1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 VNEN

15 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 143,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học Tiếng Việt 2 theo mô hình VNEN cũng như dạy học các môn học khác cần phải đảm bảo các yêu cầu kiến thức kỹ năng theo quy định đồng thời giúp học sinh có những kỹ năng nhất định: [r]

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ:

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 VNEN

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài:

Nhằm để đào tạo những con người đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời

kỳ mới, đó là nhiệm vụ của ngành giáo dục, trong đó bậc Tiểu học là bậc học đóng vai trò làm nền móng Cùng với những môn học khác, môn Tiếng Việt ở tiểu học giữ một vị trí hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh Nó trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết nhằm phục vụ đời sống và phát triển của xã hội.

Để thực hiện tốt mục tiêu của môn Tiếng Việt, người giáo viên phải thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học theo mô hình học tập kiểu mới VNEN, sao cho học sinh là người chủ động nắm bắt kiến thức của môn học một cách tích cực, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học Từ đó chiếm lĩnh nội dung mới của bài học, môn học Giáo viên là người theo dõi, quan sát và giúp đỡ các em thực hiện mục tiêu đó.

Môn Tiếng Việt ở lớp 2 là cơ sở ban đầu có tính quyết định cho việc dạy học Tiếng Việt sau này của học sinh.

Năm học 2014-2015, mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) được triển khai thí điểm tại 8 trường Tiểu học của huyện Vĩnh Tường, trong đó có trường Tiểu học An Tường 1 Sau 4 năm học, mô hình đã được triển khai rộng rãi tới nhiều trường Tiểu học.

Đây là một mô hình dạy học mới, có khả năng phát huy được khả năng tự học,

tự tổ chức, quản lý, tham gia các hoạt động tập thể của học sinh, rèn cho các em các

kỹ năng cơ bản, cần thiết trong cuộc sống Ở mô hình này, học sinh được coi là trung tâm của quá trình dạy học, các em được tự mình khám phá tri thức mới Phần lớn các hoạt động học tập được tổ chức theo nhóm có sự tương tác giữa các em học sinh Giáo viên của nhà trường cũng đã dần quen với mô hình dạy học mà chủ thể của quá trình là các em học sinh Qua thực tế giảng dạy, bên cạnh những ưu điểm, hiệu quả tích cực, mô hình này cũng bộc lộ một số những hạn chế nhất định: Số học sinh/ lớp đông trong khi giáo viên lại phải kiểm soát đến từng cá nhân học sinh trong từng hoạt động đơn lẻ; khả năng, trình độ nhận thức của học sinh khác nhau, một bộ phận học sinh không tích cực, hợp tác tham gia hoạt động nhóm dẫn đến việc hoạt động học tập ít hiệu quả Nếu giáo viên ít kinh nghiệm, chú ý nhiều đến hình thức

để đảm bảo theo đúng mô hình rất có thể sẽ không phát huy hết được năng lực học

Trang 2

tập của học sinh Vậy để phát huy tính tích cực cho học sinh trong môn Tiếng Việt

lớp 2 VNEN, chúng tôi cùng nhau nghiên cứu đề tài “Phương pháp dạy học tích cực môn Tiếng Việt lớp 2 theo mô hình VNEN” để góp phần phát huy tính tích cực trong

học tập cho học sinh lớp 2 đồng thời nâng cao chất lượng học tập, đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay

II Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Nhiệm vụ của đề tài là xây dựng hệ thống các hoạt động và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh trong môn Tiếng Việt để làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh khi dạy – học môn Tiếng Việt 2 theo mô hình VNEN Cụ thề là:

+ Khắc phục tình trạng học sinh có khả năng nhận thức hạn chế, hoặc học sinh chưa có ý thức học tập ỷ nại vào các thành viên khác trong khi hoạt động nhóm và tham gia các hoạt động cộng đồng.

+ Nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt đặc biệt là kỹ năng đọc diễn cảm của học sinh trong khi nội dung này ít được đề cập đến.

+ Đảm bảo dạy phân hóa các đối tượng học sinh giúp các em phát huy tối đa năng lực học tập của bản thân.

