nhà nước phát xít như Ý năm 1948, Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949 Bảo hiến lúc bấy giờ được xem là hoạt động kiểm tra Hiến pháp mà thực chất của nó là thực hiện

sự kiểm soát với quyền lập pháp liên bang trong mối liên hệ với các Nhà nước thành viên Theo đó, kiểm tra Hiến pháp cũng chính là nguyên tắc phân chia quyền lực theo chiều dọc, đảm bảo Chính phủ phải tuân thủ Hiến pháp, nói cụ thể hơn là Chính phủ kết nối với hoạt động lập pháp thông qua hoạt động kiểm soát của Thẩm phán hoặc bằng hệ thống giám sát hoạt động tương tự như Tòa án Một số quốc gia xây dựng mô hình bảo hiến theo lý thuyết này phải kể đến như Braxin năm 1946, Nhật Bản năm 1947, Bruma/Miến Điện năm 1947, Thái Lan năm 1949, Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949, Pháp năm 1958… Tuy nhiên, ở Pháp cơ quan bảo hiến lại được tách riêng khỏi hoạt động của Tòa án như một số quốc gia khác xây dựng

mô hình bảo hiến trong cùng thời kỳ Mô hình bảo hiến ở Pháp ra đời năm 1958 không phải là một Tòa án mà được tổ chức như một thiết chế được sắp đặt ngang hàng với cơ quan hành pháp Cơ quan này được lập ra nhằm mục đích cảnh giới

Trang 29

Quốc hội hành động trong phạm vi thẩm quyền đã được chỉ rõ trong Hiến pháp Pháp chứ không thực hiện hoạt động kiểm tra quy phạm cụ thể, giải quyết khiến kiện Hiến pháp cũng như không kiểm soát hoạt động hành chính [23, tr.162]

Giai đoạn tiếp theo trong thế kỷ XX, cơ chế bảo hiến đã được xây dựng và phát triển ở hầu hết các châu lục trên toàn thế giới, thậm chí nhiều quốc gia, bảo hiến đã trở thành một bộ phận tồn tại đương nhiên trong Hiến pháp để cân bằng với quyền lực (ví dụ như ở Bỉ năm 1984) Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia đều có

cơ quan tài phán Hiến pháp, một số quốc gia không xây dựng theo các mô hình này

mà tuân theo những nguyên tắc do lịch sử để lại đó là nguyên tắc ưu tiên của Hiến pháp, ví dụ như Anh hay Hà Lan Như vậy, cơ chế tài phán Hiến pháp đã bắt đầu được thiết lập ở khắp nơi trên thế giới Bên cạnh các cơ chế bảo hiến phổ biến như Tòa án thường và Tòa án Hiến pháp như Mỹ, Áo, các quốc gia khác đã sáng tạo ra

cơ chế bảo hiến khác như Hội đồng bảo hiến hay các Tòa án đặc biệt thuộc Tòa án tối cao hoặc cho Nghị viện…

1.4 Các mô hình tài phán Hiến pháp tiêu biểu trên thế giới

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có Hiến pháp, cho dù đó là Hiến pháp thành văn hay Hiến pháp bất thành văn, đó là nhu cầu cấp thiết khi quốc gia đó xây dựng theo mô hình Nhà nước pháp quyền Đòi hỏi phải có mô hình tài phán Hiến pháp phù hợp với tổ chức Nhà nước ở từng quốc gia nhằm đảm bảo dân chủ, nhân quyền, hiệu lực và hiểu quả của bộ máy Nhà nước

Như vậy, có thể thấy tùy từng cơ cấu tổ chức, sự phát triển và lựa chọn của mỗi quốc gia sẽ có một mô hình bảo hiến được quốc gia đó lựa chọn Tuy nhiên, về

cơ bản có thể sắp xếp thành các mô hình cơ bản sau đây:

1.4.1 Mô hình Hoa Kỳ - Mô hình Tòa án tối cao và Tòa án các cấp có chức năng tài phán Hiến pháp

Mô hình Hoa Kỳ là mô hình tài phán Hiến pháp phi tập trung (Decentralised Constitutional control) Cơ sở của mô hình bảo hiến này được xây dựng trên cơ sở học thuyết tam quyền phân lập Theo đó, giữa ba nhánh quyền lực gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp sẽ được phân chia và kiềm chế đối trọng

