1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

sáng kiến kinh nghiệm tiếng việt cấp tiểu học

20 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 234,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy gặp những từ có cùng vỏ âm thanh giống nhau thì học sinh không được vội vàng phán quyết ngay hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa mà phải suy nghĩ thật kĩ. Giải nghĩa chính xác cá[r]

Trang 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I - THễNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tờn sỏng kiến:

Một số biện pháp dạy học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm - từ nhiều nghĩa

2 Lĩnh vực ỏp dụng sỏng kiến: Giỏo dục và Đào tạo

3 Tỏc giả:

Ngày, thỏng, năm sinh: 04/9/1973

Trỡnh độ chuyờn mụn: Cao đẳng sư phạm

Chức vụ: Giỏo viờn dạy Lớp 5

Đơn vị cụng tỏc: Trường Tiểu học Võn Trường

Tỷ lệ đúng gúp tạo ra sỏng kiến: 100%

4 Đồng tỏc giả (nếu cú):

Ngày, thỏng, năm sinh:

Trỡnh độ chuyờn mụn:

Chức vụ:

Đơn vị cụng tỏc:

Tỷ lệ đúng gúp tạo ra sỏng kiến: %

5 Chủ đầu tư tạo ra sỏng kiến (nếu cú):

Tờn đơn vị:

Địa chỉ:

Điện thoại:

6 Đơn vị ỏp dụng sỏng kiến:

Tờn đơn vị: Trường Tiểu học Võn Trường

Địa chỉ: Thụn Quõn Bỏc Đoài, xó Võn Trường , huyện Tiền Hải, tỉnh Thỏi Bỡnh Điện thoại: 0363686901

7 Thời gian ỏp dụng sỏng kiến lần đầu: Từ thỏng 9/2015 đến thỏng 5/2016

II - BÁO CÁO Mễ TẢ SÁNG KIẾN

Trang 2

1 Tờn sỏng kiến:

Một số biện pháp dạy học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm - từ nhiều nghĩa

2 Lĩnh vực ỏp dụng sỏng kiến: Giỏo dục và Đào tạo.

3 Mụ tả bản chất của sỏng kiến:

3.1 Tỡnh trạng giải phỏp đó biết:

Một trong những nguyờn tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thụng qua giao tiếp Cỏc hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngụn ngữ là cụng

cụ cực mạnh để học sinh tiếp cận, rốn luyện và phỏt triển khả năng sử dụng từ Tiếng Việt Do đú, việc đưa học sinh vào cỏc hoạt động học tập trong giờ Tiếng Việt được giỏo viờn đặc biệt quan tõm, chỳ ý Ngụn ngữ Tiếng Việt của chỳng ta thực sự cú nhiều khớa cạnh khú, một trong những nội dung khú đú là phần nghĩa của từ

VD: - Con tàu vào ăn than

- Mời bác ăn cơm.

Cùng từ ăn đợc hiểu theo hai nghĩa khác nhau Chính vì thế việc tìm hiểu nghĩa của từ và đặc biệt là phần từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong chơng trình Tiếng Việt 5 có vị trí rất quan trọng Nhiều năm liền trong quỏ trỡnh dạy học, tụi thường nhận thấy cỏc em học sinh dễ dàng tỡm được cỏc từ trỏi nghĩa, việc tỡm cỏc từ đồng nghĩa cũng khụng mấy khú khăn, tuy nhiờn khi học xong từ đồng

õm và từ nhiều nghĩa thỡ cỏc em bắt đầu cú sự nhầm lẫn và khả năng phõn biệt từ đồng õm và từ nhiều nghĩa cũng khụng được như mong đợi của cụ giỏo, kể cả học sinh khỏ, giỏi đụi khi cũng cũn thiếu chớnh xỏc Trăn trở về vấn đề này, qua nhiều năm dạy lớp 5, tụi đó rỳt ra một số kinh nghiệm nhỏ về cỏch hướng dẫn

học sinh phõn biệt từ đồng õm với từ nhiều nghĩa Vỡ thế, tụi đó chọn sỏng kiến:

“Một số biện phỏp giỳp học sinh lớp 5 phõn biệt từ đồng õm và từ nhiều nghĩa”

3.2 Nội dung giải phỏp đề nghị cụng nhận là sỏng kiến:

* Mục đớch của giải phỏp:

