Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan và nhữngvấn đề tiếp tục nghiên cứu...26 Chương 2: THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo đúng quy định.
Tác giả
Nguyễn Thị Thảo
Trang 2Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7
1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 71.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 111.3 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan và nhữngvấn đề tiếp tục nghiên cứu 26
Chương 2: THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 29
2.1 Tỉnh, đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy và cán bộ huyệndiện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền Đông Nam bộ 292.2 Trách nhiệm nêu gương và thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán
bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền Đông Nam
bộ giai đoạn hiện nay - khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò 51
Chương 3: THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 81
3.1 Thực trạng thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện banthường tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền Đông Nam bộ 813.2 Nguyên nhân và kinh nghiệm 115
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN TỐT TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẾN NĂM 2030 124
4.1 Dự báo yếu tố tác động và phương hướng thực hiện tốt trách nhiệm nêugương của cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miềnĐông Nam bộ đến năm 2030 1244.2 Những giải pháp chủ yếu thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của cán
bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền Đông Nam bộđến năm 2030 130
KẾT LUẬN 158 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
Trang 3TNNG Trách nhiệm nêu gương
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nêu gương là thuộc tính bản chất của đảng cộng sản, là trách nhiệm, đạo lý,gắn với tư cách của người cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) Chủ tịch Hồ Chí Minh đãcăn dặn: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâucũng phải làm gương mẫu cho quần chúng, Mà muốn quần chúng hăng hái thihành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắtchước, làm theo” [69, tr.55] Xuất phát từ văn hóa phương Đông, Người đã đúc kết:
“Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấmgương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [64, tr.284].Thấm nhuần lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong toàn bộ quá trình lãnhđạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng nhiều phương thức lãnh đạokhác nhau, trong đó, nêu gương là một phương thức quan trọng, hiệu quả, vừa cógiá trị khoa học và nhân văn, tác động tích cực đến các đối tượng lãnh đạo củaĐảng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nêu rõ: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cươnglĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng côngtác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gươngmẫu của đảng viên” [20, tr.151] Lãnh đạo thông qua việc thực hiện trách nhiệm nêugương (TNNG) của CB, ĐV tác động tích cực đến các khâu trong quy trình lãnhđạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và toàn Đảng, có tầm quan trọng đặc biệt để Đảnggiữ vững vị thế và vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội
Cán bộ huyện (CBH) diện ban thường vụ tỉnh ủy (BTVTU) quản lý lànhững người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cấp ủy, chính quyền và tổchức chính trị - xã hội (CT-XH) huyện, có vai trò quyết định đến chất lượng lãnhđạo của huyện ủy, hiệu quả hoạt động của chính quyền và sự phát triển của các
tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT) huyện Thực hiện TNNG của CBH diệnBTVTU quản lý để nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý của các tổ chức đảng,chính quyền huyện, để cấp ủy và chính quyền huyện thực sự là nhân tố bảo đảm
sự ổn định và phát triển của địa phương
Trang 5Đông Nam bộ (ĐNB) là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, là khuvực phát triển năng động với tốc độ nhanh và ngày càng bền vững Một trong nhữngyếu tố quan trọng góp phần tạo nên kết quả đó là vai trò, trách nhiệm của cán bộlãnh đạo, quản lý trong các tổ chức đảng, chính quyền và HTCT các cấp, trong đó
có TNNG Thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07-6-2012 của Ban Bí thư về
TNNG của CB, ĐV, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, các tỉnh ủy ở miền ĐNB đã
nghiêm túc quán triệt, triển khai đến các cấp ủy trực thuộc và chủ động, sáng tạotrong quá trình tổ chức thực hiện Đa số CB, ĐV gương mẫu, thực hiện tốt TNNG.Tuy nhiên, kết quả thực hiện TNNG của CB, ĐV nói chung, CBH diệnBTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB nói riêng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của côngtác xây dựng Đảng, xây dựng HTCT trong sạch, vững mạnh Hoạt động nêu gươngcủa cán bộ chủ chốt và người đứng đầu một số cấp ủy, chính quyền các cấp còn mờnhạt Một số CBH chưa thực hiện tốt TNNG, thậm chí vi phạm quy định nêu gương
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng của Đảng, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, Thực tế ở các tỉnhmiền ĐNB cho thấy, vẫn còn tình trạng CBH vi phạm quy định của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước, vi phạm những điều đảng viên không được làm như sử dụng bằnggiả (Phó Bí thư huyện ủy huyện Phú Riềng) hoặc thiếu gương mẫu, lợi dụng chức
vụ, quyền hạn chống người thi hành công vụ (Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân(HĐND) huyện Hớn Quản), vi phạm về quản lý đất đai (huyện Xuyên Mộc, huyệnĐất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Vi phạm của một số CBH đã làm suy giảm lòngtin của nhân dân đối với CB, ĐV nói chung, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượnglãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, năng lực quản lý, điều hành của chínhquyền các cấp ở các tỉnh miền ĐNB
Do đó, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đánh giá đúngthực trạng việc thực hiện TNNG và đề xuất những giải pháp để thực hiện tốt TNNGcủa CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB giữ vững vai trò lãnh đạo,quản lý cấp cơ sở của các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền huyện và bảo đảm sựlãnh đạo thông suốt từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở là một vấn đề quan trọng và cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Thực
Trang 6hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay” để làm luận án tiến
sĩ ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích của luận án
Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện TNNG củaCBH diện BTVTU quản lý, luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu thực hiện tốtTNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ của luận án
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ rõ kết quả và xác định những nội dung luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB giai đoạn hiện nay
- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện TNNG của CBH diệnBTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB từ năm 2012 đến năm 2020, chỉ rõ nguyênnhân và đúc rút một số kinh nghiệm
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian khảo sát: Luận án tập trung khảo sát, đánh giá việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB từ năm 2012
đến năm 2020, phương hướng và những giải pháp chủ yếu đến năm 2030
- Về không gian: Luận án khảo sát việc thực hiện TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở 5 tỉnh miền ĐNB (Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, BìnhPhước, Đồng Nai, Tây Ninh)
Trang 74 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Báo cáo của 5 tỉnh ủy ở miền ĐNB về thực hiện TNNG của CB, ĐV
- Kết quả khảo sát, điều tra đối với 3 nhóm: CBH diện BTVTU quản lý;
CB, ĐV trong đảng bộ, chính quyền các huyện và nhân dân các huyện ở 5 tỉnh miền ĐNB
4.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của việcthực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý dựa trên những quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vềtrách nhiệm, nêu gương, TNNG của CB, ĐV
Để đánh giá khách quan thực trạng thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở tiếp cận các nguồn tài liệu là các báo cáo của các địa phương, đơn vị và các công trình nghiên cứu có
liên quan, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để khai thác cácthông tin và phân tích, khái quát những nội dung có liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được sử dụng để khảo
sát, đánh giá thực trạng thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnhmiền ĐNB Luận án điều tra ở 5 tỉnh miền ĐNB, mỗi tỉnh 100 phiếu Đối tượngkhảo sát là CBH diện BTVTU quản lý, cán bộ, công chức cấp dưới và người dân ởđịa phương), nhằm tìm hiểu việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU
ở các tỉnh miền ĐNB trên một số nội dung sau:
Trang 8+ Trách nhiệm thực hiện các nội dung nêu gương của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB.
