Thực trạng chế độ Bảo Hiểm hưu trí tại Bảo Hiểm XH ở VN
Trang 1
Phần I Lý luận chung về chế độ bảo hiểm hu trí
I khái quát chung về quá trình hình thành của chế độ bảo hiểm
hu trí
1 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội trên thế giới
Bảo hiểm xã hội đã hình thành một cách khách quan, do nhu cầu, nguyệnvọng chính đáng của ngời lao động và ngời chủ sử dụng lao động Từ thế kỷ XV
đến thế kỷ XVII, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời để bảo vệ nhau tronghoạt động nghề nghiệp và họ đã thành lập nên các quỹ tơng trợ ( nh ở Anh năm
1473 đã thành lập hội “ Bằng hữu” ) nhằm giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tainạn Đến năm 1883, Đức cũng đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trênthế giới, sau đó tiếp tục ban hành luật bảo hiểm tai nạn lao động và luật bảo hiểmngời già- ngời tàn tật do lao động vào năm 1884 và 1889 Sau đó một số nớc ởChâu Âu, Bắc Mỹ tiếp tục đa ra luật bảo hiểm xã hội vào cuối năm 1920 Sự ra
đời các bộ luật chính thức đầu tiên đó phản ánh một yêu cầu tất yếu khách quancủa BHXH
Qua thời gian thực hiện và tiếp tục hoàn thiện các chế độ bảo hiểm chúng ta
có thể hiểu đợc bản chất BHXH:
“ BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo
an toàn xã hội ”
Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi đợc ởng với nghĩa vụ đóng góp Tuy vậy BHXH chỉ thực sự trở thành một lĩnh vựchoạt động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ XIX Quá trình
h-đó gắn liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị trờng và thịtrờng sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động đợc trở nênphổ biến
Sang thế kỷ XX, hầu hết các nớc trên thế giới mà trớc hết là các nớc côngnghiệp phát triển đều ban hành và thực hiện điều luật về BHXH đối với ngời lao
động Đặc biệt vào tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) thông qua công ớc số 102 với những quy phạm tối thiểu về BHXH, trong
đó có quy định hệ thống gồm 9 chế độ đó là: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợcấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, trợcấp gia đình, trợ cấp sinh đẻ, trợ cấp khi tàn phế, trợ cấp cho ngời còn sống Chínchế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Với sự phát triển nh vậy,BHXH đã trở thành một lĩnh vực mang tính quốc tế rộng lớn Hiện nay có hơn
160 quốc gia trên thế giới thực hiện BHXH
2 Cơ sở hình thành chế độ bảo hiểm hu trí trong hệ thống các chế độ BHXH
Trong qúa trình lao động tạo ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu của bảnthân Nhng cùng với thời gian tuổi tác và sức khỏe của họ bị giảm sút và đến mộtlúc nào đó họ sẽ không còn khả năng lao động Lúc đó khoản thu nhập mà họ cóthể sinh sống hoặc là do tích góp trong quá trình lao động hoặc do con cháu nuôidỡng Những nguồn thu nhập này không thờng xuyên và phụ thuộc vào điều
Trang 2kiện của từng ngời Để đảm bảo lợi ích cho ngời lao động khi họ hết tuổi lao
động và giúp họ có nguồn thu nhập thờng xuyên, ổn định, nhà nớc đã thực hiệnchế độ BHXH hu trí
Vậy Bảo hiểm hu trí là hình thức bảo đảm thu nhập cho ngời lao động khi hết tuổi lao động Ngời lao động tạo ra thu nhập để nuôi sống chính họ trong quá
trình lao động Quá trình này diễn ra ngay trong các nhà máy, xí nghiệp, đơn vịkinh tế, hành chính s nghiệp trong lĩnh vực quốc doanh và ngoài quốc doanh.Trong quá trình đó, họ cống hiến sức lao động để xây dựng đất nớc bằng cách tạo
ra thu nhập cho xã hội và cho cả chính họ nữa Do đó đến khi họ không còn khảnăng lao động nữa thì họ phải đợc sự quan tâm ngợc lại từ phía xã hội Đó chính
là khoản tiền trợ cấp hu trí hàng tháng phù hợp với số phí BHXH mà họ đã đónggóp trong suốt quá trình lao động Nguồn trợ cấp này tuy ít hơn so với lúc đanglàm việc nhng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho ngời về hu ổn định về mặtvật chất cũng nh tinh thần trong cuộc sống, tạo cho họ có thêm điều kiện để cốnghiến cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động sản xuất mà
họ đã tích luỹ đợc nhằm xây dựng đất nớc ngày càng phồn vinh hơn
Bảo hiểm hu trí bảo đảm quyền lợi cho ngời lao động giúp họ tự bảo vệ mìnhkhi hết tuổi lao động, tự lo cho chính mình một cách hợp lý nhất nhờ vào việc họ
đã cống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội trớc đó.Ngời lao động chỉ cần trích ra một tỷ lệ % tiền lơng tơng đối nhỏ khi còn đanglàm việc trong một thời gian nhất định Đến khi hết tuổi lao động phải nghỉ việc
họ sẽ có đợc sự bảo đảm của xã hội làm giảm bớt phần nào khó khăn về mặt tàichính do không còn lao động đợc nữa
Nh vậy bảo hiểm hu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao đợc thực hiệnmột cách thờng xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Nóicách khác, chế độ bảo hiểm hu trí lấy đóng góp của thế hệ sau chi trả cho các thế
hệ trớc Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọingời trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn thể hiện mối quan tâm sâusắc giữa ngời với ngời trong xã hội
3 Vai trò của chế độ Bảo hiểm hu trí trong hệ thống các chế độ BHXH
Trong hệ thống các chế độ BHXH thờng bao gồm nhiều chế độ khác nhau( chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, chế
độ hu trí ) Tuy nhiên các chế độ BHXH đợc xây dựng và thực hiện phụ thuộcvào trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời kỳcủa mỗi nớc Và đặc biệt trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ
Trang 3chính thể hiện đặc trng những mục tiêu chủ yếu của hệ thống bảo hiểm xã hội.Một trong những chế độ đó là chế độ hu trí hay chế độ bảo hiểm tuổi già cho ng-
ời lao động
Theo quy định của ILO thì chế độ này là một trong những chế độ bắt buộc, làchế độ chính sách khi mỗi quốc gia muốn xây dựng cho mình một hệ thống bảohiểm xã hội Theo thống kê của ILO, trong tổng số 163 nớc trên thế giới có hệthống BHXH (1993) thì có tới 155 nớc có thực hiện chế độ hu trí chiếm tỷ lệ95,1% Điều đó chứng tỏ chế độ hu trí rất đợc các nớc cũng nh ngời lao độngquan tâm
Trên thực tế, tất cả những ngời tham gia vào BHXH đều có mong muốn thamgia vào chế độ hu trí Trong phần đóng góp phí BHXH nói chung thì phần chủyếu là đóng cho chế độ này Đối với hệ thống BHXH thì hoạt động của ngànhnày tập trung chủ yếu vào chế độ hu trí cho ngời lao động Điều này đợc thể hiện
cụ thể trong các hoạt động nghiệp vụ của bảo hiểm xã hội Chẳng hạn ở ViệtNam, chế độ hu trí có vị trí đặc biệt quan trọng với ngời tham gia bảo hiểm xãhội Chế độ này đợc quy định và đa vào thực hiện ngay từ khi hệ thống BHXHmới đợc thành lập ( 1947) Theo các quy định hiện hành thì tỷ lệ giành cho bảohiểm hu trí và các chế độ khác có liên quan tới ngời về hu là 75% ( phí bảo hiểm
là 20% tổng quỹ tiền lơng thì giành tới 15% đóng cho hu trí ) Do đó thu cho chế
độ hu trí cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu của bảo hiểm xã hội,khoảng từ 60-80% Tơng tự nh vậy trong tổng chi của BHXH thì việc chi cho chế
độ này cũng rất lớn Trong những năm gần đây tiền chi cho chế độ hu trí chiếmkhoảng trên 70% tổng chi cho BHXH Nh vậy, hoạt động thu chi của chế độ hutrí có ảnh hởng sống còn tới toàn bộ hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội, ảnhhởng đến sự ổn định của BHXH nói riêng cũng nh cả xã hội nói chung
Một vấn đề nữa đặt ra là xu hớng già hoá của dân số thế giới dẫn đến số lợngngời nghỉ hu ngày càng tăng Điều đó cho thấy rõ vai trò ngày càng quan trọngcủa chế độ hu trí trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
Hơn nữa, chế độ bảo hiểm hu trí còn thể hiện đợc sự quan tâm chăm sóc của Nhànớc, ngời sử dụng lao động đối với ngời lao động, và nó còn thể hiện đạo lý củadân tộc đồng thời còn phản ánh trình độ văn minh của một chế độ xã hội
4 Tác dụng và đặc trng của Bảo hiểm hu trí
4.1 Tác dụng của Bảo hiểm hu trí
bảo hiểm hu trí giúp đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi họ về hu do đógiúp cho xã hội ổn định và gắn bó Ngày nay, tỷ lệ ngời già trong dân số càng
Trang 4tăng do đó ổn định đời sống cho bộ phận này là rất quan trọng Mặt khác, khinghỉ hu ngời lao động đợc sống thoải mái hơn và an nhàn hơn Đối với ngời cótrình độ có khả năng họ lại tiếp tục cống hiến, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệsau.
Ngời lao động trong quá trình lao động họ có đợc sự bảo đảm chắc chắn vềphần thu nhập khi họ nghỉ hu, làm cho họ yên tâm chú ý, không lo nghĩ về điềukiện sống khi nghỉ hu do đó có thể làm việc với năng suất và chất lợng cao hơn.Giúp ngời lao động tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao động
để bảo đảm đời sống khi nghỉ hu, giảm bớt phần nào gánh nặng cho ngời thân,gia đình và xã hội
4.2 Đặc trng của chế độ Bảo hiểm hu trí
bảo hiểm hu trí là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài qúa trình lao động
Đặc trng này thể hiện cả trong quá trình đóng và hởng bảo hiểm hu trí Ngời lao
động tham gia đóng phí BHXH trong một thời gian khá dài Thời gian đó liên tục
đủ lớn theo quy định thì sẽ đủ một trong những điều kiện để đợc hởng bảo hiểm
hu trí Khi đã đủ các điều kiện thì ngời lao động sẽ đợc hởng trợ cấp hu trí trongkhoảng thời gian tính từ lúc về hu cho đến khi ngời lao động chết Quá trình hởngnày dài, ngắn bao nhiêu tuỳ thuộc vào tuổi thọ của từng ngời và những ngời hởngbảo hiểm hu trí là những ngời đã kết thúc quá trình làm việc của mình mà theoquy định đợc nghỉ ở nhà và hởng lơng hu
Trong chế độ hu trí có sự tách biệt giữa đóng và hởng Vì đây là một chế độnằm ngoài quá trình lao động, cho nên để đợc hởng chế độ hu trí khi về hu thìngời lao động phải tham gia đóng phí trong quá trình lao động Trong suốt quátrình lao động, số tiền ngời lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm hu trí dùng đểchi trả lơng hu ( trợ cấp tuổi già ) cho thế hệ trớc Nh vậy có sự kế thừa giữa cácthế hệ lao động trong việc hình thành quỹ bảo hiểm hu trí, qua đó thể hiệnnguyên tắc lấy số đông bù số ít của bảo hiểm
Ngoài ra còn có sự phụ thuộc chặt chẽ giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao
động Ngời sử dụng lao động muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh thìngoài việc đầu t cho thiết bị máy móc hiện đại, còn phải chăm lo tới đời sống ng-
ời lao động mà mình đang sử dụng, tạo cho họ việc làm, đảm bảo cuộc sống cho
họ khi hết tuổi lao động bằng việc đóng BHXH cho ngời lao động Từ những tácdụng và đặc trng trên, quỹ bảo hiểm hu trí chiếm tỷ trọng tơng đối lớn trong quỹbảo hiểm xã hội Do đó bộ phận quản lý quỹ có thể sử dụng phần quỹ bảo hiểm
hu trí nhàn rỗi để đầu t sinh lời nhằm ổn định, bảo đảm cân bằng và tăng trởng
Trang 5quỹ Từ đó góp phần thúc đẩy đầu t tăng trởng vào nền kinh tế quốc dân, tạo ranhiều việc làm cho ngời lao động, góp phần hạn chế nạn thất nghiệp hiện nay.