Trang 30

lẫn nhau Cụ thể, Tòa án sẽ có quyền ra phán quyết về tính hợp hiến của các đạo luật được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền Mô hình này cũng được xem là

mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp, bởi hoạt động bảo hiến gắn liền với việc giải quyết các vụ việc cụ thể tại Tòa án (còn được gọi là giám sát cụ thể) Các quy định liên quan tới quyền xét xử tính hợp hiến của các văn bản luật và dưới luật ở Mỹ không được quy định tại Hiến pháp liên bang, nó được xuất hiện kể từ sau vụ án nổi tiếng ở Mỹ - vụ án Marbury và Madison năm 1803 Vụ án này bắt nguồn từ việc Tổng thống Jonh Adams của Hoa Kỳ thời kỳ đó, rời ghế Tổng thống vào tháng 3 năm 1801, tuy nhiên trước khi hết nhiệm kỳ ông vẫn cố gắng bổ nhiệm người của đảng mình vào vị trí mới trong ngành tư pháp Tổng thống mới lên Thomas Jefferson đã không đồng ý với hành động này của người tiền nhiệm nên đã ra lệnh cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao bãi bỏ các lệnh bổ nhiệm đối với người chưa được thực hiện việc bổ nhiệm Trong số những người bị bãi bỏ bổ nhiệm đó, William Marbury đã kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Madison tuân thủ các quyết định bổ nhiệm họ làm Thẩm phán của Tổng thống John Adam, bởi ông cho rằng Hiến pháp

1789 đã cho ph p Tòa án Tối cao liên bang được quyền ban hành lệnh yêu cầu một quan chức chính quyền thực hiện nghĩa vụ của họ Ông muốn Tòa án Tối cao buộc Madison chấp nhận việc bổ nhiệm chính đáng của mình Vụ án này đã đặt Tòa án tối cao vào tình thế tiến thoái lưỡng nam, nếu Tòa án yêu cầu cơ quan hành pháp thi hành việc bổ nhiệm của Marbury thì rất có thể Tổng thống sẽ từ chối và làm ảnh hưởng tới uy tín của Tòa tối cao Ngược lại, nếu Tòa án khước từ yêu cầu này thì lại đang tự thừa nhận tư pháp không có quyền gì đối với hành pháp Cuối cùng, Chánh

án Tòa án tối cao John Marshall đã tuyên bố Tòa án tối cao Liên bang không có quyền giải quyết vấn đề này, mặc dù trên thực tế Mục 13 của Đạo luật tư pháp liên bang trao cho Tòa án thẩm quyền trong lĩnh vực đó nhưng quy định này trái với Điều 3 Hiến pháp Liêng bang 1789 Ông cho rằng, một đạo luật thông thường không được quy định trái với Hiến pháp, bởi Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước

và có hiệu lực pháp lý tối cao Vì vậy, nếu một văn bản luật vi hiến thì sẽ bị tuyên

vô hiệu [14, tr.184] Sau vụ án nổi tiếng năm 1803 như sau:

Trang 31

- Hiến pháp là luật tối cao của đất nước;

- Những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp;

- Thẩm phán, người đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố hủy bỏ những luật, quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp [14, tr.25]

Ba tuyên bố này đã xác lập chức năng tài phán Hiến pháp của Tòa án và thẩm quyền tài phán của Tòa án về các quyết định của lập pháp, hành pháp liên quan đến Hiến pháp Cũng bởi những đóng góp này, John Marshall trở thành Chánh

án Tòa án Tối cao Liêng bang vĩ đại nhất, có tầm ảnh hưởng nhất đối với hệ thống pháp luật nước Mỹ về sau này Cũng từ sau bản án đó, Tòa án tối cao Liên bang Hoa

Kỳ trở thành một bộ phận quan trọng kiểm tra, giám sát và cân bằng quyền lực đối với hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp của Mỹ Để đảm bảo cho tư pháp có thể độc lập với lập pháp và hành pháp, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã đảm bảo cho các Thẩm phán hai điều kiện cơ bản là được bổ nhiệm suốt đời và được hưởng một khoản lương bổng không bao giờ bị sụt giảm trong thời gian tại chức [15, Điều 3, 4] Vì vậy, có thể thấy Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên triển khai mô hình giám sát Hiến pháp bằng Tòa án tư pháp (Judicial review) Mô hình này mang lại hiệu quả cao bởi sự giám sát này bắt đầu từ việc giải quyết một vụ việc cụ thể tại Tòa án nên được gọi là Concrete judicial review (giám sát cụ thể) Sau đó, mô hình này được nhân rộng ra các châu lục khác nhau trên thế giới như các quốc gia Úc, Hy Lạp, Mexico, Canada, Argentina, Nhật … cũng xây dựng chế độ bảo hiến theo mô hình này