III Đối tượng nghiên cứu :

Chuyên đề nghiên cứu một số biện pháp phát huy tính tích cực cho học sinh lớp

2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN

Đối tượng : Học sinh lớp khối 2 trường TH An Tường 1, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

IV Phạm vi nghiên cứu :

Nghiên cứu về một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực môn Tiếng Việt

ở lớp 2 theo hướng đối mới.

Về thời gian: Nghiên cứu trong năm học 2017-2018.

V Phương pháp nghiên cứu :

- Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Phương pháp khảo nghiệm sư phạm

- Phương pháp phân tích mẫu

B NỘI DUNG

I/ Mục tiêu :

Trang 3

Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt theo mô hình trường học kiểu mới VNEN phải đảm bảo yêu cầu sau.

a Lấy học sinh làm trung tâm: học sinh được học theo khả năng của riêng mình; tự quản, hợp tác và tự giác cao trong học tập.

b Nội dung học gắn bó chặt chẽ với đời sống hằng ngày của HS

c Linh hoạt về nhịp độ học tập tùy theo đối tượng học sinh

d Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với giáo viên giúp đỡ học sinh một cách thiết thực trong các hoạt động giáo dục; tham gia giám sát việc học tập của con em mình

e Góp phần hình thành nhân cách, giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo xu hướng thời đại cho học sinh.

- HS phải tham gia các hoạt động học tập một cách tích cực, hứng thú, tự tin và tự nhiên Tạo cho học sinh tính tự giác, tích cực trong học tập.

- Nhóm trưởng đóng vai trò chính trong tiết học hướng dẫn, điều hành tiết học hướng dẫn nhẹ nhàng dưới sự trợ giúp đúng mức, đúng lúc của giáo viên, sách hướng dẫn học, đồ dùng dạy học Tiếng Việt, để từng học sinh (từng nhóm học sinh) tự phát hiện, phân tích và tự giải quyết vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung kiến thức và có thể vận dụng được kiến thức đó vào luyện tập thực hành, giúp cho việc phát triển năng lực cá nhân học sinh.

- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng trường học kiểu mới VNEN Thay thế các phương pháp dạy học đơn điệu ít tác dụng bằng các phương tiện kĩ thuật hiện đại Giúp học sinh hứng thú trong học tập, hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức.

II) Nội dung chương trình, Nội dung học tập ở các bài A, B, C môn Tiếng Việt lớp 2 VNEN:

1 Nội dung chương trình:

Sách gồm có 65 bài Tập đọc và 33 bài Kể chuyện theo các chủ điểm Các chủ điểm có phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau: từ gia đình, nhà trường, quê hương, các vựng miền và các dân tộc anh em trên đất nước ta đến hoạt động văn hóa, khoa học, thể thao và các vấn đề lớn của xã hội như bảo vệ hòa bình, phát triển tình hữu nghị, sự hợp tác giữa các dân tộc, bảo vệ môi trường sống, chinh phục vũ trụ.

2 Nội dung học tập ở các bài A,B, C:

- Bài A: Đọc, hiểu văn bản, luyện kĩ năng nghe nói về 1 điểm mới, kiến thức về Luyện từ và Câu.

- Bài B: Kể chuyện, viết chữ hoa, chính tả, luyện tập viết từ đúng chính tả.

Trang 4

- Bài C: Đọc, hiểu văn bản, luyện nói theo chủ điểm mới chuẩn bị cho bài viết một đoạn văn, kiến thức thực hành về dùng từ đặt câu, viết đoạn văn theo chủ điểm mới

III Thực trạng dạy học VNEN ở trường Tiểu học An Tường 1:

a Thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi

- Mô hình VNEN

+ Mô hình VNEN là quá trình tổ chức cho học sinh hoạt động để khám phá và chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ năng mới Bản chất quá trình học tập của VNEN được diễn ra thông qua đối thoại và tương tác lẫn nhau giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên và giữa học sinh với cộng đồng Nội dung giáo dục kĩ năng giao tiếp được biên soạn nhiều.