II Nội dung cơ bản của chế độ bảo hiểm hu trí
Đối với mỗi ngời lao động niềm mong mỏi lớn nhất của họ sau khi kết thúcquá trình làm việc là có một cuộc sống ổn định, vui vẻ Với mong muốn đó chế
độ bảo hiểm hu trí có ý nghĩa lớn lao là đã mang lại cho ngời lao động một niềmtin trong lao động và trong cuộc sống
Nh vậy, chế độ hu trí là một chế độ có liên quan đến rất nhiều mặt trong quátrình tổ chức thực hiện Do vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hởng đến quá trìnhnghiên cứu để đi đến xác lập một chế độ bảo hiểm hu trí Sau đây là một số nộidung cơ bản:
1 Điều kiện để hởng bảo hiểm hu trí
Độ tuổi hởng chế độ BHXH dài hạn nói chung và chế độ hu trí nói riêng đóngmột vai trò quan trọng trong việc xác định chi phí của hệ thống chế độ Tuổi h-ởng chế độ hu trí có thể đợc ấn định theo một loạt các cân nhắc nh :
- Khả năng làm việc tổng thể của ngời cao tuổi
- Vị thế của ngời cao tuổi trong thị trờng lao động
động so với bình thờng hay những ngời có thể chất yếu không đủ sức đảm đơngcông việc
2 Thời gian đóng bảo hiểm
Thời gian đóng bảo hiểm hu trí là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí bảohiểm để đợc hởng chế độ này Việc quy định thời gian đóng phí BHXH nhằm xác
định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi ngời với xã hội nói chung và phần
đóng góp vào BHXH nói riêng Thời gian đóng BHXH là một trong những căn cứ
để đãi ngộ ( chi trả ) đối với ngời lao động nh theo luật định nhằm bảo đảm sự
Trang 6công bằng, bình đẳng giữa những ngời tham gia bảo hiểm xã hội, thực hiện mộttrong những nguyên tắc cơ bản của BHXH
Việc xác định thời gian đóng phí BHXH đợc dựa trên căn cứ: độ tuổi về hu, tỷ
lệ đóng góp , tuổi thọ của những ngời về hu, mức đợc hởng tóm lại tuỳ thuộcvào khả năng tài chính về chế độ hu trí nói riêng và BHXH nói chung Vềnguyên tắc nếu xuất phát từ việc đóng BHXH để hình thành quỹ sử dụng cho chế
độ hu trí thì phải tính đến tổng số thời gian đóng phí BHXH thực tế Còn trong ờng hợp ngời lao động làm việc trong những trờng hợp đặc biệt nh ngời lao độnglàm việc ở nơi độc hại, vùng sâu, vùng xa đợc điều lệ BHXH quy định số thờigian này đợc làm căn cứ để giảm tuổi đời khi nghỉ hu
tr-Trong các chế độ BHXH bắt buộc, đối với chế độ hu trí hầu hết các nớc đềuquy định điều kiện để đợc hởng chế độ phụ thuộc hai yếu tố đó là độ tuổi xác
định và số năm đóng BHXH
3 Mức phí
Cũng nh tất cả các chế độ bảo hiểm khác, chế độ hu trí liên quan đến mức phíthu cho chế độ này Trong thực tế mức thu cho chế độ này đợc xác định riêngtheo một tỷ lệ nào đó so với thu nhập hay tiền lơng dùng để tính BHXH và bảohiểm hu trí Đối với ngời lao động làm công ăn lơng thì thu nhập này thờng làtiền lơng Trong một số trờng hợp mức thu cho chế độ hu trí không xác địnhriêng mà đợc gộp chung vào một mức thu gọi là thu BHXH nói chung ở ViệtNam hiện nay thực hiện thu chung một mức phí BHXH cho tất cả các chế độBHXH đang đợc thực hiện mặc dù trong đó có định lợng phần giành cho các chế
độ bảo hiểm dài hạn nh bảo hiểm hu trí
Trong trờng hợp nh vậy phí hu trí đợc xác lập riêng và đợc xác định theo côngthức sau đây:
P = T * TBH * L
Trong đó : P : Mức phí đóng cho chế độ hu trí
TBH : Tỷ lệ thu BHXH tính theo thu nhập hay tiền lơng
L : Tiền lơng hay thu nhập dùng để tính phí BHXH và chế độ
hu trí
T : Tỷ lệ % đóng BHXH hu trí nói chung
Việc xác định phí nộp cho chế độ hu trí riêng ra hay gộp chung nh nói ở trêntuỳ thuộc điều kiện và mô hình hay phơng thức tổ chức hoạt động ở từng nớc.Nếu phí cho chế độ hu trí đợc xác định riêng thì sẽ tạo thuận lợi cho việc tínhtoán và quản lý cho chế độ này, nhất là khi nó đợc mở rộng ra những khu vực
Trang 7khác nhau mà ngời lao động ở đó có hình thức thu nhập không đồng nhất nh thunhập bằng tiền Tách riêng nh vậy cũng tạo ra sự linh hoạt hơn cho ngời tham giachế độ này.
Tuy nhiên, nếu tách riêng nh vậy cũng có nghĩa là các chế độ khác cũng đợctách riêng ra điều này làm cho hoạt động quản lý BHXH nói chung phải phức tạphơn Còn trong trờng hợp không xác định riêng mức thu phí cho từng chế độ thì
có thể công việc quản lý ít phức tạp hơn nhng lại phức tạp khi phải xác định phí
đóng cho bảo hiểm khi áp dụng cho ngời lao động có các hình thức thu nhậpkhác nhau
4 Mức hởng
Mức hởng là số tiền mà một ngời về hu nhận đợc hàng tháng kể từ khi nghỉ
h-u Hiện nay đang có những quan điểm khác nhau về mức hởng Về cơ bản có haiquan điểm chính Quan điểm thứ nhất cho rằng tiền lơng hu là để bảo đảm mứcsống tối thiểu của ngời nghỉ hu theo tiêu chuẩn sống của quốc gia Còn theo quan
điểm thứ hai thì cho rằng tiền lơng hu phải có giá trị bảo đảm cho ngời về hu cómức sống cao, thậm chí trên mức trung bình của xã hội Sự khác nhau này tấtnhiên sẽ dẫn đến mức đóng tơng ứng trớc khi đợc hởng cũng khác nhau
Trong thực tế, khuynh hớng nào cũng có lý khi giải thích nhng nếu xét về mứcsống của ngời về hu và đặt trong quan hệ với sự phát triển và ý nghĩa về sự hấpdẫn của BHXH đối với ngời lao động thì khuynh hớng thứ hai có sức thuyết phụchơn Những dù là mức hởng đợc xác định theo quan điểm nào thì vẫn phải đảmbảo yêu cầu có tính nguyên tắc là tiền lơng hu phải thấp hơn tiền lơng khi làmviệc
Tiền lơng đợc tính theo công thức sau: LH = T * L
Trong đó: LH : Tiền lơng hu đợc hởng
T : Tỷ lệ % dùng để tính lơng hu
L : Tiền lơng hay thu nhập dùng để tính lơng huNgoài ra, tuỳ theo luật pháp của từng nớc về chế độ này mà ngời nghỉ hu đợchởng thêm các quyền lợi nh trợ cấp một lần khi nghỉ hu, hay đối với những ngờilao động nghỉ việc cha đủ tuổi để hởng chế độ hu hàng tháng cũng nhận đợc trợcấp một lần và ngoài lơng hu hàng tháng, ngời nghỉ hu còn đợc bảo hiểm y tế doquỹ BHXH đài thọ , khi chết gia đình đợc hởng chế độ tử tuất
5 Thời gian hởng chế độ hu trí
Trang 8Thời gian hởng chế độ hu trí đợc hiểu là thời gian kể từ khi nghỉ hu cho đếnkhi qua đời Với mỗi ngời thì thời gian hởng lơng hu thông thờng là có khác nhauvì tuổi nghỉ hu và tuổi thọ không giống nhau Và do một trong những vấn đề cótính xã hội, tính bù trừ trong BHXH nên trong quản lý thờng lấy số bình quânchung thời gian hởng tiền lơng hu của ngời nghỉ hu trong cùng một hệ thốngBHXH để tính toán cho các chỉ tiêu khác.
Thời gian hởng tiền hu phải ngắn hơn thời gian đóng BHXH cho chế độ hu trí.Tuy vậy, thời gian nghỉ hu để hởng tiền lơng hu có thể khác nhau trong khi thựchiện chế độ bảo hiểm này Điều đó phụ thuộc vào các yếu tố nh tuổi đời khi nghỉ
hu theo quy định của pháp luật, tuổi thọ bình quân của ngời nghỉ hu Những yếu
tố này lại phụ thuộc vào chính sách lao động và BHXH trong từng giai đoạn, vàomức sống và điều kiện sống của dân c
Trong thực tế, tuổi nghỉ hu theo quy định của pháp luật thờng ổn định trongmột thời gian dài và nếu có thay đổi thì cũng ở trong khoảng từ 55 đến 60 tuổi
đối với ngời lao động bình thờng trong xã hội Trong trờng hợp đặc biệt có thể cónhững điều chỉnh nhng cũng dựa trên những độ tuổi đó Khi tuổi thọ bình quânngày càng tăng lên thì thời gian hởng chế độ hu trí cũng có xu hớng tăng lên.Vấn đề có tính quy luật này buộc các nhà nghiên cứu các chế độ chính sách vềlao động và BHXH phải tính đến để điều chỉnh tuổi về hu cho phù hợp
6 Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động của chế độ hu trí
BHXH nói chung cũng nh chế độ hu trí nói riêng là những phạm trù kinh tếtổng hợp, phản ánh rất nhiều mặt trong đời sống xã hội Do vậy, việc hình thành
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là hoàn toàn không đơn giản vì khó cóthể có đợc một hệ thống chỉ tiêu phản ánh đầy đủ tất cả các khía cạnh của lĩnhvực này Tuy nhiên việc xây dựng các chỉ tiêu này thực sự cần thiết và đó là cơ sởcho việc đánh giá trình độ phát triển và kết quả của BHXH trong đời sống xã hội.Thông thờng việc đánh giá kết quả hay hiệu quả của mỗi hoạt động nào đó chúng
ta phải so sánh với định hớng, mục tiêu đề ra Tính hiệu quả do vậy phản ánhtrong mức độ đạt đợc so với các mục tiêu đặt ra đó
Trong BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng , mục tiêu cao nhất là đạt
đ-ợc sự phát triển của BHXH và bảo đảm đời sống ngời về hu trên cơ sở của tiền
l-ơng hu ( còn gọi là thu nhập thay thế ) mà ngời lao động nhận đợc từ quỹ bảohiểm xã hội Góp phần bảo đảm an sinh và ổn định xã hội Các chỉ tiêu đánh giáhiệu quả cũng phải xoay quanh mục tiêu này Trong chế độ hu trí, do tính phức
Trang 9tạp của chế độ này mà hệ thống các chỉ tiêu phải bao gồm tất cả các chỉ tiêu địnhtính và các chỉ tiêu định lợng.