* Các đặc trưng cơ bản của mô hình Tòa án Hoa Kỳ

- Mô hình tài phán Hiến pháp kiểu Mỹ cho phép tất cả các Tòa án đều có thẩm quyền xem xét lại tính hợp hiến của các đạo luật Cách thức xem xét tính hợp hiến của một đạo luật gắn liền với việc sử dụng các quy định của đạo luật đó trong việc giải quyết các vụ việc cụ thể tại Tòa án

- Quyền tài phán Hiến pháp chỉ được xem xét khi có sự liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của đương sự đề nghị xem xét tính hợp hiến cua đạo luật đó Quyền tài phán Hiến pháp gắn liền với việc giải quyết vụ việc cụ thể Concrete judicial review Theo đó kiện tụng chính là tiền đề để Tòa án xem xét tính hợp hiến

Trang 32

của các đạo luật Tòa án tối cao liên bang đã giải thích vấn đề này, theo đó nếu không có những quy định này thì phạm vi quyền giám sát sẽ rất rộng và mang tính trừu tượng, như thế thì sự giám sát sẽ bị giảm hiệu quả

- Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến của đạo luật không có giá trị chung thẩm, nó có thể bị xem xét lại bởi Tòa án cấp trên Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến thường chỉ có hiệu lực bắt buộc trong phạm vi các bên của vụ việc được giải quyết, trừ những trường hợp được áp dụng nguyên tắc tiền lệ pháp (Stare decisis)

- Tòa án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi sự bất hợp hiến của đạo luật

đó được chứng minh rõ ràng và không thể phủ nhận được Tòa án không xem xét vấn đề hợp hiến của một đạo luật khi đạo luật đó liên quan đến một số vấn đề chính trị như tổ chức công quyền và vấn đề ngoại giao…

- Khi một đạo luật bị tuyên bố vi hiến thì đạo luật đó không còn giá trị áp dụng Tuy nhiên, khác với mô hình giám sát tập trung, Tòa án chỉ có quyền không

áp dụng đạo luật đó trên thực tế mà không có quyền hủy bỏ hay tuyên bố đạo luật

vô hiệu Một đạo luật chỉ bị tuyên bố là vi hiến khi Tòa án có đủ căn cứ rõ ràng rằng đạo luật đó mâu thuẫn hoặc không phù hợp với Hiến pháp

Như vậy, cơ sở để áp dụng mô hình tài phán Hiến pháp này là những quốc gia phải áp dụng triệt để học thuyết tam quyền phân lập và hệ thống pháp luật theo truyền thống pháp luật Anh – Mỹ (Common law) Hiện tại, theo nghiên cứu của Arne Mavcic, đã có những quốc gia và vùng lãnh thổ đang áp dụng mô hình Tòa án

tư pháp kiểu Hoa Kỳ (xem Phần Phụ lục, Bảng 1)

1.4.2 Mô hình Châu âu lục địa – Mô hình tài phán Hiến pháp bằng cơ quan chuyên trách

Mô hình bảo hiến kiểu châu Âu là mô hình thành lập một cơ quan chuyên trách Tòa án đặc biệt để thực hiện chức năng giám sát Hiến pháp Mô hình này sử dụng phương thức giám sát tập trung trong hoạt động giám sát Hiến pháp của mình Theo đó, các quốc gia theo mô hình này không trao quyền giám sát Hiến pháp cho Tòa án tư pháp của quốc gia mà trao cho một cơ quan chuyên trách Cơ quan này độc lập với các cơ quan Nhà nước khác Trong mô hình Hiến pháp kiểu này, các quốc gia có thể sử dụng hình thức cơ quan chuyên trách theo mô hình Tòa án Hiến

Trang 33

pháp như Áo, Đức, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ… hoặc Hội đồng bảo hiến như Pháp, Campuchia, Ka-dắc-xtan…

Mô hình bảo hiến kiểu châu Âu có một số đặc điểm sau:

- Hoạt động bảo hiến được thực hiện chủ yếu qua cơ quan chuyên trách (Tòa

án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến) Có chức năng độc lập với các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước và do các Thẩm phán có trình độ cao, được bổ nhiệm, bầu

theo những thủ tục dặc biệt

- Mô hình này vừa theo phương thức giám sát cụ thể, vừa giám sát trừu

tượng; thực hiện cả hoạt động giám sát trước và giám sát sau

- Thẩm quyền giám sát Hiến pháp được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt,

khác với thủ tục giải quyết vụ việc thông thường tại tòa tư pháp

- Phán quyết của cơ quan bảo hiến là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối

với các chủ thể kể từ khi một quy phạm, một chế định hoặc một văn bản nào đó bị

tuyên bố là vi hiến

1.4.2.1 Cơ quan bảo hiến là Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp là một mô hình được khá nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng hiện nay Theo thống kê trên thế giới có khoảng hơn 60 quốc gia sử dụng mô hình giám sát Hiến pháp thông qua Tòa án Hiến pháp Cơ sở của việc tổ chức, hoạt động này thường được quy định trong Hiến pháp Nhưng những vấn đề về trình tự

tố tụng, tổ chức hoạt động hay điều kiện bảo đảm cho Tòa án Hiến pháp hoạt động thường được quy định cụ thể trong luật về Tòa án Hiến pháp (Constitutional court Act) hoặc quy chế tổ chức và hoạt động Tòa án Hiến pháp (thường do chính Tòa án Hiến pháp đó ban hành) Mô hình này lần đầu được giới thiệu tại Áo năm 1920 bởi Hans kelsen và được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1920 tại Cộng hòa Áo Trải qua gần một trăm năm tồn tại, mô hình này đã được nhân rộng ra khắp các quốc gia trên toàn thế giới, từ Châu Á, tới Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh Tòa án Hiến pháp về bản chất có thể hiểu rằng, đó là một cơ quan độc lập không phải là một cơ cấu thuộc quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp, mà là một thiết chế có tính độc lập cao, có thể xem nó như là một thiết chế quyền lực bổ sung nhằm đảm bảo cho

Trang 34

quyền lập hiến [31] Tòa án Hiến pháp có vị trí quan trọng và được Hiến pháp các quốc gia theo mô hình này ghi nhận Theo đó, Tòa án Hiến pháp là người bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ tính tối thượng của Hiến pháp, các quyền lợi ích của công dân được ghi nhận bởi Hiến pháp

* Thiết chế Tòa án Hiến pháp có những đặc điểm sau:

- Tòa án Hiến pháp thường được thành lập ở các quốc gia theo chế độ đại nghị, nơi mà các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân công tương đối rõ rệt

- Tòa án Hiến pháp là cơ quan chuyên trách về giám sát Hiến pháp Đó cũng

là cơ quan duy nhất có quyền phán xử các vụ việc thuộc phạm vi giám sát Hiến pháp, đặc biệt là thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện ban hành Đây có thể xem là điểm khác biệt cơ bản và quan trọng để phân biệt giữa Tòa án Hiến pháp với chức năng giám sát Hiến pháp của Tòa án tư pháp như mô hình kiểu Mỹ

- Tòa án Hiến pháp có thể giám sát cụ thể hoặc giám sát trừu tượng, điều này có nghĩa Tòa án Hiến pháp thực hiện quyền giám sát của mình thông qua việc giải quyết một vụ việc cụ thể hoặc thông qua đề nghị của tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền

- Tòa án Hiến pháp thông thường, có từ 9 đến 15 Thẩm phán như Pháp, Italia, Campuchia có 9 Thẩm phán, có 12 Thẩm phán như Tây Ban Nha, 18 Thẩm phán như Ukraina và nhiều Thẩm phán nhất là Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga với

19 người Nhiệm kì thông thường của Thẩm phán là 9 năm Thông thường, 1/3 số lượng Thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm; 1/3 thành viên còn lại do Thượng Nghị viện bầu (hoặc do Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm); 1/3 còn lại do Hạ viện bầu hoặc

do Chủ tịch Hạ viện bổ nhiệm

- Các vụ việc được giải quyết bởi Tòa án Hiến pháp sẽ tuân thủ theo một thủ đặc biệt, khác với thủ tục được giải quyết bởi Tòa án tư pháp Nếu Tòa án tư pháp hướng tới việc đưa ra một bản án trong đó chỉ rõ quyền và nghĩa vụ của các bên thì Tòa án Hiến pháp lại hướng tới việc tuyên bố một văn bản, một hành vi là phù hợp hay trái với Hiến pháp

Trang 35

- Giám sát các văn bản luật trước khi công bố (Preventive review)

Đối với các quốc gia theo thủ tục giám sát các văn bản luật trước khi công

bố, Tòa án Hiến pháp sẽ có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các điều ước quốc tế hoặc kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật trước khi được thông qua bởi người đứng đầu quốc gia như Ba Lan, Thái Lan, Hungari Thẩm quyền giám sát trước của Tòa án Hiến pháp được thực hiện thông qua hình thức giám sát trừu tượng Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp thực hiện quyền giám sát trước tính hợp hiến của các đạo luật và điều ước quốc tế theo yêu cầu của nguyên thủ quốc gia, Nghị viện, Chính phủ, một số lượng Nghị sĩ nhất định, Tòa án tối cao, cơ quan lập pháp hoặc hành pháp của bang Quyền này thường được tiến hành khi các văn bản luật đang chờ được công bố Khi có căn cứ cho rằng một đạo luật có dấu hiệu vi hiến thì các chủ thể nêu trên có quyền yêu cầu Tòa án Hiến pháp tiến hành kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật đó

- Thẩm quyền giám sát sau hay còn gọi là giám sát các văn bản luật đã có hiệu lực pháp luật (Represessive review)

Ngược với thẩm quyền giám sát trước, thẩm quyền giám sát sau được quy định nhằm kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, văn bản quy phạm pháp luật đã

có hiệu lực thi hành và đang còn hiệu lực Hệ quả của việc giám sát trước và giám sát sau tương tự như nhau, bản án của Tòa án Hiến pháp cũng đều được tiến hành theo những trình tự, thủ tục đặc biệt và khác với thủ tục tiến hành bởi Tòa án tư pháp thông thường Trên thực tế, việc tuyên bố một đạo luật là vi hiến sẽ kéo theo những hệ lụy phức tạp sau đó, vì thế mặc dù Tòa án Hiến pháp không có quyền sửa đổi nội dung vi hiến của các đạo luật nhưng tại một số nước, Tòa án Hiến pháp có thể tác động đến nội dung của các đạo luật thông qua việc đưa ra phán quyết rằng đạo luật chỉ được coi là hợp hiến nếu các quy định của nó được giải thích một cách

thống nhất (xem Phần Phụ lục, Bảng 2)

1.4.2.2 Cơ quan bảo hiến là Hội đồng bảo hiến

Mô hình Hội đồng bảo hiến cùng với mô hình Tòa án Hiến pháp là hai loại hình trong mô hình cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng giám sát Hiến pháp

Trang 36

Tuy nhiên, Hội đồng bảo hiến ra đời muộn hơn so với Tòa án Hiến pháp và mô hình Tòa án tư pháp thực hiện việc giám sát Hiến pháp (mô hình Tòa án kiểu Mỹ)

Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Hội đồng bảo hiến gắn liền với

sự ra đời và phát triển của Hội đồng bảo hiến pháp Trước năm 1958, thượng Nghị viện là cơ quan có quyền thực hiện hoạt động giám sát Hiến pháp, sau đó, nhằm hạn chế quyền lực của Thượng Nghị viện nên Ủy ban giám sát Hiến pháp đã ra đời dưới thời Cộng hòa thứ IV Phải đến năm 1958, cùng với sự ra đời của Hiến pháp mới, Hội đồng bảo hiến đã được thành lập, chính là vào thời cộng hòa thứ V Mô hình này, sau đó được khá nhiều quốc gia theo như Campuchia, Libang, Mô-dăm-bích… Pháp tuy là quốc gia đầu tiên thành lập Hội đồng bảo hiến và Hiến pháp dành tới 22 điều quy định về Hội đồng bảo hiến, nhưng trong suốt thời gian dài vẫn còn khá nhiều quan điểm tranh cãi xung quanh vai trò của Hội đồng bảo hiến trong bộ máy Nhà nước Có những quan điểm cho rằng Hội đồng bảo hiến là một cơ quan tư pháp, chủ yếu dựa trên các lý lẽ về các thủ tục tố tụng nhưng lại thiếu sự tranh luận

và yếu tố công khai; lại cũng có những quan điểm cho rằng, Hội đồng bảo hiến giống mô hình Tòa án Hiến pháp, độc lập, chuyên trách và không phụ thuộc bất cứ nhánh quyền lực nào Dù vẫn còn những luồng tranh cãi về vai trò của nó trong bộ máy Nhà nước, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng từ khi ra đời tới giờ, chính Hội đồng bảo hiến đã giúp cân bằng quyền lực trong bộ máy Nhà nước và ngày càng khẳng định vai trò của mình hơn

Hội đồng bảo hiến theo quy định của các quốc gia xây dựng theo mô hình này có vai trò không chỉ là một cơ quan tham vấn mà có vai trò như một Tòa án, bởi

nó cũng đưa ra các phán quyết có giá trị chung thẩm Hội đồng bảo hiến cũng là một cơ quan chuyên trách về giám sát Hiến pháp, độc lập và không chịu bất kỳ sự chi phối nào từ các cơ quan khác, nó có chức năng đảm bảo cho ba nhánh quyền lực trên hoạt động đúng với chức năng được quy định trong Hiến pháp, tránh sự lạm quyền trong khi thực hiện quyền lực Bên cạnh đó, Hội đồng bảo hiến còn có chức năng bảo vệ quyền con người và quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận Hội đồng bảo hiến còn có trách nhiệm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, sự thống nhất và phát triển của hệ thống pháp luật