+ Phương thức thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
+ Đánh giá của cán bộ, công chức cấp dưới và người dân ở địa phương về việc thực hiện TNNG của của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB.+ Những gợi ý, đề xuất giải pháp của cấp ủy, đảng viên, người dân để CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB thực hiện tốt TNNG
Kết quả khảo sát được tác giả xử lý bằng phần mềm SPSS
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số phương pháp khác: thống kê và so sánh, lịch sử và logic, tổng kết thực tiễn,…
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án đã góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về thựchiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB: xác lập kháiniệm, nội dung, phương thức thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ởcác tỉnh miền ĐNB
- Luận án đúc rút một số kinh nghiệm thực hiện tốt TNNG của CBH diệnBTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB Đó là, (i) Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn,quyết liệt của các cấp ủy đảng, BTV cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện ở miền ĐNB cóvai trò quan trọng đối với việc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý;(ii) Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên đối vớiviệc thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB là mộtgiải pháp quan trọng đưa việc thực hiện TNNG trở thành nền nếp, hiệu quả;
(iii) Sự cụ thể hóa nội dung TNNG gắn với các chức danh cán bộ là cơ sở quantrọng để CBH diện BTVTU ở miền ĐNB quản lý thực hiện tốt TNNG; (iv) Ý thức,trách nhiệm của CBH diện BTVTU quản lý trong thực hiện TNNG là nhân tố bềnvững để TNNG được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, lan tỏa và có ý nghĩa trong cảHTCT và ngoài xã hội
- Luận án đề xuất một số giải pháp có tính đột phá để thực hiện tốt TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB đến năm 2030 Một là, xây
dựng, hoàn thiện quy định của các cấp ủy địa phương về thực hiện trách nhiệm
Trang 9nêu gương phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng chức danh cán bộ huyện diện
ban thường vụ tỉnh ủy quản lý; Hai là, tăng cường kiểm tra, giám sát của cấp ủy,
ủy ban kiểm tra cấp trên và kịp thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy
định nêu gương; Ba là, phát huy tính tự giác, rèn luyện, tự nêu gương của cán bộ
huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý
- Góp phần tổng kết thực tiễn việc thực hiện TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
- Cung cấp luận cứ khoa học cho các BTVTU ở các tỉnh miền ĐNBnghiên cứu, tham khảo xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổchức thực hiện tốt TNNG của CBH diện BTVTU quản lý
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu cho cáccấp ủy, địa phương trong thực hiện TNNG, làm tài liệu tham khảo phục vụ giảngdạy, nghiên cứu môn Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận ángồm 4 chương, 9 tiết
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV, nhất là cán bộ chủ chốt trong HTCT làmột nội dung quan trọng được toàn Đảng quan tâm, xây dựng thành các quy định:Quy định số 101-QĐ/TW; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của BCHTrung ương “về TNNG của CB, ĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viênBan Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương” Đây là một trong những phương thức lãnhđạo quan trọng của Đảng, được nhiều tác giả nghiên cứu ở những khía cạnh khácnhau Có tác giả tiếp cận nêu gương về tư tưởng chính trị, có tác giả phân tích nêugương về đạo đức gắn với việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng, chỉnhđốn Đảng, học tập và làm theo tấm gương, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu vềthực hiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý Do đó, để thực hiện luận án, cầnthiết phải nghiên cứu, tổng quan các công trình khoa học có liên quan để kế thừa,luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện TNNG của CBH diệnBTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB giai đoạn hiện nay
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI
- Oren Harari (2007), Cẩm nang dành cho nhà quản lý: Nguyên tắc Powell =
The Powell principles: 24 bài học rút ra từ cuộc đời nhà lãnh đạo kiệt xuất Colin Powell, [193] Trên cơ sở nghiên cứu về cuộc đời nhà lãnh đạo Colin Powell - một
vị tướng có tài thao lược, một chính khách lịch lãm, đầy phong thái, một nhà ngoạigiao xuất sắc - mềm dẻo về sách lược, cứng rắn về nguyên tắc, tác giả đã chỉ ra cácbài học có giá trị trong hoạt động lãnh đạo của Colin Powell như phải luôn bắt đầu
từ bản thân, thực hành lời nói đi đôi với việc làm, phải biết thay đổi để phát triển,biết kiềm tỏa cái tôi, biết phá bỏ lề thói, biết để tình huống quyết định chiến lược,
- Đặng Đình Lựu (2008), “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp
ở Trung Quốc” [57] Trong phạm vi bài viết, tác giả cho rằng cán bộ lãnh đạo
trung, cao cấp là những nhà chính trị giỏi, là một bộ phận trong đội ngũ nhân tàicủa Đảng và Nhà nước Trung Quốc Đó là những người có trình độ học vấn ngày càng cao, trải qua công tác chính trị, trưởng thành từ cơ sở Tác giả cũng đề ra một
Trang 11số biện pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ trung, cao cấp như tạo nguồn, chế độhóa việc học tập của cán bộ, bồi dưỡng gắn với rèn luyện thử thách trong thựctiễn, lựa chọn, sàng lọc và thường xuyên kiểm tra, giám sát cán bộ.
-Pieke, F N (2009), The Good Communist: Elite Training and State Building
in Today's China: Người cộng sản tốt: đào tạo những người ưu tú và xây dựng nhà nước ở Trung Quốc hiện nay [191] Tác giả đặt vấn đề về bản chất của chế độ xã
hội ở Trung Quốc, phải chăng đây là một quốc gia tư bản có vỏ ngoài xã hội chủnghĩa và Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể giữ địa vị thống trị trong mười nămhiện đại hóa và toàn cầu hóa tiếp theo không? Từ đó, tác giả đã lý giải thông quaviệc phân tích, xem xét cách thức đào tạo các quan chức chính phủ Trung Quốc -một quá trình khắt khe, luôn có sự cam kết với Đảng về mặt tư tưởng và chính trị
- Đặng Đình Lựu (2010), “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở Trung Quốc hiện nay” [58] Bài viết đã chỉ rõ nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo là trọng điểm của công tác xây dựng Đảng Tác giả đã nêu lên
những tiêu chuẩn cao đối với cán bộ lãnh đạo như: Một là, kiên trì tiêu chuẩn đủ
đức, đủ tài, lấy đức làm đầu Đây là yêu cầu căn bản và là bảo đảm quan trọng để
giữ vững tính tiên tiến, tính trong sạch của đảng cầm quyền Hai là, cán bộ lãnh
đạo cần được thông qua các môi trường, lĩnh vực công tác khác nhau để tự rènluyện, nâng cao, tự thử thách, tự kiểm nghiệm về cái tâm, tầm trước yêu cầu mới.Trước thực trạng một số cán bộ hủ bại, tác giả cũng nêu lên một số định hướnggiải quyết, trong đó có định hướng về quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, cơquan trong từng khâu của công tác cán bộ, cần có cơ chế xử lý trách nhiệm đốivới cán bộ chọn sai, dùng sai như kỷ luật đảng, cho từ chức
- Genovese, M.A (2013) Building Tomorrow's Leaders Today: On
Becoming a Polymath Leader: Xây dựng đội ngũ lãnh đạo hôm nay cho ngày mai: trở thành một nhà lãnh đạo hiểu biết [189] Tác giả đã luận giải một số vấn đề về
lãnh đạo như: lãnh đạo là gì, hoạt động như thế nào, tính phức tạp, đa chiều và sẽthay đổi như thế nào trong tương lai Từ đó, tác giả phân tích yêu cầu khi xây dựngđội ngũ nhà lãnh đạo trong tương lai, đòi hỏi phải dự đoán về những kỹ năng,năng lực cụ thể sẽ có giá trị cho nhu cầu tương lai, nhất là trước sự thay đổinhanh chóng với công nghệ mới, sự đa dạng và vấn đề toàn cầu hóa
Trang 12- Thẩm Diệu Diệu (2013) 沈跃跃, Nỗ lực xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt chất lượng cao [187] Tác giả đã khẳng định cán bộ có vai trò quan trọng, là
nòng cốt cầm quyền của Đảng, là lực lượng trung kiên thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của Đảng Bài viết phân tích nhiệm vụ được nêu tại Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Điều then chốt trong việc kiên trì và phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là phải xây dựng đội ngũ cầm quyền chủ chốt kiên định chính trị, chuyên môn vững vàng, tác phong gương mẫu, có ý chí phấn đấu với các nội dung cụ thể: Kiên trì tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ, sử dụng cán bộ, bảo đảm đội ngũ cán bộ tiên tiến, trong sạch; Tăng cường trang bị lý luận và giáo dục tư tưởng, giữ vững niềm tin, lý tưởng của người cán bộ lãnh đạo; Thường xuyên duy trì mối liên hệ với quần chúng nhân dân, xây dựng hình ảnh người cán bộ liêm khiết, hết mình phục vụ nhân dân; Cải cách sâu sắc chế độ tuyển chọn, sử dụng, giám sát cán bộ.
- Xa Lân (2015), Phân tích tư tưởng xây dựng đội ngũ cán bộ của Tập Cận
- Jun, F., Jinzhou, Z., & Zhipping, Z (2017) Leadership Education and
Training in China: Đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc [188] Từ thực tế
công tác đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc với 4.500 cơ sở giáo dục vàđào tạo cho cán bộ và 15 triệu quan chức Trung Quốc được đào tạo mỗi năm, tác giả
đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn sâu sắc về cách Trung Quốc giáo dục và đàotạo cán bộ để điều hành quốc gia Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc(1921) đến nay, công tác đào tạo và giáo dục lãnh đạo ở Trung Quốc trải qua 3 giaiđoạn: (1) Giai đoạn 1 (1921-1949) từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc đếnkhi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, giáo
Trang 13dục thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận Việc đào tạo cán bộ giaiđoạn này tập trung vào việc giảng dạy và phổ biến triết học mác-xít giữa cácđảng viên và cán bộ (2) Giai đoạn 2 (1949-1978) từ khi thành lập nước Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa đến khi bắt đầu cải cách và mở cửa, Đảng Cộng sảnTrung Quốc chuyển từ đảng cách mạng sang một đảng cầm quyền, mạng lướicác trường đảng xuất hiện đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội (3) Giai đoạn 3 (1978-nay) từ khi cải cách và mở cửa cho đến nay, việcgiáo dục đào tạo cán bộ nhằm mục đích tăng cường vai trò lãnh đạo của ĐảngCộng sản Trung Quốc theo định hướng đổi mới sáng tạo
- Lương Bảo Hoa (2017), Đường đến thành công: tiên phong là sức mạnh
[42] Với thực tiễn là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Thường vụ HĐND tỉnhGiang Tô, tác giả đã ghi lại sự trải nghiệm của quá trình xây dựng chủ nghĩa xãhội ở Giang Tô Trong cuốn sách, tác giả đề cập đến việc xây dựng đội ngũ cán
bộ có tố chất cao đòi hỏi bí thư tỉnh ủy phải nắm được những yêu cầu trong bố trícán bộ lãnh đạo, việc lựa chọn cán bộ phải chính xác, phải lấy đức làm đầu
- Phokham Sanahong (2018), Năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Viêng Khăm, tỉnh Viêng Chăn, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay [84] Tác giả bàn về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện, những yếu tố cấu thành năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
ở Viêng Khăm, trong đó có các nhóm yếu tố: năng lực tư duy lý luận; năng lựcnắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và bối cảnh địaphương; năng lực tổ chức thực tiễn; năng lực giao tiếp, vận động và thuyết phụcquần chúng nhân dân Nhóm năng lực này đòi hỏi cán bộ phải thực hiện nói điđôi với làm, nêu cao tinh thần gương mẫu Tác giả cho rằng gương mẫu là yếu tốtạo nên niềm tin của quần chúng, tạo nên sự bền vững của mối quan hệ cán bộ -nhân dân
- Hồng Hướng Hoa (2018), Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn hóa, tố chất
cao trong thời đại mới ( 新时代高素质专业化干部队伍建设/作者: 洪向华; 出
版社:中共党史出版社; 2018 年) [190] Từ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ được
đặt ra tại Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả đã phân tích một số nội
Trang 14dung về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ một cách chuyên môn hóa và có phẩm chất đạo đức cao, từ đó chỉ ra tác dụng, tiêu chí, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ.