+ Học sinh đã dần làm quen với mô hình VNEN

+ Học sinh thích học môn Tiếng Việt Các em cũng dành thời gian để làm các hoạt động ứng dụng, tương tác với cộng đồng khi ở nhà

+ Học sinh được học 2 buổi/ngày nên các em được tham gia học tập, rèn luyện

nhiều ở trường

+ Học sinh được học theo mô hình VNEN đã thực sự làm chủ cách học, làm chủ kiến thức, có năng lực ứng xử với thực tế cuộc sống tốt hơn Học sinh đã tỏ rõ

sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp

Công tác quản lý chỉ đạo:

+ Ban giám hiệu luôn chỉ đạo các lớp thực hiện VNEN dạy đúng quy trình quan tâm xây dựng không gian lớp học,tập huấn chuyên môn nghiệp vụ dạy chương trình VNEN

+ Trường học khang trang, phòng học sáng sủa sạch sẽ, trang bị tương đối đầy

đủ bàn ghế và bảng từ, Bảng tương tác và các thiết bị đồ dùng dạy học

- Giáo viên

+ Nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với học sinh Có kinh nghiệm dạy học theo

mô hình VNEN.

- Phụ huynh học sinh: Phụ huynh học sinh đa phần đã có sự quan tâm chăm lo hơn về việc học hành của con em mình, mua sắm tương đối đầy đủ vở và đồ dùng học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho các em tới trường, thường xuyên giữ được mối liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp và nhà trường

* Khó khăn

Trang 5

Một số nội dung bài học của các môn học cần có xác định mức độ kiến thức những không có sách hướng dẫn của giáo viên nên không có sự thống nhất trong các lớp học.

Lớp học đông, không gian lớp học trật trội (không đủ 54m2), nên việc kiểm tra, giám sát, giúp đỡ của giáo viên với học sinh, cũng như tổ chức hoạt động học tập của học sinh không được thoải mái Mặt khác theo quy định dạy VNEN giáo viên không tiểu kết, không kết luận vấn đề chung trước lớp nên việc nắm bắt, lĩnh hội và xác định chuẩn kiến thức cho học sinh không thống nhất, có thể không chuẩn nếu giáo viên không kiểm soát đến từng học sinh Một số giáo viên không linh hoạt mạnh dạn điều chỉnh nội dung phương pháp cho phù hợp với đối tượng học sinh, còn tuân thủ theo VNEN một cách máy móc.

Đối với học sinh khả năng đọc còn hạn chế vốn kiến thức, các năng lực phẩm chất khác, kinh nghiệm, còn quá ít nên việc tổ chức trao đổi trong nhóm để tự lĩnh hội, tự chiếm lĩnh kiến thức hết sức khó khăn, hiệu quả thấp Dẫn đến, chất lượng học tập khó đảm bảo theo yêu cầu.

b Thành công, hạn chế

*Thành công

Đa số học sinh đã thực hiện được các hoạt động, nói lưu loát, hoàn thành mục tiêu của tiết học Học sinh trở nên tự tin, mạnh dạn, hứng thú, tích cực hơn đối với những tiết học Tiếng Việt Khi tiến hành các hoạt động, tình huống giao tiếp có vấn

đề chúng tôi thấy các em đã có nhiều cách xử lí hay, thú vị và thông minh Khi giáo viên vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học mới thì các em hào hứng, tham gia nhiệt tình vào tiết học Qua đó mà tính tích cực, chủ động của các em được hình thành và gắn liền với các bài học gần gũi với thực tiễn cuộc sống Từ đó giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức một cách bền vững, kĩ năng giao tiếp được phát triển, thái độ học tập có những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt

* Hạn chế

- Giáo viên thường bị động về thời gian

- Thường chỉ tập trung ở một số đối tượng tích cực, có năng lực nên chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, nhất là đối tượng học sinh yếu

- Đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọn những nội dung thực sự thiết thực và điều chỉnh được các hoạt động học tập phù hợp với học sinh

c Mặt mạnh, mặt yếu

* Mặt mạnh

- Giáo viên:

Trang 6

+ Giáo viên trực tiếp chủ động điều chỉnh từng hoạt động, quan sát và nhận xét hoạt động của học sinh

+ Giáo viên có sự chuẩn bị về: đồ dùng, tài liệu, phương pháp giảng dạy

+ Giáo viên có liên hệ thực tế và nhắc nhở học sinh áp dụng các nghi thức lời nói vào cuộc sống

- Học sinh:

+ Học sinh thích học các bài có nội dung giao tiếp, tích cực tham gia các hoạt động học tập

+ Học sinh thích và tích cực xử lý các tình huống giao tiếp gần gũi, quen thuộc với các em