Trang 37

Như vậy có thể thấy, Hội đồng bảo hiến là mô hình tiêu biểu có nguồn gốc từ Pháp và được phát triển dựa trên những đặc điểm của nước Pháp là chủ yếu, tuy nhiên tùy vào tình hình chính trị, kinh tế - xã hội và những truyền thống lập pháp, hành pháp, tư pháp của từng quốc gia mô hình đó sẽ mang những dấu ấn riêng Mặc

dù, cùng được xây dựng theo mô hình cơ quan chuyên trách thực hiện thẩm quyền giám sát Hiến pháp nhưng nhìn chung thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến bó hẹp hơn so với Tòa án Hiến pháp Thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến chủ yếu tập trung vào việc giám sát trước, giám sát các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý Bởi mô hình này thực hiện thẩm quyền giám sát trước nên phương thức sử dụng là giám sát trừu tượng Cũng tương tự như mô hình Tòa án Hiến pháp đối với thẩm quyền giám sát trước, theo đó Hội đồng bảo hiến cũng chủ yếu thực hiện quyền giám sát đối với các đạo luật chưa được Nghị viện thông qua, đang trong thời gian chờ công bố hoặc các điều ước quốc tế đang trong thời gian chờ ký kết hoặc phê chuẩn

Trong quá trình thực hiện quyền giám sát, Hội đồng bảo hiến không tự mình giám sát, kiểm tra các đạo luật mà dựa trên yêu cầu của các chủ thể được quyền yêu cầu theo quy định của Hiến pháp như nguyên thủ quốc gia (tùy từng quốc gia là nhà Vua, Tổng thống hoặc Thủ tướng), Chính phủ, Chủ tịch Nghị viện hoặc một số Nghị sĩ nhất định Các chủ thể này, khi phát hiện dấu hiệu vi hiến của các văn bản luật sẽ có quyền yêu cầu giám sát Hiến pháp thông qua việc yêu cầu Hội đồng bảo hiến thực hiện chức năng xem x t tính hợp hiến của đạo luật đó Mặc dù phải có sự yêu cầu từ các chủ thể có thẩm quyền, nhưng không có nghĩa Hội đồng bảo hiến chỉ được giám sát trong phạm vi yêu cầu mà có thể mở rộng phạm vi xem xét tính hợp hiến đối với các quy định khác hoặc bộ đạo luật

Hội đồng bảo hiến có quyền tuyên bố toàn bộ hay một phần đạo luật vi hiến đồng nghĩa cơ quan này cũng có quyền tuyên bố đạo luật hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp Phán quyết của Hội đồng bảo hiến là phán quyết chung thẩm, do

đó trường hợp phán quyết đưa ra việc đạo luật phù hợp với Hiến pháp thì nguyên thủ quốc gia hoặc cơ quan có thẩm quyền sẽ phải công bố đạo luật theo quy định của pháp luật

Trang 38

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số quốc gia trao quyền giám sát sau cho Hội đồng bảo hiến như Campuchia, Ka-dắc-xtan… trái ngược với thẩm quyền giám sát trước của Cộng hòa Pháp, bởi thế mô hình của cộng hòa Pháp còn được gọi là

mô hình phòng hiến (xem Phần Phụ lục, Bảng 3)

1.4.3 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến

Phần lớn các quốc gia trên thế giới xây dựng mô hình bảo hiến theo xu hướng tách riêng, độc lập quyền của các cơ quan giám sát này với các cơ quan khác (như trong mô hình cơ quan chuyên trách của mô hình châu Âu) Tuy nhiên, vẫn có những quốc gia theo nguyên tắc cơ quan quyền lực nhất Nhà nước là cơ quan nào thì cơ quan đó sẽ phải là cơ quan có thẩm quyền giám sát tối cao đối với các đạo luật bên dưới xem có phù hợp với Hiến pháp không Theo đó, các cơ quan quyền lực được giao chức năng giám sát là Nghị viện, Hội đồng Nhà nước hoặc một cơ quan đặc biệt của Nghị viện… Như vậy, mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến được hiểu Quốc hội (Nghị viện) là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, không những là cơ quan lập hiến, lập pháp duy nhất mà còn là cơ quan quyền lực nhất Nhà nước

Ở một số quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Lào… cơ quan có thẩm quyền giám sát Hiến pháp chính là Quốc hội bởi quan điểm cho rằng nếu Quốc hội giao quyền đó cho cơ quan khác thì không đảm bảo nguyên tắc Quốc hội

là cơ quan quyền lực cao nhất Bên cạnh những giá trị mà mô hình bảo hiến Quốc hội đã chứng minh được qua thời gian tồn tại của nó, mô hình này cũng bộc lộ khá nhiều những hạn chế của nó và làm ảnh hưởng tới hiệu quả bảo vệ Hiến pháp ở các quốc gia áp dụng So sánh với các mô hình bảo hiến khác trên thế giới, mô hình bảo hiến Quốc hội này không có trình tự thủ tục tách bạch, độc lập khi xem xét tính hợp hiến của các văn bản luật Thông thường, Quốc hội sẽ trao quyền giám sát Hiến pháp cho một cơ quan chuyên trách trực thuộc mình thực hiện việc giám sát đó Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tự động xem xét những hành vi, văn bản có dấu hiệu vi hiến và thông báo lại cho Quốc hội xử lý nếu phát hiện sự vi hiến, sau

đó chính Quốc hội là cơ quan cuối cùng quyết định tính hợp hiến của vấn đề Như

Trang 39

vậy, có thể thấy cơ quan này vừa là cơ quan có quyền lập hiến lại vừa có quyền bảo hiến, dẫn tới hiện tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, do đó bộc lộ khá nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện Với xu hướng thay đổi như hiện nay trên thế giới, mô hình cơ quan lập pháp đồng thời là cơ quan bảo hiến sẽ phải thay đổi để có thể thực hiện thẩm quyền này một cách hiệu quả nhất (xem Phần Phụ lục, Bảng 4)

1.4.4 Mô hình toà án Hiến pháp Hàn Quốc (Mô hình chuyển đổi Hiến pháp)

Chuyển đổi Hiến pháp là một khái niệm được sử dụng để chỉ quá trình chuyển đổi từ một Hiến pháp này sang một Hiến pháp khác, cũng như những thay đổi thực tế mà không có một sự sửa đổi Hiến pháp nào Ở châu Á, sự chuyển đổi Hiến pháp là quá chính chuyển từ chế độ chuyên chế hoặc dân chủ hạn chế sang chế độ dân chủ, thường thông qua những thay đổi Hiến pháp dần dần, không ngoại trừ những cuộc cách mạng Hiến pháp Hàn Quốc là một trong những quốc gia có nhiều kinh nghiệm về tài phán Hiến pháp, là một quốc gia Châu Á tiêu biểu đã thực hiện cuộc cách mạng Hiến pháp sau quá trình chuyển đổi Hiến pháp dần dần

từ lâu trong lịch sử [39, tr.285] Trong quá trình chuyển đổi Hiến pháp, các quốc gia Châu Á rất chú trọng củng cố cơ chế phân quyền và kiểm soát quyền lực Nhà nước nhằm chống lại sự lạm dụng quyền lực Nhà nước Nền tảng của xu hướng này là việc thiết lập một thiết chế tài phán Hiến pháp hiệu quả nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp

Hầu hết các bản Hiến pháp của Hàn Quốc đều du nhập mô hình bảo hiến tập trung của Châu Âu Tuy vậy, các thiết chế bảo hiến cũng có nhiều điểm khác biệt so với các nước phương Tây Hiến pháp đầu tiên của Hàn Quốc (1948) thiết lập Hội đồng Hiến pháp, độc lập với các Tòa án thường, nhưng chỉ được quyền kiểm hiến trên cơ sở đề nghị của các Thẩm phán thường từ một vụ việc cụ thể Mô hình này có pha trộn giữa Hội đồng Hiến pháp của Pháp và Tòa Hiến pháp của Đức Trong nền Cộng hòa thứ 4 và 5, các nhà lập hiến lại tái thành lập Hội đồng Hiến pháp với những thẩm quyền rộng hơn

Mặc dù tồn tại các Hiến pháp thành văn và các hệ thống tài phán Hiến pháp, những nguyên tắc về giới hạn và kiểm soát quyền lực không có giá trị trên thực tế

Trang 40

chính trị ở Hàn Quốc lúc bấy giờ Hiến pháp của các chế độ quân sự là một bản

“Hiến pháp danh nghĩa” Hệ quả là vai trò thực tế của tài phán Hiến pháp biểu hiện rất hình thức Trong suốt khoảng thời gian 12 năm tồn tại, Hội đồng Hiến pháp đầu tiên chỉ có 9 quyết định rất hình thức trong việc kiểm soát quyền lực Các Hội đồng Hiến pháp sau đó không có bất kỳ một vụ việc nào Khi mà các Thẩm phán cố gắng thể hiện ý định kiểm soát quyền lực, các nhà lãnh đạo lập tức biểu hiện sự chống đối bằng can thiệp nhằm hướng hoạt động tài phán Hiến pháp theo mục tiêu chính trị của mình Với 11 năm tồn tại của mô hình phi tập trung, các Thẩm phán thường chỉ có hai quyết định tuyên bố vi hiến một đạo luật trong một vụ việc xảy ra năm

1971 Sau khi thách thức Chính phủ bằng các tuyên bố vi hiến, trong số 15 Thẩm phán của Tòa án tối cao đã từng tham gia vào vụ việc đó đã bị thay thế Vụ việc này thể hiện rõ sự “khủng hoảng tư pháp”, bởi vì từ đây các Thẩm phán sẽ không dám thể hiện vai trò bảo hiến của mình nữa Các học giả Hàn Quốc cho rằng mô hình bảo hiến của Mỹ không thích hợp ở đất nước này, bởi vì Hàn Quốc không có truyền thống tư pháp độc lập và chuyên nghiệp

Trong xu hướng chuyển đổi Hiến pháp, các nhà lập hiến thường ghi nhận vai trò của một Tòa án Hiến pháp độc lập để bảo vệ Hiến pháp Xét ở góc độ chính trị,

sự ra đời của Tòa án Hiến pháp thể hiện sự tương quan giữa các lực lượng chính trị (đảng cầm quyền và các đảng đối lập) trong xu hướng sửa đổi Hiến pháp, bởi vì các lực lượng chính trị đều thấy được lợi ích của Tòa án này trong việc bảo vệ vị trí của

họ cho dù ở vị trí cầm quyền hay đối lập Để hiện thực hóa được các mục tiêu này, trên cơ sở các cuộc tranh luận gay gắt về mô hình tài phán Hiến pháp, các nhà lập hiến đã ủng hộ việc áp dụng một Tòa Hiến pháp theo mô hình của Đức để giải quyết vấn đề có tính truyền thống về tính độc lập của các Thẩm phán Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp có những đặc điểm cơ bản sau: (1) Tòa án Hiến pháp là một cơ

quan tài phán độc lập; (2) Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền rộng rãi Như vậy, có

thể nhận thấy những kinh nghiệm về thành công và thất bại của việc áp dụng tài phán Hiến pháp ở Hàn Quốc là những kinh nghiệm quý báu cho tất cả các nước, trong đó có Việt Nam đang tìm kiếm một mô hình tài phán Hiến pháp độc lập thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp

Ngày đăng: 02/04/2021, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (2006), Báo cáo chính trị Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng
Năm: 2006
2. Ban Công tác lập pháp (2005), Cơ chế bảo hiến, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo hiến
Tác giả: Ban Công tác lập pháp
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2005
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Đặng Văn Chiến (chủ biên) (2005), Cơ chế bảo hiến, Nxb Tƣ Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo hiến
Tác giả: Đặng Văn Chiến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tƣ Pháp
Năm: 2005
7. Bùi Thanh Cương (2014), Cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, luận văn thạc sỹ, khoa luật, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thanh Cương
Năm: 2014
8. Nguyễn Đăng Dung (2002), Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2002
9. Nguyễn Đăng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2004
10. Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực Nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
13. Bùi Hải Đường (2015), Sự lựa chọn mô hình bảo hiến ở Việt Nam, Luật văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lựa chọn mô hình bảo hiến ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Hải Đường
Năm: 2015
14. Vũ Đăng Hinh (chủ biên) (2012), Hệ thống chính trị Mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị Mỹ
Tác giả: Vũ Đăng Hinh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
15. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1973), Hiến pháp và các văn bản pháp luật, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp và các văn bản pháp luật
Tác giả: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1973
16. Khoa luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội (2012), Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Tập I: Những vấn đề chung về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Tập I: Những vấn đề chung về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước
Tác giả: Khoa luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
17. Khoa luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội (2012), Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Tập II: Quyền con người, quyền công dân, chế độ kinh tế, bảo hiến và một số vấn đề khác, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Tập II: Quyền con người, quyền công dân, chế độ kinh tế, bảo hiến và một số vấn đề khác
Tác giả: Khoa luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
18. Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2014), Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Năm: 2014
19. Tạ Quốc Long (2016), Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Tạ Quốc Long
Năm: 2016
20. Trần Quỳnh Nga (2009), “Hội đồng bảo hiến của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Luật học, (11), tr. 72-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng bảo hiến của Cộng hòa Pháp”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Quỳnh Nga
Năm: 2009
21. Đoàn Bích Ngọc (2007), Bảo hiến và vai trò của bảo hiến đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, khoa luật trường ĐH Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến và vai trò của bảo hiến đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Bích Ngọc
Năm: 2007
23. Nguyễn Nhƣ Phát (chủ biên) (2011), Tài phán Hiến pháp – Một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán Hiến pháp – Một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Phát (chủ biên)
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm