Mục đích của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 là giúp HS tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép[r]
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I - THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Nâng cao chất lượng giải Toán có lời văn lớp 1”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo
3 Tác giả:
Họ và tên : ĐOÀN THỊ LÝ Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 29/01/1967
Trình độ chuyên môn : Cao đẳng Sư phạm
Chức vụ: Giáo viên – Tổ trưởng tổ 1
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Vân Trường
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
4 Đồng tác giả (nếu có):
Ngày, tháng, năm sinh:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: %
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (nếu có):
Tên đơn vị:
Địa chỉ:
Điện thoại:
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Vân Trường
Địa chỉ: Thôn Quân Bác Đoài, xã Vân Trường, huyện Tiền Hải
Điện thoại: 0363 686 901
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016
Trang 2II - BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Nâng cao chất lượng giải Toán có lời văn lớp 1”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo.
3 Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1 Tình trạng giải pháp:
Môn Toán Tiểu học nói chung, lớp 1 nói riêng là môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đường cho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học Thông qua dạy học toán, các em được phát triển năng lực tư duy, được rèn luyện khả năng suy luận hợp
lý diễn đạt đúng (nói và viết), phát hiện và giải quyết những vấn đề đơn giản gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học toán Góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học chủ động linh hoạt, sáng tạo Giải toán có lời văn là một trong những mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học nói chung, lớp 1 nói riêng.Học giải toán có lời văn các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học với thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác Do
đó việc nâng cao chất lượng dạy học Giải toán có lời văn ngay từ lớp 1 là cực kì quan trọng
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong giải toán,đặc biệt là giải toán có lời văn ở lớp 1.Bởi vì đối với lớp 1: Vốn từ ngữ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy logic của các em còn rất hạn chế Một hạn chế nổi bật nữa hiện nay là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Với một bài toán có lời văn các em có thể tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra cách giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu logic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chuẩn xác, thiếu khoa học, chưa có phương pháp học toán,
và giải toán một cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước
Trang 33.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
- Mục đích của giải pháp:
Mục đích của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 là giúp HS tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải bài toán
- Nội dung giải pháp:
Muốn nâng cao được chất lượng Giải toán có lời văn ở lớp 1, giáo viên phải thực hiện một số nội dung sau:
+ Nắm chắc nội dung chương trình Toán lớp 1.
+ Tổ chức cho HS thực hiện các bước giải toán.
+ Tổ chức rèn kỹ năng giải toán.
+ Rèn luyện năng lực khái quát hóa giải toán.
1 Nắm chắc nội dung chương trình Toán 1:
Để dạy tốt "Giải bài toán có lời văn lớp 1" điều đầu tiên mỗi giáo viên
phải nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa Trong chương trình toán lớp Một, giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên chưa thể dạy ngay
"Bài toán có lời văn" Mặc dù đến tận tuần 22, học sinh mới được chính thức học cách giải "Bài toán có lời văn".Song chúng ta đã có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ tuần 7, bài Luyện tập"Phép cộng trong phạm vi 3” Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16, trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng, trừ trong phạm vi 10 đều có các bài tập thuộc dạng "Nhìn tranh nêu phép tính" ở đây học sinh được làm quen với việc:
- Xem tranh vẽ
- Nêu bài toán bằng lời
- Nêu câu trả lời
- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)
Ví dụ 1: Bài 4 / 47-SGK
Trang 4Sau khi quan sát tranh vẽ, học sinh tập nêu bài toán bằng lời :
"Có 3 con chim đậu trên cành, 1con chim đang bay tới Hỏi có tất cả mấy con chim?"
Học sinh, tập nêu miệng câu trả lời : "Có tất cả 4 con chim"
Sau đó viết vào dãy năm ô trống để có phép tính :
3 + 1 = 4
* Từ giữa tuần 16 cho đến tuần 22, xen kẽ nâng lên viết phép tính thích hợp thông qua dạng “tóm tắt”
Ví dụ 2: Viết phép tính thích hợp (Bài 4 /88)
Tổ 1 : 6 bạn
Tổ 2 : 4 bạn
Cả hai tổ : …bạn ?
- Giáo viên viết bài, học sinh đọc thầm theo
- Học sinh nhìn vào tóm tắt đọc bài toán: “Tổ 1 có 6 bạn, tổ 2 có 4 bạn Hỏi cả hai tổ có bao nhiêu bạn?”
- Giáo viên hỏi: “Bài toán cho biết gì?”
- HS trả lời: “Tổ 1 có 6 bạn, tổ 2 có 4 bạn.”
- Giáo viên hỏi tiếp: “Bài toán hỏi gì?”
- HS trả lời : “Cả hai tổ có bao nhiêu bạn?”
- HS làm bài viết phép tính: 6 + 4 = 10
* Từ tuần 22 học sinh bắt đầu được học cụ thể về giải bài toán có lời văn Như vậy để giúp HS giải toán có lời văn ở học kỳ II có kết quả cao thì ngay ở
Trang 5học kỳ I GV cho các em tiếp cận bài toán thông qua các tình huống cụ thể hoặc dựa vào tóm tắt, viết đúng phép tính Chính là GV đã tổ chức cho HS hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ…Đây là một bước quan trọng không thể xem nhẹ
2 Tổ chức cho HS thực hiện các bước giải toán:
"Giải bài toán có lời văn" ở lớp 1 thực hiện theo quy trình 4 bước:
- Đọc và tìm hiểu bài toán
- Tìm cách giải bài toán
- Trình bày bài giải
- Kiểm tra lại bài giải
Bước1: Đọc và tìm hiểu bài toán :
Muốn học sinh hiểu và giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ bài toán(đọc to, nhỏ, thầm, đọc bằng mắt), hiểu rõ một số từ khoá
quan trọng như " thêm , và , tất cả, " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , " (có
thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên
cần gạch chân các từ ngữ chính(Từ chìa khóa) trong bài Khi gạch chân nên
dùng phấn màu khác cho học sinh dễ nhìn
Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách
đàm thoại " Bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì?" dựa vào câu trả lời của bạn để viết
tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại bài toán Đây là cách rất tốt để giúp học sinh ngầm phân tích đề toán
Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các
em nhìn tranh ở sách giáo khoa và trả lời câu hỏi
Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, ) lên bảng từ để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán
Ví dụ : Bài 2/121, giáo viên có thể gắn tranh, hỏi:
- Em thấy trên tường có mấy bức tranh? (Trên tường có 14 bức tranh)
Trang 6- Treo thêm mấy bức tranh nữa? (Treo thêm 2 bức tranh nữa)
- Trên tường có tất cả bao nhiêu bức tranh? (Có tất cả 16 bức tranh)
Việc giúp học sinh hiểu kỹ bài toán còn thể hiện qua việc học sinh có tóm tắt được bài toán hay không?
Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
- Tóm tắt bằng mẫu vật, hình vẽ:
Ví dụ 1 :
Có :
Thêm :
Có tất cả : con thỏ?
- Tóm tắt bằng lời:
Ví dụ 2:
Lan : 20 bông hoa Mai : 10 bông hoa
Cả hai bạn : bông hoa?
- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Ví dụ 3: Bài 3 / 151
Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và dễ sử dụng Giáo viên nên hướng dẫn tỉ mỉ cách viết tóm tắt thẳng theo cột như trên
Trang 7Kiểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính cột dọc nên có tác dụng gợi mở cho học sinh lựa chọn phép tính giải cho bài toán
Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên cho học sinh tóm tắt rồi học sinh dựa vào tóm tắt nêu bài toán Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình không nên vội vàng, yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phép tính và đáp số Để có một bài chuẩn mực, chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) các em đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu
Bước 2: Tìm cách giải bài toán:
* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm Xác lập mối quan hệ giữa chúng để tìm được đúng phép tính thích hợp Chẳng hạn: Nhà An có 5 con gà,mẹ mua thêm 4 con gà.Hỏi nhà An có tất
cả mấy con gà? (Đây là bài đầu tiên - về giải toán có lời văn, giáo viên cần hướng dẫn các bước giải một cách tỉ mỉ, khoa học):
- Bài toán cho gì? (Nhà An có 5 con gà)
- Còn cho gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
Giáo viên nêu tiếp:
+"Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm tính gì? (tính cộng) +Mấy cộng mấy? (5 + 4) ; 5 + 4 bằng mấy? (5 + 4 = 9);
Hoặc: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 4 = 9); hoặc: "Nhà An có tất cả mấy con gà ?" (9)
Em tính thế nào để được 9 ? (5 + 4 = 9)
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên ta viết
"con gà" vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà)
* Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp số Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được học và làm quen với cách giải loại toán này nên các em rất lúng túng Giáo viên Có thể dùng một trong các cách sau:
Trang 8Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ ngữ đầu (Hỏi) và cuối
(mấy con gà ?) để có câu lời giải: "Nhà An có tất cả: "hoặc thêm từ "là" để có câu lời giải: Nhà An có tất cả là:
Cách 2: Đưa từ "con gà" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi" và
thêm từ “Số” (ở đầu câu), ở cuối câu thêm từ “là”để có: "Số con gà nhà An có tất cả là:"
Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt, coi đó là "từ khoá" của câu
lời giải rồi thêm thắt chút ít Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt: "Có tất cả: con
gà ?" Học sinh viết câu lời giải: " Có tất cả số con gà là:"
Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: "Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?"
để học sinh trả lời miệng: "Nhà An có tất cả 9 con gà" rồi viết phép tính vào để
có cả bước giải (gồm câu lời giải và phép tính):
Nhà An có tất cả:
5 + 4 = 9 (con gà)
Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 5 + 4 = 9 (con gà), giáo viên chỉ vào 9
và hỏi: "9 con gà ở đây là số gà của nhà ai?" (là số gà nhà An…) Từ câu trả lời của học sinh, giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: "Số gà nhà An có tất cả là" v.v
Ở đây giáo viên cần tạo điều kiện cho các em tự nêu nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó bàn bạc để chọn câu thích hợp nhất Không nên bắt buộc học sinh nhất nhất phải viết theo một kiểu
Bước 3: Trình bày bài giải:
Việc trình bày bài giải của bài toán có lời văn là trình bày một sản phẩm của tư duy Thực tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải đẹp, khoa hoc còn rất hạn chế, kể cả học sinh khá giỏi Cần rèn cho học sinh nề nếp và thói quen trình bày bài giải một cách chính xác, khoa học, sạch đẹp ngay từ bài toán đầu tiên-có sự kiểm tra giám sát của giáo viên Rèn cách trình bày bài cả ở trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm tra Cần trình bày bài giải một bài toán có lời văn ở giữa trang vở như sau:
Bài giải Nhà An có tất cả là:
Trang 95 + 4 = 9 ( con gà ) Đáp số : 9 con gà Nếu lời giải ghi: "Số gà nhà An là:" thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 = 9 (con)” (Lời giải đã có sẵn danh từ "gà")
Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ lý do tại sao từ "con gà" lại được đặt trong dấu ngoặc đơn? Đúng ra thì 5 + 4 chỉ bằng 9 thôi (5 + 4 = 9) chứ 5 + 4 không thể bằng 9 con gà được Do đó, nếu viết:"5 + 4 = 9 con gà"là sai
Nói cách khác, nếu vẫn muốn được kết quả là 9 con gà thì ta phải viết như sau mới đúng: "5 con gà + 4 con gà = 9 con gà" Song cách viết phép tính với đơn vị đầy đủ như vậy khá phiền phức và dài dòng, gây khó khăn và tốn nhiều thời gian đối với học sinh lớp 1 Ngoài ra học sinh cũng hay viết sai hoặc thiếu đơn vị của bài toán
Song vì các đơn vị cũng đóng vai trò rất quan trọng trong các phép tính giải nên vẫn phải tìm cách để đưa chúng vào phép tính Do đó, ta mới ghi thêm đơn vị "con gà" ở trong dấu ngoặc đơn để chú thích cho số 9 đó Có thể hiểu rằng chữ "con gà” viết trong dấu ngoặc đơn ở đây chỉ có một sự ràng buộc về mặt ngữ nghĩa với số 9, chứ không có sự ràng buộc chặt chẽ về toán học với số
9 Như vậy cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là một cách viết phù hợp
Bước 4: Kiểm tra lại bài giải:
Học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1 thường có thói quen khi làm bài xong không hay xem, kiểm tra lại bài đã làm Giáo viên cần giúp học sinh xây dựng thói quen học tập này Cần kiểm tra về tóm tắt, câu lời giải, về phép tính, về đáp số bằng cách đọc lại hoặc tìm cách giải hoặc câu trả lời khác
Ngoài việc dạy cho học sinh hiểu và giải tốt "Bài toán có lời văn" giáo
viên cần giúp các em hiểu chắc, hiểu sâu loại toán này Ở mỗi bài, mỗi tiết về
"Giải toán có lời văn" giáo viên cần phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo
của học sinh bằng việc hướng cho học sinh tự đặt đề toán theo tóm tắt cho trước, giải toán từ tóm tắt, nhìn tranh vẽ, sơ đồ viết tiếp nội dung đề toán vào chỗ chấm ( ), đặt câu hỏi cho bài toán Tự tóm tắt đề toán, tự đặt đề toán theo dữ kiện đã cho
Ví dụ 1: Nhìn tranh vẽ, viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán, rồi giải bài
toán đó:
Trang 10Bài toán: Dưới ao có con vịt, có thêm con vịt nữa chạy xuống
Hỏi ?
Ví dụ 2: Giải bài toán theo tóm tắt sau:
Có : 7 hình tròn
Tô màu : 3 hình tròn Không tô màu : hình tròn?
3 Tổ chức rèn kỹ năng giải toán:
Sau khi HS đã biết cách giải toán, để có kỹ năng giải toán GV cần tổ chức rèn kỹ năng giải toán cho các em Rèn kỹ năng giải toán, nghĩa là cho HS vận dụng kỹ năng vào giải các bài toán khác nhau về hình thức Tùy theo thực tế của lớp mình, GVcó thể rèn kỹ năng từng bước hoặc tất cả các bước giải toán Vì
HS lớp 1, việc giải toán có lời văn và trình bày bài giải là một việc hoàn toàn mới mẻ và tương đối khó với các em
Ví dụ: Rèn kỹ năng tìm hiểu nội dung bài toán bằng các thao tác:
+ Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc bằng mắt)
+ Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm bắt bài toán cho biết cái gì, bài toán yêu cầu phải tìm cái gì?
Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu nội dung của các bài toán
cụ thể ở SGK
Tương tự làm như vậy để rèn kỹ năng thực hiện các bước giải toán
4 Rèn luyện năng lực khái quát hóa giải toán:
- Tổ chức cho HS giải toán, nâng dần mức độ phức tạp trong mối quan hệ giữa số đã cho và số phải tìm
- Giải bài toán có nhiều cách giải khác nhau
- Làm quen với bài toán thiếu hoặc thừa dữ liệu
Trên đây là một số biện pháp chính để hướng dẫn HS giải toán theo hướng phát huy tính tích cực Bên cạnh đó, GV cần kết hợp một số phương pháp khác
để đạt hiệu quả cao
3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Áp dụng vào giảng dạy mạch Giải toán có lời văn ở lớp 1