Bài thuyết trình: môn cơ sở văn hóa Việt Nam Đề bài : tìm hiểu về chữ Hán và chữ Nôm, ảnh hưởng của nó đến văn hóa Việt Nam I, Sơ lược về chữ Hán và chữ Nôm ở Việt Nam 1,chữ Hán CHỮ HÁN hay còn được gọi là chữ Nho , là chữ viết của người Trung Quốc du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ 1 TCN, bằng 2 con đường: tiếp xúc giao lưu văn hóa(tự nguyện) và chủ yếu là ép buộc, bạo lực (chiến tranh).Chữ Hán có mặt trên đất Việt Nam khoảng gần 2000 năm liên tục từ thời Bắc thuộc cho mãi đến đầu thế kỷ XX, được sử dụng trong mọi lĩnh vực đời sống văn hóa, chính trị của xã hội Việt Nam. Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ X (năm 938), người Việt trực tiếp tiếp xúc với tiếng Hán :
Trang 1Bài thuyết trình:
Môn cơ sở văn hóa Việt Nam
Đề bài : Tìm hiểu về chữ Hán và chữ Nôm, ảnh hưởng của nó đến văn hóa Việt Nam
I, Sơ lược về chữ Hán và chữ Nôm ở Việt Nam
1,chữ Hán
CHỮ HÁN hay còn được gọi là chữ Nho , là chữ viết của người TrungQuốc du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ 1 TCN, bằng 2 con đường:tiếp xúc giao lưu văn hóa(tự nguyện) và chủ yếu là ép buộc, bạo lực (chiếntranh).Chữ Hán có mặt trên đất Việt Nam khoảng gần 2000 năm liên tục từthời Bắc thuộc cho mãi đến đầu thế kỷ XX, được sử dụng trong mọi lĩnh vựcđời sống văn hóa, chính trị của xã hội Việt Nam
Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ X (năm 938), người Việt trực tiếp tiếp xúcvới tiếng Hán :
Thời kì đầu dưới ách đô hộ của nhà Triệu nước ta chưa tiếp nhận một ảnh
hưởng nào đáng kể từ văn minh phương Bắc thư tịch cổ chép rằng: ”Triệu
Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả mà thôi còn về phần giáo hóa, phong tục không để ý đến một chút nào”( “Việt sử tiêu án”-
Ngô Thì Sĩ Bản dịch Hội Nghiên cứu liên lạc Văn hóa Á Châu, Sài Gòn1960) Như vậy dưới chế độ thống trị “ràng buộc lỏng lẻo” ấynhân dân tavẫn sống tự dotheo nề nếp, phong tục riêng của mình không biết đến vănminh Trung Quốc và chữ Hán Mãi dến thời Đông Hán sau khi đàn áp xong
Trang 2khởi nghĩa Hai Bà Trưng, luật pháp Trung Quốc mới áp đặt quản thúc dângian, tổ chức lại bộ máy cai trị Dân ta bắt đầu tiếp xúc dần với chữ Hán.Sau
đó, Trung Quốc thường xuyên xảy ra biến loạn, bất ổn…người Hán nối tiếpnhau xuống phương Nam trú thân Trong đó, thành phần sĩ nho chiếm vai tròđáng kể,sau này có người trở về nhưng cũng không ít người ở lại lập nghiệpđịnh cư và sau vài đời thì Việt hóa luôn Cùng với đó, văn hóa phương Bắcdần dần lan rộng ở Giao Châu Chữ Hán ngày càng được biết đến và từngbước khẳng định vai trò và lợi ích của mình Hai người có công truyền báchữ Hán đầu tiên ở nước ta là Tích Quang và Nhâm Diên “văn phong ởLĩnh Nam bắt đầu tự hai quan thái thú ấy” (Ngô Sĩ Liên) Tuy vậy, phải đếncuối thời Hán, Nho học cùng chữ Hán mới thực sự được phổ biến rộng rãihơn trước bởi Sĩ Nhiếp.Đời sau tôn xưng ông là “Nam Giao học tổ”.Ý thức
hệ Nho giáo ngày càng được xác lập
Tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam và người Việt đã chấp nhận ngônngữ mới đó song song với tiếng Việt, tiếng nói truyền miệng Tuy nhiên, việchọc trong suốt thời kì Bắc thuộc hầu như chỉ diễn ra ở những trng tâm chínhtrị lớn, chỉ tầng lớp thượng lưu mới theo đuổi được sự học đến nơi đến chốn,
và cũng chỉ cốt để đào tạo tay sai mà thôi
Sự phát triển của tiếng Hán ở Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc song songvới sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó Tuy nhiên, năm
938, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, người Việt đã độc lập vàkhông còn lệ thuộc vào phương Bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn đậm ảnhhưởng của tiếng Hán Sang thời kỳ tự chủ chữ Hán giữ địa vị là văn tự chínhthức nhưng đã phát triển theo hướng riêng, mang tính dân tộc, khác với sựphát triển tiếng Hán ở Trung Quốc
Trang 3Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữtượng hình (chữ Hán cổ).Điều này là một phần chứng minh được rằng chữHán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghichép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyêntrở đi.Đến thế kỷ VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càngrộng rãi ở Việt Nam.Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phươngtiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc.
Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thờigian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đềubằng chữ Hán Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng tolớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa Từ sau thế kỷthứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị củaphong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là mộtphương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc
Trong quá trình đó chữ Hán vẫn được người Việt dùng và phát triển thêm
Do nhu cầu phát triển, người Việt đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viếtriêng, tức chữ Nôm
2,Chữ Nôm
CHỮ NÔM Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét,thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếngViệt Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:
Trang 4Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữHán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ đúng như tiếng Việt vốn có, xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán Những từchữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nétnhất vào thế kỷ thứ VI).
Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán đểphiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một sốnguyên tắc nhất định Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướngghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt Từ thời
Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sựhoàn chỉnh.Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã đượcviết bằng chữ Nôm
Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữHán.Chữ nôm được giới sĩ phu ưa thích và được sử dụng rộng rãi, đặc biệt
là trong văn học
chữ Nôm đã đóng góp đa dạng, đúng là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sửvăn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ, biểu hiện tinh thần và ý chí độclập trong quá khứ, mặc dù đó là công cụ còn nhiều hạn chế về mặt kỹ thuậtcũng như mức phổ dụng so với chữ Hán.tiếng Việt hấp thụ hai nguồn văn tự
là chữ Hán và văn tự văn hóa dân gian, chữ Nôm, để trở thành một ngôn ngữvăn học sáng chói và giàu sức diễn đạt
Mãi đến đầu thế kỉ XX, khi chữ quốc ngữ được truyền bá rộng khắp vớinhiều ưu điểm vượt trội, chữ nôm mới chịu lùi bước …
Trang 5Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản vềlịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về vănhóa.Trong tâm hồn người Việt, chữ Hán và chữ Nôm vẫn mãi mãi là nhịpcầu nối quá khứ với tương lai trong đời sống văn hóa và tinh thần từ lớp tríthức đến giới bình dân.
II, ảnh hưởng của Chữ Hán và chữ nôm đến văn hóa VIỆT NAM
1, ngôn ngữ và chữ viết
Ở Việt Nam, chữ Nôm là loại hình văn tự của người Việt được sử dụng trướckhi có chữ quốc ngữ Chữ Nôm đã trải qua một quá trình hình thành, pháttriển đến hoàn thiện trong hàng chục thế kỷ và còn truyền lại đến ngày nay.Trong quá trình đó, chữ Hán có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy sự hìnhthành, phát triển của chữ Nôm- chữ thuần Việt
Để hình thành một nền văn tự chỉ có hai con đường Đó là con đường tự
nó và con đường vay mượn Hình thành bằng con đường tự nó nghĩa là tự
sáng chế cho mình một lối viết độc lập, không liên quan gì đến các truyềnthống văn tự khác Rất ít nền văn tự trên thế giới hình thành theo con đườngnày Theo Nguyễn Tài Cẩn thì trên thế giới chỉ có ba trường hợp là chắc chắn
được hình thành theo con đường tự nó là: văn tự Ai Cập ở lưu vực sông Nin,
văn tự Mai A ở Trung Mỹ, và văn tự Hán ở lưu vực sông Hoàng Hà, phía bắc
Trung Quốc Hình thành bằng con đường vay mượn từ một nền văn tự khác là
con đường phổ biến của đại đa số các văn tự hiện có trên thế giới Trong bốicảnh lịch sử nước Việt diễn ra như trình bày ở trên thì chữ Nôm Việt Nam sẽ
Trang 6nảy sinh theo con đường thứ hai là con đường vay mượn, vay mượn từ nền
văn tự Hán
Ở khu vực Đông và Đông Nam Á chữ Hán là loại chữ ra đời sớm nhất.Lúc đầu chữ Hán chỉ được dùng trong phạm vi các bộ tộc người Hán ở giữalưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Hà, về sau dần dần nó lan rộng ra toànvùng, tạo ra một vùng văn hóa đồng văn Chữ Hán đã tác động đến sự ra đờicủa chữ Triều Tiên và chữ Nhật Bản, mặc dù hai ngôn ngữ này khác xa vớitiếng Hán Chữ Hán cũng tác động đến lối viết của người Nữ Chân, ngườiTây Hạ Xuống dần phía nam, nó đã thúc đẩy sự xuất hiện của chữ Choang,chữ Nôm Việt, chữ Nôm Tày Chữ Nôm Việt Nam đã ra đời trên cơ sở vaymượn từ các chất liệu chữ Hán và về cơ bản kết cấu cũng theo phương thứcHán
Chữ Hán đã thúc đẩy sự hình thành của chữ Nôm Việt Nam như thế nào?
Trong lịch sử, có rất nhiều đợt người Trung Quốc đã sang sinh sống ởViệt Nam với những lý do khác nhau như: sang làm quan cai trị, sang buônbán, lánh nạn và kể cả đi đầy Chính những người này đã góp phần đắc lựcvào việc truyền bá chữ Hán vào Việt Nam Bởi vậy, ngay từ đầu công nguyêncác yếu tố Hán đã du nhập vào Việt Nam Qua nhiều đợt tiếp xúc, tiếng Hán
đã để lại những ảnh hưởng đáng kể đến sự ra đời và phát triển của ngôn ngữtiếng Việt Một trong những ảnh hưởng đáng kể nhất là tiếng Hán đã gópphần, thúc đẩy quá trình thanh điệu hóa trong tiếng Việt Theo H Haudricourt
và một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì vào khoảng đầu Công nguyên tiếngViệt chưa có thanh điệu, trong kho từ vựng còn có phụ tố và các phụ âm đầu,
có các âm cuối họng, hầu và xát Quá trình khép kín và giản hóa âm tiết đãđược khơi mào từ trước, đến đầu công nguyên, những âm cuối hầu, họng vàxát cản trở cho việc khép kín âm tiết như - h, -s, - ? dần dần bị rụng đi và để
Trang 7bù đắp lại tiếng Việt đã nảy sinh 3 tuyến điệu, để mở đầu cho quá trình thanhđiệu hóa:
- Các âm tiết mở không có âm cuối sẽ mang tuyến điệu 1 (gồm
thanh ngang và huyền còn nhập làm một).