- Khonesanga Phimmasone (2019), Xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng
ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay [47] Luận án tập trung làm
rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở Cộng hòa Dânchủ nhân dân Lào, trong đó phân tích lý luận về đội ngũ bí thư - huyện trưởng; làm
rõ khái niệm, nội dung, phương thức xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng
ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Trong các phương thức xây dựng độingũ bí thư - huyện trưởng, tác giả xác định phương thức thông qua phát huy vaitrò gương mẫu, tích cực, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện của bản thân mỗi bíthư - huyện trưởng Đây cũng là một phương thức thực hiện TNNG của cán bộ.Luận án đánh giá thực trạng xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở Cộng hòaDân chủ nhân dân Lào và đề xuất các giải pháp để xây dựng đội ngũ bí thư -huyện trưởng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Các công trình khoa học trong nước liên quan đến đề tài gồm các nhóm sau:
1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý
* Sách tham khảo, chuyên khảo
- Ngô Kim Ngân, Lâm Quốc Tuấn (2010), Phong cách làm việc của người
bí thư huyện ủy hiện nay - Qua khảo sát vùng đồng bằng sông Hồng [78] Cuốn
sách phân tích một số vấn đề lý luận về phong cách làm việc của bí thư huyện ủy
- chức danh CBH diện BTVTU quản lý, đánh giá thực trạng phong cách làm việccủa bí thư huyện ủy và đề xuất những giải pháp để xây dựng phong cách làmviệc của bí thư huyện ủy
- Nguyễn Văn Côi (2012), Luân chuyển cán bộ diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay [15] Trong cuốn sách, tác giả đã trình
bày những vấn đề lý luận về cán bộ diện BTVTU quản lý và luân chuyển cán bộdiện BTVTU quản lý Tác giả đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộdiện BTVTU quản lý, trong đó có CBH diện BTVTU quản lý Đây cũng là khách
Trang 15thể nghiên cứu của đề tài luận án nên có giá trị tham khảo cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.
- Vũ Văn Phúc (2013), Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp
ủy, chính quyền trong HTCT hiện nay [88] Cuốn sách là tập hợp các bài viết của
nhiều tác giả Có bài viết bàn về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong
các mối quan hệ, trong các lĩnh vực công tác như bài viết Mối quan hệ giữa bí thư
với cấp ủy của tác giả Nguyễn Minh Tuấn; bài viết về Thẩm quyền và trách nhiệm của bí thư cấp ủy cấp huyện, xã và tương đương của tác giả Bùi Đức Hạnh đã xác
định rõ thẩm quyền của bí thư cấp ủy như chủ trì, đề xuất các chủ trương, nhiệm vụ,giải pháp, cơ chế chính sách mới, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT-XH); chủ trì chuẩn bị phương án về công tác tổ chức, cán bộ trình thường trực vàBTV cấp ủy quyết định theo thẩm quyền; chịu trách nhiệm cuối cùng ký ban hànhcác nghị quyết, chỉ thị, quyết định về những vấn đề quan trọng Tuy nhiên, thẩmquyền chỉ có được khi người đứng đầu cấp ủy là tấm gương sáng về mọi mặt, được
tập thể tin yêu Tác giả Nguyễn Đức Hà với bài viết Vai trò, trách nhiệm và thẩm
quyền người đứng đầu trong công tác cán bộ hiện nay đã chỉ rõ người đứng đầu tổ
chức, địa phương, cơ quan, đơn vị có vai trò định hướng, chi phối quan trọng vàtrong những thời điểm cụ thể, đóng vai trò quyết định đến chiều hướng phát triểncũng như kết quả hoạt động của tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị Trong côngtác cán bộ, người đứng đầu có thẩm quyền quản lý, theo dõi, sử dụng cán bộ dướiquyền trực tiếp, có thẩm quyền, trách nhiệm đề xuất, giới thiệu với cấp có thẩmquyền xem xét, quyết định việc quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luậtcán bộ dưới quyền Về trách nhiệm, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm liên đớikhi cán bộ dưới quyền trực tiếp vi phạm, bị xử lý kỷ luật
-Nguyễn Vĩnh Thanh (2014), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp huyện ở Việt Nam thời kỳ hậu WTO [103] Đây là công trình nghiên
cứu riêng về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta Trên cơ sởđánh giá toàn diện thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở ViệtNam, tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện trong giai đoạn hiện nay
Trang 16-Đỗ Ngọc Ninh (2015), Bí thư huyện ủy trong giai đoạn hiện nay [81] Cuốn
sách đã làm rõ vị trí, vai trò của huyện ủy, ban thường vụ (BTV), thường trực huyện
ủy Theo tác giả, BTV huyện ủy là một bộ phận rất quan trọng của huyện ủy, gồmnhững người tiêu biểu trong huyện ủy, phụ trách những mặt, lĩnh vực, địa bàn trọngyếu của đảng bộ huyện, thay mặt huyện ủy lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của đảng bộhuyện giữa hai kỳ họp BCH Thường trực huyện ủy là bí thư, các phó bí thư thaymặt BTV huyện ủy chỉ đạo thực hiện những công việc hằng ngày của
đảng bộ huyện Tác giả đã phân tích vị trí, vai trò và đặc điểm hoạt động của bíthư huyện ủy - CBH diện BTVTU quản lý, trong đó chỉ rõ bí thư là người có vaitrò quan trọng hàng đầu, cùng huyện ủy, BTV, thường trực huyện ủy quyết địnhthực hiện thắng lợi các nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, phát triển KT-XH, anninh - quốc phòng, xây dựng và hoạt động của HTCT huyện
và đưa ra các giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả công tác này ở các tỉnhĐồng bằng sông Hồng Trong luận án, tác giả quan niệm CBH diện BTVTUquản lý ở Đồng bằng sông Hồng là những CBH giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý,công tác, làm việc thường xuyên trong các cơ quan thuộc HTCT cấp huyện cóvai trò quyết định sự vận động và phát triển của mỗi tổ chức, cơ quan cũng như
cả HTCT cấp huyện, chịu sự quản lý và quyết định của BTVTU theo phân cấpquản lý cán bộ Quan niệm này cũng là một gợi mở cho tác giả để đưa ra kháiniệm về CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
- Cao Khoa Bảng (2012), Chất lượng đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy Hà
Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay [8] Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận
về BTV, chất lượng đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy quản lý, xác định các chứcdanh cán bộ diện BTV Thành ủy quản lý, chức trách, nhiệm vụ của cán bộ ở cácchức danh này, trong đó có các chức danh cán bộ cấp huyện Tác giả cũng chỉ rõ
Trang 178 chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy Hà Nội quản lý,trong đó có trách nhiệm gương mẫu về thực hiện các quy định của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, đạo đức, lối sống.Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ diện BTV Thành ủy
Hà Nội quản lý, tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng độingũ này trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Thành Dũng (2012), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay [17] Luận án đã bàn đến các chức danh cán bộ chủ chốt cấp huyện Theo tác giả, cán bộ chủ chốt
cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên là các cán bộ giữ cương vị bí thư, phó bí thưcấp ủy cấp huyện; chủ tịch HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND) các huyện, thị xã,thành phố thuộc tỉnh, có nhiệm vụ lãnh đạo, giám sát, quản lý và tổ chức thựchiện các nhiệm vụ trên địa bàn, xây dựng tổ chức, xây dựng huyện các tỉnh TâyNguyên vững mạnh Từ lý luận và thực tiễn, luận án đã đề xuất giải pháp chủyếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh TâyNguyên trong giai đoạn hiện nay
- Đới Văn Tặng (2015), Bảo đảm tính liên tục và phát triển của đội ngũ cán
bộ diện BTVTU quản lý ở Đồng bằng sông Hồng hiện nay [98] Luận án phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về cán bộ diện BTVTU quản lý, nội dung
bảo đảm sự phát triển của đội ngũ cán bộ diện BTVTU quản lý ở Đồng bằngsông Hồng…, trong đó chỉ rõ “cán bộ diện BTVTU quản lý là những người đượccác tổ chức trong HTCT bầu, phê chuẩn, hoặc được cấp có thẩm quyền bổ nhiệmgiữ các cương vị cấp trưởng và cấp phó các tổ chức, cơ quan trong HTCT tỉnh;cấp trưởng và cấp phó cấp ủy, chính quyền cấp huyện, các ủy viên BTV cấp ủycấp huyện và tương đương, đó là những cán bộ lãnh đạo, quản lý mọi hoạt độngcủa tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi cán bộ công tác, bảo đảm thực hiện thắng lợinhiệm vụ của tổ chức, cơ quan, đơn vị” [98, tr.36] Khái niệm trên có giá trị thamkhảo cho tác giả để xây dựng khái niệm CBH diện BTVTU quản lý
- Nguyễn Thái Học (2018), Các tỉnh ủy ở Nam Trung bộ lãnh đạo ngăn chặn
đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ diện BTVTU quản lý hiện nay [43] Tác giả đã khái quát về đội ngũ cán bộ diện BTVTU
Trang 18quản lý ở Nam Trung bộ, chức trách, nhiệm vụ, vai trò, đặc điểm của đội ngũnày Trong luận án, tác giả xác định cán bộ diện BTVTU quản lý ở Nam Trung
bộ cấp huyện bao gồm các chức danh bí thư, phó bí thư huyện ủy, thị ủy, thành
ủy và đảng ủy trực thuộc; chủ tịch HĐND, UBND huyện, thị xã, thành phố Tácgiả cũng trình bày nội dung, phương thức các tỉnh ủy ở Nam Trung bộ lãnh đạongăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũcán bộ diện BTVTU quản lý và các giải pháp đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ diện BTVTU quản lý giai đoạn hiện nay.Các chức danh cán bộ diện BTVTU quản lý được đề cập trong luận án có cácchức danh CBH diện BTVTU quản lý, là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giảtrong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án
1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý
* Đề tài khoa học và sách tham khảo, chuyên khảo
- Nguyễn Hữu Đổng (2012), Quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay [35] Trong đề tài, nhóm
nghiên cứu đã phân tích những vấn đề lý luận về quyền hạn và trách nhiệm củangười đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trong đó chỉ rõ tráchnhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính là trách nhiệm công vụ, thể hiện
cụ thể ở trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm vật chất, tráchnhiệm hình sự Cơ sở để xác định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hànhchính là các hành vi vi phạm pháp luật hành chính gây thiệt hại về vật chất, tinhthần, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân [35, tr.44] Nhữngđóng góp của công trình có giá trị tham khảo cho tác giả khi luận giải TNNG củaCBH diện BTVTU quản lý
- Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn (2013), Thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân [80].
Các tác giả đã khái quát một số vấn đề về thẩm quyền, trách nhiệm của Đảng vàNhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân Trong điều kiện Đảngcầm quyền, một bộ phận đảng viên giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy nhànước, do đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm trong
Trang 19việc thực hiện quyền lực của nhân dân cũng chính là thực hiện thẩm quyền, tráchnhiệm của Đảng và Nhà nước.
- Bùi Thị Ngọc Mai (2016), Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành
chính nhà nước [60] Tác giả đã trình bày quan niệm về người đứng đầu cơ quan
hành chính nhà nước Đó là những người đứng ở vị trí đầu tiên, cao nhất trong thứbậc quyền lực của tổ chức, có vai trò lãnh đạo, quản lý trong tổ chức Trong cơquan hành chính nhà nước, người đứng đầu có vai trò lãnh đạo, quản lý, có nghĩa
vụ và quyền hạn cao nhất đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước,chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đó Từ kháiluận về người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, tác giả phân tích tráchnhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước: Là những việc màngười đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nên làm, phải làm, với kết quả tốt,nếu kết quả không tốt sẽ phải chịu trách nhiệm Tác giả đưa ra công thức củatrách nhiệm là tổng hợp của nghĩa vụ, quyền và việc chịu trách nhiệm của ngườiđứng đầu Nội dung trách nhiệm của người đứng đầu cũng được tác giả làm rõ,bao gồm: trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trong
đó sự gương mẫu của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước là một nộidung trong trách nhiệm đạo đức Vì vậy, công trình có giá trị tham khảo cho tácgiả trong việc phân tích, luận giải TNNG của CBH diện BTVTU quản lý
- Trần Nghị (2017), Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính [79] Tác giả đã nêu lên những nội dung cơ
bản về trách nhiệm của công chức, cụ thể là trách nhiệm công vụ Theo tác giả,trách nhiệm công vụ là một dạng trách nhiệm pháp lý được thực hiện trong quá trìnhthực thi công vụ, cũng là một dạng cụ thể của trách nhiệm hành chính Trách nhiệmcủa công chức được quy định trong các văn bản của pháp luật mà mỗi công chứcphải thực hiện để phục vụ nhân dân Trong cuốn sách, tác giả cũng chỉ rõ mối quan
hệ giữa trách nhiệm công vụ của công chức với các dạng trách nhiệm khác nhưtrách nhiệm giải trình, trách nhiệm đạo đức Công chức thực hiện trách nhiệm đạođức chính là việc thực hiện các quy định của pháp luật về chuẩn mực đạo đức trongquá trình thực thi công vụ, bao gồm cả đạo đức xã hội và đạo đức
Trang 20công vụ Trách nhiệm đạo đức của công chức là thực hiện chuẩn mực đạo đức của người cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của CB, ĐV và người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (2018) [77] Cuốn sách là tập hợp các bài viết
về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và vai trò, trách nhiệm của CB,
ĐV và người đứng đầu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phongcách Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay Có bài viết bàn đến các giải pháp phát huyvai trò nêu gương về đạo đức của CB, ĐV như cần thực hiện tốt “nói đi đôi vớilàm”, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, nâng cao ý thức tự giáo dục, rènluyện đạo đức cách mạng Nâng cao vai trò, trách nhiệm của CB, ĐV trong việchọc tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là mộtbiện pháp để thực hiện TNNG
-Đặng Văn Tin, Trần Khắc Việt, (2019), Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách
nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay [111].
Công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận chủ yếu về việc chịu trách nhiệm trướcnhân dân đối với những quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạnhiện nay, trong đó chỉ rõ trách nhiệm là những bổn phận, nghĩa vụ phải làm và hậuquả pháp lý bất lợi phải gánh chịu do thực hiện không đầy đủ trách nhiệm và cóhành vi vi phạm Đối với đảng cầm quyền, trách nhiệm gắn liền với thẩm quyền, vịthế và vai trò của Đảng, đó là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức, tráchnhiệm xã hội và trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân của Đảng trước Nhà nước,trước nhân dân Từ những vấn đề lý luận, các tác giả cũng đánh giá thực trạng ĐảngCộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình
và đưa ra các giải pháp chủ yếu thực hiện tốt việc Đảng Cộng sản Việt Nam chịutrách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình đến năm 2030
* Bài báo khoa học trên các tạp chí
- Nguyễn Quốc Sửu (2014), “Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu
trong mối quan hệ với cấp ủy” [94] Bài viết phân tích sự cần thiết, cấp bách phải
xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trongmối quan hệ với cấp ủy, cơ quan, đơn vị, đặc biệt trước thực trạng hệ thống tổ chứccòn nhiều bất cập, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu không được xác
Trang 21định rõ ràng, minh bạch Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để xác định thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy.
- Lê Quang (2016), “Trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu” [89] Bài
viết đã chỉ rõ yêu cầu bức thiết về sự nêu gương của người đứng đầu và đề ra cácgiải pháp để phát huy TNNG như quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương
4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Chỉ thị số 05-CT/TW ngày
15-52016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,phong cách Hồ Chí Minh”; người đứng đầu tự giác học tập, nâng cao trình độ;phát huy dân chủ trong tổ chức; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền,trách nhiệm người đứng đầu và tăng cường kiểm tra, giám sát
-Trần Thị Diệu Oanh (2017), “Thực hiện nghiêm quy định pháp luật về trách
nhiệm người đứng đầu, góp phần đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” [82] Bài viết chỉ rõ đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một nhiệm vụ bức thiết hiện nay, cần phải cónhững giải pháp, trong đó phải thực hiện nghiêm quy định pháp luật về tráchnhiệm của người đứng đầu, đặc biệt là quy định trách nhiệm khi để xảy ra thamnhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý
- Trần Thị Diệu Oanh (2020), “Bàn về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong công tác cán bộ” [185] Bài viết đã phân tích những quy
định của Đảng, Nhà nước về trách nhiệm tập thể, trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan nhà nước Theo tác giả, trách nhiệm của người đứng đầu cơquan nhà nước là nhiệm vụ phải thực hiện quyền hạn được giao, chịu hậu quả vàtrách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm, từ đó tác giả nêu lên những giảipháp để nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nướctrong công tác cán bộ
Ngoài ra, còn một số tác giả bàn về trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý
đăng trên các tạp chí khoa học như Phạm Văn Định (2014), “Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ” [32] Hồng Văn (2013),
“Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu với cấp ủy, chính quyền” [166] Ngô Văn Thạo (2010), “Giải pháp nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ CB,
ĐV trong giai đoạn hiện nay” [106]…
Trang 221.2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
- Nguyễn Minh Tuấn (2014), “Học và làm theo Bác về làm gương và nêu gương” [161] Bài viết đã bàn về tấm gương của Bác trong tự phê bình và phê
bình Tác giả cũng chỉ rõ để thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh, mỗi CB, ĐV phải thật sự nêu gương
- Ban Tuyên giáo Trung ương (2018), Những tấm gương bình dị mà cao quý
trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2017
[7] Cuốn sách giới thiệu khái quát những tấm gương điển hình và thành tích củatập thể, cá nhân trong cả nước nhằm tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy lòng tựhào, tính tích cực trong mỗi CB, ĐV và quần chúng nhân dân
- Vũ Thị Hằng (2019), “Tăng cường phương thức nêu gương theo tư tưởng
Hồ Chí Minh” [40] Tác giả phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trên 3
mặt: đối với bản thân, đối với người và đối với công việc, đồng thời vận dụng vàothực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng, khẳng định nêu gương là một phương thứclãnh đạo của Đảng, là yêu cầu, là trách nhiệm của mỗi CB, ĐV Tác giả cũng chỉ rõtrong giai đoạn hiện nay, một số hạn chế trong công tác xây dựng Đảng đòi hỏiĐảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu bằng cácphương thức lãnh đạo, trong đó nêu gương là một phương thức lãnh đạo rất hiệuquả Vì vậy, mỗi tổ chức, CB, ĐV phải thực hiện tốt phương thức nêu gương để
Trang 23góp phần tăng cường hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng.
-Lý Việt Quang (2019), “Phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
việc thực hiện TNNG của CB, ĐV” [90] Bài viết làm rõ phong cách nêu gương của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó vận dụng trong thực tiễn công tác xây dựng Đảng để phát huy vai trò nêu gương của CB, ĐV trong tình hình hiện nay với 4 điểm cần chú ý: cụ thể hóa việc học tập, làm theo phong cách nêu gương Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể; phát huy vai trò của HTCT và các đoàn thể nhân dân; đề cao vai trò tự giáo dục của mỗi cán bộ lãnh đạo, thực hiện tốt việc nói đi đôi với làm; chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đặc biệt là các văn bản của Đảng về nêu gương.
Nguyễn Trọng Phúc (2019), “Thực hiện Di chúc của Bác gắn với trách nhiệm nêu gương” [87] Bài viết khẳng định đội ngũ CB, ĐV trung kiên, gương
mẫu là điều kiện bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, trong giai đoạnhiện nay, một bộ phận CB, ĐV không học tập và làm theo những điều Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống, đòi hỏi CB, ĐV phải nhận thức rõ hơn và thực hiện tốt Dichúc Tác giả bài viết đã nêu lên những giải pháp để CB, ĐV đề cao TNNG: (i)nêu gương về trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Nhân dân, với Đảng Cộngsản Việt Nam, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; (ii) nêu gương
về sẵn sàng và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khi được phân công, tâmhuyết, tận tụy với công việc; thực hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ,sâu sát thực tiễn, hiệu quả; (iii) nêu gương về đạo đức, lối sống, thật sự cần,kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chốngtham nhũng, lãng phí; không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt; (iv)nêu gương về tự phê bình và phê bình, dũng cảm, chân thành nhận khuyết điểm
và quyết tâm sửa chữa
Trần Quốc Vượng (2019), “Thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phát huy vai trò tiền phong gương mẫu, nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân” [173] Bài viết chỉ rõ
yêu cầu của công tác xây dựng Đảng hiện nay đòi hỏi mỗi CB, ĐV phải thấmnhuần và đẩy mạnh học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với
Trang 24TNNG với các giải pháp cụ thể như: Một là, nhận thức đầy đủ, sâu sắc TNNG để
mỗi CB, ĐV xứng đáng với vai trò tiền phong, gương mẫu, xây dựng Đảng thật
sự trong sạch, vững mạnh; Hai là, nâng cao trách nhiệm thực hiện quy định nêu
gương của đảng viên gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả; Ba là, tăng cường giáo dục, rèn
luyện, thực hành đạo đức cách mạng phải đi đôi với kiên quyết chống chủ nghĩa
cá nhân, bệnh cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”
Ngoài ra, còn có một số bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí khoahọc đề cập đến việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh như: Trịnh Thị Tân (2013), “Về phương pháp nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [97] Trần Khắc Việt (2012), “Phong cách làm việc của người đứng đầu” [167] Lê Thị Túy Na (2012), “Nêu gương về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [76] Phạm Văn Khánh (2010), “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
và tác dụng của việc nêu gương trong công tác xây dựng Đảng” [44].
1.2.4 Nhóm công trình nghiên cứu về nêu gương và thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ
* Sách tham khảo vào kỷ yếu hội thảo khoa học
- Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (2013), Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay [91] Cuốn sách đã bàn về những quan điểm của các nhà kinh điển về
người cộng sản Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, người cộng sản phải là nhữngngười tiên phong về lý luận và tiên phong trong hoạt động thực tiễn V.I.Lêninyêu cầu đảng viên cộng sản phải tiên tiến hơn quần chúng và khác về chất so vớiđảng viên của các đảng khác, các phần tử cơ hội Một trong những tiêu chuẩncủa người cộng sản nói chung, người cộng sản Việt Nam nói riêng được các tácgiả xác định là phải tiên phong, gương mẫu về lý luận và thực tiễn
- Ban Tổ chức Trung ương (2017), Cơ sở khoa học về ngăn chặn, đẩy lùi suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam: Kỷ yếu hội thảo khoa học
cấp quốc gia [3] Cuốn sách gồm các bài tham luận trình bày những vấn đề lý luận
cơ bản, nguyên nhân, yếu tố tác động và vấn đề đặt ra để ngăn chặn, đẩy lùi suythoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”
Trang 25trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay và một số kinh nghiệm quốc tế liên quan.
* Bài báo khoa học trên các tạp chí
Chủ đề nêu gương và thực hiện TNNG được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu với nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học Có thể kể đến các bài viết sau:
- Đinh Ngọc Giang (2012), “Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” [33] Tác giả đã chỉ rõ tự phê bình và phê bình là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đòi hỏi mỗi tổ chức đảng,
CB, ĐV phải thực hiện nghiêm túc, tự giác Đối với người đứng đầu cấp ủy,trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phải gương mẫu thực hiện tự phê bình và phêbình, làm gương cho cấp dưới và CB, ĐV, trong sinh hoạt đảng phải nêu cao tính
tự giác, dũng khí Theo tác giả, cán bộ lãnh đạo, quản lý gương mẫu thực hiện tựphê bình và phê bình phải nghiêm túc, nêu gương bằng hành động thực tế
- Lê Thị Hường Mai (2016) “Vai trò nêu gương của người đứng đầu” [59].
Tác giả đã nêu lên những giải pháp để phát huy vai trò nêu gương của người đứngđầu: lựa chọn cán bộ; hoàn thiện chế tài chặt chẽ, rõ ràng, nghiêm khắc; quản lý người đứng đầu; đánh giá người đứng đầu bằng tiêu chí nêu gương
-Nguyễn Đức Hà (2018), “Nêu gương để “xây” cán bộ tốt” [38] Tác giả
chỉ rõ nêu gương là một trong năm phương thức lãnh đạo của Đảng nên trongquá trình lãnh đạo, CB, ĐV, nhất là cán bộ có chức vụ càng cao, càng phảigương mẫu vì chức vụ của cán bộ càng lớn thì phạm vi tác động và sự ảnh hưởngcàng rộng Bài viết cũng chỉ rõ trước thực trạng không ít cán bộ lãnh đạo, quản
lý, kể cả cán bộ cấp cao vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định của Đảng càng đặt
ra yêu cầu phải thực hiện tốt nêu gương, coi đó là một trong những giải pháp đểxây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ
- Hà Sơn Thái (2018), “Phương pháp nêu gương trước quần chúng của người
CB, ĐV” [99] Bài viết phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò
của quần chúng nhân dân Để phát huy vai trò của nhân dân, không được dùngphương pháp mệnh lệnh, áp đặt mà phải có phương pháp phù hợp, trong đó nêugương và giúp đỡ là phương pháp đặc biệt có giá trị Tác giả cũng chỉ rõ sự kếthừa và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh về phương pháp nêu
Trang 26gương Người yêu cầu mỗi CB, ĐV phải thực sự làm kiểu mẫu trong công tác,lối sống mọi lúc, mọi nơi, nói đi đôi với làm Đó chính là dùng tấm gương ngườitốt, việc tốt để tác động đến quần chúng nhân dân.
-Nguyễn Văn Định (2018), “Cơ chế để phát huy nghĩa vụ, trách nhiệm tự giác,
nêu gương của tổ chức đảng và đảng viên trong thực hành đạo đức hiện nay” [31] Bài
viết khẳng định vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội, là một bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần xã hội, có tác dụng điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân Theo tác giả, mỗi tổ chức đảng, đảng viên phải thực hành đạo đức với tinh thần, trách nhiệm cao
và gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy, để phát huy trách nhiệm, tự giác thực hành đạo đức của các
tổ chức đảng, đảng viên, tác giả đề xuất bốn giải pháp có tính khả thi để phát huy TNNG trong thực hành đạo đức của các tổ chức đảng, đảng viên.
-Phan Xuân Sơn, Nguyễn Thị Thanh Dung (2018), “Nêu gương - một phương
thức lãnh đạo của Đảng” [92] Trong bài viết, các tác giả đã làm rõ khái niệm,
những giá trị đặc trưng của nêu gương trong đời sống xã hội Nêu gương là mộtcông cụ và thuộc tính của lãnh đạo Chủ thể của nêu gương là CB, ĐV của Đảng
Ở vị trí càng cao, TNNG càng lớn về cả 3 nội dung: đối với mình, đối với người và
đối với việc Các tác giả cũng phân tích các phương thức nêu gương: Nêu gương thực hành đạo đức, nêu gương bằng xây dựng tấm gương tốt, nêu gương bằng những người, việc cụ thể và cần đặt nêu gương trong mối quan hệ với các công cụ lãnh
đạo khác để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện hiện nay
- Nguyễn Đình Phong (2018), “Nêu gương - một trong các phương thức lãnh
đạo” [86] Tác giả đã làm rõ khái niệm lãnh đạo và mối quan hệ với nêu gương.
Theo tác giả, nêu gương trong lãnh đạo là lấy quyền lực cá nhân làm công cụ lãnhđạo nên mọi lời nói, hành động của CB, ĐV đều trực tiếp hoặc gián tiếp quy địnhlời nói và hành động của các tầng lớp nhân dân Dựa trên những phân tích về nêugương theo Quy định số 08-QĐ/TW, tác giả đưa ra 4 giải pháp để tăng cườnghiệu quả nêu gương của cán bộ lãnh đạo
-Ngô Sách Thực (2019), “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt
Nam, các tổ chức CT-XH và nhân dân trong giám sát người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp thực hiện quy định nêu gương” [109] Bài viết chỉ rõ MTTQ có vai trò
Trang 27quan trọng trong giám sát việc thực hiện quy định nêu gương, giúp cho người đứngđầu rèn luyện phong cách, bản lĩnh lãnh đạo, khắc phục bệnh quan liêu, phòng ngừasai phạm và hoàn thành tốt nhiệm vụ Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu lên những giảipháp để phát huy vai trò chủ động, tích cực của MTTQ trong giám sát việc thựchiện quy định nêu gương của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp.
- Nguyễn Minh Tuấn (2019), “Tạo chuyển biến trong công tác xây dựng Đảng từ việc tăng cường TNNG” [164] Tác giả khái quát thực trạng công tác xây dựng Đảng trong thời gian qua, trong đó vai trò nêu gương của CB, ĐV là
nguyên nhân tạo nên những chuyển biến tích cực của công tác xây dựng Đảng
- Nguyễn Minh Tuấn (2019), “Tư tưởng C.Mác về tính tiên phong của đảng viên và yêu cầu nêu gương của đội ngũ đảng viên hiện nay” [165] Bài viết đã
phân tích tư tưởng của C.Mác về tính tiên phong của người đảng viên trên cả mặt
lý luận và thực tiễn Trong điều kiện đảng cầm quyền, Đảng đứng trước nhữngnguy cơ, trong đó nguy cơ về sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống của một bộ phận không nhỏ CB, ĐV đã làm giảm sút vai trò lãnh đạo củaĐảng, suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng Thực trạng đó đặt ra yêu cầu
CB, ĐV phải nêu gương trong giai đoạn hiện nay
- Đinh Ngọc Giang (2019), “Trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV theo tinh
thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII” [34] Bài viết đã chỉ rõ sự cần thiết phải
thực hiện TNNG của CB, ĐV, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, đồng thờiphân tích thực trạng thực hiện TNNG của CB, ĐV trên các mặt và đưa ra các giảipháp thực hiện tốt TNNG theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII
- Đỗ Văn Lược (2019), “Mấy suy nghĩ về vấn đề nêu gương” [56] Bài viết
chỉ rõ một thực tế, trong kiểm điểm, đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm,hầu hết đảng viên đều tự nhận đã làm tốt việc nêu gương, song vẫn còn không ítbiểu hiện thiếu gương mẫu của CB, ĐV, kể cả cán bộ cấp chiến lược, thậm chí viphạm kỷ luật Do đó, CB, ĐV phải tự giác, tự trọng nêu gương trên mọi lĩnh vực,trong mọi hoàn cảnh để nhân dân và cấp dưới noi theo
- Cao Văn Thống (2019), “Trách nhiệm nêu gương - Quyết tâm của Đảng
trong xây dựng đội ngũ CB, ĐV” [107] Trong bài viết, tác giả khái quát nhận thức
của Đảng qua các kỳ đại hội về tầm quan trọng của nêu gương và đề ra các nghị
Trang 28quyết, chỉ thị để xây dựng đội ngũ CB, ĐV Đồng thời, tác giả cũng nêu lên 5giải pháp để thực hiện tốt TNNG của CB, ĐV, đặc biệt là những cán bộ có chức,
có quyền, trong đó giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện là một giải pháp quan trọng đòihỏi mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nghiêm túc thực hiện
- Nguyễn Xuân Thắng (2020), “Đề cao TNNG của CB, ĐV, đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức trong tình hình mới” [100] Bài viết khẳng định tính tất
yếu, khách quan của công tác xây dựng Đảng về đạo đức Đó là nhiệm vụ quantrọng, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó,phải đề cao TNNG của CB, ĐV để Đảng ta luôn “là đạo đức, là văn minh” Tácgiả đã nêu lên 4 giải pháp để công tác xây dựng Đảng về đạo đức đạt hiệu quảthiết thực hơn nữa, cụ thể: (1) Nâng cao nhận thức về TNNG của CB, ĐV đểmọi người đều nhận thức rõ nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và đạo lý củangười CB, ĐV; đồng thời chuyển từ nhận thức, thái độ đúng đắn thành nhữnghành động thiết thực, cụ thể; (2) Tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc;bảo đảm dân chủ, không độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng;luôn gắn bó mật thiết với nhân dân ở nơi cư trú cũng như nơi công tác; (3) Kiênquyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực;dũng cảm tự phê bình và phê bình; (4) Mỗi CB, ĐV, cấp ủy, tổ chức đảng tíchcực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và thực hành TNNG
- Đoàn Thế Hanh (2020), “Vấn đề nêu gương của CB, ĐV, trước hết là cán
bộ cao cấp - nhận thức và hành xử” [36] Tác giả luận giải 2 lý do đòi hỏi CB,
ĐV, nhất là cán bộ cấp cao phải nêu gương Một là, xuất phát từ trọng trách của Đảng đối với đất nước, với nhân dân Hai là, xuất phát từ tính tiên phong của
Đảng Bài viết cũng chỉ rõ thế nào là những cán bộ nêu gương và các biện pháp
cụ thể để CB, ĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủyviên BCH Trung ương luôn nêu gương
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác bàn về nêu gương như:
Nguyễn Hồ Cảnh (2016), “Đảng bộ tỉnh Nghệ An thực hiện các biện pháp nêu cao
tính tiền phong gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ý lại trong CB, ĐV”
[9] Lê Văn Yên (2018), “Trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV, nhất là người đứng
đầu trong giai đoạn hiện nay” [169]; Lưu Văn Sùng (2018), “Nâng cao tính nêu
Trang 29gương trong Đảng, phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong tình hình hiện nay” [93]…
* Luận án tiến sĩ
- Nguyễn Văn Hào (2012), Tính tiền phong của đảng viên nông thôn các tỉnh
Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay [39] Tác giả đã làm rõ 6 nội dung tính tiền
phong của đảng viên ở nông thôn các tỉnh Tây Nguyên, bao gồm tính tiền phong
về phẩm chất chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, tính tiền phong về đạo đức, lốisống; tính tiền phong trong lao động, công tác; tính tiền phong trong học tập, rènluyện; tính tiền phong trong xây dựng tổ chức đảng và tính tiền phong trong mốiquan hệ với nhân dân
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan
Những công trình nghiên cứu trên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau
và đã đạt được một số kết quả nổi bật để tác giả tiếp thu, kế thừa và phát triển
Một là, phân tích những vấn đề lý luận về cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý,
cán bộ chủ chốt, cán bộ diện cấp ủy các cấp quản lý, thẩm quyền, trách nhiệmcủa người đứng đầu, cán bộ chủ chốt Tuy nhiên, các công trình trên chưa làm rõđược tính đặc thù của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB Trên cơ
sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó, luận án cần tiếp tụcnghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CBH diện BTVTU quản
lý ở các tỉnh miền ĐNB
Hai là, bàn đến trách nhiệm và việc thực hiện trách nhiệm của cán bộ, các
nội dung thực hiện trách nhiệm của cán bộ như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệmchính trị, trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, cũng chưa có công trình nào phân tíchđầy đủ, sâu sắc về cơ chế, nội dung, phương thức thực hiện TNNG của CBHdiện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, nhất là đặc thù của việc thực hiệnTNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
Ba là, luận giải về nêu gương và TNNG, trong đó có một số nội dung cụ thể
về nêu gương như nêu gương về đạo đức, nêu gương trong công tác cán bộ, nêu
Trang 30gương về tự phê bình, phê bình, nêu gương trong thực hiện các chỉ thị, nghịquyết của Đảng, nhất là Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theotấm gương, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Tuy nhiên, các công trình đóchưa đề cập sâu sắc, đầy đủ đến nội dung, phương pháp, biện pháp nêu gươngcủa các chức danh CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB.
Bốn là, nêu lên một số giải pháp phát huy vai trò nêu gương của người đứng
đầu như giải pháp về lựa chọn cán bộ, quản lý cán bộ, kiểm tra, giám sát, đánh giácán bộ, giải pháp về các quy chế, quy định, song chưa có những giải pháp để thựchiện tốt TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
Như vậy, ở các phương diện khác nhau, kết quả của những công trìnhnghiên cứu trên có đóng góp về nhiều mặt, đối với tổ chức, đối với CB, ĐV, đốivới công tác xây dựng Đảng Đó là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tham khảo,
kế thừa và phát triển hướng nghiên cứu của luận án
1.3.2 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Hiện nay, chủ đề nêu gương tiếp tục sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước,các tổ chức CT-XH và các tầng lớp nhân dân Nêu gương tác động tích cực trựctiếp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, đến công tác xây dựng Đảng và uytín, vị thế, vai trò của Đảng, các cấp ủy đảng, đội ngũ đảng viên Tuy nhiên, chưa
có nhiều công trình nghiên cứu sâu, có hệ thống về TNNG và thực hiện TNNGcủa CB, ĐV nói chung, CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB nóiriêng, những ưu điểm và hạn chế cụ thể của việc thực hiện TNNG của CBH diệnBTVTU quản lý Vì vậy, đây là một khoảng trống cần nghiên cứu Trên cơ sởtham khảo, kế thừa có chọn lọc những công trình khoa học đã được công bố,luận án tiếp tục nghiên cứu sâu một số nội dung sau:
Một là, làm rõ khái niệm CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB,
phân tích chức trách, nhiệm vụ, đặc điểm và vai trò của CBH diện BTVTU quản
lý ở các tỉnh miền ĐNB
Hai là, nghiên cứu, làm rõ lý luận về thực hiện TNNG, trong đó xây dựng
khái niệm trung tâm thực hiện TNNG; phân tích nội dung, phương thức thựchiện TNNG của CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB
Trang 31Ba là, khảo sát, đánh giá kết quả và hạn chế trong thực hiện TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân, kinh nghiệm để CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB thực hiện tốt TNNG.
Bốn là, trên cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực hiện TNNG của CBH diện
BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB, luận án xác định phương hướng, đề xuấtgiải pháp chủ yếu để CBH diện BTVTU quản lý ở các tỉnh miền ĐNB thực hiệntốt TNNG đến năm 2030
Trang 32Chương 2 THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 TỈNH, ĐẢNG BỘ TỈNH, TỈNH ỦY, BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY VÀ CÁN BỘ HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢN LÝ Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
2.1.1 Các tỉnh, đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy ở miền Đông Nam bộ
2.1.1.1 Khái quát về các tỉnh ở miền Đông Nam bộ
Đông Nam bộ là vùng đất mới trong lịch sử hình thành và phát triển của dântộc Việt Nam, nằm ở phía Nam của dải đất hình chữ S, có vị trí, vai trò rất quantrọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh củavùng và cả nước Theo Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29-8-2005 của Bộ Chính trịkhóa IX về “phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐNB và vùngkinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”; Quyếtđịnh số 123/2006/QĐ-TTg ngày 29-5-2006 của Thủ tướng Chính phủ về “Ban hànhChương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết 53-NQ/TW của BộChính trị về phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐNB và vùngkinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và Quyếtđịnh số 943/QĐ-TTg ngày 20-7-2012 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Quyhoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng ĐNB đến năm 2020”, ĐNB gồm 01 thànhphố trực thuộc Trung ương và 5 tỉnh: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, BìnhDương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước
Về điều kiện tự nhiên, ĐNB có 23.552,8 km2 diện tích tự nhiên, chiếm 7,1% diện tích cả nước [157, tr.98] Phía Đông và Đông Nam của ĐNB giáp Tây
Nguyên và duyên hải Nam Trung bộ; phía Tây và Tây Nam giáp với Campuchia
và Đồng bằng sông Cửu Long, là cầu nối vùng Tây Nguyên và Duyên hải NamTrung bộ với Đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọngcủa các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, tác động lớn đến sự phát triểnkinh tế, xã hội (KT-XH) của vùng nói chung và cả nước nói riêng Đây cũng là
Trang 33vùng đất giàu tài nguyên, có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển các ngành kinh tếcông nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
Về đơn vị hành chính, ĐNB có 72 đơn vị cấp huyện, gồm: 7 thành phố, 7 thị
xã, 19 quận và 39 huyện trực thuộc tỉnh, thành phố Riêng 5 tỉnh miền ĐNB có 34huyện, gồm: 4 huyện của tỉnh Bình Dương: Phú Giáo, Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng,Dầu Tiếng; 5 huyện của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Long Điền, Xuyên Mộc, Đất Đỏ,Châu Đức, Côn Đảo; 9 huyện của tỉnh Đồng Nai: Cẩm Mỹ, Định Quán, LongThành, Thống Nhất, Nhơn Trạch, Tân Phú, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc; 8huyện của tỉnh Bình Phước: Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Đăng, Bù Gia Mập, Đồng Phú,Hớn Quản, Chơn Thành, Phú Riềng; 8 huyện của tỉnh Tây Ninh: Hòa Thành, ChâuThành, Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu,trong đó, có 8 huyện biên giới, tiếp giáp với Campuchia: Bù Gia Mập, Bù Đốp, LộcNinh (tỉnh Bình Phước), Châu Thành, Trảng Bàng, Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu(tỉnh Tây Ninh) và 1 huyện đảo - Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) [Phụ lục số 2]
Về kinh tế, ĐNB là địa bàn phát triển kinh tế lớn nhất cả nước, có các trung
tâm kinh tế, thương mại, nơi tập trung các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diệnnước ngoài, là địa bàn thường xuyên diễn ra các hội nghị, tổ chức các diễn đànquốc tế và khu vực, có tiềm năng phát triển nhanh, mạnh, nhất là về kinh tế côngnghiệp, dịch vụ, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài Cơ cấu kinh tế vùng ĐNB
đa dạng gồm: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, trong đó kinh tế côngnghiệp chiếm vị trí quan trọng Đây cũng là khu vực có tứ giác kinh tế trọngđiểm (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu), cóđóng góp rất lớn cho cả nước về GDP, với khoảng 45% GDP, 50% tổng giá trịsản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu và ngân sách cả nước [184]
Về văn hóa - xã hội, tính đến ngày 31/12/2019, 6 tỉnh, thành phố ở miền ĐNB có
17.930.300 người [157, tr.98], chiếm 18,5% dân số cả nước, trong đó Bình Phước là tỉnh có diện tích rộng nhất vùng với số dân ít nhất, chỉ gần 1 triệu dân Là khu vực năng động, phát triển, ĐNB thu hút lực lượng lao động từ khắp các địa phương trong cả nước, tạo nên cơ cấu dân số vùng khá phong phú, đa dạng Đông Nam bộ cũng là nơi tập trung nhiều dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, người Hoa, và khoảng
Trang 3413 tôn giáo, trong đó Phật giáo chiếm số lượng lớn, tạo nên sự giao thoa văn hóagiữa các dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giữa các địa phương, vùng miền với sắcthái văn hóa đa dạng Các dân tộc sinh sống ở vùng ĐNB có sự gắn kết chặt chẽvới nhau trong quá trình phát triển, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong khốiđại đoàn kết dân tộc Đây cũng là nơi có sự tiếp thu văn hóa thế giới tạo nên đặctrưng văn hóa vùng ĐNB phong phú, đa dạng, tiến bộ, vừa có đặc trưng văn hóavùng miền, vừa mang tính tiên tiến, hiện đại trong xu thế hội nhập quốc tế.
Về quốc phòng, an ninh, ĐNB là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, có
tầm quan trọng về đường không, đường biển, đường biên giới Về đường không, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh Về đường biển, ĐNB có khoảng 320 km đường bờ biển với các huyện, thị xã, thành phố của các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp giáp biển và huyện đảo Côn Đảo của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đặc điểm này chi phối rất lớn đến sự phát triển của từng địa phương nói riêng, vùng ĐNB nói chung Về đường biên giới, đây là vùng có hơn 500
km đường biên giới thuộc hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh tiếp giáp với 5 tỉnh Tbong Khmum, Kratie, Mundulkiri, Prey Veng, Svay Rieng của Campuchia Với đặc điểm về đường không, đường biển, đường biên giới, ĐNB có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm quốc phòng, an ninh của khu vực và cả nước.
Cùng với quá trình phát triển về KT-XH, trong những năm gần đây, một số địaphương ở miền ĐNB xuất hiện những vấn đề nóng, nổi cộm như quản lý đất đai,giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãng phí,… đãảnh hưởng rất lớn vai trò lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chính quyền địa phương,ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.Chính vì vậy, với đặc thù về văn hóa, xã hội, dân cư tập trung đông ở các thành phố,thị xã đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền địa phương và đội ngũ cán bộ chủ chốt cáccấp phải không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, uy tín đáp ứng yêu cầu phát triểncủa từng địa phương nói riêng và miền ĐNB nói chung
Như vậy, những điều kiện, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội và
quốc phòng, an ninh của miền ĐNB tác động đến toàn bộ quá trình phát triển của
Trang 35từng địa phương, vùng ĐNB và cả nước, đưa ĐNB trở thành địa bàn chiến lượctrong phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh Hiện nay, để tiếp tụcphát triển nhanh, bền vững miền ĐNB, bên cạnh việc nắm bắt các điều kiện, đặcđiểm vùng để có hướng phát triển phù hợp, còn đòi hỏi ngày càng cao về chấtlượng đội ngũ cán bộ để xây dựng, phát triển địa phương, vùng trên các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh.
2.1.1.2 Các đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy ở các tỉnh miền
Đông Nam bộ
- Khái quát về các đảng bộ tỉnh ở miền ĐNB
Đảng bộ tỉnh ở miền ĐNB là tổ chức đảng được thành lập tương ứng với tổchức hành chính nhà nước cấp tỉnh ở miền ĐNB, đặt dưới sự lãnh đạo của BanChấp hành (BCH) Trung ương, có các tổ chức đảng trực thuộc là các đảng bộhuyện, thị xã và tương đương và các tổ chức cơ sở đảng
Các đảng bộ tỉnh ở miền ĐNB gồm: Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,Đảng bộ tỉnh Bình Dương, Đảng bộ tỉnh Bình Phước, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vàĐảng bộ tỉnh Tây Ninh Hệ thống tổ chức đảng ở các tỉnh miền ĐNB được thiết
kế chặt chẽ, thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở theo quy định của Đảng 5 tỉnh
ở miền ĐNB có 83 đảng bộ cấp trên cơ sở và 3470 tổ chức cơ sở đảng với229.101 đảng viên [Phụ lục số 3]
Hệ thống tổ chức của Đảng ở các tỉnh miền ĐNB là các tổ chức do đại hộiđảng bộ địa phương bầu, các cấp ủy đảng bộ địa phương bầu hoặc chỉ định thành
lập, hoạt động theo những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, gồm: Một là, các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở địa phương do đại hội cùng cấp bầu hoặc chỉ định thành lập (cấp tỉnh: các tỉnh ủy, BTV tỉnh; đảng đoàn, ban cán sự đảng trong các cơ quan nhà nước và HTCT ở các tỉnh; cấp huyện: các cấp ủy cấp huyện, BTV cấp ủy cấp huyện; cấp cơ sở: chi ủy, đảng ủy, BTV đảng ủy cấp cơ sở); Hai là, các ban
tham mưu của các cấp ủy ở các tỉnh miền ĐNB trực tiếp tham mưu cho các cấp ủy
nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức (cấp
tỉnh: ban tổ chức; ban tuyên giáo, ban dân vận; ban nội chính; ủy ban kiểm tra; ban
dân vận; cấp huyện: ban tổ chức, ban tuyên giáo,
Trang 36ban dân vận, ủy ban kiểm tra và văn phòng cấp ủy; cấp cơ sở: ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban dân vận, ủy ban kiểm tra, văn phòng cấp ủy); Ba là, các đơn vị
sự nghiệp của Đảng ở các tỉnh miền ĐNB (trường chính trị tỉnh, báo tỉnh, các
trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã); Bốn là, các chi bộ, đảng bộ trực
thuộc các cấp ủy đảng địa phương
- Các tỉnh ủy ở miền ĐNB - khái niệm, chức năng, nhiệm vụ
Vậy, tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội đại biểuđảng bộ tỉnh do đại hội bầu ra để lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội Đạibiểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh và nghịquyết, chỉ thị của tỉnh ủy, quyết định các vấn đề thuộc phạm vi, quyền hạn theo quyđịnh của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dânchủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quyết định theo đa số
Các tỉnh ủy ở miền ĐNB bao gồm: Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu, Tỉnh ủyBình Dương, Tỉnh ủy Bình Phước, Tỉnh ủy Đồng Nai, Tỉnh ủy Tây Ninh, có tổchức bộ máy thống nhất, bao gồm bí thư tỉnh ủy, các phó bí thư tỉnh ủy, ủy viênBTVTU, ủy viên BCH đảng bộ tỉnh và các ban tham mưu của tỉnh ủy: văn phòngtỉnh ủy, ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban dân vận, ban nội chính, ủy ban kiểm tra
và các đơn vị sự nghiệp của tỉnh ủy (báo tỉnh, trường chính trị tỉnh)
+ Chức năng
Theo Quy định số 10-QĐi/TW ngày 12-12-2018 của BCH Trung ương “vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp ủy, BTV cấp ủytỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, tỉnh ủy có chức năng lãnh đạo và chứcnăng xây dựng Đối tượng lãnh đạo của tỉnh ủy là các tổ chức đảng trực thuộc, độingũ đảng viên, chính quyền địa phương, HTCT, các tổ chức kinh tế, các tổ chức
Trang 37xã hội và lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội của địa phương Tỉnh ủy lãnhđạo các mặt công tác: phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tácxây dựng Đảng và HTCT.
Chức năng lãnh đạo của tỉnh ủy gồm: (1) Tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chứcđảng trực thuộc và đội ngũ đảng viên thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tácxây dựng Đảng Tỉnh ủy ban hành các nghị quyết về công tác xây dựng Đảng vàchỉ đạo các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên thực hiện; (2) Tỉnh ủy lãnh đạochính quyền địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy địnhcủa Hiến pháp và pháp luật; (3) Tỉnh ủy lãnh đạo HTCT và các tổ chức khác ởđịa phương thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp,pháp luật Tỉnh ủy xây dựng và ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạchđối với các tổ chức trong HTCT và các tổ chức khác ở địa phương hoạt độngtheo đúng quy định và chủ trương của tỉnh ủy; (4) Tỉnh ủy lãnh đạo các mặtcông tác và các lĩnh vực của đời sống xã hội của địa phương
Chức năng xây dựng của tỉnh ủy gồm: (1) Tỉnh ủy xây dựng hệ thống tổ chức
bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả Tỉnh ủy sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộmáy theo phạm vi thẩm quyền được quy định trong các văn bản của Đảng
(2) Tỉnh ủy xây dựng đội ngũ CB, ĐV trong toàn đảng bộ tỉnh Tỉnh ủy thựchiện quy trình công tác CB, ĐV, xây dựng đội ngũ CB, ĐV có bản lĩnh, phẩmchất, năng lực đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh (3) Tỉnh
ủy tham gia xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.Căn cứ vào tình hình phát triển của đất nước nói chung, của vùng và địa phươngnói riêng, tỉnh ủy đề xuất, kiến nghị Đảng, Nhà nước xây dựng chủ trương,đường lối phù hợp với thực tiễn phát triển của vùng, địa phương (4) Tỉnh ủyxây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạođức (5) Tỉnh ủy tham gia xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng cấp Trung ương
+ Nhiệm vụ
Điều 19 Điều lệ Đảng quy định: “Cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy),… lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đạibiểu; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” [25, tr.33] Căn cứ Điều lệ Đảng và Quyđịnh số 10-QĐi/TW, các tỉnh ủy ở miền ĐNB có các nhiệm vụ sau:
Trang 38Một là, tỉnh ủy quán triệt, chấp hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết đạihội đại biểu đảng bộ tỉnh, các nghị quyết, chỉ thị của tỉnh ủy
Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền địa phương cụ thể hóa và tổ chức thực
hiện các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xãhội, quốc phòng, an ninh của địa phương
Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức đảng trực thuộc và đội ngũ đảng viên và
thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức
Bốn là, tỉnh ủy lãnh đạo và thực hiện công tác tổ chức, cán bộ theo thẩm
quyền do Đảng quy định
Năm là, tỉnh ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng trực
thuộc, đội ngũ CB, ĐV theo quy định của Điều lệ Đảng
Sáu là, tỉnh ủy chuẩn bị nhân sự, dự thảo văn kiện và tổ chức đại hội đảng
+ Chức năng của BTVTU:
Theo khoản 3 Điều 20 Điều lệ Đảng: “Ban thường vụ lãnh đạo và kiểm tra,giám sát việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị củacấp ủy cùng cấp và cấp trên; quyết định những vấn đề về chủ trương, tổ chức,cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của cấp ủy” [25,tr.34] Chức năng cụ thể của BTVTU được quy định tại Quy định số10-QĐi/TW, với các chức năng cơ bản sau:
Một là, BTVTU có chức năng lãnh đạo, thay mặt tỉnh ủy lãnh đạo các mặt
công tác, đồng thời có chức năng xây dựng nội bộ BTVTU Đối tượng lãnh đạo của
BTVTU là các tổ chức đảng trực thuộc (gồm các đảng bộ huyện, thị xã, thành phốtrực thuộc tỉnh, đảng bộ khối các cơ quan tỉnh, đảng bộ khối doanh nghiệp
Trang 39tỉnh, đảng bộ quân sự tỉnh, đảng bộ công an tỉnh), các tổ chức trong HTCT tỉnh(MTTQ Việt Nam tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Đoàn Thanh niên, Hội Liênhiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân), các tổ chức trực thuộc khác,đội ngũ đảng viên và các tầng lớp nhân dân ở địa phương.
Hoạt động lãnh đạo của BTVTU bao gồm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và các mặt công tác của địa phương; công tácxây dựng đảng bộ và HTCT tỉnh, lãnh đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giámsát theo Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26-7-2016 về “thi hành chương VII vàchương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng”
Hai là, BTVTU có chức năng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng Đó là lãnh đạo các tổ chức, các lực lượng trên địa bàn
tỉnh thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, xây dựng nông thôn mới…; là lãnh đạo bảo đảm quốc phòng, an ninh, xâydựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, giữ vững an ninh, chínhtrị, trật tự an toàn xã hội Lãnh đạo cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết củaĐảng, của tỉnh ủy về công tác xây dựng Đảng và HTCT để các tổ chức đảng,đảng viên thực hiện
Ba là, BTVTU có chức năng quyết định những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm
quyền, gồm những vấn đề về công tác tổ chức, công tác cán bộ diện BTVTUquản lý: quyết định thành lập, hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể, chia tách các tổchức trực thuộc theo thẩm quyền hoặc cho chủ trương về công tác tổ chức đốivới các tổ chức trực thuộc; phân công công tác cho các ủy viên BCH đảng bộtỉnh, ủy viên BTVTU trong việc phụ trách địa bàn, nội dung công tác; bổ nhiệm,điều động, luân chuyển cán bộ diện BTVTU quản lý; xây dựng chiến lược pháttriển đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh; thực hiện các khâu trong công tác cán bộnhư quy hoạch, phê duyệt quy hoạch cán bộ,
Bốn là, BTVTU có chức năng tham mưu, đề xuất Ban thường vụ tỉnh ủy
tham mưu cho tỉnh ủy những vấn đề quan trọng của tỉnh như chiến lược pháttriển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tham mưu về công tác cán bộ Bêncạnh đó, BTVTU chủ động đề xuất những vấn đề lớn, quan trọng phù hợp vớithực tiễn của địa phương trình cấp ủy xem xét, quyết định
Trang 40Năm là, BTVTU có chức năng phối hợp, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính
trị được giao Ban thường vụ tỉnh ủy phối hợp với các tổ chức có liên quan: (1)Các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương về công tác cán bộ; (2) Phốihợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc Trung ương; (3) Phối hợp với đảng ủylực lượng vũ trang trong thực hiện các vấn đề về công tác cán bộ, kiểm tra, giámsát và bảo đảm quốc phòng, an ninh
Như vậy, BTVTU là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở cấp tỉnh, có chức năng
lãnh đạo, quyết định những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm quyền, đề xuất, kiếnnghị với cơ quan lãnh đạo cấp trên những vấn đề của địa phương và phối hợp, tổchức thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao
+ Nhiệm vụ của BTVTU
Căn cứ Điều 5 Quy định số 10-QĐi/TW, BTVTU có các nhiệm vụ: (1)Lãnh đạo cụ thể hóa và xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉthị của Đảng, tỉnh ủy; (2) Lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những vấn đề lớn, phứctạp về KT-XH, quốc phòng, an ninh nảy sinh trên địa bàn; (3) Định hướng quyhoạch, kế hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực ở địa phương, quyết địnhhoặc cho chủ trương, định hướng, biện pháp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, anninh, đối ngoại; (4) Tham gia xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng, nhất là những vấn đề có liên quan đến địa phương; (5) Quyết định nhữngvấn đề quan trọng theo thẩm quyền và thực hiện những nhiệm vụ khác do Trungương, tỉnh ủy giao; (6) Thực hiện nhiệm vụ quản lý đội ngũ cán bộ được phâncấp; (7) Ủy quyền cho thường trực tỉnh ủy một số công việc thuộc thẩm quyềncủa BTVTU, trong đó có một số nhiệm vụ trong công tác cán bộ như: quyết địnhthẩm tra cán bộ diện BTVTU quản lý khi cần thiết; cho ý kiến đối với các cơquan chức năng thực hiện quy trình nhân sự trình BTVTU xem xét, quyết địnhđối với các chức danh cán bộ diện BTVTU quản lý, trong đó có các chức danhCBH diện BTVTU quản lý Bên cạnh đó, BTVTU còn có nhiệm vụ xây dựngchương trình, kế hoạch công tác của tỉnh ủy; triệu tập và chuẩn bị nội dung các
kỳ họp của tỉnh ủy; chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc sơ kết, tổng kết việc thựchiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và của tỉnh ủy; quy định chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy