Hai câu trong phần thực đối nhau: "Ta" >< "người", "Ta dại" >< "người khôn" Dại tìm nơi vắng vẻ >< Khôn đến chốn lao xao Nghệ thuật đối ấy đã tương phản và đối lập hai quan niệm sống, ha[r]
Trang 1Giáo án Ngữ văn 10 - Đinh Lý Bằng
Nhàn
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
A Mục tiêu: Giúp HS
1 Cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ: Cuộc sống
đạm bạc, nhân cách thanh cao, trí tuệ sáng suốt, uyên thâm
2 Biết cách đọc - hiểu một bài thơ có những câu thơ ẩn ý, thâm trầm và sâu sắc, có sự kết hợp giữa trữ tình và triết lý, thấy vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt: mộc mạc, tự nhiên mà ý vị
3 Hiểu đúng quan niệm sống nhàn của tác giả, từ đó càng thêm yêu mến, kính trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm
B Phương tiện thực hiện:
- SGK, SGV, thiết kế bài học
C Cách thức tiến hành
- Giáo viên tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp các . pháp: đọc sáng tạo, gợi tìm, tái hiện, thuyết trình, kết hợp với các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi
D Tiến trình dạy học
1 Kiểm tra bài cũ:
2 Giới thiệu bài mới: R" kia, với quan niệm "thi dĩ ngôn chí" các thi nhân -L làm thơ phú
để tả cảnh, qua đó ngụ ý, ngụ tình Khi đó, nhà thơ không chỉ O L đọc vào một mẫu lí -W hoài bão trong tâm trí mà còn O L đọc vào vị thế, địa vị, cảnh ngộ của chính mình trong thế giới
- GV: Hãy nêu ý chính về con L và sự
nghiệp thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
- GV nhận xét, nói rõ thêm một số ý
- GV: Hãy đọc văn bản thơ và xác định đại
ý của văn bản thơ
- GV: Là bài thơ thất ngôn bát cú luật
`L vần thơ "giản dị mà linh hoạt",
"không màu mè mà ý vị" tìm hiểu bài thơ
theo 2 cách: theo kết cấu và theo những vấn
đề toát lên từ tác phẩm
- GV: Hãy đọc văn bản thơ và xác định đại
ý của văn bản thơ
GV: Là bài thơ thất ngôn bát cú luật
`L những vần thơ "giản dị mà linh
hoạt", "không màu mè mà ý vị" tìm hiểu
bài thơ theo 2 cách: theo kết cấu và theo
những vấn đề toát lên từ tác phẩm
(Chúng ta lựa chọn cách 2)
I – Tiểu dẫn
1 Tác giả (Tiểu dẫn SGK)
* Nội dung: Mang tính giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, phê phán những điều xấu xa trong xã hội
* Nghệ thuật:
- Giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà ý vị
- Có sự kết hợp giữa trữ tình và triết lý
2 Tác phẩm
- Xuất xứ: Nhàn là bài thơ nôm số 73 trong sách "Bạch Vân quốc ngữ thi" viết về thiên nhiên và vịnh nhàn
- Nhan đề bài thơ: Do L đời sau đặt
- Đại ý: Đó là bài thơ thể hiện cái chí từ bỏ công danh,
sống M" muối đạm bạc của Nguyễn Bỉnh Khiêm
II Đọc - hiểu
1 Vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
- Nhịp 2/2/3 cùng với cách dùng số từ + danh từ liên tiếp
kể ra những dụng cụ lđsx: mai, cuốc để xới lộn đất, cần câu để câu cá
Câu thơ " ta về với cuộc sống nguyên sơ, thuần hậu, tự cung tự cấp hết sức giản dị
Trang 2Giáo án Ngữ văn 10 - Đinh Lý Bằng
GV: Hãy theo dõi C1,2 và C5,6 của tác
phẩm Theo em hai cặp câu đó biểu lộ điều
gì ?
(?) Có ý kiến cho rằng đó là một cuộc sống
rất quê mùa, khổ cực ý kiến của em ?
- HS thảo luận
- GV tổng kết các luồng ý kiến, chốt vấn đề
(?) Trong lời thơ, tác giả có nhắc đến yếu tố
thời gian 4 mùa là ở . diện
thời điểm Em có nhận xét gì về hình ảnh
con L tâm thế con L trong thời
gian đó ?
(Câu hỏi này cho HS khá giỏi, GV nhận
xét, chốt)
* GV chuyển dẫn
Tuyết Giang Phu Tử về với thiên nhiên,
sống hoà theo tự nhiên còn là 1 cách để
thoát ra ngoài vòng ganh đua của thói tục,
để không bị cuốn hút bởi tiền tài, địa vị, để
tâm hồn an nhàn, khoáng đạt Nhân cách
NBK đối lập với danh lợi O với lửa
Theo em cặp câu nào trong bài bộc lộ vẻ
đẹp nhân cách ấy của ông ?
+ Trong câu thơ, nghệ thuật nào là nổi bật ?
Nghệ thuật đó có tác dụng thế nào
trong việc bộc lộ nội dung ?
- GV mở rộng: Trong lời thơ, NBK cũng
thể hiện một thời gian vũ trụ tự nhiên với 4
thời điểm xuân, hạ, thu, đông đó là
thời gian tĩnh tại, thời gian tuần hoàn bất
biến (khác với thời gian vận động bức bách
trong thơ Trần Tử Ngang, Lí Hạ, Lí
Bạch (đời `Lb và con L - tuỳ lúc mà
thích nghi, tuỳ tự nhiên mà điều chỉnh các
hứng của mình Do thuận theo tự nhiên,
theo thời gian mà có thể thảnh thơi,
nhàn nhã, không câu thúc
# vậy nhàn ở đây là hứng nhàn
Nhàn ở đây là sống hoà hợp với tự nhiên, về
với tự nhiên để di Mv tinh thần
Cụ Trạng Trình - 1 bậc đại khoa mà lại về sống giữa thôn quê một lão nông thì cũng là một sự ngông ngạo -2O thói đời Ngông ngạo mà không ngang, mà
cứ ung dung, thanh thản không
Cái gia tài có 3 thứ, thứ nào cũng chỉ có một, với Bạch Vân sĩ là sự đầy đủ Vì thế dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, riêng "ta" cứ thảnh thơi, nhàn nhã, vui vầy giữa chốn O non cùng dòng xanh sông Tuyết Giang quê nhà, bất cần các thú vui khác
Có thể nói hoàn cảnh cuộc sống là vất vả, khổ cực, phải tự lao động nhà thơ đã sẵn sàng chấp nhận
và còn vui, thích thú với cuộc sống đó
Cuộc sống ấy của NBK có khác nào cách sống cần cù, thanh bạch của ức Trai trong thế kỷ XV sau khi đã thoát vòng danh lợi
Ao cạn vớt bèo cấy muống nặng vay then (Thuật hứng - 24)
- Măng trúc, giá đỗ những thức ăn quê mùa, dân dã,
đạm bạc, mùa nào thức ấy rất tự nhiên, sẵn có, hầu nh không cần lo nghĩ, chạy vạy
- Ăn thì đã vậy, còn ở, còn sinh hoạt ra sao ? Cũng tắm
hồ, tắm sen bao L dân quê khác, mùa nào sinh hoạt ấy
Đó quả là một cuộc sống rất khổ cực
Song các em cần nhớ: Các nhà nho xa "cầu đạo, bất cầu thực", họ coi thờng miếng ăn, họ chuộng tự do nội tâm hơn là sự khổ cực bên ngoài Hơn nữa, đây là 1 cuộc sống đạm bạc chứ không khắc khổ Tắm hồ sen về mùa xuân, tắm ao về mùa hạ, đó là một thú quê, đó còn là một cách để thanh sạch tâm hồn, để di dỡng tinh thần cho thêm phần thanh cao
Cuộc sống tự nhiên đạm bạc ấy là cuộc sống hợp với
đạo, cho nên nó tạo cho NBK cảm giác thú vị sung
O thanh thản (điều đó thể hiện qua âm điệu thơ: nhịp nhàng (4/3) hình ảnh đẹp lại đối nhau rất chỉnh và cân xứng, cảnh sinh hoạt với 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông;
có mùi vị, có . sắc, không nặng nề, ảm đạm, trái lại thơ mộng, thanh thản)
Đó là cuộc sống hoà hợp với tự nhiên "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá" - nói Xuân Diệu là có cảm giác
ăn giá tuyết, uống băng đông "Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao" - thì vừa có O trong, vừa có . thơm thanh quý Một cuộc sống thanh đạm L ấy, dễ mấy ai có
nhà thơ ?
2 Vẻ đẹp nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.
- ở đây NBK tự nhận mình là dại, L phần khôn
Trang 3Giáo án Ngữ văn 10 - Đinh Lý Bằng
+ Em hiểu thế nào là "chốn lao xao" ?
+ Vậy nơi vắng vẻ là những nơi nào ?
+ Xem vậy thì ai dại ai khôn ?
+ Hãy lí giải tại sao NBK lại có sự lựa chọn
nh thế?
- GV mở rộng nâng cao vấn đề trên cơ sở
hoàn cảnh lịch sử để giúp học sinh hiểu rõ,
hiểu sâu hơn)
- GV chuyển dẫn: Nói nh vậy có nghĩa là
sự lựa chọn ấy của NBK là rất tỉnh Vậy thì
2 câu thơ 3, 4 không chỉ bộc lộ vẻ đẹp nhân
cách mà còn bộc lộ vẻ đẹp trí tuệ của ông
+ Theo em, trong cơn bão táp của thời đại là
ngời học rộng biết nhiều thông quán cổ
kim, giỏi khoa lí số, biết việc thiên cơ lại
thêm chứng kiến bao trò dâu bể, bao cuộc
gơm đao, thái độ của NBK trớc cuộc sống
là gì?
+ Từ đó em hiểu chút gì về đặc điểm thơ
NBK và hình ảnh con L trong thơ ông ?
GV chuyển dẫn:
Nhãn quan tỏ -L ấy thể hiện ở 2 câu kết
Câu kết trong thơ trung đại -L là câu
nghị luận bày tỏ quan điểm và chính câu
kết cho thấy xu O của thơ Nó mang
tính chất tuyên ngôn, công bố lập -2L
thái độ có tính chất lí tính Dạng câu tuyên
ngôn này làm cho thơ gần với cách ngôn,
với giáo huấn, tự giới, đậm màu sắc ngôn
chí, tỏ lòng
cho L Hai câu trong phần thực đối nhau: "Ta" >< SLS "Ta dại" >< SL khôn"
Dại tìm nơi vắng vẻ >< Khôn đến chốn lao xao Nghệ thuật đối ấy đã -. phản và đối lập hai quan niệm sống, hai cách sống, hai nhân cách trong cuộc đời
- Chốn lao xao: Đó là chốn cửa quyền, là L hoạn
lộ, là chốn bon chen danh lợi, là nơi bọn cơ hội vênh vang tự đắc lên mặt đạo đức dạy đời, là nơi phải luồn lọt,
đua tranh, can qua, nơi lòng L thâm hiểm không CL hết, là nơi đồng tiền hôi tanh đã trở thành sức mạnh của cán cân công lý:
Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng bướm Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền
(Thơ nôm - Bài số 5)
- Nơi vắng vẻ: Là nơi tự làm mà ăn tuỳ thuộc vào sự
đãi của thiên nhiên, do đó mà không đua tranh, không thủ đoạn Là nơi không L cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh L không đố kị, bon chen Nơi vắng
vẻ là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và thảnh thơi, thanh thản, nhàn hạn của tâm hồn
Khôn mà hoá dại, dại mà lại khôn Nhà thơ đã tuyên
bố sự lựa chọn của mình một cách kiêu hãnh và tự tin (qua cách \ hô "ta" - SLS và ít nhiều chế giễu mỉa mai bọn L gọi là "khôn" kia (qua cách nói
nghĩa)
# vậy, tìm đến "nơi vắng vẻ", tìm đến sự thanh cao, tìm thấy sự - thái của tâm hồn, Bạch Vân sĩ có niềm vui: "Thơ thẩn, dầu ai vui thú nào" Niềm vui hiện lên trong +O đi ung dung "thơ thẩn" Niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, cứ thanh thản, thoải mái một cách kỳ lạ
Qua quan niệm dại và khôn, NBK đã trình bày với
L đọc cả 1 triết lí nhàn Triết lí sâu sắc mà đùa vui hóm hỉnh trong cách nói nghĩa Triết lí nhàn của Trạng Trình là trở về với tự nhiên, sống hoà hợp với tự nhiên, phủ nhận danh lợi
Về điều này, thế kỷ XV, Nguyễn Trãi cũng đã từng tổng kết: Dưới công danh đeo khổ nhục
Trong dại dột có phong lưu
Trong câu thơ, chúng ta thấy xuất hiện hai không gian (không gian siêu thoát và không gian thế tục) ở trong lựa chọn Không gian siêu thoát đầy thiên nhiên nhng lại vắng bóng ngời và sự bận rộn của con ngời, vắng khách tục; là không gian đợc suy tôn Đối lập với không gian thanh nhàn thoát tục ấy là không gian thế tục với những tính chất đông đúc, gập ghềnh, đắng cay theo kiểu
"cửa quyền nhiều hiểm hóc", "đờng lợi cực quanh co"
Đây cũng chính là kiểu xây dựng không gian đặc trng của thơ trung đại (kiểu không gian nhàn tản thoát tục -
Trang 4Giáo án Ngữ văn 10 - Đinh Lý Bằng
Vậy trong hai câu kết của bài thơ NBK bày
tỏ điều gì ?
Để bày tỏ quan niệm ấy NBK đã tích
gì ? (Hãy đọc chú thích 3, 4 SGK/129)
(?) Qua đó, em cảm nhận thế nào về
nhân cách NBK ?
- GV mở rộng:
Lấy tích trong truyện đời `L kể chuyện
Thuần Vu Phần vốn là một viên -O tài,
tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống
soái, bị quở mắng, bèn từ chức, thích uống
2 làm vui Một hôm 2 say ngủ bên
gốc hoè mơ thấy mời làm phò mã cho
vua O Hoè, phú quý rất mực, tỉnh dậy thì
ra làm quan ở O kiến, ở tổ kiến bên gốc
cây hoè
Nhà thơ tự ví mình với Thuần Vu Phần ,
cũng từ quan, đến gốc cây uống 2 say,
dù có mơ sống phú quý thì cũng chỉ là
giấc mơ mà thôi
- Nhà thơ -2O sau xem chốn lao xao, phú
quý kia chỉ là chiêm bao, không đích thực
Vậy là bằng cách coi -L phú quý, nhà
thơ khẳng định sựa lựa chọn của mình, thể
hiện cái chí từ bỏ công danh, sống ẩn dật,
sống M" muối đạm bạc
+ Qua việc tìm hiểu tác phẩm trên đây một
em hãy khái quát lại giá trị tác phẩm ?
* Củng cố:
Tập đọc lại bài thơ cho đúng âm điệu thơ:
Toàn bài đọc nhẹ nhàng thong thả Hóm
hỉnh khi đọc hai câu 3, 4 Thanh thản thoải
mái khi đọc 4 câu thơ cuối Chú ý cách
ngắn nhịp đúng: Nhịp 4/3 Riêng câu 1:
2/2/3 Câu 3, 4: 2/5 Nhịp thơ rất biến hoá
gợi lên một tâm thế đủng đỉnh khoan thai
* Dặn dò: Soạn bài: “Độc Tiểu Thanh kí”
của Nguyễn Du
đặc biệt nhiều trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm) Đối lập không gian để tạo thành sự đối lập giữa thanh cao và phàm tục, ngoài đời và trong đời
- ` đào tạo theo lí -W Nho gia . nhiên NBK
có "Ước một tôi lành chúa thánh minh" để phụng thờ.Trung với đạo thánh hiền, mà không thể trung với hôn quân bạo chúa Vậy là xuất để hành đạo, không gặp thời đành phải xử để cầu nhàn
3 Vẻ đẹp trí tuệ Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Trạng Trình là 1 bậc thức giả với trí tuệ vô cùng tỉnh tảo Tỉnh táo trong sự chọn lựa: "Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ", mặc cho S#L khôn, L đến chôn lao xao" Tỉnh táo trong cách nói đùa vui, nghĩa (dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hoá dại), ở một bài thơ
khác NBK viết: Khôn mà hiểm độc là khôn dại Dại vốn hiền lành ấy dại khôn
(Thơ Nôm, bài 94)
# vậy thì dại, khôn ở NBK có phần xuất phát từ trí tuệ, triết lí dân gian "ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác" Dựa vào đạo, ông có nét ngông ngạo của riêng mình "Ta ít
đua chen cùng -2 phụ" ("Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm" Tr87)
NBK đã đem đến một con L lí trí, nghị luận trong thơ, (vì thế có L gọi ông là nhà thơ triết lí) Với NBK, cái khôn của L thanh cao là quay C lại với danh lợi, tìm sự - thái cho tâm hồn, sống ung dung hoà hợp với tự nhiên, sống nhàn, giữ cốt cách thanh cao của nhà hiền sĩ
- Nhà thơ bày tỏ quan niệm công danh, của cải, quyền quý chỉ là một giấc chiêm bao
Vậy là với cái nhìn thông tuệ, nhà thơ tìm đến cái say" chỉ là để "tỉnh"
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
* Hai câu thơ càng khẳng định mạnh mẽ nhân cách của NBK Trí tuệ nâng cao nhân cách để nhà thơ từ
bỏ chốn lao xao quyền quý đến nơi vắng vẻ, đạm bạc
mà thanh cao
III - Tổng kết
Bài thơ có ngôn ngữ bình dị, giọng điệu khoan thai, thể hiện một tâm thế thanh cao, coi -L danh lợi, phú quý, bon chen trong cuộc đời Hình ảnh Tuyết Giang Phu Tử hiện lên thấp thoáng sau vần thơ đã làm cho ta kính phục và v mộ kẻ sĩ quân sử thời loạn
Học bài thơ, chúng ta còn hiểu rõ hơn về cảm hứng thế
sự trong thơ NBK và trong thơ văn trung đại
Trang 5Gi¸o ¸n Ng÷ v¨n 10 - §inh Lý B»ng
Trang 6Gi¸o ¸n Ng÷ v¨n 10 - §inh Lý B»ng