- Sự rụng âm cuối tắc họng - ? cho tuyến điệu 2 (gồm
bù đắp bằng thanh điệu:
Âm đầu vô thanh Hán chuyển sang âm đầu vô thanh Việt sẽ mang các
thanh điệu bổng ngang, sắc, hỏi.
Âm đầu hữu thanh Hán chuyển sang âm đầu vô thanh Việt sẽ mang các
thanh điệu trầm huyền, nặng, ngã.
Do sự chuyển biến đó mà từ đây 3 tuyến điệu sẵn có sẽ tách đôi thành 6
thanh điệu: ngang và huyền,sắc và nặng, hỏi và ngã Như vậy, ở giai đoạn sau
của quá trình thanh điệu hóa, tiếng Hán đã có vai trò quan trọng trong việchình thành 6 thanh điệu trong tiếng Việt Quá trình này kéo dài từ thế kỷ VIđến thế kỷ XII Điều đó góp phần làm cho tiếng Việt có đặc điểm giống nhưtiếng Hán là cùng loại hình đơn lập, âm tiết tính và có thanh điệu Chính điều
đó đã gợi cho người Việt ý đồ sử dụng chữ Hán để tạo nên một loại chữ riêng
để ghi tiếng nói dân tộc mình Đây là điều mà các ngôn ngữ thuộc loại hìnhngôn ngữ chắp dính không thể nào làm được
Trang 8Mặt khác, còn một yếu tố quan trọng làm tiền đề cho sự hình thành chữNôm là chữ Hán ở Việt Nam đã được đọc theo âm Hán Việt Cách đọc nàytheo như các nhà ngôn ngữ là xuất phát từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán giaiđoạn cuối của tiếng Hán Trung cổ, vào thế kỷ VIII, IX Đồng thời cách đọcnày tuân theo các quy luật ngữ âm lịch sử tiếng Việt và bộ máy cấu âm củangười Việt, chỉ người Việt mới hiểu Điều này rất thuận lợi cho việc mượnchữ Hán đọc theo âm Hán Việt để ghi tiếng Việt Ngoài những chữ Hán đọctheo âm Hán Việt còn có những chữ Hán đọc theo âm Tiền Hán Việt và âmHán Việt Việt hóa nhưng để tạo chữ Nôm phải dựa chủ yếu vào số lượng lớnchữ Hán có cách đọc Hán Việt Những chữ Hán được dùng để tạo chữ Nômthường là những chữ thông dụng, có tần số hoạt động cao Theo thống kê củaNguyễn Tá Nhí thì có khoảng trung bình 1200 chữ Hán thông dụng được sửdụng làm thành tố ghi âm trong chữ Nôm.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình phát triển, nền văn hóa Việt Nam đã có mối quan hệ mật thiết với nền văn ngôn và với chữ Hán của Trung Quốc Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa Hán Cho đến thời điểm xuất hiện chữ Nôm thì chữ Hán đã có lịch sử hàng ngàn năm rất quen thuộc với người Việt Nam Đó cũng là một thuận lợi đối với việc vay mượn chữ Hán để tạo chữ Nôm Chữ Nôm được tạo ra trên cơ sở các chữ vuông Hán, bởi vậy nếu
không có trình độ chữ Hán ở một mức độ nhất định thì người Việt cũng khôngthể viết và đọc được chữ Nôm Khi Việt Nam có nhu cầu phải có một nền văn
tự riêng thì trên đất Việt đã có một đội ngũ hùng hậu những người Việt Nam
có trình độ hiểu biết sâu về chữ Hán và nền văn hóa Hán Họ chính là nhữngngười đầu tiên tham gia vào việc sáng tạo chữ Nôm và sau này những người
kế tiếp họ sẽ có vai trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện chữNôm
Trang 9Lúc đầu chữ Nôm chỉ mới xuất hiện lẻ tẻ trong các văn bản chữ Hán đểghi những từ thuần Việt không có trong hệ thống từ vựng Hán Chữ Hán đượcdùng thường là những chữ có âm đọc Hán Việt trùng khít hoặc gần với âmViệt Theo tình hình cứ liệu còn lại cho thấy chữ Nôm chỉ có thể được manhnha vào khoảng thế kỷ VIII - IX Những chữ được tạo theo phép hình thanhcủa chữ Hán ở giai đoạn đầu đã có lác đác nhưng mới chỉ ở mức sử dụng các
bộ thủ Hán để chỉ ý nghĩa của từ Việt trong chữ Nôm Chữ Nôm chỉ thực sựtrở thành một nền văn tự khi những chữ lẻ tẻ xuất hiện ngày một nhiều vàthành một hệ thống, cách ghi đã tuân theo những quy tắc nhất định Đa số cácnhà nghiên cứu chữ Nôm đã dựa vào các cứ liệu còn lại đều cho rằng: vàokhoảng thời Lý (1010-1225), chữ Nôm mới được dùng thịnh hành và trởthành một nền văn tự thực thụ Chữ Nôm xuất hiện là do nhu cầu ghi âm tiếngViệt, bởi vậy chữ Nôm lúc đầu thiên về hướng ghi âm thuần tuý Tùy theo sựphát triển tồn tại của tiếng Việt ở từng giai đoạn mà chữ Hán được khai thác
sử dụng các chất liệu để ghi tiếng Việt ở những mức độ khác nhau Nhưngnhìn chung thì khi sáng tạo chữ Nôm người Việt thường mượn chữ Hán theomột trong các kiểu sau:
- Mượn chữ Hán ở cả 3 mặt : hình, âm, nghĩa Ví dụ dùng 神 (thần)
ghi thần, dùng 神(thánh) ghi thánh(trong thần thánh).
