Việc làm này không những giúp học sinh nhanh chóng tìm ra lời giải, mà nó còn là cơ sở giúp các em có kĩ năng tóm tắt và giải các bài toán hợp ở các lớp trên?. Với mỗi dạng toán, sau [r]
Trang 1Tên đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2C
GIẢI TỐT DẠNG TOÁN CÓ LỜI VĂN
I Đặt vấn đề:
1.1 Tầm quan trọng của vấn đề:
Toán học có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn Đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác để giúp học sinh nhận thức được thế giới xung quanh, hoạt động có hiệu quả trong học tập
Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng Thông qua việc giải toán, các em sẽ biết được nhiều khái niệm toán học Đồng thời còn rèn cho học sinh năng lực tư duy, tính cẩn thận, óc sáng tạo, cách lập luận bài toán trước khi giải, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ Giải các bài toán có lời văn là cách tốt nhất để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận chu đáo, tính chính xác cho học sinh Bên cạnh đó, thông qua việc giải toán của học sinh, giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót
Việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp Tiểu học nói chung
và ở lớp 2 nói riêng là một việc rất cần thiết Do vậy, mỗi giáo viên Tiểu học cần phải chủ động trong kế hoạch bài dạy thì sẽ có điều kiện để đảm bảo chất lượng dạy học toán cho học sinh
Chính vì vậy, việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn là rất cần thiết, nó giúp học sinh hình thành tư duy lôgích và phương pháp làm việc khoa học Đồng thời giúp các em nắm vững hơn mối quan hệ toán học( số học, hình học, đại lượng…) và ứng dụng vào tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng tự nhiên trong xã hội Từ đó, có cách giải quyết công việc linh hoạt và sáng tạo
1.2 Thực trạng:
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở khối lớp 2, tôi nhận thấy “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó nhất đối với học sinh Việc học sinh học toán và giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác Các em thường có một thói quen không tốt đó là: đọc đề bài qua loa, sau đó giải bài toán ngay Vì vậy, các em còn lúng túng trong việc xác định dạng toán và tóm tắt đề toán Khi giải bài toán học sinh ít tư duy, còn máy móc, nếu đề cho nhiều hơn là làm phép tính cộng, ít hơn là làm phép tính trừ, gấp là làm phép tính nhân, kém là làm phép tính chia Các em ít để ý đến dữ kiện của bài toán đã cho nên nhiều khi chọn phép tính không đúng dẫn đến kết quả sai Bên cạnh đó, các em còn chưa biết đặt câu lời giải cho phép tính các em vừa tìm Nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra Cũng có em làm đúng cả lời
Trang 2giải và phép tính nhưng không xác định được tên đơn vị Làm xong không cần kiểm tra lại kết quả, khi trả bài các em mới biết là mình sai
1.3 Lí do chọn đề tài:
Với thực trạng nêu trên, tôi nhận thấy việc giải toán có lời văn của lớp là vấn đề đáng quan tâm Điều đó làm tôi trăn trở là làm sao tìm ra biện pháp để giúp các em có kĩ năng giải tốt dạng toán có lời văn Tôi tự đặt ra cho mình một
số câu hỏi:
- Làm thế nào để giúp học sinh lựa chọn cách tóm tắt bài toán hợp lý?
- Giúp các em tìm được lời giải đúng bằng cách nào?
- Làm sao để các em chọn được phép tính đúng?
- Bằng cách nào để các em chọn đơn vị của phép tính chính xác?
- Hình thành kĩ năng, kĩ xảo giải toán có lời văn bằng con đường nào?
Để làm tốt những định hướng mà mình đặt ra, tôi đã suy nghĩ trăn trở và
nghiên cứu đề tài "Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2C giải tốt dạng toán
có lời văn"
1.4 Giới hạn đề tài:
* Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 2C năm học 2018-2019 Trường Tiểu học Lê Dật
* Phạm vi nghiên cứu: Chương trình Toán lớp 2, trọng tâm là dạng "Giải toán có lời văn”
II Cơ sở lí luận:
Dạy toán có lời văn ở bậc Tiểu học nói chung và ở khối lớp 2 nói riêng nhằm giúp các em có kiến thức ban đầu về số học, các đại lượng, các yếu tố về hình học đơn giản Nó hình thành kĩ năng thực hành, tính toán để phát triển năng lực trí tuệ Ngoài ra, dạy toán có lời văn còn góp phần rèn luyện phương pháp học tập, làm việc khoa học và hình thành những tố chất của con người lao động sáng tạo
Giải toán có lời văn là điều kiện để học sinh vận dụng tổng hợp các kĩ năng của tất cả các môn học và sự hiểu biết trong cuộc sống thực tế Nó thể hiện
sự khéo léo, linh hoạt và kĩ năng tổng hợp, suy luận Giải toán có lời văn có mối liên hệ chặt chẽ với việc học các môn học khác Các em giải toán tốt sẽ học các môn khác tốt hơn Đây là yêu cầu cao nhất đối với môn Toán
Từ cơ sở trên, bản thân tôi đã dựa vào những công văn, những chỉ thị, những quyết định, những nội dung của Bộ Giáo dục Đào tạo, Sở Giáo dục -Đào tạo Quảng Nam, Phòng Giáo dục và -Đào tạo Đại Lộc ban hành Cụ thể:
- Theo quyết định 16/2006 QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng BGDĐT về chương trình SGK mới thì giải toán có lời văn là mạch kiến thức rất quan trọng và chiếm tỉ lệ rất lớn trong môn Toán;
Trang 3- Chuẩn kiến thức kĩ năng của Bộ Giáo dục và đào tạo;
- Công văn 896 thực hiện đổi mới phương pháp dạy học có nói đến giao quyền
tự chủ cho GV trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học;
- Công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo dục và đào tạo về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp Tiểu học;
- Thông tư số 03/VBHN-BGDĐT ngày 28/9/2016 Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học;
III Cơ sở thực tiễn:
Đối với nhận thức của học sinh Tiểu học nói chung, của lớp tôi nói riêng,
đa số các em giải toán có lời văn còn chậm do nhiều nguyên nhân Trong đó, vẫn là do các em thường vội vàng hấp tấp, đơn giản hoá vấn đề Đôi khi, các em chưa hiểu rõ đề bài nên dẫn đến kết quả nhiều lúc bị sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đầy đủ Bên cạnh đó, do các em thiếu cơ sở lí luận, không tự tin vào khả năng của mình mà thích giống bài của bạn nên dẫn đến những sai sót giống nhau Thậm chí có khi làm bài đúng rồi nhưng lại bỏ đi, chép lại cho giống bài của bạn Đó là một thực tế mà người giáo viên đứng lớp ai cũng gặp phải, nhất
là trong quá trình dạy giải toán có lời văn Chính vì vậy, tôi đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu một số giải pháp tốt nhất để giúp các em có kĩ năng giải toán có lời văn, nhằm nâng cao chất lượng dạy học của lớp
IV Nội dung nghiên cứu:
*Biện pháp 1 Khảo sát học sinh ngay từ đầu năm kết hợp với bàn giao chất lượng, phân loại đối tượng học sinh
Muốn học sinh giải toán có lời văn tốt, trước hết tôi tìm hiểu tình hình học toán của lớp mình như thế nào? Các em thường sai ở bước nào trong một bài giải? Mức độ sai ra sao? Vì vậy, tôi đã tìm hiểu các thông tin về học sinh thông
qua: nhận bàn giao chất lượng, giáo viên chủ nhiệm của năm học trước, hồ sơ
học bạ Sau đó, tôi tiếp tục điều tra trình độ các em qua bài khảo sát Tôi nhận thấy ngoài một số em làm bài tốt, vẫn còn một số em chưa thực hiện được các bước trong bài toán giải Thậm chí có em còn bỏ hẳn bài toán giải Kết quả cụ thể như sau:
TSHS
32
Tóm tắt bài toán Chọn và thực hiện đúng phép tính Lời giải và đáp số hẳn Bỏ
2
Số
lượng
Qua bài khảo sát, tôi nhận thấy nhiều em không đạt điểm bài toán có lời văn là do những nguyên nhân sau:
Trang 4+ Đối với học sinh :
- Nhận thức của học sinh chưa đồng đều
- Việc xác định đề toán của các em chưa thành thạo
- Một số em còn chủ quan, chưa đọc kĩ đề bài
+ Đối với giáo viên:
- Việc giảng dạy của giáo viên đôi khi chưa phát huy hết được tính tích cực, chủ động sáng tạo của các em
- Trong quá trình tổ chức cho học sinh thực hành giải toán có những lúc chưa thật sự linh hoạt
- Trong quá trình tổ chức tiết học, giáo viên đôi lúc chưa quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học sinh Ví dụ: Học sinh năng khiếu cần những câu hỏi nâng cao, học sinh chậm cần những câu hỏi dễ hiểu và sát thực với đề bài
*Biện pháp 2 Giúp học sinh nắm được phương pháp chung, hình
thành kĩ năng, kĩ xảo về “giải toán có lời văn”
Từ những nguyên nhân trên, để giúp cho học sinh giải tốt các bài toán có lời văn, tôi đã tiến hành thực hiện các bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán, tìm hiểu nội dung bài toán.
Khi dạy giải bài toán có lời văn, tôi thường yêu cầu học sinh phải hiểu đề
Do đó cần đọc đề bài nhiều lần trước khi làm Từ đó hình thành cho các em thói quen đọc kỹ đề bài trước khi giải Trong quá trình đọc, tôi thường yêu cầu các
em phải xác định được cái đã cho, cái cần tìm và dạng toán Tránh thói quen xấu
là vừa đọc xong đề đã làm ngay Việc đọc kĩ đề toán giúp các em hiểu chắc chắn
một số từ khoá quan trọng như: “ ít hơn”, “nhiều hơn”, “ tất cả”…
Nếu trong đề toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn các em hiểu được nghĩa của từ đó Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, giáo viên cần dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán Qua đó, dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp
số rồi các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập
Bước 2: Lựa chọn cách trình bày tóm tắt hợp lý
Như chúng ta đã biết, tóm tắt bài toán không phải là một phần trong khâu trình bày bài giải, nhưng lại rất quan trọng, giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về toàn bộ nội dung bài toán Từ đó, các em tìm được mối liên hệ cần thiết giữa cái
đã cho và cái phải tìm, biết lựa chọn phép tính thích hợp Đối với lớp 2 (cũng như đối với học sinh Tiểu học nói chung), sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt
là hợp lí nhất Sơ đồ đoạn thẳng không những giúp các em có một cái nhìn khái quát về bài toán mà còn giúp các em nhận ra cái đã biết, cái phải tìm và mối liên
hệ giữa chúng Trong những trường hợp không thể sử dụng được sơ đồ đoạn thẳng thì ta mới dùng quy ước bằng lời, bằng biểu tượng, để tóm tắt Để tóm
Trang 5tắt được đề toán, giáo viên hướng dẫn bằng cách đặt câu hỏi đàm thoại: Bài toán cho gì? - Bài toán hỏi gì? và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán…Mặt khác, để học sinh làm tốt các bài toán hợp sau này thì ngay bây giờ giáo viên nên rèn luyện tốt kĩ năng giải các bài toán đơn Vì vậy, học sinh thuần thục khâu tóm tắt các bài toán đơn ở lớp 2 (bằng sơ đồ đoạn thẳng) là không thể thiếu Việc làm này không những giúp học sinh nhanh chóng tìm ra lời giải, mà nó còn là cơ sở giúp các em có kĩ năng tóm tắt và giải các bài toán hợp ở các lớp trên
Với mỗi dạng toán, sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, xác định dạng, tôi thường hướng dẫn các em tóm tắt như sau:
*Dạng "Bài toán về nhiều hơn"
Ví dụ: Nam có 15 viên bi, Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi?
15 viên bi
Nam: 5 viên bi
Bảo:
? viên bi
*Dạng "Bài toán về ít hơn"
Ví dụ : Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7 cây cam Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?
17 cây cam
Vườn nhà Mai:
Vườn nhà Hoa: 7 cây cam
? cây cam
* Dạng “ Tìm tổng của hai số”
Ví dụ: Mẹ hái được 38 quả bưởi, chị hái được 16 quả bưởi Hỏi mẹ và chị hái được tất cả bao nhiêu quả bưởi?
38 quả bưởi
Mẹ: ? quả bưởi
Chị:
16 quả bưởi
* Dạng " Tìm một số hạng trong một tổng"
Trang 6Ví dụ: Lớp học có 35 học sinh, trong đó có 20 học sinh trai Hỏi lớp học
đó có bao nhiêu học sinh gái?
35 học sinh
20 học sinh trai ? học sinh gái
Khi hướng dẫn vẽ sơ đồ, giáo viên cần lưu ý học sinh dóng thẳng các vị trí đầu mút có giá trị so sánh Các đoạn thẳng tỉ lệ được chia đều trên sơ đồ chỉ mang tính ước lệ song cũng phải đảm bảo được sự chính xác tương đối (ước lượng bằng mắt)
Bên cạnh việc luyện cho học sinh kĩ năng tóm tắt đề toán, giáo viên cũng cần chú trọng luyện cách nêu bài toán theo tóm tắt rồi giải Chẳng hạn:
Nêu bài toán theo tóm tắt sau rồi giải:
15 người
Đội 1: 2 người
Đội 2:
? người
Học sinh có thể nêu thành bài toán:
Đội Một có 15 người, đội Hai có nhiều hơn đội Một 2 người Hỏi đội Hai
có bao nhiêu người?
Khi đã hiểu được rõ nội dung của sơ đồ như vậy thì học sinh sẽ chọn được ngay phép tính cộng để giải bài toán
Bước 3: Tìm cách giải bài toán
a Chọn phép tính thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán, để xác định cái đã cho và cái phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Thông thường, chọn “ phép cộng” nếu bài toán yêu cầu “nhiều hơn” hoặc “gộp”, “tất cả” Chọn “phép trừ” nếu “bớt” hoặc “tìm phần còn lại” hay là “ít hơn”…
Ví dụ: Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7 cây cam Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? (Vườn nhà Mai có 17 cây cam)
Trang 7+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai
7 cây)
+ Bài toán hỏi gì? (Vườn nhà Hoa có bao nhiêu cây cam)
Tuy nhiên đối với những bài toán nâng cao dành cho học sinh năng khiếu,
bài toán có từ khoá “nhiều hơn” nhưng không thực hiện phép cộng hoặc bài toán có từ khoá “ít hơn” nhưng không thực hiện phép trừ.
Ví dụ 1: Nam có 10 viên bi, Nam có nhiều hơn Bảo 3 viên bi Hỏi Bảo có
mấy viên bi?
Ví dụ 2: Mai xếp được 8 bông hoa, Mai có ít hơn Ngọc 2 bông hoa Hỏi
Ngọc xếp được mấy bông hoa?
Với những dạng toán này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh suy luận ngược để biết Bảo có ít hơn Nam 3 viên bi Từ đó học sinh tìm cách giải Tương
tự như vậy với ví dụ 2
b Đặt lời giải thích hợp
Việc đặt lời giải ở các bài toán đơn không có gì khó khăn Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thấy rõ nội dung lời giải thường có 2 phần: Phần 1
ghi cái cần tìm, phần 2 ghi phạm vi cái cần tìm.
Ví dụ: Số cây cam vườn nhà Hoa có là:
Cái cần tìm Phạm vi cái cần tìm
Khi hướng dẫn học sinh đặt lời giải, nhiều giáo viên không chú ý đến điều này nên không có quy định cụ thể Vì vậy mới xảy ra tình trạng học sinh viết lời giải theo cảm tính, lúc thế này, lúc thế khác Đương nhiên, trừ những trường hợp nội dung câu trả lời chỉ có một phần (Phần 1), thường thì mỗi phép tính có 2 cách trả lời, có thể đặt phần 2 lên trước, phần 1 để sau (hoặc ngược lại) Để có
sự nhất quán, giáo viên cần hướng dẫn học sinh (và quy định rõ ràng) là đặt phần 1 (cái cần tìm) lên trước rồi mới đến phần 2 (phạm vi cái cần tìm)
Ví dụ: Cách 1: Số cây cam vườn nhà Hoa có là:
Cách 2: Vườn nhà Hoa có số cây cam là:
Cách trả lời nào cũng đúng, nhưng trả lời theo cách thứ nhất không những khúc chiết, rõ ràng hơn mà còn giúp học sinh ghi đúng ngay tên đơn vị (danh số) sau khi thực hiện phép tính Khi viết lời giải, giáo viên lưu ý học sinh không được viết tắt các tên đơn vị (VD: Không được viết “kg” mà phải viết là “ ki lô -gam”, không viết “ l” mà phải viết là “ lít”,…), các đơn vị này chỉ viết tắt khi đứng sau kết quả của phép tính và đáp số (VD: 5kg, 10l,…)
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh viết lời giải đúng, giáo viên cũng cần lưu ý cho các em cách viết tên đơn vị (danh số) ở kết quả phép tính và ở đáp số cho phù hợp Các danh số thường là một đơn vị kép (chỉ lượng và chỉ tên) như: con gà, cái thuyền, kg gạo,…Khi ghi danh số sau kết quả mỗi phép tính, ta chỉ
Trang 8cần ghi đơn vị chỉ lượng đứng trước là: con, cái, kg,…nhưng khi ghi đáp số ta cần phải ghi đầy đủ là con gà, cái thuyền, kg gạo,…
Bước 4: Trình bày bài giải:
Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm tắt, sau gần tóm tắt là trình bày bài giải Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có gạch chân)
Giáo viên luôn luôn nhắc nhở, rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết chữ -viết số đúng mẫu - đẹp Việc kết hợp giữa chữ -viết đẹp và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công trong vấn đề giải toán có lời văn của các em
Ví dụ: Nam có 10 viên bi, Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi Hỏi Bảo có
bao nhiêu viên bi?
Đến nay, không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện được ngay cách làm như sau:
Bài 3:
Tóm tắt:
12 viên bi
Nam: 5 viên bi
Bảo:
? viên bi
Bài giải:
Số viên bi Bảo có là:
12+ 5 = 17 (viên) Đáp số: 17 viên bi
Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giảI
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, tôi nhận thấy học sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời Nhưng khi giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng
vì chưa kiểm tra lại bài làm của mình Nên việc kiểm tra, đánh giá kết quả phải trở thành thói quen đối với học sinh Vì vậy, sau khi làm bài, tôi luôn hướng dẫn các em kiểm tra lại bài làm thông qua các bước:
- Đọc lại lời giải để kiểm tra xem giữa lời giải và phép tính đã phù hợp chưa?
- Kiểm tra phép tính, tên đơn vị có đúng không?
Trang 9- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa?
*Để hình thành cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo “giải toán có lời văn” theo
5 bước trên, đòi hỏi người giáo viên phải thực hiện thường xuyên và liên tục Tuy nhiên tùy theo từng đối tượng học sinh chúng ta áp dụng cho phù hợp Có thể mở rộng thêm hoặc làm kĩ từng bước Đối với học sinh chậm tiến, tôi làm kĩ hai bước đầu để các em hiểu rõ đề bài, có như vậy các em mới làm tốt được bài toán đã cho Còn với học sinh năng khiếu, sau khi giải xong bài toán và thử lại đúng kết quả, tôi cho các em tự phát hiện cách giải khác (nếu bài giải có nhiều cách giải)
Ví dụ: Tính chu vi hình tam giác có độ dài mỗi cạnh là 4cm
Thông thường học sinh giải:
Chu vi hình tam giác là:
4 + 4 + 4 = 12 (cm) Đáp số: 12cm Học sinh năng khiếu có cách giải nhanh gọn hơn:
Chu vi hình tam giác là:
4 x 3 = 12 (cm) Đáp số: 12cm Việc đi sâu vào tìm hiểu nhiều cách giải khác nhau có vai trò rất lớn trong việc rèn kĩ năng, phát triển trí thông minh và óc sáng tạo cho học sinh Trong khi cố gắng tìm ra các cách giải khác nhau, học sinh hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm Các em sẽ lựa chọn được cách giải hay hơn và tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm để giải toán Biết tự tìm thêm cách giải mới cho bài toán giúp phát triển tư duy phân tích, tổng hợp lôgích
*Biện pháp 3 Thay đổi hình thức tổ chức dạy học:
Qua một thời gian áp dụng những biện pháp trên, tôi nhận thấy lớp đã có những chuyển biến rõ rệt về chất lượng giải toán có lời văn Tuy nhiên, để tạo sự hứng thú hơn trong giờ học cho các em thì tùy theo nội dung mỗi bài dạy, tôi đã
linh hoạt thay đổi hình thức tổ chức dạy học như: làm việc độc lập từng cá nhân
trên bảng con, thi đua làm nhanh giữa các nhóm ở bảng học nhóm, cho học sinh độc lập suy nghĩ làm bài vào vở có sự trợ giúp của giáo viên đối với học sinh chậm tiến, Việc thay đổi hình thức tổ chức dạy học làm cho không khí lớp học sôi nổi, tạo cho học sinh say mê trong học tập
Bên cạnh đó, giáo viên cần chấm trả bài thường xuyên để nhận ra sự tiến
bộ của học sinh, biểu dương những em đã làm tốt, khích lệ những em còn thụ động, rụt rè tham gia vào giờ học bằng những lời khen, lời động viên thích hợp nhằm giúp cho các em mạnh dạn, tự tin hơn
Trang 10*Ngoài những biện pháp nêu trên, để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn chú ý rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho các em qua các môn học Bởi vì đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ đề và tìm cách giải bài toán một cách hợp lý, chính xác
V Kết quả nghiên cứu :
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng trong việc hướng dẫn học sinh lớp mình giải tốt dạng toán có lời văn Gần một năm thực hiện, tôi nhận
thấy chất lượng bài làm của lớp tăng lên rõ rệt Từ chỗ học sinh giải những bài
toán đơn giản còn chưa thạo đến nay đa số các em đã giải được những bài tập nâng cao cùng dạng, các em đều có ý thức làm bài Điều quan trọng là khả năng phân tích, tổng hợp, khả năng suy luận lôgích của các em đã được nâng lên Nhờ phát triển những khả năng tư duy như thế nên các em giải các dạng toán khác
cũng nhanh hơn, dễ dàng hơn Kết quả khảo sát qua từng giai đoạn cụ thể như
sau:
Thời
điểm
TSHS Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
25,0%
17 53,1%
7 21,9%
Cuối kì I 32 16
50,0%
15 46,9%
1 3,1%
Qua kết quả tổng hợp như đã nêu ở trên, tôi rất phấn khởi vì thấy trong giờ học toán, học sinh không những say mê học tập, lớp học rất sôi nổi mà kĩ năng giải toán của các em đã được nâng lên Tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt rất cao, học sinh chưa hoàn thành giảm đi rõ rệt Đây cũng là niềm khích lệ lớn với những người đứng lớp như chúng ta
VI Kết luận:
Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh Tiểu học nói chung và cho học sinh lớp 2 nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với mỗi giáo viên Tiểu học Nếu có biện pháp và kế hoạch dạy học tốt, hợp lý sẽ giúp học sinh giải toán tốt hơn Từ đó nâng cao chất lượng môn Toán của học sinh trong lớp Để quá trình rèn kĩ năng giải toán cho học sinh đạt hiệu quả, tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Các bài toán có lời văn nội dung đa dạng phong phú Do đó, phải yêu cầu học sinh đọc kỹ đề toán để xác định được dạng bài và tìm ra hướng giải đúng
- Khi dạy bài toán có lời văn, giáo viên nên tổ chức cho học sinh tóm tắt bài toán, hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ để các em vận dụng công thức giải được chính xác, linh hoạt