Để phự hợp với chương trỡnh sỏch giỏo khoa và thực tiễn giỏo dục hiện nay, theo tụi cần tỡm và lựa chọn ra cỏch dạy phự hợp để đạt hiệu quả cao nhất mang

lại kết quả tốt nhất cho học sinh.Tụi mạnh dạn đưa ra “Một số biện phỏp giỳp học sinh lớp5 phõn biệt từ đồng õm và từ nhiều nghĩa”

* Nội dung giải phỏp:

A Nội dung dạy từ đồng õm, từ nhiều nghĩa ở lớp 5:

Trang 3

* Từ đồng âm: Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5, các em được học

khái niềm về từ đồng âm Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinh phân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu phân biệt các từ đồng âm, bài luyện tập về từ đống âm đã được giảm tải, vì thế thời lượng còn ít

* Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần 8.

Học sinh được học khái niệm về từ nhiều nghĩa Các bài tập chủ yếu là phân biệt các từ mang nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa, nêu các nét nghĩa khác nhau của một từ Dạng bài tập về phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa không có trong khi đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế

B Thực trạng của việc dạy và học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.

1 Việc dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa của giáo viên:

Trong quá trình dạy học các bài học này, mỗi giáo viên đều làm đúng vai trò hướng dẫn, tổ chức cho học sinh Tuy nhiên do thời lượng 1 tiết học có hạn nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệ phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học Do đó, sau các bài học đó học sinh chỉ nắm được kiến thức về nội dung học một cách tách bạch Đôi khi giảng dạy nội dung này, giáo viên còn khó khăn khi lấy thêm một số ví dụ cụ thể ngoài SGK để minh hoạ phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

2 Về việc học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa của học sinh:

Trong thực tế, học sinh làm các bài tập về từ đông âm nhanh và ít sai hơn khi học các bài tập về từ nhiều nghĩa, cũng có thể do từ nhiều nghĩa trừu tượng hơn Đặc biệt khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng âm, các nghĩa của từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài chưa đạt yêu cầu Ban đầu, khi học từng bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thì phần đa các em làm được bài, song khi làm các bài tập lồng ghép để phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thì chất lượng bài làm yếu hơn

3 Những khó khăn mà học sinh thường gặp phải:

- Hầu hết học sinh lớp 5 khi học các tiết luyện từ và câu về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa đều gặp rất nhiều khó khăn Cụ thể là:

- Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: học sinh còn giải nghĩa từ sai, lúng túng và còn lủng củng

- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: còn mơ hồ, định tính

- Phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyển của từ: Học sinh còn làm sai

Trang 4

- Đặt câu có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa: chưa chính xác, chưa hay, chưa đúng với nét nghĩa yêu cầu

4 Nguyên nhân của những khó khăn:

* Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thức giống nhau,

đọc giống nhau, viết cũng giống nhau chỉ khác nhau về ý nghĩa

Ví dụ 1: Từ đồng âm “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công

việc” xét về hình thức ngữ âm thì hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì hoàn toàn khác nhau: “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc hoặc làm việc, “bàn” (2) là động từ chỉ sự trao đổi ý kiến

Ví dụ 2: Từ nhiều nghĩa: “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn”(2) trong “bàn

phím” Hai từ “bàn” này, về hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, có chân dùng để đi kèm với ghế làm đồ nội thất; “bàn”(2) là bộ phận tập hợp các phím trong một số loại đàn hoặc máy tính bàn” trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công việc”đều mang nghĩa gốc, VD2 “bàn” trong “cái bàn” mang nghĩa gốc còn “bàn” trong

“bàn phím” mang nghĩa chuyển

* Trong chương trình Tiếng Việt 5 chưa có dạng bài tập phối hợp cả hai kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học sinh rèn kĩ năng phân biệt

* HS còn chưa phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa

C Biện pháp thực hiện

1 Coi trọng việc dạy các tiết học về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa

a Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:

* Từ đồng âm: Là những từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa

(theo SGK TV5 - tập 1 - trang 51)

Ví dụ: - bò trong kiến bò chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền bằng cử động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn

- Bò trong trâu bò: chỉ loài động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có

màu vàng, được nuôi để lấy sức kéo, thịt, sữa

- Đầm trong đầm sen: chỉ khoảng trũng to và sâu giữa đồng để giữ nước.

- Đầm trong bà đầm : chỉ đàn bà, con gái phương Tây.

- Đầm trong cái đầm đất: chỉ vật nặng, có cán dùng để nện đất cho chặt.

Trang 5

Đây là kiến thức cô đọng, súc tích nhất dành cho học sinh tiểu học ghi nhớ, vận dụng khi làm bài tập, thực hành

Đối với giáo viên tiểu học, cần chú ý thêm từ đồng âm được nói tới trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn 2 từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa chúng không có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau)

như trường hợp “câu” trong “câu cá” và “câu” trong “đoạn văn có 5 câu” là từ

đồng âm ngẫu nhiên và cả từ đồng âm chuyển loại (nghĩa là các từ giống nhau

về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa, đây là kết quả của hoạt động chuyển hóa từ loại của từ)

Ví dụ : a) + cuốc (danh từ): cái cuốc; đá (danh từ): hòn đá

+ cuốc (động từ): cuốc đất; đá (động từ): đá bóng

b) + thịt (danh từ): miếng thịt

+ thịt (động từ): thịt con gà

- Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên (gió

bay, bọn bay, cái bay), do chuyển nghĩa quá xa mà thành (lắm kẻ vì, vì lý do

gì), do từ vay mượn trùng với từ có sẳn( đầm sen, bà đầm, la mắng, nốt la), do

từ rút gọn trùng với từ có sẳn( hụt mất hai ly, cái ly, hai ký, chữ ký )

Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của từ hoặc dùng với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm

* Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa

chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau (SGK Tiếng Việt 5 - trang 67)

Ví dụ: - Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt)

- Từ “mắt” trong câu “quả na mở mắt” là nghĩa chuyển.

Đối với giáo viên có thể hiểu: Một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế khách quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa

có mối liên hệ mật thiết với nhau

Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều nghĩa với từ một nghĩa Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa.Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa

Trang 6

Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ) người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng, tính chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vẩt ấy Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động khác nghĩa ( nghĩa 2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó

Ví dụ: Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát

triển cao nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng

Chín (2) Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự

phát triển cao nhất (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)

Chín (3) Sự thay đổi màu sắc nước da ( ngượng chín cả mặt).

Chín (4) Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm (cam chín).

Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải, miêu

tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa Nghĩa của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở:

*Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có ba dạng sau :

- Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về hình dáng

Ví dụ: Mũi1 (mũi người) và Mũi 2 ( mũi thuyền) :Miệng1 (miệng xinh) và

miệng2 (miệng bát)

- Dạng 2 : Nghĩa của từ phát triểm trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức

năng, của các sự vật, đối tượng

Ví dụ : cắt1 ( cắt cỏ) với cắt 2 ( cắt quan hệ )

- Dạng 3 : Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ kết quả do tác động của các sự vật đối với con người

Ví dụ: đau1 (đau vết mổ ) và đau 2 (đau lòng )

* Theo cơ chế hoán dụ có tác dụng

- Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và toàn thể

Ví dụ: Chân1 , Tay 1 , mặt 1 là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ cái toàn thể ( anh ấy có chân2 trong đội bóng Tay2 bảo vệ của nhà máy số ba

có Mặt2 trong hội nghị)

- Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa

Trang 7

Vớ dụ 1: Nhà1 Là cụng trỡnh xõu dựng (Anh trai tụi đang làm nhà).

Nhà 2 là gia đỡnh (Cả nhà cú mặt).

Vớ dụ 2: Thỳng1 : Đồ vật dựng để đựng đan bằng tre hoặc nứa (Cỏi thỳng

này đan khộo quỏ).

Thỳng2 : Chỉ đơn vị ( Hai thỳng lỳa).

Đối với học simh lớp 5, chỳng ta khụng thể yờu cầu học sinh nắm vững cỏc thành phần ý nghĩa của từ, cỏch thức chuyển nghĩa của từ song yờu cầu học sinh phải giải nghĩa một số từ thụng qua cỏc cõu văn, cỏc cụm từ cụ thể, xỏc định được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ, phõn biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng õm, tỡm được một số vớ dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt cõu với cỏc nghĩa của từ nhiều nghĩa

b) Nắm vững phơng pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

* Bài học về từ đồng õm và từ nhiều nghĩa là loại bài khỏi niệm Giỏo viờn tổ chức cỏc hỡnh thức dạy học để giải quyết cỏc bài tập ở phần nhận xột, giỳp học sinh phỏt hiện cỏc hiện tượng về từ ở cỏc bài tập từ đú rỳt ra được những kiến thức về từ đồng õm và từ nhiều nghĩa Bước tiếp theo giỏo viờn tổng hợp và kiến thức như nội dung phần ghi nhớ Đến đõy, nếu là HS khỏ, giỏi, GV

cú thể cho cỏc em lấy vớ dụ về hiện tượng đồng õm, nhiều nghĩa giỳp cỏc em nắm sõu và chắc phần ghi nhớ Chuyển sang phần luyện tập, giỏo viờn tiếp tục tổ chức cỏc hỡnh thức dạy học để giỳp học sinh giải quyết cỏc bài tập phần luyện tập Sau mỗi bài tập giỏo viờn lại củng cố, khắc sõu kiến thức liờn quan đến nội dung bài học, liờn hệ thực tế và liờn hệ tới cỏc kiến thức đó học của phõn mụn LTVC núi riờng và tất cả cỏc mụn học núi chung

Trong quỏ trỡnh dạy học cỏc bài về từ đồng õm, từ nhiều nghĩa, giỏo viờn cần sử dụng đồ dựng dạy học, tranh ảnh minh hoạ nhằm giỳp học sinh dễ dàng phõn biệt nghĩa của từ.Vớ dụ:

Trang 8

Tóm lại: Khi dạy khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, cần thực hiện theo quy trình các bước sau :

- Cho học sinh nhận biết ngữ liệu để phát hiện những dấu hiệu bản chất của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.

- Học sinh rút ra các đặc điểm của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và nếu định nghĩa

- Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới.

Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung khi dạy luyện

từ và câu và vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học như:

- Phương pháp hỏi đáp - Hình thức học cá nhân

- Phương pháp giảng giải - Thảo luận nhóm

- Phương pháp trực quan - Tổ chức trò chơi

- Phương pháp luyện tập thực hành

* Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên chủ yếu thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố, nắm vứng kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa…

+ Yêu cầu học sinh hiểu và nắm ghi nhớ để vận dụng

Tâm lí học sinh làm những bài tập đơn giản, để lộ kiến thức, ngại học thuộc lòng, ngại viết các đoạn, bài cần yếu tố tư duy Biết vậy tôi thường cho học sinh ngắt ý của phần ghi nhớ cho đọc nối tiếp, rồi ghép lại cho đọc toàn phần, đọc theo nhóm đôi, có lúc thi đua xem ai nhanh nhất, ai đọc tốt Cách làm này tôi đã cho các em thực hiện ở các tiết học trước đó (về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa) do đó dạy đến từ đồng âm, từ nhiều nghĩa các em cứ sẵn cách tổ chức như trước mà thực hiện

c) Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau

Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau (nói đọc giống nhau viết cũng giống nhau) Ta thấy rõ ràng là “đường” (1) trong

“đường rất ngọt”, “đường” (2) trong “đường dậy điện thoại” và “đường” (3)

trong “ngoài đường xe cộ đi lại nhộn nhịp” đều phát âm, viết giống nhau Vậy

mà “đường” (1) với “đường” (2) và “đường” (1) với “đường” (3) lại có quan

hệ đồng âm, còn “đường” (2) với “đường” (3) lại có quan hệ nhiều nghĩa.

Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của các từ đường (1), đường (2), đường (3) là gì?

Trang 9

Đường (1): (đường rất ngọt): chỉ một chất có vị ngọt

Đường (2): (đường dây điện thoại): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục vụ

cho việc thông tin liên lạc

Đường (3): (ngoài đường, xe cộ đi lại nhộn nhịp) chi lối đi cho các

phương tiện, người, động vật

Để có thể giải nghĩa chính xác các từ “đường” như trên, các em phải có vốn từ phong phú, có vốn sống Vì vậy trong dạy học tất cả các môn, giáo viên luôn chú trọng trau dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có ý thức tích lũy cho mình vốn sống và yêu cầu mỗi học sinh phải có được một cuốn từ điển Tiếng Việt biết cách tra từ điển Tiếng Việt đồng thời nắm được một số biện pháp giải nghĩa từ

Tiếp đó học sinh căn cứ vào định nghĩa, khái niệm về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa để xác định mối quan hệ giữa các từ “đường”

Xét nghĩa của 3 từ “đường” trên ta thấy:

Từ đường(1) và từ đường(2) có nghĩa hoàn toàn khác nhau không liên quan đến nhau – kết luận hai từ đường này có quan hệ đồng âm Tương tự như trên từ đường(2) và từ đường(3) cũng có mối quan hệ đồng âm.

Từ đường (2) và từ đường (3) có mối quan hệ mật thiết về nghĩa trên cơ

sở của từ đường (3) chỉ lối đi, ta suy ra nghĩa của từ đường(2) (truyền đi) theo vệt dài (dây dẫn) Như vậy từ đường (3) là nghĩa gốc, còn từ đường (2) là nghĩa

chuyển - kết luận từ đường(2) và từ đường(3) có quan hệ nhiều nghĩa với nhau.

2 Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức

Trong chương trình sách giáo khoa, bài dạy về từ nhiều nghĩa được sắp xếp sau bài dạy về từ đồng âm Như vậy để phòng xa sự nhầm lẫn giữa từ đồng

âm với từ nhiều nghĩa thì ngay ở bài dạy về từ đồng âm ngoài ví dụ đúng về các trường hợp không phải đồng âm để các em nhận xét

Ví dụ: Từ “đi” trong các trường hợp sau đây có phải hiện tượng đồng âm hay không?

- Mẹ hay đi bộ vào buổi tối để giảm béo

- Bố mới đi Hà Nội về.

- Hè này, cả nhà em đi du lịch.

- Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi.

- Anh đi con mã, tôi đi con tốt.

- Thằng bé đã đến tuổi đi học.

Trang 10

Bài tập này giáo viên chủ yếu yêu cầu học sinh nhận diện từ “đi” trong các câu văn trên là hiện tượng đồng âm hay không phải đồng âm, không yêu cầu các em giải thích gì và sẽ có hai phương án trả lời: đồng âm/không đồng âm Đến đây giáo viên gợi mở để biết từ “đi” trong các câu văn trên có phải là quan

hệ đồng âm hay không, các em về nhà suy nghĩ tìm hiểu SGK các tiết luyện từ

và câu sau cô sẽ giúp các em tìm câu giải đáp

Trong bài dạy “từ nhiều nghĩa” giáo viên có thể lấy thêm một hai trường

hợp về từ nhiều nghĩa, sau đó quay lại lấy một ví dụ về từ đồng âm cho học sinh nhận định về các từ trong ví dụ

Ví dụ: từ “chỉ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa?

Vì sao?

Cái kim sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng ở câu hỏi này,

giáo viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng nhận diện, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Sau khi học sinh trả

lời giáo viên chốt lại từ “chỉ” trong các trường hợp trên có quan hệ đồng âm vì

nghĩa của từ “chỉ” trong mỗi trường hợp khác nhau, không có quan hệ với nhau

3 Dựa vào yếu tố từ loại để giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

Biện pháp này thực ra ít khi tôi vận dụng bởi nếu học sinh đã hiểu đúng nghĩa của từ Thuộc được nhớ thì không cần thiết phải dùng đến cách dựa vào yếu tố từ loại, tuy nhiên đối với một số học sinh trung bình và yếu giáo viên có thể kết hợp cả 3 biện pháp

Nếu trong thực tế hàng ngày học sinh có thể bắt gặp hiện tượng một từ nào đó phát âm gần nhau nhưng xét về từ loại khác nhau thì kết luận đó là hiện tượng đồng âm Chẳng hạn khi chơi đùa học sinh hò reo đồng thành để cổ vũ

cho một học sinh được mệnh danh là “cụ cố” vì em này nhỏ, yếu:

“Cố lên cụ cố….ơi !”

“Cố” thứ nhất là tính từ, “cố” thứ 2 là danh từ Đây là hiện tượng đồng âm

dễ nhận diện

Tùy trường hợp những từ phát âm giống nhau nhưng cùng từ loại (cùng loại danh từ, động từ, tính từ) thì phải vận dụng biện pháp giải nghĩa từ trong văn cảnh đồng thời xét xem các từ đó có mối quan hệ về nghĩa hay không để tránh nhầm lẫn những từ đồng âm với từ nhiều nghĩa hoặc quan hệ đồng nghĩa

nếu có Trong trường hợp này thông thường ta dựa vào ngữ cảnh để nhận biết

Ngày đăng: 02/04/2021, 15:42

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w