- Chỉ mượn Hán ở 2 mặt: hình, âm Ví dụ dùng 神 (một) ghi một (trong số
1), dùng 神 ghi đồng (trong cánh đồng)dùng 神 (công) ghi trong, dùng (ba + lăng) ghi trông, dùng 神神 (bà và luân ) ghi trời.
- Chỉ mượn Hán ở hai mặt: hình, nghĩa Ví dụ: dùng 神 (trì) ghi ao;
dùng 神 (cổ) ghi trống, dùng (thiên + thượng) ghi trời.
Ở giai đoạn đầu của quá trình đơn tiết hóa, khi trong tiếng Việt còn bảolưu các tổ hợp phụ âm đầu và yếu tố tiền âm tiết thì xuất hiện phổ biến mộtloại chữ Nôm ghi một từ Việt bằng 2 mã chữ tách rời Chữ Hán ngoài việc
Trang 10cung cấp ký tự ghi âm tiết chính còn cung cấp ký tự để ghi yếu tố tiền âm tiết
và tổ hợp phụ âm đầu Đến khi các yếu tố tiền âm tiết và tổ hợp phụ âm đầutrong tiếng Việt không còn nữa thì các ký tự Hán vẫn được dùng để ghi chúngcũng bị loại bỏ chỉ còn lại ký tự ghi âm tiết chính của tiếng Việt
Để ghi tiếng Việt ngày càng chính xác hơn, người Việt đã tạo ra ngàycàng nhiều loại chữ Nôm theo phương thức của chữ hài thanh trong chữ Hán
Ở loại chữ Nôm này, bên cạnh ký tự Hán ghi âm tiết chính, người Việt đãthêm vào bộ phận chỉ nghĩa Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các
bộ thủ chỉ nghĩa thường được sử dụng để sáng tạo loại chữ Nôm ghép 2 thành
tố biểu âm và biểu ý Càng về sau loại chữ Nôm hài thanh xuất hiện ngàycàng nhiều Số lượng chữ Nôm dùng một chữ Hán để biểu âm và kết hợp với
một chữ Hán để biểu nghĩa cũng ngày một nhiều hơn Chữ Nôm vì thế mà có khả năng ghi được toàn bộ số từ vựng có trong tiếng Việt một cách chính xác hơn và chữ cũng trở nên dễ đọc hơn Để chữ Nôm ghi được tiếng Việt ngày càng chính xác và hoàn thiện thì chữ Hán được vay mượn cũng được lựa chọn theo những tiêu chí chặt chẽ hơn, ngày càng nhiều hơn Chữ Nôm chính là sản phẩm của sự kết hợp giữa các yếu tố vay mượn từ chữ Hán Không có chữ Hán thì cũng không có chữ Nôm.
Trong tiếng Việt hiện đại có khoảng hơn 60% số từ có nguồn gốc từ tiếng Hán Như vậy có thể thấy rằng trong tiếng Việt lịch sử, số từ có nguồn gốc từ tiếng Hán chắc chắn phải hơn thế nhiều Qua đó có thể thấy vai trò của chữ Hán trong việc cung cấp chất liệu để tạo chữ Nôm ghi tiếng Việt quan trọng như thế nào Người Việt luôn có ý thức Việt hóa các
từ Hán, tuy vậy có những từ đã được Việt hóa nhưng đời sau không chấp nhận lại phải dùng trở lại như cũ
2) Vai trò của chữ Nôm và chữ Hán với nền văn học nước nhà
Trang 11B, chữ Nôm
Có những khu vực mà chữ Hán tỏ ra yếu thế hoặc bất lực, phải nhường chỗcho chữ Nôm, như các dân tộc khác, người Việt trước khi có chữ viết, đã cómột kho tàng văn hóa truyền khẩu súc tích, đa dạng Đó là những câu chuyện
kể, những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, những lời ru, tiếng hòv Hẳn nhiên là để ghi chép, sưu tầm, hiệu đính kho tàng văn hóa truyềnkhẩu này thích hợp nhất vẫn là trực tiếp dùng dùng chữ Nôm Sau đây lànhững sưu tầm viết bằng chữ Nôm như :
quyển ”Ly hạng ca dao” ghi chép 256 bài ca dao, quyển ”Nam Quốc phươngngôn tục ngữ bị lục” gồm 27 mục ghi các bài ca dao tục ngữ, câu đố; quyển
“Nam ca tân truyện” ghi lại các bài hát cổ theo các điệu ca ở Huế v v vàmột số những vở tuồng cổ, chèo cổ như Văn Duyên diễn hí; Trương Viên diễnca; Lưu Bình trò, v.v
Viết chữ Nôm dưới hình thức văn vần xem như hiệu quả nhất, thích hợp nhất
để truyền bá, phổ biến tri thức đến dân chúng
Đó là những bộ sách diễn ca (chuyển thành thơ) lịch sử như”Việt sử diễnâm”, thế kỷ XVI; “Thiên nam minh giám”, đầu thế kỷ XVÌ;“Đại Nam quốc sửdiễn ca”, thế kỷ XIX; v.v Đa số dân chúng không biết chữ Hán và chữ
Trang 12Nôm vì không đủ điều kiện đi học, nhưng nhờ có những tác phẩm văn vầnchữ nôm đó họ được nghe, mãi rồi thuộc lòng từng đoạn có khi thuộc cả tácphẩm dài hàng ngàn câụ Cũng giống như thế về sách chữ Nôm diễn ca, diễn
âm về luật lệ như “Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca”, về y học như “Chẩnđậu diễn ca”, v.v
Chữ Nôm có vai trò nổi bật trong sáng tác văn chương Mặc dù văn nhân,thi sĩ mọi thời đều đã dùng chữ Hán làm thơ, viết truyện, nhưng chỉ có vớichữ Nôm, người Việt mới tạo nên những tác phẩm bất hủ Tập thơ Nôm cóniên đại sớm nhất còn lưu truyền là
“Quốc âm Thi tập” của Nguyễn Trãi (1380 - 1420) sau đó là ‘Bạch vân
Am quốc ngữ thi” của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 -1585)
Điều đáng ghi nhận là với chữ Hán các tiền nhân viết những tập truyện ngắn và tiểu thuyết văn xuôi, còn với chữ Nôm gần như các cụ chỉ làm thợ Sở trường và thành công nhất vẫn là thơ ca trường thiên theo thể lục bát và song thất lục bát.
Bằng hai thể thơ giàu dân tộc tính này, vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ
XIX văn học cổ điển Việt Nam có những tác phẩm xuất sắc khiến thế giới phải biết đến là:
“Chinh phụ Ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748);
“Truyện Kiều” (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du (1766 -1820) Chúng ta còn các tên tuổi sáng giá khác nữa từ thế kỷ XVII đến đầu thế
kỷ XX như: Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương v.v Chính nhờ ở những tác giả này tiếng Việt hấp thụ hai nguồn văn tự là chữ Hán và văn tự văn hóa dân gian, chữ Nôm, để trở thành một ngôn ngữ văn học sáng chói và giàu sức diễn đạt.
Trang 13Phối hợp với chữ Hán
Ngoài ra chữ Nôm không hoạt động đơn độc mà đã phối hợp với chữ Hán tạonên những tác phẩm, bổ túc nhau sáng tác và truyền bá văn hóạ Có thể nhậnthấy điểm này qua nhũng chi tiết sau đây:
Không kể những chữ Nôm lẻ tẻ có thể xuất hiện bất cứ trong tác phẩm chữHán, văn bác học, khi cần thiết còn được dùng xen kẽ với chữ Hán để ghichép những điều đã có trong bài trước Chữ Nôm cũng xuất hiện dùng để viếtcác câu đối, hoành phi, bia đá chuông đồng ở đình chùa miếu mạọ Có một thểloại thơ ca rất được lớp nho sĩ ưa chuộng là bài hát nói (ca trù) Trong đó giữanhững lời hát thuần chữ Nôm có xen kẽ mấy câu rặt chữ Hán
Chữ Nôm đã đắc lực trong việc phiên chuyển văn bản và phổ biến văn hóaphẩm Thí dụ:
Các kinh sách cổ điển của học thuyết Nho, đạo Lão, đạo Phật, đạo Khổng, từHán văn được dịch sang chữ Nôm theo hai cách: lược thuật theo ý và chuyểnthành thơ chữ Nôm như quyển Luận ngữ thích nghĩa ca diễn Nôm theo thể lụcbát 20 thiên trong quyển Luận ngữ Hai là dịch thẳng từng câu Hán văn sangcâu chữ Nôm như quyển Thi Kinh giải âm dịch toàn bộ hơn 300 bài thơ trongThi Kinh, một bộ kinh trong Ngũ Kinh của Trung Quốc sang chữ Nôm (theolệnh của Hồ Quý Ly, nhà Hồ)
Một số văn bản từ các ngôn ngữ Tây phương cũng được dịch sang văn xuôichữ Nôm như các bộ Các Thánh truyện (1650) do Jeromjimo Majorica soạn,với mục đích truyền giáọ công trình đây có trên 30 tác phẩm mà trong đó nếu
ta nhìn nhận kỹ sẽ thấy có nhiều điểm khác biệt so với tác phẩm Nôm về thế
kỉ XIX, XX, cụ thể các từ như “ mựa, khứng , chỉn, chưng,thửa, ghín” thìkhông thấy dùng nữa
Một số văn xuôi chữ Hán của tác giả Việt cũng được hậu sinh dịch sang vănxuôi chữ Nôm theo lối dịch thẳng từng câụ Có thể kể đến bản giải âm đồn
Trang 14rằng của Nguyễn Thế Nghi (thế kỷ XVII) trong bộ Truyền kỳ mạn lục củaNguyễn Dữ (thế kỷ XVI), và phần dịch chữ Nôm trong quyển Cổ Châu Phậtbản hạnh ngữ lục (thế kỷ XVI)
Có một loạt sách giáo khoa, trong đó chữ Nôm dùng để giải nghĩa từ ngữ chữHán, soạn ra theo thể thợ Dùng những bộ sách này, người học có thể vừa họcđược chữ Hán vừa học được chữ chữ Nôm:
“Chỉ nam Ngọc âm giải nghĩa”thế kỷ XVII
“Tam thiên tự giải âm”- Ngô Thì Sĩ, thế kỷ XVII
“Nhật dụng thường đàm” Phạm Đình Hổ, thế kỷ XVIII
“Tự học giải nghĩa ca” thời Tự Đức, thế kỷ XIX
“Đại Nam quốc ngữ”- Nguyễn Văn San, thế kỷ XIX v.v
3, ảnh hưởng đến nghệ thuật
Chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng để viết các kịch bản trong các thể loạingệ thuật truyền thống
“Ca trù” ( 神 神 ) là một hoạt động hát xướng vừa chuyên nghiệp vừa dân gian
Có nhiều làn điệu, mỗi làn điệu đều có bài bản riêng về âm nhạc, về ca từ Lời
ca trong các làn điệu ca trù thường do các nhà thơ sáng tác Ca từ trên đại thể
là viết bằng chữ Nôm tiếng Việt, thỉnh thoảng xen lẫn vài câu Hán văn Nghệnhân trình diễn thường vừa hát vừa múa, do vai nữ (gọi là “đào” 神 ) thựchiện Đôi khi cũng có sự tham gia phụ trợ của vai nam (gọi là “kép” 神 ) Cóngười ngồi cầm chầu, nếu chỗ nào hay thì gõ trống ném thẻ (tức “trù”) để
Trang 15thưởng cho con hát Ca trù còn được gọi là “hát ả đào”, “hát cô đầu”, Sinh
hoạt hát xướng này có thể ra đời từ rất sớm ở Việt Nam Dân gian còn nhắcnhớ câu chuyện một ả đào có công chống giặc Minh xâm luợc (thế kỷ XV)
Bản ca từ sớm nhất còn lại đến nay là bài Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả
đào ( 神 神 神 神 神 神 神) của Lê Đức Mao 神 神 神(1462 - 1529) Bài ca từ này gồm
9 đoạn, 128 vế, viết theo thể lục bát, phối xen song thất lục bát Đây cũng là
tư liệu cổ nhất còn lại về hai thể thơ này
Có một lối hát ca trù phổ biến ở các thành thị từ Nghệ An trở ra, rất thịnhhành vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, mà ca từ đòi hỏi phải tuân thủ theo
một thể thức riêng, gọi là thể “hát nói” Tuy ca từ “hát nói” có khuôn khổ
định sẵn, song số tiếng trong các câu có thể dài ngắn khác nhau (6,7,8 tiếngđều dùng), do đó tạo được tiết tấu thanh thoát, biến chuyển, không gò bó Đâycũng là loại ca từ nòng cốt của ca trù, được nhiều nhà thơ tích cực tham giasáng tác và nhập cuộc diễn xướng: Nguyễn Công Trứ 神 神 神 (1778 - 1858),Cao Bá Quát 神 神 神 (1808 - 1855), Nguyễn Khuyến 神 神 (1835 - 1909),Dương Khuê 神 神 (1839 - 1902), Chu Mạnh Trinh 神 神 神 (1862 - 1905), v.v
Trong ca từ “hát nói”, đặc biệt là trong tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, chữ
“tài” và chữ “tình” được đề cao, nhưng tài và tình ở đây không theo quy phạmcủa Nho gia, mà muốn thoát ra theo hướng khẳng định cái tôi cá nhân, hướngtới cuộc sống tự do phóng khoáng, đắm mình trong sự tự thưởng thức tài hoacủa bản thân và hưởng thụ mọi vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống, đặc
biệt là tranh thủ hưởng thụ thú vui thanh sắc
“Tuồng” ( 神) là một loại kịch hát truyền thống của Việt Nam, hình thành từthời Lý-Trần (thế kỷ XIII), phát triển mạnh ở ngoài Bắc dưới thời Lê mạt (thế
kỷ XVIII) và ở trong Nam dưới triều Nguyễn (thế kỷ XIX) Kịch bản tuồng
Trang 16có tới hàng trăm vở, nhiều vở thất truyền, hiện có khoảng 50 vở đang lưu trữtrong nước và ở nước ngoài Tuồng có hai loại: “Tuồng thầy” ( 神 神 ) và
“tuồng đồ” ( 神 神)
Tuồng thầy (còn gọi “tuồng pho”) mang tính bác học, chủ yếu diễn trong sân
khấu cung đình Kịch bản viết bằng chữ Nôm, pha lẫn nhiều câu chữ Hán.Hầu hết các vở tuồng pho đều do vua quan và nhà văn quý tộc soạn, lấy cốttruyện từ lịch sử các triều đại Trung Hoa, nội dung thường đề cao trung quân
ái quốc, ca ngợi anh hùng nghĩa sĩ hy sinh vì nghĩa lớn Tiêu biểu cho loại
tuồng này là vở Sơn hậu ( 神 神), hiện còn bản chép tay (năm 1832), do ĐàoDuy Từ 神 神 神 (1572 - 1634) khởi thảo, về sau được Đào Tấn biên tập
lại ĐàoTấn 神 神 ( 1845- 1907) quê ở Bình Định, xuất thân trong gia đìnhnông dân nghèo Sau được học hành, thi đỗ Cử nhân năm 1866, rồi được vàolàm Hiệu thư trong Nội các nhà Nguyễn Công việc chính của ông là soạnthảo các vở tuồng theo lệnh của vua Tự Đức Sau này có lúc làm quan đếnchức Thượng thư, nhưng ông vẫn không ngừng sáng tác Bởi vậy ông là tácgiả của một loạt các vở tuồng pho nổi tiếng đương thời
Tuồng đồ mang tính bình dân, gần với dân gian, chủ yếu do các nhà Nho
nghèo soạn Tích chuyện không lấy từ Trung Hoa, mà tự sáng tác hoặc dựavào chuyện kể dân gian Nội dung thường châm biếm, đả kích quan lại địaphương, giàu chất hài hước Tuồng đồ vẫn dùng văn vần chữ Nôm, nhưng nóinhiều hơn hát, gần với khẩu ngữ tiếng Việt.Tuồng đồ thịnh hành ở trong Nam,chủ yếu ở tỉnh Bình Định Kịch bản ít được ghi chép hơn tuồng pho Tiêu biểu
cho loại tuồng này là vở Di tình ( 神 神), còn gọi theo tên các nhân vật chính
là Nghêu Sò Ốc Hến ( 神 神).
Trang 17“Chèo”( 神 ) cũng là một loại kịch hát truyền thống của người Việt, phổ biếnchủ yếu ở các tỉnh phía Bắc (từ Nghệ An trở ra) Chèo hình thành trên cơ sở
ca vũ dân gian, bắt đầu từ thế kỷ XIII, thịnh hành vào thế kỷ XIX.Chèo làhình thức kể chuyện bằng các phương tiện hát múa dân gian Tích chuyện cóthể cải biên từ các truyện thơ Nôm, nhưng cũng có những vở chèo chuyên
biệt và rất được công chúng bình dân ưa chuộng, như vở Kim Nham ( 神 神) gọi
theo tên của vai nam chính, hoặc còn gọi theo tên của vai nữ chính là Súy
4, nền giáo duc Hán học và Nôm học
Ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, người Việt Nam đã tìm cách tạo ra một thứ chữriêng cho dân tộc mình Trải bao thăng trầm lịch sử, người Việt Nam đã cóchữ Quốc ngữ là thứ chữ riêng của dân tộc, thể hiện sự trưởng thành của đấtnước độc lập
Chúng ta thường rất tự hào với chữ viết của dân tộc mình, một mẫu tự la-tinh
- châu Âu khác hẳn với mẫu tự tượng hình của các nước trong khu vực Lần
Trang 18tìm về quá khứ, mới thấy con đường hình thành của chữ Quốc ngữ cùng đầynhững thăng trầm, cũng như phận người, phận nước vậy
Chữ Hán và nhu cầu có một thứ chữ riêng: chữ Nôm
Một nghìn năm Bắc thuộc cũng là thời kỳ chữ Hán theo chân quan lại cai trị phương bắc vào Việt Nam Thời kỳ này hệ thống giáo dục của Việt Nam chưa phát triển, có chăng là hoàn toàn dựa theo mô hình của phong kiến Trung Quốc thời bấy giờ Con em của giới quan lại người Việt được học chữ Hán; những học sinh xuất sắc người Việt cũng được chọn sang Trung Quốc dự thi
Sau thời kỳ Bắc thuộc, nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập vẫn dùng chữ Hán trong hệ thống giáo dục cũng như văn bản hành chính của giới cầm quyền Đến thế kỷ 11, từ thời nhà Lý, bên cạnh việc chấn hưng kinh
tế cùng tiềm lực quân sự, việc học được chú tro.ng Điển hình nhất là năm 1076, Quốc Tử Giám "trường đại học đầu tiên" của Việt Nam được xây dựng tại kinh thành Thăng Long Việc học hành, thi cử để chọn lựa người tài ra làm quan được đặt ra thành luật lệ Thời nhà Lý, năm 1075
tổ chức thi hương khóa đầu để lấy tú tài Đến thời nhà Trần, tổ chức thi hội vào thế kỷ 13 lấy cử nhân, còn thời nhà Lê thế kỷ 15 tổ chức thi đình
để lấy tiến sĩ Tất cả đều dựa trên nền tảng Hán học và chữ Hán
Trang 19Trong quãng thời gian này, Việt Nam xuất hiện một nhà cải cách lớn là HồQuý Ly (1336-?) Đây là một nhân vật kỳ lạ trong lịch sử phong kiến ViệtNam, dù chỉ làm vua hai năm (1400-1401), sau đó nhường ngôi cho con là HồHán Thương và năm 1406 bị nhà Minh bắt cùng hai con trai đưa về TrungQuốc - nhưng ông đã đưa ra một số cải cách táo bạo, trong đó có việc mởmang một nền giáo dục tự chủ, cải cách chế độ thi cử Hồ Quý Ly chủ trươngdùng chữ Nôm thay chữ Hán trong giấy tờ công vụ, và chính ông là ngườidịch thiên "Vô dịch" trong kinh thư từ chữ Hán sang chữ Nôm
Về vấn đề chữ Nôm, không có một văn tự chính thức nào khẳng định sự xuấthiện của nó, chỉ ước chừng nó được chế tác từ chữ Hán khoảng thế kỷ thứ 8trên cơ sở dùng ký tự Hán để ghi các từ tiếng Viê.t Như vậy là ý thức khẳngđịnh độc lập dân tộc, chí ít là về mặt chữ viết đã được các bậc túc nho ôm ấp
từ lâu, nhưng có thể nói là vẫn trong sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hán tự nóiriêng và văn hóa Trung Hoa nói chung
Vua Quang Trung và sự khẳng định ngắn ngủi của chữ Nôm
Kế sau Hồ Quý Ly, có thể nói Quang Trung Nguyễn Huệ là vị vua sáng suốtbằng quyền lực của mình muốn khẳng định một thứ chữ riêng của ngườiViê.t
Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trungrồi đưa quân ra bắc tiêu diệt quân xâm lược Mãn Thanh do vua bù nhìn Lê
Trang 20Chiêu Thống đón vào Tiếc thay, cuộc đời người anh hùng thật ngắn ngủi.Mùa thu năm 1792, hoàng đế bị cảm đột ngô.t 11 giờ đêm 22 tháng 7 nămNhâm Tý (1792), ông mất
Năm 1788, ngay sau khi đại phá quân Thanh, hoàng đế Quang Trung đã lập tức ban hành các chiếu quan trọng: chiếu cầu hiền, chiếu lập học và chiếu mở khoa thi Ông chủ trương cải cách lối học sáo mòn, công thức
mà chú trọng đến tính thiết thực, học để đoạt lấy một năng lực hoạt động trong thực tiễn Đặc biệt, chữ Nôm được quy định là chữ viết chính thức của quốc gia Chữ Nôm được đưa vào hệ thống khoa cử, đồng thời tất cả các chiếu chỉ, mệnh lệnh, văn tế đều được thể hiện bằng chữ Nôm Việc học tập và xây dựng một nền giáo dục độc lập được vị vua anh minh ý thức một cách rất rõ ràng trong "Chiếu lập học" năm 1788, ông chỉ rõ:
"Dựng nước lấy việc học làm đầu, cầu trị lấy nhân tài làm gốc Trước đây bốn phương nhiều việc phải phong bị, việc học không được sửa sang, khoa cử bỏ dần, nhân tài ngày càng thiếu thốn
Trẫm khi vừa mới bình định đã có nhã ý hậu đãi nhà nho, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài để dùng cho quốc gia
Vậy ban chiếu xuống cho dân các xã nên lập học xã, chọn nho sĩ có thực học và hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò xã mình"
Trang 21Nếu như triều đại nhà Tây Sơn kéo dài (1778-1802) và đặc biệt là vua QuangTrung không mất sớm (41 tuổi) thì biết đâu chữ Nôm sẽ thực sự trở thành chữQuốc ngữ, có vị trí ít ra là ngang bằng với chữ Hán cho tới khi lịch sử có mộtbước ngoặt khác: người phương Tây vào Việt Nam
Tư liệu đọc thêm:
Thi cử và nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
Trần Bích San
Phần I
Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm 3 tỉnhGia Định, Định Tường và Biên Hòa Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm ba tỉnhmiền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Hòa ước năm GiápTuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ.Nam Kỳ trở thành thuộc địa (colonie) của Pháp
Hai hòa ước năm Quí Mùi 1883 và Patenôtre năm Giáp Thân 1884 công nhậnquyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thànhđất bảo hộ (protectorat) của Pháp Ở miền Bắc, trên danh nghĩa, triều đìnhHuế còn quyền hành nhưng trên thực tế mọi việc do người Pháp điều khiển.Trung Kỳ do triều đình Huế cai trị nhưng được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽcủa Pháp (1)
Khi đô hộ Việt Nam, nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt nềnNho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho guồng máy caitrị Do đó, chiếm được Nam Kỳ xong là người Pháp lập tức khai tử nền giáodục Nho học Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba
Trang 22tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm) Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ côngvăn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ.
Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậmhơn Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm MậuNgọ 1918 Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với khoathi Hội chót năm Kỷ Mùi 1919 ở Huế Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máyquan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháphay chữ quốc ngữ
MỤC ĐÍCH NỀN GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI PHÁP Ở VIỆT NAM
Nhìn thấy quá khứ Việt Nam nặng về Hán học, chủ tâm của người Pháp làmuốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt với người Tàu Để đạt mục đíchhướng tinh thần người Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm cần phảitriệt bỏ (2) và thay thế bằng chữ Pháp, còn văn tự cho tiếng nói người bản xứnếu cần đã có chữ quốc ngữ cùng một họ mẫu tự La Tinh (3) Năm 1865 súyphủ Sài Gòn cho ra đời tờ Gia Định Báo là tờ Công Báo đầu tiên viết bằngchữ quốc ngữ (4) Trong tinh thần ấy, trước tiên người Pháp dựng lên những
cơ sở văn hóa để truyền bá chữ Pháp và chữ quốc ngữ Đáp ứng nhu cầu cấpbách trong thời gian đầu Pháp thiết lập các trường đào tạo thông ngôn Ngày8/5/1861 Đô Đốc Charner ký nghị định lập trường Collège d’Adran để đàotạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn học tiếng Việt (5).Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) được thiết lập ở Sài Gòn năm
1864, ở Hà Nội năm 1905 Pháp còn thiết lập các Trường Hậu Bổ (chuẩn bị
bổ ra làm quan Apprenti Mandarin) ở Hà Nội năm 1903 và ở Huế năm 1911.Đây là những bước đầu trong việc thiết lập một nền giáo dục của Pháp