Theo quan điểm về hiệu quả nh trên ta thấy có thể có ba nhóm chỉ tiêu hiệuquả của hoạt động BHXH đó là :
Nhóm 1: Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hu trí
Nhóm 2 : Các chỉ tiêu đánh giá về sự phát triển của bảo hiểm hu trí
Nhóm 3 : Các chỉ tiêu đảm bảo lợi ích về kinh tế xã hội của ngời về hu
Sau đây là sự xác định cụ thể trong từng nhóm chỉ tiêu
6.1 Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hu trí
BHXH tập trung vào ba hoạt động chính đó là thu BHXH, quản lý quỹ BHXH
và chi trả BHXH Trong mỗi hoạt động đó có các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá mức
độ hiệu quả :
Thu bảo hiểm hu trí
Thu bảo hiểm hu trí là một chỉ tiêu tổng hợp và hiệu quả của nó đợc đánh giá
Thực chất là thực hiện thu đúng và đủ số ngời đóng bảo hiểm hu trí Thu đúng
ở đây chủ yếu là thu đúng đối tợng phải thu Số đối tợng phải thu hiện nay là sốngời lao động thuộc diện đóng BHXH bắt buộc, đăng kí tham gia đóng bảo hiểm
hu trí Họ phải đóng BHXH trong đó có chế độ hu trí Số ngời này thờng thay đổi
do có sự thay đổi của các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, nhất là số
ng-ời lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh Việc thu đúng thu đủ là rất cầnthiết để BHXH vừa đảm bảo lợi ích cho ngời lao động, vừa đảm bảo có những tácdụng tích cực với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng nh vớinền kinh tế nói chung Mục tiêu thu ở đây là đảm bảo thu 100% đối tợng thuộc
diện phải đóng BHXH và hu trí.
Chỉ tiêu này có thể áp dụng mở rộng ra cho tất cả số ngời lao động có nhu cầutham gia bảo hiểm hu trí, và rộng hơn nữa là toàn bộ số ngời lao động trong xãhội
- Thu đủ số tiền theo quy định cho chế độ hu trí
Số tiền thu đợc
Tỷ lệ % tiền thu đợc = * 100
Trang 10Số tiền phải thu
Số tiền thu đợc này phụ thuộc vào mức thu theo luật định và số lợng ngời màcác cơ quan BHXH đã thu đợc, hay số ngời trực tiếp đóng bảo hiểm xã hội Thu
đủ là rất quan trọng không chỉ vì nh đã đề cập ở trên mà đó còn là bảo đảm một
sự chủ động về nguồn tài chính, làm cho nguồn quỹ BHXH đợc ổn định, giúpduy trì các hoạt động bình thờng và ngày cáng phát triển của chế độ hu trí
- Thu đúng thời gian :
Đó là thời gian mà các đơn vị và cá nhân phải đóng BHXH theo quy định củapháp luật hiện hành Nếu không thu đúng thời gian sẽ ảnh hởng đến kế hoạch tàichính trực tiếp của chế độ hu trí Nhất là trong điều kiện chế độ hu trí áp dụngtheo cơ chế thu của ngời đóng trả cho ngời hởng Còn trong chế độ hu trí theo cơchế của đầu t ứng trớc thì thu kịp thời là một điều kiện quan trọng để ổn định vàphát triển quỹ hu trí trong tơng lai trên cơ sở các kế hoạch sử dụng quỹ để đầu tsinh lời
Chi trả BHXH
Trong hoạt động chi trả, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng tập trung vào cácnội dung chủ yếu sau đây:
- Chi trả đúng đối tợng
Đảm bảo tiền hu phải đến đúng ngời đợc hởng Đó phải là những ngời hội đủ
đợc điều kiện ràng buộc để đợc hởng chế độ hu trí Điều này có liên quan đếncông tác quản lý đối tợng hởng chế độ hu trí Khác với ngời lao động khi thamgia đóng bảo hiểm xã hội, sự di chuyển hay thay đổi nơi ở của từng ngời về huphụ thuộc vào khả năng và điều kiện sống mà họ lựa chọn Khi đó công tác quản
lý phải có sự linh hoạt tốt để không chỉ quản lý tốt mà còn đợc thực hiện chi trảthuận lợi đúng đối tợng đợc hởng chế độ này
- Chi trả đủ về số lợng
Chỉ tiêu chi trả đủ về số lợng phản ánh về số tiền chi trả đủ cho mọi đối tợng
đợc hởng hu trí theo quy định Đây là yêu cầu pháp lý, đợc luật quy định thànhcác mức tiền hu đợc hởng Chi trả đủ cho ngời về hu phải đợc đảm bảo trên cơ sở
số tiền mà quỹ hu trí có đợc dùng để thanh toán và sự an toàn của số tiền nàytrong quá trình chi trả cho các đối tợng đợc hởng chế độ hu trí
- Chi trả kịp thời gian
Chi trả kịp thời gian chính là việc bảo đảm ngời về hu phải đợc nhận lơng hu
đúng theo thời gian quy định Đây là điều rất quan trọng vì tiền hu là một loại thunhập thờng xuyên của ngời về hu Đối với các đối tợng này việc nhận lơng hu
Trang 11đúng hạn sẽ giúp cho họ có thể ổn định đợc đời sống Đối với các cơ quan bảohiểm điều này có ý nghĩa rất lớn trong quản lý nói chung và thanh quyết toán chochế độ hu trí nói riêng.
Các chỉ tiêu rất quan trọng trong quản lý quá trình thực hiện BHXH ở ViệtNam trong điều kiện hiện nay khi mà BHXH đang còn có nhiều thay đổi cho phùhợp với quá trình đổi mới nền kinh tế xã hội ở nớc ta
Quản lý quỹ hu trí
Chỉ tiêu của hoạt động này phản ánh qua quản lý số lợng tiền hay quy mô quỹbảo hiểm hu trí nhằm bảo toàn giá trị của quỹ hu trí cả về giá trị danh nghĩa vàgiá trị thực tế Đồng thời đó còn là việc sử dụng quỹ này vào các hoạt động khácnhau, làm phát triển không ngừng và nâng cao khả năng thanh toán của quỹ hutrí Đó chính là sự tăng cờng nguồn lực tài chính của chế độ hu trí ở đây cónhiều chỉ tiêu cụ thể:
- Bảo toàn giá trị của quỹ bảo hiểm hu trí
Chỉ tiêu về bảo toàn giá trị của quỹ bảo hiểm hu trí là bảo toàn giá trị thực tếcủa quỹ hu trí trong các thời kỳ quyết toán tránh đợc những tác động làm cho giátrị của quỹ này giảm đi Trong quá trình quản lý quỹ, có thể có các trờng hợp làmcho quỹ hu trí giảm đi nh:
+ Tiền quỹ bị tổn thất, mất mát
+ Tiền quỹ bị mất giá do lạm phát
+ Tiền quỹ đầu t không thu hồi đợc
+ Tiền quỹ không thu hồi đợc ( nợ, nộp chậm )
+ Các thất thoát khác
- Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hu trí qua các thời kỳ
Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hu trí qua các thời kỳ là một trong những chỉ tiêuquan trọng nhất trong quản lý quỹ bảo hiểm hu trí hiện nay Để bảo đảm cho mộttiềm lực tài chính ổn định và vững mạnh, quỹ hu trí phải tăng lên không ngừng
Sự tăng lên này chủ yếu từ hai nguồn là :
+ Tăng thêm số ngời tham gia vào chế độ hu trí
+ Sử dụng quỹ hu trí đầu t vào các hoạt động mang lại lợi nhuận một
cách an toàn
Tốc độ tăng thực tế của quỹ hu trí nh vậy phải cao hơn tốc độ tăng của số ngờitham gia vào chế độ hu trí và tất nhiên phải tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăngcủa chi trả cho chế độ này Có nh vậy mới tạo đợc sự vững chắc, ổn định và pháttriển không ngừng của chế độ hu trí
Trang 12- Khả năng cân đối thu chi của quỹ BHXH
Chỉ tiêu khả năng cân đối thu chi quỹ bảo hiểm hu trí phản ánh độ an toàn củaquỹ hu trí nói riêng và sự tồn tại chế độ hu trí nói chung Để bảo đảm tránhnhững rủi ro, thì quỹ tiền hu phải đủ đảm bảo chi trả các khoản chi của chế độnày chủ yếu bao gồm chi tiền lơng hu cho ngời nghỉ hu và chi cho hoạt độngquản lý Đây là điều kiện cần thiết bất kể áp dụng phơng pháp cụ thể nào để tạolập quỹ
Tổng thu và tổng chi trong biểu thức điều kiện trên đợc xác định và so sánhtại một thời điểm tính toán Tổng thu và tổng chi có thể đợc xác định khác nhautuỳ theo phơng pháp tạo quỹ đợc áp dụng trong hệ thống hu trí Vì theo các ph-
ơng pháp khác nhau có thể cơ cấu thu và chi cũng sẽ khác nhau
6.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của chế độ hu trí
Mở rộng phạm vi đối tợng tham gia chế độ bảo hiểm hu trí
Chỉ tiêu mở rộng phạm vi đối tợng tham gia chế độ bảo hiểm hu trí đợc tínhqua tỷ lệ ngời lao động trong xã hội thực hiện vào chế độ hu trí trong tổng số lao
động nói chung Đây là chi tiêu phản ánh kết quả thực hiện mục tiêu mở rộngphạm vi hoạt động của chế độ hu trí Trong điều kiện ở các nớc có nền kinh tếkém phát triển, số ngời tham gia vào chế độ hu trí không nhiều thì chỉ tiêu này đ-
ợc sử dụng để đánh giá quy mô và sự phát triển của chế độ hu trí qua các thời kỳ.Theo đuổi mục tiêu mọi ngời đều có quyền và đợc tham gia vào BHXH để h-ởng chế độ hu trí nên trong quá trình phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động sốngời tham gia vào chế độ này phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng nguồn lao động xãhội Tỷ lệ tăng số lợng ngời tham gia chế độ hu trí đợc xác định trên cơ sở mụctiêu mở rộng của chế độ này ở đây có thể lợng hoá chỉ tiêu này qua tỷ lệ phầntrăm số ngời tham gia vào chế độ bảo hiểm hu trí và tốc độ tăng của tỷ lệ này quacác năm Ngoài ra, cũng có thể tính thêm chỉ tiêu tỷ lệ tăng tơng đối so với tỷ lệtăng lao động xã hội
Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hu trí
Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hu trí là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh sựtăng thêm các hình thức mới trong việc đóng phí bảo hiểm và hởng chế độ hu.Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển về tổ chức hệ thống và các hoạt động của chế
độ hu trí, qua đó tăng cơ hội và khả năng để mọi ngời có thể tham gia vào chế độ
Tổng thu thực tế > Tổng chi
Trang 13này Hiện nay ở Việt Nam chúng ta mới áp dụng một hình thức đóng để hởng chế
độ hu trí trong đó dựa chủ yếu vào thời gian đóng và tuổi đời khi nghỉ hu
Tuy nhiên sự khống chế về số năm đóng tối thiểu nh luật định hiện nay là 15năm kèm với điều kiện tuổi đời chỉ thích hợp với ngời có công việc làm và thunhập ổn định để đóng bảo hiểm xã hội, nhất là lao động làm việc trong các doanhnghiệp thuộc sở hữu Nhà nớc Việc linh hoạt về thời gian đóng BHXH làm chonhiều ngời có nhu cầu, có thêm cơ hội để tham gia vào chế độ này
Xét trên một góc độ khác, mức đóng cố định chỉ phụ thuộc vào mức thu nhậphay tiền lơng để tính BHXH cũng sẽ làm giảm sức hấp dẫn của chế độ này khinhiều ngời muốn đóng thêm trên mức bình thờng để sau đó đợc hởng mức tiềncao hơn
6.3 Các chỉ tiêu bảo đảm quyền lợi kinh tế và xã hội của ngời về hu
Quyền lợi về kinh tế xã hội cho ngời về hu phải đợc phản ánh trong thực tế
đời sống kinh tế xã hội Có thể dùng các chỉ tiêu sau đây để đánh giá :
Mức bảo đảm các tiêu chuẩn sống của ngời về hu
Chỉ tiêu này phản ánh qua mức lơng của ngời về hu nhận đợc và mức bảo đảmthực tế cho cuộc sống của ngời về hu qua tiền hu Khi tính toán cụ thể, mức bảo
đảm của tiền lơng hu phải đợc tính đến các mặt nh :
- Mức tiền lơng : mức tiền lơng phải bảo đảm đầy đủ duy trì cuộc sống của
ng-ời hởng lơng hu ở đây vừa phải bảo đảm giá trị tiền lơng danh nghĩa vừa bảo
đảm cả giá trị thực tế là sức mua của tiền lơng Nghĩa là khi có những tác độnglàm mất giá trị của tiền lơng hu nh tác động của lạm phát thì cần phải đợc điềuchỉnh kịp thời
Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những ngời nghỉ hu
Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những ngời nghỉ hu phải đợc so sánh đánhgiá giữa đóng góp và hởng thụ, theo nguyên tắc đóng nhiều hởng nhiều, đóng íthởng ít Khác với các chế độ bảo hiểm ngắn hạn, điều này rất cần đối với chế độ
Trang 14hu trí vì việc đóng phí và hởng trong chế độ hu trí liên quan đến những khoảntiền rất lớn trong thu và chi trả Và có ảnh hởng rất lớn đến cuộc sống của các đốitợng tham gia cả trong khi đóng và hởng theo chế độ này Sự công bằng cũng cónghĩa tham gia chế độ hu trí nh nhau thì quyền lợi đợc hởng cũng phải nh nhau
Tăng sự tác động tích cực của chế độ hu trí đến phát triển kinh tế và sử
dụng có hiệu quả lực lợng lao động xã hội
Sự tác động tích cực của chế độ bảo hiểm hu trí đến sự phát triển kinh tế và ổn
định xã hội là một chỉ tiêu mang tính định tính khó lợng hoá Nhng đây là mộtchỉ tiêu rất quan trọng vì có tác dụng trực tiếp đến không chỉ ngời về hu mà bảnthân ngời lao động đang làm việc đã và có thể sẽ tham gia vào chế độ hu trí Chế
độ hu trí phải góp phần ổn định kinh tế xã hội thông qua việc sử dụng có hiệuquả lực lợng lao động đang làm việc trong xã hội Chẳng hạn một chế độ hu trítốt làm cho lao động trong xã hội đợc điều hoà hợp lý, cân đối hơn giữa các khuvực và thành phần kinh tế, qua đó nguồn lực lao động đợc khai thác và huy động
đúng mục đích Việc sử dụng lực lợng lao động sẽ hiệu quả hơn Đảm bảo tái sảnxuất sức lao động xã hội, an toàn xã hội
III Kinh nghiệm thực hiện chế độ bảo hiểm hu trí ở một số nớc
trên thế giới
1 Nội dung của chế độ Bảo hiểm hu trí ở một số nớc trên thế giới
1.1 Về điều kiện tuổi đời
ở các nớc khác nhau, tuỳ theo các nhân tố dân số và kinh tế xã hội mà có sựquy định tuổi đời khác nhau giữa các nhóm nớc và khác nhau giữa nam và nữtrong cùng một nớc Có thể có một số nớc quy định độ tuổi nam và nữ nh nhaunhng có một số nớc khác lại quy định tuổi nghỉ hu của nữ thấp hơn nam Xác
định tuổi nghỉ hu phụ thuộc rất nhiều yếu tố kể cả phụ thuộc vào nớc có dân sốgià hay trẻ Đối với nớc có dân số già, số ngời nghỉ hu lớn, vì vậy họ phải nângtuổi nghỉ hu thờng cao hơn so với các nớc đang phát triển Theo số liệu của vănphòng lao động quốc tế trong 24 nớc thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế( OCDE ) và trong 40 nớc đang phát triển thì tuổi nghỉ hu cao nhất chung đối vớinam và nữ nh sau :
Trang 15( Nguồn: BHXH Việt Nam )
Ngoài ra, các nớc còn quy định hạ tuổi nghỉ hu so với tuổi nghỉ hu bình thờng
đối với những ngời làm những ngành nghề công việc trong điều kiện lao độngnặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Điều kiện về tuổi đời nghỉ hu ở một số nớc đợc thể hiện :
- Nhóm Bắc Mỹ
+ Mỹ, Canada : 65 tuổi ( chung cho cả hai giới )
- Nhóm Châu Âu
+ Anh : 65 tuổi (nam) và 60 tuổi (nữ)
+ Pháp : 60 tuổi ( tối đa là 65 tuổi)
+ Đức : 65 tuổi (nam) và 63 tuổi (nữ)
- Nhóm các nớc Châu á ( Ngoài ASEAN )
+ Trung Quốc : 60 tuổi (nam) và 55 tuổi (nữ)
+ Nhật Bản : 60 tuổi(nam) và 55 tuổi (nữ)
+ ấn độ : 55 tuổi(chung cho cả hai giới)
- Nhóm các nớc ASEAN
+ Indonesia: 55 tuổi (cho cả hai giới)
+ Malaysia : 55 tuổi(cho cả hai giới)
+ Xingapo : 55 tuổi (cho cả hai giới)
+ Philipin : 60 tuổi (cho cả hai giới)
Nh vậy có thể thấy tuổi nghỉ hu của các nớc giao động trong khoảng từ 55 đến
65 tuổi và có phân biệt giới tính Qua thống kê cho thấy chỉ có 34.62% số nớc cóquy định tuổi nghỉ hu ở cả nam và nữ là nh nhau Đa số các nớc ASEAN quy
định tuổi nghỉ hu chung cả nam và nữ là 55 tuổi
đòi hỏi số năm bắt buộc phải đóng BHXH phải cao Số năm đóng BHXH thấp(nhng không đợc thấp hơn số năm tối thiểu) thì mức trợ cấp thấp hơn
Quy định thời gian đóng BHXH (tối thiểu) của một số nớc nh sau :
- Mỹ, Anh : Đóng góp 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc
- Pháp : Ngời tham gia BHXH phải đóng góp 150 tháng liên tục
- Philipin : 120 tháng liên tục
ở một số nớc ở Đông Nam á không quy định cụ thể thời gian đóng phíBHXH
1.3 Về mức trợ cấp hu trí
Trang 16Có rất nhiều cách xác định mức trợ cấp hu trí Một số nớc xác định mức đồng
đều, coi là mức tối thiểu thích hợp với mặt bằng chung của quốc gia Nhiều nớcxác định mức trợ cấp theo thu nhập đã từng có của ngời lao động khi nghỉ hu.Một số nhóm nớc khác kết hợp cả hai cách
Trong phần trợ cấp có phần nền(cơ bản) là một mức đồng nhất cộng thêmphần tỷ lệ thu nhập Tuy nhiên xu hớng chung là trợ cấp theo mức thu nhập đãtừng có của ngời lao động trớc khi nghỉ hu, phù hợp với đa số trờng hợp là đónggóp BHXH theo thu nhập
Mức trợ cấp hu của một số nớc:
- Mỹ : Mức trợ cấp hu đồng nhất, tối đa là 11280USD/tháng, tính trên thu
nhập đợc bảo hiểm cho tới khi nghỉ hu
- Anh : 32,85 Bảng/tuần cộng 12% thu nhập đợc bảo hiểm trong nớc
- Pháp : 50% thu nhập bình quân trong vòng 10 năm cao nhất Lơng đợc tính
theo các lần thay đổi lơng
- Đức : 1,5% “lơng ớc tính” là tỷ lệ giữa thu nhập của ngời lao động so với
múc lơng trung bình của cả nớc nhân với “cơ sở tính toán chung”hiện thời
- Ba lan : 100% thu nhập bình quân của mức dới 3000 ZLOTY một tháng
của 12 tháng gần nhất cộng với 55% của phần còn lại và tăng 4%trợ cấp tính theo trợ cấp cơ bản cho mỗi năm công tác trên 20 năm
- Trung quốc : 60 đến 90% thu nhập trong tháng cuối, phụ thuộc vào thời
gian công tác
- ấn độ: Trả một lần tơng ứng với số đóng góp của chủ và thợ đã trả cộng với
7,58 % lãi
- Indonexia : Ngời nghỉ hu đợc nhận một khoản trợ cấp một lần tơng đơng
với mức mà ngời sử dụng lao động và ngời lao động đã đóng góptrong suốt quá trình tham gia BHXH, cộng với khoản tiền lãi tăngthêm
- Malaysia : Tơng tự nh Indonexia
- Philipines : 1,5% lơng bình quân của 120 tháng cuối cộng với từ 42 đến
102% của tiền lơng bình quân của 10 tháng lơng
1.4 Về mức đóng góp
Mức đóng góp cho chế độ hu cũng có sự khác nhau giữa các nhóm nớc Tuynhiên ở hầu hết các nớc đều có sự phân chia đóng góp giữa giới chủ và giới thợ
và đóng riêng cho chế độ hu chứ không gộp vào các chế độ khác chẳng hạn:
- Mỹ: Ngời lao động đóng 6,2% tiền lơng ( nếu là lao động độc lập phải
đóng 12,4% ), ngời sử dụng lao động đóng 6.2 % tổng quỹ lơng.Tiền lơng cao nhất đợc dùng làm căn cứ để đóng BHXH là 57000USD/ năm
- Anh : Ngời lao động đóng 2 % của 54 Bảng/ tuần đầu tiên cộng thêm 9%
l-ơng tuần của tiền ll-ơng từ 54 đến 405 Bảng Ngời sử dụng lao động
đóng từ 4,6 % đến 10,4 %
- pháp : Ngời lao động đóng 6,54 % trong thu nhập đợc tính BHXH của
mình, ngời sử dụng lao động đóng 8,2 % tiền lơng tối đa để đóngBHXH là 12360 FRANCS một tháng
Trang 17- Đức : Ngời lao động đóng 8,75 % tiền lơng, nếu ngời lao động có thu nhập
dới 610 DM / tháng thì không phải đóng BHXH Ngời lao động độclập phải đóng 15,7% Ngời sử dụng lao động đóng 8,75 % quỹ lơng
và đóng 7,5% nếu trong doanh nghiệp có ngời lao động có thu nhậpthấp hơn 610 DM / tháng
2 Một số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chế độ hu trí ở một số nớc trên thế giới
Qua nghiên cứu về quá trình tổ chức và thực hiện hệ thống hu trí của một số
n-ớc trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- ở hầu hết các nớc vai trò của Nhà nớc, Chính phủ trong hệ thống hu trí là rấtquan trọng Nhà nớc với t cách là ngời đề ra định hớng cho sự hoạt động hu trí và
là một sự bảo trợ rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống này Đặcbiệt là bảo trợ về tài chính ở các mức độ và hình thức khác nhau
- Xu hớng đa dạng hoá về tổ chức thực hiện, về nội dung và phơng thức tiếnhành trong chế độ hu trí là phổ biến Mặc dù vai trò của nhà nớc là rất quan trọng
nh đã nêu ở trên nhng tham gia hoạt động trong hệ thống hu trí không chỉ có các
tổ chức của nhà nớc, các tổ chức khác ngoài khu vực nhà nớc cũng có thể thamgia với điều kiện tuân thủ đúng những quy định trong luật BHXH và hu trí Đây
là một trong những điều kiện quan trọng nhất để mọi thành viên trong xã hội cónhu cầu đều có thể tham gia vào chế độ hu trí
- BHXH nói chung cũng nh bảo hiểm hu trí nói riêng đối với mỗi nớc có những
đặc trng riêng về tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình dân số và lao động
mà có những vận dụng cụ thể vào xây dựng cho mình một hệ thống hu trí phùhợp về nội dung và hình thức thực hiện Các yếu tố quan trọng để xác lập chế độ
hu trí ở các nớc khác nhau cũng khác nhau chẳng hạn tuổi đời, mức sống, mức
đóng góp Trong đó phải đảm bảo đợc lợi ích chính đáng của ngời tham gia chế
độ hu trí và duy trì sự ổn định, đảm bảo cho hệ thống hu trí phát triển
- Trong tất cả các nớc, hệ thống chế độ hu trí là cốt lõi của hệ thống các chế độBHXH nói chung Trong khi các hệ thống BHXH khác có thể thực hiện bởi các
tổ chức bảo hiểm khác nhau, (nh bảo hiểm thơng mại về con ngời ) thì bảo hiểm
hu trí chỉ có thể đợc thực hiện trong hệ thống BHXH Cải cách hệ thống BHXHchủ yếu và thực chất là cải cách chế độ hu trí
- Hệ thống chế độ hu trí theo phơng pháp PAYGO (thu phí của ngời tham giahiện tại chi trả cho ngời đang hởng chế độ) đã từng đợc thực hiện trên hầu hết cácnớc có hệ thống BHXH nhng đến nay hệ thống này bộc lộ nhiều nhợc điểm vàcần phải đợc thay thế bằng hệ thống khác Hệ thống mới là các nớc thực hiệntheo phơng pháp đầu t ứng trớc Nhng đó là quá trình chuyển đổi trong một thờigian dài
Nh vậy có thể nói BHXH và chế độ hu trí đang là một trong những vấn đề xãhội quan tâm rất lớn, có ý nghĩa kinh tế và chính trị rất quan trọng Nhận thức
đúng về bản chất chức năng của BHXH và chế độ hu trí đang còn là cả một quátrình Chế độ hu trí đã đợc thực hiện từ rất lâu và có vai trò ngày càng quan trọngtrong xã hội nhng quá trình phát triển cũng là quá trình tiếp tục nghiên cứu và đổimới, hoàn thiện không ngừng
Trang 18Phần II : Thực trạng chế độ bảo hiểm hu trí
tại BHXH ở Việt Nam
I chế độ chính sách bảo hiểm hu trí ở Việt Nam
Trong hệ thống BHXH ở mỗi quốc gia trên thế giới, vai trò và ảnh hởng củachế độ bảo hiểm hu trí là rất lớn, bởi lẽ chế độ hu trí có ảnh hởng lớn nhất đếncuộc đời những ngời tham gia BHXH Chế độ hu trí cũng là một phơng tiện cóthể ổn định đợc phần nào đời sống ngời về hu, đặc biệt là với những ngời cô đơnkhông nơi nơng tựa hoặc những ngời đã có những đóng góp đặc biệt cho xã hội.Thực hiện tốt chế độ hu trí trong hệ thống chế độ BHXH sẽ góp phần nâng cao
đời sống xã hội giảm bớt khó khăn cho ngời về hu cũng nh khó khăn chung cho
bộ phận dân c khác, nâng cao uy tín của BHXH và các chế độ khác Có thể nóitrong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ hu trí là chế độ quan trọng hàng đầu
Nó đã, đang và sẽ là một chế độ BHXH có quy mô hoạt động to lớn về cả số lợng
và chất lợng
Chính sách BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng khi áp dụng ở nớc ta
đã có vai trò rất to lớn tuy nhiên cũng còn bộc lộ một số nhợc điểm mà ta có thểthấy qua các thời kỳ thực hiện sau :
1 Giai đoạn trớc năm 1995
Điều lệ tạm thời về BHXH năm 1961
Ngay sau cách mạng tháng tám năm 1945, Nhà nớc Cộng hoà Xã hội chủnghĩa Việt Nam, lúc đó là Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thực hiện cácchế độ BHXH cho công nhân viên chức Điều đó đợc thể hiện qua việc ban hànhsắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm tai nạnlao động và bảo hiểm hu trí Cùng với sắc lệnh 29/SL, một số sắc lệnh khác nh
Trang 19sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 cũng đợc banhành sau đó, nhằm thực hiện tốt hơn các chế độ cho ngời tham gia bảo hiểm xãhội.
Các chế độ này đợc thực hiện đối với những ngời làm việc trong các cơ quancủa chính phủ và chính quyền các cấp trong thời kỳ kháng chiến chống thực dânPháp (1945-1954) Song các chế độ này vẫn còn nhiều hạn chế, một phần dothực hiện trong thời kỳ kháng chiến, điều kiện kinh tế còn khó khăn thiếu thốn,tất cả mọi ngời cha quan tâm đến việc hởng chế độ, tất cả phải lo cho tình hìnhkháng chiến
Sau khi hoà bình lập lại trên miền Bắc, các chế độ đó mới chỉ đáp ứng cục bộnhững đòi hỏi trong từng giai đoạn và từng ngành hoạt động, chỉ nhằm giải quyếtcác nhu cầu trớc mắt nên cha đồng bộ, toàn diện và lâu dài
Trớc tình hình kinh tế, chính trị có những bớc phát triển nhất định cùng vớiviệc thay đổi lại chế độ tiền lơng Quán triệt dần nguyên tắc “phân phối theo lao
động”Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 về
“ Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH thống nhất trong cả n ớc Các chế
độ này đợc chính thức thi hành từ ngày 1/1/1962 trên cơ sở hình thành và sử dụngquỹ BHXH tập trung, do sự đóng góp của các nhà máy, xí nghiệp và các cơ quanNhà nớc Quỹ BHXH đợc quản lý và sử dụng vì lợi ích của công nhân viên chứclàm việc trong khu vực Nhà nớc Việc quản lý BHXH do hai cơ quan quản lý đólà: Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quản lý 3 chế độ ngắn hạn là: ốm đau, thaisản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, còn Bộ Lao động - Thơng binh - Xãhội quản lý 3 chế độ dài hạn là hu trí, tử tuất, mất sức lao động Điều lệ này thựchiện 6 chế độ BHXH cho ngời lao động trong đó có quy định cụ thể về chế độ hutrí
Trong điều lệ, từ điều 42 đến điều 53 có quy định cụ thể về chế độ hu trí nhquy định về thời gian công tác, tuổi đời và điều kiện lao động của công nhân viênchức Nhà nớc Cụ thể :
- Quy định tuổi nghỉ hu đối với nam là 60 tuổi và nữ là 55 tuổi Số năm côngtác quy định chung là 25 năm, đối với những ngời lao động làm việc ởnhững ngành nghề độc hại nguy hiểm thì giảm 5 năm so với quy định
- Những ngời làm việc trong điều kiện làm việc đặc biệt, hoặc ở trong quânngũ thì thời gian công tác của họ đợc quy đổi theo hệ số
Chế độ hu trí trong giai đoạn này chỉ đợc thực hiện cho cán bộ công nhân viênchức làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nớc và quân nhân trong lực lợng vũtrang
Trang 20Qua đó ta có thể thấy : việc ban hành Nghị định 218/CP kèm theo điều lệ tạmthời về BHXH là một bớc ngoặc lớn trong sự nghiệp BHXH ở nớc ta Lần đầutiên quyền lợi và nghĩa vụ của ngời lao động đợc quy định cụ thể trong chế độ hutrí Từ đây, bảo hiểm hu trí đợc thống nhất và có đầy đủ tính pháp lý Điều lệ đãgiải quyết đợc vấn đề tính toán thời gian của ngời lao động cho phù hợp với tìnhhình thực tế Từ đó đánh giá đúng mức đóng góp của ngời lao động cho xã hội và
đa ra các mức lơng tơng ứng
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số điểm tồn tại:
- Thời gian công tác nói chung là tất cả thời gian mà ngời công nhân viênchức làm việc lấy lơng hay sinh hoạt phí Nếu thời gian công tác nói chung
đối với nam là 25 năm và với nữ là 20 năm mà không có thời gian công tácliên tục trong 5 năm thì họ không đợc trợ cấp hu trí Nh vậy thì rất thiệtthòi cho ngời lao động Đối với lao động nữ khi đủ 5 năm công tác liên tục
và có thời gian công tác nói chung nhiều hơn 25 năm nhng họ cũng chỉ đợchởng 45% lơng chính Ngoài ra, do việc quy đổi hệ số thời gian công tácnên đã dẫn đến tình trạng số ngời về hu có độ tuổi về hu thực tế thấp hơnnhiều so với quy định Thậm chí có ngời số năm công tác quy đổi gần bằngtuổi đời
- Điều lệ này vẫn còn nhiều hạn chế trong chính sách BHXH nói chung vàchế độ hu trí nói riêng Nh trong quy định về thu chi thì điều lệ không gắnthu với chi Thu chi đều do quy ớc không có quỹ BHXH riêng mà chỉ cóquỹ BHXH “ độc lập ” trong ngân sách Trên thực tế khi bắt đầu thực hiện
điều lệ này, cơ quan chủ quản về BHXH đã phải tiến hành chi ngay chochế độ hu trí đối với nhiều ngời từ trớc năm 1962 Do đó ngân sách dànhcho chi lại càng cao Chính vì vậy, điều lệ năm 1961 cần đợc sửa đổi, bổsung tiếp
Nghị định 236/HĐBT và chế độ hu trí đối với ngời lao động
Trải qua thời gian thực hiện các chế độ, chính sách BHXH trên cơ sở điều lệtạm thời về BHXH lại ở thời kỳ đất nớc đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tếgặp rất nhiều khó khăn nên việc thực hiện còn nhiều hạn chế
Trớc tình hình thực tế đó, trên cơ sở kế thừa các u việt trong điều lệ tạm thời
về BHXH ban hành kèm theo NĐ 218/CP, Nhà nớc đã ban hành NĐ 236/HĐBTngày 18/9/1985 với nội dung nh sau :
- Về tuổi đời: Nghị định quy định nam công nhân viên chức đủ 60 tuổi( nếu
là quân nhân thì đủ 55 tuổi ) và có đủ 30 năm quy đổi, nữ công nhân viênchức có đủ 55 tuổi ( nếu là quân nhân thì đủ 50 tuổi ) và có đủ 25 nămcông tác quy đổi thì đợc hởng chế độ hu trí Tuỳ theo điều kiện lao động,
Trang 21chiến đấu, thời gian công tác mà có hệ số quy đổi khác nhau, ngời về hu
đ-ợc hởng hai khoản là: trợ cấp một lần và tiền hu hàng tháng
- Cơ sở để tính lơng hu hàng tháng là lơng chính và phụ cấp thâm niên( nếu
có ) ở tháng cuối cùng trớc khi nghỉ hu Trong trờng hợp sức khoẻ giảm súthoặc do yêu cầu công tác phải chuyển sang công tác khác hoặc hởng lơngthấp hơn mức cũ thì lấy mức lơng cao nhất trong 10 năm trớc khi nghỉ hu
- Về mức trợ cấp một lần trớc khi nghỉ hu tính trên tiền lơng chính cộng vớitất cả các khoản trợ cấp đang hởng của công nhân viên chức và quân nhânsau thời gian nghỉ nguyên lơng Cụ thể là :
Nh vậy, việc thực hiện chế độ hu trí theo Nghị định này về cơ bản cũng giống
nh giai đoạn trớc đó là còn nhiều hạn chế về tuổi đời, hệ số, phạm vi thực hiện
Cụ thể là :
- Phơng pháp tính thời gian quy đổi tuy có nhiều điểm chặt chẽ song đã gây
ra một số vớng mắc cho ngời lao động trong việc dò tìm hồ sơ khi về nghỉ
hu Việc tính thời gian quy đổi đôi khi gây ra sự mất cân đối
- Trong thực tế, tuổi nghỉ hu trung bình vẫn còn thấp do đợc cộng cả hệ số u
đãi xã hội về thời gian và năm làm việc thực tế thành số năm đợc nhận
l-ơng hu Mặt khác lại còn chế độ u đãi với những đối tợng có sức khoẻgiảm sút từ 18% trở lên
- Phạm vi thực hiện chế độ vẫn còn hạn hẹp, chỉ áp dụng đối với công nhânviên chức Nhà nớc, chiếm xấp xỉ 12% tổng số lao động của cả nớc nhng lạirất tràn lan Chế độ bị lẫn lộn giữa bảo hiểm và u đãi Cơ quan quản lýkhông thống nhất bao gồm cả Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội, tổngliên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ y tế phụ trách việc giám định khảnăng lao động Còn xét một cách tổng hợp để cho công nhân viên chức vềnghỉ mất sức lao động hoặc về hu, do các cơ quan xí nghiệp, các bộ ngành,các đoàn thể các cơ quan đảng đoàn thể chính quyền và các cấp ra quyết
định cơ quan phụ trách theo dõi lại không ký quyết định cho nghỉ hu là
điều bất hợp lý Mặt khác giữa thu với chi không gắn liền với nhau, phân
Trang 22tán, nhiều chỗ gây ra tình trạng thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết chongời lao động về hu đúng chế độ chính sách hiện hành.
- Tỷ lệ trợ cấp hu so với lơng cơ sở có mức cao nhất là 95% là một mức quácao, không thực tế Trên cơ sở cân bằng thu chi, ở cùng một thời điểm, tiềnthu BHXH là từ những ngời đang đóng BHXH phải đáp ứng đợc việc chitrả cho những ngời đang hởng trợ cấp hu trí trong cùng thời gian đó Song
số ngời lao động chỉ bằng hơn 4 lần số ngời đang hởng trợ cấp trong cùngthời gian Tỷ lệ nộp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao động là20% vậy nếu xét về tổng số, số tiền thu BHXH không đủ để chi cho tỷ lệtrợ cấp 95% lơng của chế độ hu trí không kể còn phải chi trả một số chế độkhác nh: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Do vậy,ngân sách nhà nớc luôn phải bù thiếu, chính vì lẽ đó mà cần phải hạ thấp tỷ
lệ trợ cấp đối với những ngời về hu
- Điều kiện hởng chế độ hu trí còn lệ thuộc quá nhiều vào yêu cầu chính trịcủa từng thời kỳ, còn bị chi phối bởi chủ trơng tinh giảm biên chế Chonên số ngời về hu trớc tuổi còn rất cao ( trên 80% ) thậm chí có ngời về hu
ở độ tuổi 40, khi về hu có thời gian hởng lơng hu rất dài, có thể có thờigian hởng nhiều hơn cả thời gian công tác Trong khi đó tiền đóng BHXH
là 5% chỉ bằng một phần nhỏ trong tỷ lệ trợ cấp hu trí không kể trong quátrình công tác đợc hởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp và sau này còn chế độ tử tuất Trong khi đó những ng-
ời về hu đủ tuổi, có thời gian công tác lâu dài lại đợc hởng hu ngắn hơn do
có thể họ chết sớm Tất cả những điều đó làm giảm ý nghĩa kinh tế cũng
nh xã hội chế độ hu trí Do vậy làm cho thiếu công bằng giữa đóng góp vàhởng thụ
- Mức chi trả trợ cấp hu trí nói chung là thấp, bình quân là 52.600đ /tháng/ngời, tiền lơng hu thấp nhất là 52.000 đ/tháng / ngời ( cha kể bù giá) Nếu
so với năm 1985 tiền lơng hu danh nghĩa cuối năm 1991 tăng 209,75 lầntrong khi chỉ số giá cả tăng 536,8 lần cho nên tiền lơng hu thực tế chỉ còndới 38% so với tháng 9/1985
- Ngoài ra đối tợng tham gia đóng BHXH theo NĐ 236/HĐBT vẫn chỉ baogồm công nhân viên chức Nhà nớc mà không có một phần đông đảo ngờilao động ở các đơn vị kinh tế khác Trong khi các đơn vị kinh tế phi Nhà n-
ớc đang ngày càng phát triển nh: Công ty liên doanh, công ty TNHH, tnhân Đây là đối tợng rất lớn mà BHXH cần phải khai thác
Trang 23Nh vậy, trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1993 chính sách và hệ thốngBHXH đợc tổ chức thực hiện dựa trên các quy định trong nghị định 218/CP vàNĐ 236/HĐBT và một số quyết định khác của Nhà nớc Thời gian này do ảnh h-ởng của hệ thống chính sách bao cấp cũ nên đã bộc lộ những mặt hạn chế nh:phạm vi đối tợng hẹp, sử dụng thời gian quy đổi quá lạm dụng, quỹ BHXH khôngphát huy đợc vai trò là xơng sống của cả hệ thống, mức trợ cấp hu trí không bảo
đảm ổn định cuộc sống cho các đối tợng, cha có quan hệ đóng BHXH với hởngBHXH mà chỉ có quan hệ hởng BHXH với tiền lơng Chế độ hu trí bị chi phối bởinhiều chính sách xã hội khác và tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH phân tán, hànhchính quan liêu
Nh vậy, các chính sách chế độ BHXH hiện tại không còn phù hợp nữa, nómang trong mình rất nhiều nhợc điểm, gây ra nhiều khó khăn phức tạp trongcông tác quản lý và sử dụng lao động, đặc biệt không đáp ứng đợc yêu cầu của cơchế kinh tế nhiều thành phần và không bảo đảm đợc quyền lợi của ngời lao động,sức lao động trong cơ chế thị trờng đã trở thành hàng hoá Vì vậy đổi mới vàhoàn thiện hệ thống BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng là một đòi hỏi tấtyếu khách quan và cần phải làm ngay cho phù hợp với tình hình thực tế hiện tại
Nghị định 43/CP và chế độ hu trí
Khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà
n-ớc, cơ chế hoạt động của BHXH cũ không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải có sự
đổi mới Trong bối cảnh xí nghiệp quốc doanh gắn với thị trờng hoạt động theonguyên tắc bảo toàn vốn đợc giao, đồng thời tự trang trải chi phí, tự phát triển vànộp nghĩa vụ với NSNN thì bảo hiểm hu trí cũng phải tự tách khỏi sự bao cấp củaNhà nớc, hoạt động độc lập, tự hạch toán lấy thu bù chi, sự hỗ trợ của NSNN chỉ
là một phần nhỏ Với việc phát triển nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, cácloại hình doanh nghiệp ngày càng đợc mở rộng, sự chuyển dịch lao động và quan
hệ lao động cũng có những thay đổi Chính vì vậy, cùng với đội ngũ CNVC Nhànớc còn có hàng chục triệu ngời lao động làm việc trong các thành phần kinh tếngoài quốc doanh Vì vậy, bảo hiểm cho mọi ngời lao động cần đợc mở rộng,thống nhất, bình đẳng, đảm bảo nguyên tắc có đóng có hởng đóng ở mức nào h-ởng ở mức đó, giảm bớt gánh nặng cho NSNN
Trớc những vấn đề bức thiết đặt ra trong công cuộc đổi mới này để BHXH trởthành một chính sách rộng rãi thì cần phải có những đổi mới và hoàn thiện là việclàm hết sức cấp thiết, theo các phơng hớng sau:
- Đổi mới phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng đối với mọi ngời lao độngtham gia đóng BHXH có ý nghĩa là đối tợng tham gia đóng BHXH phải đ-
ợc mở rộng, không có sự phân biệt theo khu vực và thành phần kinh tế giữatrong và ngoài quốc doanh Sự bình đẳng này phải đợc quy định và bảo
đảm bởi chế tài trong các văn bản pháp quy về bảo hiểm xã hội Theo đóngời lao động đợc hởng chi trả BHXH trên cơ sở mức đóng góp và thờigian đóng BHXH
Trang 24- Đổi mới để bảo đảm công bằng trong quan hệ về bảo hiểm xã hội VậyBHXH phải đợc tổ chức và hoạt động tập trung độc lập và thống nhất trongphạm vi toàn quốc, phải đổi mới về tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, hìnhthành cơ quan BHXH tập trung Thành lập cơ quan quản lý BHXH độc lậpriêng biệt và thống nhất từ trên xuống đồng thời tách chính sách BHXH rakhỏi các chính sách xã hội khác để bảo đảm mỗi chính sách thực hiện
- Nghị định 43/CP ra đời đã xoá bỏ việc tính thời gian theo hệ số quy đổicho ngời lao động khi về nghỉ hu, ngời lao động khi đã đóng BHXH đủ 20năm trở lên và tuổi đời đủ 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ thì đợcnghỉ hu và hởng lơng hu hàng tháng Ngoài ra nếu khi đơn vị có nhu cầu
và ngời lao động tự nguyện tiếp tục làm việc thì tuổi đời không quá 65 tuổi
đối với nam và 55 tuổi đối với nữ
- Đã thay đổi điều kiện thời gian công tác bằng thời gian đóng BHXH đểtính lơng hu, tránh đợc tình trạng ngời lao động về hu sớm do việc quy đổithời gian công tác Điều này làm cho ngời lao động có trách nhiệm hơn đốivới chính bản thân họ
- Về mức hởng, ngời lao động đợc hởng một khoản trợ cấp trớc khi nghỉ hutuỳ theo thời gian và mức đóng bảo hiểm xã hội, khoản trợ cấp một lần này
Đối với ngời làm việc trong khu vực Nhà nớc thì tiền lơng tính trợ cấp một lần
là tiền lơng của tháng trớc khi nghỉ hu bao gồm lơng theo cấp bậc, chức vụ, phụcấp chức vụ, phụ cấp khu vực
Đối với ngời làm việc ngoài khu vực nhà nớc thì tiền lơng để trợ cấp một lầnkhi nghỉ hu tính theo lơng đóng BHXH bình quân
Trang 25- Lơng hàng tháng thấp nhất không dới mức lơng tối thiểu của công nhânviên chức nhà nớc, cao nhất bằng 75% mức lơng bình quân của 10 năm tr-
ớc khi về hu và đợc tổ chức BHXH đài thọ về bảo hiểm y tế
- Trên cơ sở năm đóng BHXH và mức tiền lơng bình quân đóng BHXH tatính mức trợ cấp một lần và mức lơng hu hàng tháng cho công nhân viênchức nhà nớc nh sau:
+ Mức trợ cấp một lần: Cứ mỗi năm đóng BHXH đợc hởng trợ cấp bằng mộttháng tiền lơng bình quân Trong đó tiền lơng bình quân đợc tính bằng lơng bìnhquân của 10 năm trớc khi nghỉ hu ( đối với ngời làm việc trong khu vực nhà n-
ti : khoảng thời gian i
li : lơng tơng ứng với khoảng thời gian i
ti = 10 * 12 = 120tháng Trờng hợp mà công nhân viên chức Nhà nớc nghỉ hu mà tiền lơng đóngBHXH của 10 năm cuối trớc khi nghỉ hu có cả thời gian trớc ngày thi hành chế
độ tiền lơng mới 1/4/1993 thì đợc chuyển sang chế độ tiền lơng mới để tính.+ Mức lơng hu hàng tháng: Ngời lao động có đủ 20 năm đóng BHXH thì h-ởng lơng hu bằng 55% tiền lơng đóng BHXH bình quân, sau đó cứ thêm mỗinăm đóng BHXH thì tính thêm 2% nhng tối đa chỉ bằng 75% tiền lơng đóngBHXH bình quân Mức lơng hu thấp nhất bảo đảm không thấp hơn mức lơng tốithiểu( 120.000 đ/tháng ) nếu tiền lơng hu thấp hơn mức đó thì phải bù cho bằngmức đó
Ngoài ra, trong NĐ này, chế độ mất sức lao động đã đợc tách ra và có quy
Trang 26nghiệp t nhân có sử dụng 10 lao động trở lên, các khu chế xuất, văn phòng
đại diện nớc ngoài đều là những đối tợng tham gia bắt buộc Cùng với việc
mở rộng đối tợng tham gia, hình thức tham gia cũng đợc mở rộng Ngoàihình thức tham gia bắt buộc còn có hình thức tham gia tự nguyện để đápứng nhu cầu của ngời lao động
- Do chế độ BHXH đã đợc áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, cho nên tấtcả các thành phần đều nộp ở một mức thống nhất Ngời sử dụng lao độngnộp 15% so với tổng quỹ lơng của toàn đơn vị và ngời lao động nộp 5%trích từ tiền lơng hàng tháng Điều này thể hiện trách nhiệm của ngời chủ
sử dụng lao động đối với ngời lao động đồng thời gắn trách nhiệm của
ng-ời lao động đối với công việc mà họ đang làm Ngoài ra còn giúp ngng-ời lao
động tự lo cho chính bản thân mình khi gặp rủi ro hoặc hết tuổi lao động
- Về mặt tổ chức: theo Nghị định này thì có nhiều nét đổi mới rõ rệt so vớicác NĐ và các chính sách trớc đây Đó là quỹ BHXH đợc đợc quy địnhquản lý thống nhất theo chế độ của nhà nớc, hạch toán độc lập Mặc dùvậy, quỹ BHXH vẫn do Bộ Tài chính quản lý còn việc thực hiện do Bộ Lao
động Thơng binh Xã hội và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam phối hợpvới nhau Nghị định còn có đề xuất thành lập hệ thống BHXH Việt Nambằng việc sát nhập tổ chức BHXH của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hộivới Tổng liên đoàn lao động Việt Nam với nhau
- Về chính sách hu trí nói riêng, Nghị định cũng có nhiều quy định mới phùhợp với tình hình thực tế thể hiện nh sau :
+ Trớc hết, thời gian tính hởng bảo hiểm hu trí đợc coi là thời gian thực
tế nộp BHXH không còn phải tính quy đổi nh các chính sách trớc
đây.Thời gian tính hởng bảo hiểm hu trí theo NĐ 43/CP không đòi hỏiphải liên tục, mà quá trình tham gia nộp BHXH có thể bị ngắt quãng,miễn sao tổng số năm nộp BHXH đủ số năm quy định của nhà nớc là
đợc Riêng thời gian công tác trớc ngày 31/12/1993 vẫn phải là thờigian công tác liên tục mới đợc coi là nộp bảo hiểm xã hội Việc tínhthời gian công tác quy đổi đã đợc tách biệt ra khỏi những chế độ u đãixã hội khác, không xét đến trong thời gian tính hởng bảo hiểm xã hội
Nh vậy đã xoá bỏ đợc sự bất hợp lý trong việc quy đổi thời gian, tạo sựcông bằng cho các đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội Mặt khác, NĐcũng mở rộng hình thức hởng chế độ hu trí cho ngời tham gia bảohiểm hu trí nhng cha đủ điều kiện hởng lơng hu hàng tháng
Trang 27+ Tiền lơng làm cơ sở để tính lơng hu trong Nghị định này là tiền lơngbình quân nộp BHXH trong 10 năm cuối của quá trình công tác đốivới ngời lao động trong khu vực nhà nớc và trong suốt qúa trình đóngBHXH của ngời lao động trong các khu vực ngoài nhà nớc Mức thờigian tối thiểu để đợc hởng chế độ hu trí hàng tháng là 20 năm đóngbảo hiểm xã hội, mức này áp dụng chung cho mọi đối tợng nam và nữngoài ra còn có thêm số năm đóng BHXH sẽ đợc tăng thêm tỷ lệ h-ởng trợ cấp hu trí ( một năm đóng BHXH thêm đợc hởng tỷ lệ là 2%nữa ) Mức hởng gốc là 55 % tiền lơng đóng BHXH bình quân nhngkhông thấp hơn mức lơng tối thiểu ( 120.000 đ ) Điều này khắc phục
đợc những hạn chế của chế độ hu trí trong Nghị định 236 /HĐBT trớc
đây là không công bằng giữa nam và nữ về chế độ đãi ngộ
+ Các chế độ khác cũng đợc tách ra khỏi chế độ hu trí, chế độ trợ cấpmất sức lao động đợc quy định riêng bằng một chế độ hởng lơng mộtlần Mọi chế độ đã đợc tách bạch, tránh đợc sự rờm rà trong chế độBHXH và tránh đợc trờng hợp về hu non, hu chui
Những bổ sung sửa đổi của NĐ 43/CP đã góp phần thống nhất về luật hoặc tổchức và quản lý bảo hiểm xã hội Tuy nhiên NĐ 43/CP vẫn còn tồn tại một số
điểm bất hợp lý sau :
- Tiền lơng bình quân làm cơ sở tính lơng hu hàng tháng theo NĐ 43/CP làmột điểm sửa đổi so với NĐ 236/HĐBT trớc đây Tuy nhiên, thời gian đểtính nộp BHXH bình quân 10 năm là quá dài, trong khi NĐ 236/HĐBT lạilấy mức lơng của tháng cuối trớc khi về hu làm cơ sở tính lơng hu Trênthực tế lơng hu của ngời về hu theo NĐ 43/CP so với lơng hu của ngời về
hu theo NĐ 236/HĐBT thờng thấp hơn rất nhiều Nh vậy, công bằng mànói ngời về hu theo NĐ 43/CP chịu thiệt thòi hơn ngời về hu theo NĐ 236/HĐBT Đây là điểm yếu trong việc đổi mới chính sách BHXH
- Ngoài ra, trong NĐ 43/CP còn có một điểm quy định còn gây khó khăncho bộ phận ngời lao động Đó là việc quy định thời gian tối thiểu để tínhhởng chế độ hu trí là 20 năm đóng bảo hiểm xã hội Với một số lao động ởmiền nam sau năm 1975 mới tham gia đóng BHXH ( vì trớc năm 1975miền nam cha giải phóng ) mặc dù họ cũng đã có thời gian lao động trớc
đó Đến nay về tuổi đời họ đã đủ điều kiện về nghỉ hu, song điều kiện vềthời gian đóng BHXH cha thoả mãn cho nên việc giải quyết chế độ hu trícho họ còn nhiều hạn chế
Trang 28- Việc quản lý thực hiện bảo hiểm hu trí vẫn còn phân hoá ( do cả Bộ Lao
động Thơng binh và Xã hội - Tổng liên đoàn lao động Việt Nam - Bộ tàichính quản lý ) cha có sự thống nhất quản lý của Nhà nớc
Tóm lại : NĐ 43/CP đã khắc phục đợc một số điểm hạn chế của chính sách
BHXH cũ nh về đối tợng tham gia, việc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, thời gian
đóng bảo hiểm xã hội, mức lơng hu hàng tháng Những sửa đổi này đã đóng gópmột phần vào việc thống nhất, luật hoá tổ chức và quản lý bảo hiểm xã hội, làmcơ sở cho việc hình thành điều lệ BHXH kèm theo NĐ 12/CP sau này Tuy vậy,trong quá trình thực hiện dù chỉ là thời gian ngắn nhng NĐ 43/CP vẫn có một số
điểm bất hợp lý cần tiếp tục sửa đổi Mặt khác, do nền kinh tế nớc ta chuyển đổinhanh, số ngời hởng BHXH ngày càng đông, đòi hỏi các chính sách bảo hiểm hutrí phải luôn luôn đợc sửa đổi điều chỉnh lại cho ngày càng hoàn thiện và phù hợpvới nhu cầu mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về BHXH
2 Giai đoạn từ 1995 đến nay
Nghị định 12/CP (26/1/1995)
Sau quá trình thực hiện Nghị định 43/CP, cùng với những văn bản pháp luật vềBHXH cộng với sự ra đời của Bộ luật lao động đợc Quốc hội nớc CHXHCN ViệtNam thông qua vào ngày 15/6/1994 và đợc thực hiện từ 1/1/1995, ngoài ra Điều
lệ về BHXH kèm theo nghị định 12/CP ban hành ngày 26/1/1995 và Nghị định45/CP ban hành ngày 15/7/1995 cho các đối tợng hởng BHXH là ngời lao độngtrong các thành phần kinh tế và lực lợng vũ trang mới thực sự ghi nhận những đổimới của BHXH Việt Nam Từ đây BHXH ở Việt Nam đợc chính thức thực hiệntheo cơ chế thị trờng
Trên cơ sở kế thừa những điểm u việt của các chính sách trớc đây và nhữngthách thức đặt ra trong thời kỳ mới Nghị định 12/CP ra đời có nhiều sửa đổi, bổsung ngay cả trong BHXH nói chung và chế độ bảo hiểm hu trí nói riêng Nhngchế độ hu trí vẫn đóng một vai trò rất quan trọng Nghị định 12/CP ra đời có nhiều
điểm khác biệt hơn so với trớc đây Cụ thể là :
- Ngời lao động đợc hởng chế độ hu trí hàng tháng khi nghỉ việc phải có mộttrong các điều kiện sau :
+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên.+ Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi mà có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, màtrong 20 năm đó có thời gian làm việc thuộc 1 trong các trờng hợp sau
đây:
Đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại
Đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên
Đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trớc ngày 30/4/1975 hoặc ởCampuchia trớc ngày 31/8/1989
- Ngời lao động đợc hởng chế độ hu trí hàng tháng với mức lơng thấp hơn mứclơng qui định ở trên khi có 1 trong các điều kiện sau :
+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm đếndới 20 năm
+ Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở
lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên
Trang 29+ Ngời lao động có ít nhất 15 năm làm công việc nặng nhọc đặc biệt độc hại(theo danh mục 10 Bộ lao động - Thơng binh và xã hội và Bộ Y tế quy
định) đã đủ 20 năm đóng BHXH trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động
từ 61% trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời)
- Đối tợng tham gia đóng BHXH để hởng chế độ hu trí gồm :
+ Ngời lao động làm trong các doanh nghiệp Nhà nớc
+ Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên
+ Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức nớc ngoài hoặc
tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trờng hợp Điều ớc quốc tế mà nớc ta kí kết hoặc tham gia có qui định khác
+ Ngời lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp cơ quan Đảng, đoàn thể
+ Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp các tổ chức dịch vụ thuộc lực lợng vũ trang
+ Ngời giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà
n-ớc, Đảng, Đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện
+ Công chức, viên chức Nhà nớc làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, Đảng, Đoàn thể từ Trung ơng tới cấp huyện
+ Ngoài ra các đối tợng trên đi học, thực tập, công tác, điều dỡng trong và ngoài nớc mà vẫn hởng tiền lơng hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tợng thực hiện BHXH bắt buộc
Qua những điều trên ta thấy đối tợng tham gia BHXH đó đợc mở rộng, đápứng nhu cầu của ngời lao động, khắc phục đợc một vài hạn chế ở các vẳn bản,chính sách trớc đây
Tuy nhiên, từ những qui định trên ta thấy vẫn còn nhiều điểm phải xem xét :
- Về điều kiện tuổi nghỉ hu : đây là một trong những điều kiện cần đối với
ng-ời lao động khi nghỉ hu Ngng-ời lao động cần phải đạt tới một độ tuổi nhất địnhtheo qui định mới đợc về nghỉ hu Theo điều lệ thì nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55tuổi, tuỳ từng trờng hợp mà tuổi về hu có thể giảm từ 5 đến 10 năm Nhữngqui định này cha thể hiện đúng mục tiêu của chế độ hu trí là bảo hiểm tuổi già,nghĩa là ngời lao động phải đạt đến một độ tuổi gọi là tuổi già Quy địnhchung về tuổi nghỉ hu đói với nam là 60, nữ là 55 tuổi là cha có cơ sở khoahọc nào khẳng định đợc tuổi đời của nữ giới thấp hơn nam giới trong khi tuổithọ của nữ giới lại cao hơn nam giới
+ Việc qui định giảm tuổi về hu đối với những ngời làm nghề hoặc côngviệc nặng nhọc độc hại hoặc làm việc trong những khu vực có khí hậuxấu cũng cần đợc làm rõ Thực chất những ngời này không phải già vềmặt tuổi đời mà do khả năng lao động bị giảm sút, nh vậy căn cứ để xác
định điều kiện về hu phải là sự giám định suy giảm khả năng lao độngchứ không phải chỉ bằng việc giảm tuổi đời
Vì vậy, việc giảm tuổi đời cho đối tợng nghỉ hu chỉ là thể hiện một phần
-u đãi xã hội thì không phải là nội d-ung vốn có của BHXH Thực chấtnhững ngời này phải nghỉ việc để hởng trợ cấp cứu tế xã hội cho đến khi
đủ tuổi sẽ đợc hởng hu mới đúng ý nghĩa của chế độ hu trí
+ Đối với những trờng hợp bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên
mà đợc giảm tuổi để hởng chế độ hu trí cũng cha thể hiện đúng mục đíchcủa chế độ hu trí Chế độ bảo hiểm hu trí chỉ áp dụng cho những ngời già,không còn khả năng lao động nữa Do đó, nếu cha đạt đến một độ tuổi
Trang 30qui định để nghỉ hu mà bị mất sức lao động hoặc trợ cấp tàn tật, chúng takhông nên lẫn lộn giữa các đối tợng này gây ra những vớng mắc về tiêuchuẩn chế độ mà các đối tợng đợc hởng Tuy nhiên, do thực tế chúng tacha xây dựng đợc các chế độ trợ cấp tàn tật và lại bỏ chế độ mất sức lao
động vốn có trớc đây nên có những trờng hợp mất khả năng lao động từ61% trở lên phải xen ghép vào chế độ hu trí
- Về thời gian tham gia đóng BHXH : Đây là điều kiện đủ để ngời lao động
đ-ợc quyền hởng trợ cấp hu trí Quy định phải có đóng góp BHXH (phíBHXH ) là một bớc tiến quan trọng trong hệ thống BHXH ở nớc ta, nhờ đó
mà ngân sách Nhà nớc không bị thâm hụt vì phải chi phí quá lớn cho BHXH.Hơn nữa qui định phải đóng BHXH thể hiện đợc các mối quan hệ trongBHXH thể hiện rõ trách nhiệm của các bên khi tham gia BHXH
Theo qui định hiện hành thì phải có thời gian đóng góp BHXH tối thiểu 15năm trở lên Thời gian nh vậy vừa là điều kiện đủ để ngời lao động hởng lơng
hu, để cân bằng giữa đóng và hởng BHXH, vừa là cơ sở để tính các mức lơngcho ngời lao động Tuy nhiên, thời gian đóng tối thiểu 15 năm cũng cần phảixem xét lại vì nếu đóng ít nhất 15 năm mà mức hởng thấp nhất cũng bằngmức lơng tối thiểu và thời hạn hởng trung bình 18 năm thì sẽ ảnh hởng đếnhoạt động của quỹ BHXH Nếu đa số ngời hởng BHXH mà chỉ phải đóngBHXH ở mức 15 năm thì quỹ dễ bị lạm chi
- Về mức trợ cấp hu trí : Theo qui định hiện hành nếu ngời nghỉ hu có trên 30năm đóng BHXH thì ngoài tiền lơng hu hàng tháng ra khi nghỉ hu đợc nhậntrợ cấp một lần Mức trợ cấp một lần đợc tính từ năm thứ 31 trở đi, mỗi năm
đóng BHXH thêm đợc nhận bằng 1/2 tháng lơng bình quân của tiền lơngtháng làm căn cứ đóng BHXH, nhng không quá 5 tháng Thực tế cho thấy đa
số ngời lao động làm việc trong điều kiện bình thờng nếu đi làm từ năm thứ
18 thì đến khi nghỉ hu họ sẽ đóng góp trên 40 năm đối với nam và trên 37năm đối với nữ Thế nhng theo qui định thì gồm 10 năm đóng BHXH saucùng họ chỉ nhận đợc trợ cấp một lần tối đa cũng chỉ bằng 5 tháng tiền lơng,
và nh vậy những ngời có thời gian công tác từ năm thứ 41 trở đi cũng sẽkhông đợc hởng quyền lợi gì mặc dù vẫn phải tham gia đóng BHXH do cha
đủ tuổi về hu
Đây là một điều bất hợp lý không thể hiện đợc nguyên tắc đóng và hởngtrong bảo hiểm
- Về mức độ suy giảm khả năng lao động: Theo qui định hiện hành thì một số
đối tợng bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên cũng đợc xét hởng chế
độ hu trí Điều này không hợp lý vì nhiều ngời tuy bị suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên nhng họ vẫn có thể lao động đợc Vì vậy, trờng hợp ngờilao động bị mất sức lao động trớc tuổi nghỉ hu thì nên giải quyết cho họ đợchởng chế độ trợ cấp mất sức lao động hoặc hởng trợ cấp tàn tật nếu họ muốnnghỉ sớm hoặc chuyển họ sang làm những công việc khác nếu nh họ vẫn cónhu cầu làm việc
Trớc đây chúng ta đã thực hiện chế độ mất sức lao động để giải quyết chocác đối tợng cha đủ điều kiện nghỉ hu nhng trong quá trình thực hiện có quánhiều sự lạm dụng, số ngời thực sự hởng chế độ MSLĐ chỉ chiếm 1/3 trong
số những ngời hởng chế độ này Vì vậy từ năm 1993 trở đi chế độ MSLĐ từ61% trở lên đợc nghỉ việc và hởng trợ cấp hu cha phù hợp với thực tế Tuỳthuộc vào tính chất của công việc mà có ngời tuy bị MSLĐ từ 61% trở lên nh-
ng vẫn có thể làm công việc khác phù hợp hơn Quy định chung nh vậy cho