+ Học sinh được thực hành đóng vai nhiều, thích được đóng vai, nhất là các

vai cô giáo, học sinh giỏi,…

* Mặt yếu

- Về phía giáo viên:

+ Đôi khi nội dung điều chỉnh của giáo viên chưa thực sự phù hợp với học sinh, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn

+ Giáo viên chỉ cho học sinh luyện nói theo những nội dung và chủ đề như trong Tài liệu Hướng dẫn học

- Về phía học sinh:

+ Tình huống giao tiếp mà học sinh thực hành được xây dựng trong phạm vi hẹp nên làm giảm tính tích cực, tự nhiên của học sinh khi tham gia giao tiếp

+ Các hành vi trao lời, đáp lời thường được dạy theo mẫu và yêu cầu học sinh thực hành theo mẫu nên làm giảm khả năng sáng tạo của học sinh

II GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:

1 Phương pháp dạy học Tiếng Việt theo VNEN:

Trong dạy học Tiếng Việt người giáo viên cần biết vận dụng linh hoạt và lựa chọn các phương pháp vào từng hoạt động của các dạng bài học, để hướng dẫn học sinh tự tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức mới, hướng dẫn học sinh thực hành hình thành và rèn luyện kĩ năng Tiếng Việt, hướng dẫn học sinh giảng giải kết hợp việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, hay trò chơi Tiếng Việt, nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới trong dạy học Tiếng Việt 2 VNEN

- Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động là mấu chốt của vấn đề đổi mới Vì vậy khi giảng dạy giáo viên cần kết hợp các hình thức tổ chức dạy học:

Trang 7

1.1 Qui trình 5 bước dạy của giáo viên:

Bước 1 Tạo hứng thú cho HS:

* Yêu cầu cần đạt:

- Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với họ.

- Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú.

* Cách làm:

Đặt câu hỏi; Câu đố vui; Kể chuyện; Đặt một tình huống; Tổ chức trò chơi; Hoặc sử dụng các hình thức khác.

Bước 2 Tổ chức cho HS trải nghiệm

* Yêu cầu cần đạt:

- Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của học sinh để chuẩn bị học bài mới.

- Học sinh trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức, những thao tác, kỹ năng để làm nảy sinh kiến thức mới.

* Cách làm:

Tổ chức các hình thức trải nghiệm thú vị, gần gũi với HS Nếu là tình huống diễn tả bằng các giả thiết phải đơn giản, câu văn phải hóm hỉnh và gần gũi với học sinh.

Bước 3 Phân tích - Khám phá - Rút ra bài học

* Yêu cầu cần đạt:

- HS rút ra được kiến thức, khái niệm hay qui tắc lí thuyết, thực hành mới; học sinh nhận biết dấu hiệu/đặc điểm của các dạng bài mới; nêu được các bước tiến hành một nội dung nào đó.

* Cách làm:

- Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp học sinh thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học.

- Sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của học sinh

- Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp học sinh đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả Các hoạt động trên có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng học sinh.

Bước 4 Thực hành

* Yêu cầu cần đạt:

- Học sinh nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được các bài tập áp dụng dạng cơ bản theo đúng qui trình.

- Học sinh biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình làm các bài tập dạng cơ bản.

- Tự tin về bản thân mình.

*Cách làm:

- Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để học sinh rèn luyện việc nhận dạng, áp dụng các bước làm cơ bản Giáo viên quan sát học sinh làm bài và phát hiện

Trang 8

xem học sinh gặp khó khăn ở bước nào GV giúp học sinh nhận ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại thao tác, cách thực hiện.

- Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng của học sinh Giáo viên tiếp tục quan sát và phát hiện những khó khăn của học sinh, giúp các

em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các nội dung đã học, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên.

- Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ học sinh.

Bước 5 Ứng dụng

* Yêu cầu cần đạt:

- Học sinh củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.

- Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày.

- Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới.

* Cách làm:

- Học sinh thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học.

- Giáo viên giúp học sinh thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, từ đó khắc sâu kiến thức đã học.

1.2 Bước học tập của học sinh

- Bước 1 Chúng em làm việc nhóm Nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ dùng học

tập cho cả nhóm.

- Bước 2 Em đọc Tên bài học rồi viết tên bài học vào Vở ô li

- Bước 3 Em đọc Mục tiêu của bài học.

- Bước 4 Em bắt đầu Hoạt động cơ bản (nhớ xem phải làm việc cá nhân hay

theo nhóm).

- Bước 5 Kết thúc Hoạt động cơ bản em gọi thầy, cô giáo để báo cáo những gì

em đã làm được để thầy, cô ghi vào Bảng đo tiến độ.

- Bước 6 Em thực hiện Hoạt động thực hành:

+ Đầu tiên em làm việc cá nhân;

+ Em chia sẻ với bạn ngồi cùng bàn (giúp nhau sửa chữa những bài làm còn sai sót);

+ Em trao đổi với cả nhóm Chúng em sửa cho nhau, luân phiên nhau đọc (lưu ý không làm ảnh hưởng đến nhóm khác)

- Bước 7 Hoạt động ứng dụng (gắn liền với gia đình và địa phương).

- Bước 8 Chúng em đánh giá cùng thầy, cô giáo.

- Bước 9 Kết thúc bài, em viết vào Bảng đánh giá (nhớ suy nghĩ kĩ khi viết và

lưu ý về đánh giá của thầy, cô giáo).

- Bước 10 Em đã học xong bài mới hoặc em phải học lại phần nào.

Trang 9

2 Phát huy tối đa vai trò của hội đồng tự quản

Hội đồng tự quản được thành lập trên cơ sở nhận được sự đồng thuận của học sinh trong lớp Trong đó lãnh đạo hội đồng tự quản giữ vai trò then chốt trong việc xây dựng nề nếp tự quản của học sinh Các thành viên của hội đồng tự quản được thiết lập theo nhu cầu, sở trường của mỗi cá nhân Bên cạnh đó, các nhóm học tập hình thành giúp học sinh học tập theo phương pháp mới một cách dễ dàng Vấn đề nảy sinh là trong các nhóm học tập, không phải nhóm nào cũng có các đối tượng học tập đồng đều, tích cực Do ngẫu nhiên hoặc do sự sắp đặt của giáo viên chủ nhiệm, mỗi nhóm lớn thường có 4 đến 6 học sinh có em có khả năng học tập tốt, có em khả năng học tập hạn chế hoặc có em có khả băng nhận thức khá nhưng bản thân hiếu động, ít chú ý đến học tập… Khi tổ chức các hoạt động học nhóm, các em học sinh đó không hợp tác với các bạn trong nhóm, ngồi im không tư duy, suy nghĩ chờ các bạn thảo luận đưa ra kết quả hoặc quậy phá, nói chuyện, làm việc riêng làm ảnh hưởng đến các thành viên của nhóm học tập

Giải pháp đưa ra là:

- Phát huy tối đa vai trò của nhóm trưởng học tập Trước hết phải lực chọn học sinh có khả năng quản lý nhóm tốt, có uy tín với các bạn trong nhóm để quản lý, chỉ đạo nhóm thực hiện các hoạt động trong mỗi giờ học.

- Giáo viên chủ nhiệm cần có hướng dẫn chi tiết đối với nhóm trưởng nhóm học tập về cách quản lý các bạn trong nhóm: nhắc nhở, chú ý đến bạn khi học nhóm, thi đua trong nhóm, dành những câu hỏi, những nội dung học tập đơn giản cho các bạn có nhận thức hạn chế, xây dựng quy định riêng của nhóm…

- Khả năng quản lý nhóm học tập của học sinh không đồng đều nên khi sắp xếp các nhóm học tập, giáo viên nên có sự lựa chọn đối tượng học sinh cho phù hợp: không sắp xếp quá 1 học sinh có nhận thức hạn chế, hoặc 1 học sinh có cá tính hiếu động trong một nhóm; sắp xếp các học sinh đó vào nhóm có học sinh làm nhóm trưởng có khả năng học tập tốt, có năng lực trong việc quản lý tổ.

- GV hướng dẫn để lãnh đạo hội đồng tự quản bên cạnh việc quản lý chung lớp học theo các ban thì hàng tuần cần có những nhận xét, đánh giá về việc thực hiện nề nếp tự quản của các nhóm học tập trong mỗi giờ học.

- Hướng dẫn nhóm trưởng thực hiện các bước của hoạt động nhóm phải đảm bảo về quy trình: làm việc cá nhân - cặp đôi- nhóm lớn Đặc biệt lưu ý đến bước hoạt động cá nhân để học sinh có thời gian tìm hiểu, tư duy về nội dung bài học trước khi các thành viên trong nhóm trao đổi, chia sẻ.

- Thay đổi nhóm học tập hàng tuần, hàng tháng nhưng vẫn phải đảm bảo các yêu cầu trên về các đối tượng học sinh Giáo viên cũng có thể dựa vào yếu tố tâm lý

để khích lệ học sinh bằng cách nêu ra những tiêu chí nhất định khi thay đổi nhóm

Trang 10

trưởng: các bạn có tiến bộ trong học tập và thực hiện tốt quy định của nhóm học tập, chăm chỉ, có ý thức học tập… để tạo cơ hội cho những đối tượng học sinh được nói đến ở trên có cơ hội, động lực để phấn đấu và tự rèn tính cách cho bản thân mình.

3 Điều chỉnh nội dung, hình thức học tập cho phù hợp.

Tài liệu hướng dẫn học của học sinh được thiết kế theo đúng tinh thần tên của cuốn sách đó là “hướng dẫn” Nội dung kiến thức cơ bản ở mức đơn giản, có mục tiêu

rõ ràng ở mỗi bài học Tuy nhiên học sinh tự xác định được mục tiêu của mỗi tiết học không phải là đơn giản đối với tất cả các đối tượng học sinh Mỗi bài học, nội dung, hình thức học tập không phải đều phù hợp với tất cả các lớp và các đối tượng học sinh Đặc biệt khi dạy Tiếng Việt lớp 2, kỹ năng luyện đọc diễn cảm không thể hiện

rõ Một số bài có phần chú ý khi đọc, một số bài có phần đọc câu, một số bài không

có nội dung hướng dẫn, không có yêu cầu cụ thể về nội dung luyện đọc Dạy học theo

mô hình VNEN, học sinh phải tự nghiên cứu tài liệu, tự thực hiện các hoạt động theo logo nên có thể xảy ra tình trạng có em thực hiện để cho xong (bạn yêu cầu đọc, đọc cho xong bài và cũng không cần biết phải đọc như thế nào cho hay, cho hấp dẫn và thể hiện được nội dung bài đọc Học sinh tìm từ chỉ tìm cho có lệ, không tìm thêm các

từ khác mặc dù vẫn còn thời gian…) Lớp học đông, việc giáo viên lắng nghe được hết nội dung đọc và có sự điều chỉnh và giúp đỡ các em đọc đúng, đọc hay là việc làm khó có thể thực hiện dược.

Giải pháp đưa ra:

- Giáo viên có thể điều chỉnh nội dung học tập, hình thức học tập sau khi đã nghiên cứu kỹ bài học, dự kiến những tình huống có thể xảy ra đối với các đối tượng học sinh và tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, được sự nhất trí của tổ chuyên môn hoặc ban giám hiệu

- Giáo viên đọc bài mẫu phải chuẩn Đọc đúng, đọc hay, chuyển tải hết được nội dung thậm chí là ẩn ý của tác giả.

- Giáo viên quan sát, bám sát tối đa số học sinh trong mỗi giờ học có thể; cần chuẩn bị các bài tập góc hoặc có yêu cầu riêng đối với nhóm học sinh hoặc cá nhân học sinh đã hoàn thành các nội dung bài học trong sách hướng dẫn học.

VD: Khi giáo viên kiểm tra nhóm học tập, nếu học sinh đã đọc to, rõ ràng lưu loát thì có thể hướng dẫn riêng và thêm yêu cầu về đọc diễn cảm cho học sinh Đối với học sinh nhận thức tốt, đọc tốt có thể giao thêm bài về cảm thụ văn học về nội dung bài đọc.

- Nên cho học sinh chia sẻ nội dung bài đọc hoặc bài tập sau khi các học sinh trong lớp đã hoàn thành nội dung học tập để học sinh có thể tự rút ra bài học cho mình hoặc mở rộng thêm kiến thức từ các bạn bè trong lớp mà không chỉ bó gọn trong nhóm học tập (không so sánh giữa học sinh này và học sinh khác).

Ngày đăng: 02/04/2021, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w