1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3

14 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 186,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế nên tôi chọn đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn toán lớp 3 ở bậc tiểu học.. - Khảo sát tình hình thực tế học sinh trong lớp để nắm được tình h

Trang 1

A.TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC NHẰM GIÚP HỌC SINH HỌC

TỐT MÔN TOÁN LỚP 3

B MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

Chương trình sách giáo khoa mới qui định dạy đủ 6 môn trong đó mỗi môn đều có tầm quan trọng riêng của nó Thông qua quá trình dạy học các phân môn

để hình thành cơ sở ban đầu về phát triển con người toàn diện cho học sinh Cùng với môn Tiếng Việt, Đạo đức, TNXH, Nghệ thuật, môn Toán có vị trí quan trong vì:

Việc thay sách Toán Tiểu học là một yêu cầu khách quan thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy là điều không thể chậm trễ Song việc đổi mới như thế nào, bắt đầu từ đâu, người thực hiện ra sao thì quả là không dễ dàng chút nào Muốn làm được việc đó phải dày công nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo Mà trước hết là người giáo viên giảng dạy

Đứng trước thực trạng trên, là giáo viên chủ nhiệm lớp 3C tôi thật sự băn khoăn và đặt ra nhiệm vụ là làm thế nào để bồi dưỡng, hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản giúp học sinh học tốt môn toán Chính vì thế nên tôi

chọn đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn toán lớp 3 ở bậc tiểu học.

2 Cơ sở thực tiễn

Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động Những kiến thức kĩ năng toán học

là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, ) Nó giúp học sinh biết tư duy suy nghĩ, làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao động

Vì vậy, để giúp học sinh nắm vững kiến thức kĩ năng làm nền tảng cho việc học tốt môn Toán là một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải nghiên cứu, tìm những biện pháp giảng dạy hay, giúp học sinh dễ hiểu, phù hợp để hình thành kiến thức, kĩ năng nhằm giúp học sinh học tốt môn toán

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán, để giải được các bài toán trong chương trình đổi mới sách giáo khoa Toán lớp 3

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :

Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn toán lớp 3

IV ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM:

Học sinh lớp 3C trường Tiểu học Hướng Phùng Hướng Hoá Quảng Trị

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trang 2

- Nghiên cứu tài liệu : Đọc tài liệu liên quan đến một số phương pháp giúp học sinh học tốt môn Toán

- Khảo sát tình hình thực tế học sinh trong lớp để nắm được tình hình giúp học sinh học tốt môn Toán của các em học sinh của năm học này và những năm học trước So sánh đối chiếu để thấy được sự tiến bộ của học sinh trước và sau khi nghiên cứu (Phương pháp quan sát – điều tra - rút kinh nghiệm)

VI PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:

1 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi chỉ hướng

vào Nghiên cứu Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn

toán lớp 3 ở 23 học sinh dân tộc lớp 3C năm học 2016-2017 Trường Tiểu học Hướng Phùng

2 Kế hoạch nghiên cứu:

*Thời gian nghiên cứu: Trong thời gian 10 tháng Bắt đầu từ tháng 8 năm

2016 cho tới tháng 5 năm 2017

*Kế hoạch nghiên cứu:

+ Tháng 8,9 ,10năm 2016: Thu thập số liệu

+ Tháng 11,12 năm 2016: Hình thành đề cương

+ Tháng 1 năm 2017: Lấy ý kiến của giáo viên và học sinh thông qua phiếu kháo sát

+ Tháng 2,3 năm 2017: Viết sáng kiến kinh nghiệm

+ Tháng 4,5 năm 2017: Hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm

C NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN

Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, là rèn luyện các kỹ năng, trau

dồi phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó Đó là phẩm chất vốn

có của con người Thông qua học Toán để đức tính đó được thường xuyên phát huy và ngày càng hoàn thiện Chương trình Toán Tiểu học là một công trình khoa học mang tính truyền thống và hiện đại

II THỰC TRẠNG

Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động Những kiến thức kĩ năng toán học

là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, ) Nó giúp học sinh biết tư duy suy nghĩ, làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao động

Một số em môn toán còn chậm, phương pháp học tập chưa rõ ràng, còn thụ động trong việc tiếp thu bài Song điều đáng nói, đây là vùng sâu dân cư sống xa trường Trình độ nhận thức của phụ huynh còn nhiều hạn chế Đa số các em học sinh ở đây là con em dân tộc, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn

Trang 3

Vì vậy, các em còn ham chơi chưa chú ý về học tập Việc học tập còn xao lãng Như vậy trách nhiệm nặng nề thuộc vào người giáo viên trực tiếp đứng lớp

Mặt khác, qua nhiều năm đứng dạy lớp 3 chương trình sách giáo khoa cũ

và thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa môn Toán 3 Bản thân đã có tinh thần trách nhiệm, có ý thức về chuyên môn trong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy toán 3 mới Tôi nhận thấy đối tượng học sinh không đồng đều một số học sinh còn chậm, chưa biết gì Phần nhiều học sinh chưa nắm vững chắc những kiến thức cơ bản về toán như:

Chưa thuộc bảng nhân, chia

Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, chục)

Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột dọc) Đặc biệt các em còn rất yếu trong việc giải toán có lời văn

Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán

Khảo sát thực tế môn toán đầu năm học:

Năm học Lớp Tổng số HS

Toán

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHI THỰC HIỆN:

Để rèn luyện và bồi dưỡng học sinh học tốt môn toán, ngay từ đầu năm tôi được phân công giảng lớp 3C Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm và qua các tiết ôn tập toán đầu năm, tôi đã phân loại học sinh cụ thể vào sổ tay như sau: Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 20/23 học sinh

Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 18/23 học sinh Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 18/23 học sinh

Giải toán có lời văn chưa được: 23/23 học sinh

Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 23/ 23 học sinh

Để tìm hiểu về gia đình, điều kiện sống, sự chăm lo của phụ huynh đối với con em Ngay từ đầu năm tôi đề nghị Ban Giám Hiệu cho họp phụ huynh học sinh Thông qua cuộc họp tôi báo cáo lại tình hình học tập của từng học sinh đặc biệt là học sinh yếu môn Toán

Trong cuộc họp tôi động viên phụ huynh mua đầy đủ dụng cụ học tập cho học sinh

Cần tạo điều kiện cho con em có góc học tập ở nhà, Đặc biệt là phụ huynh nhắc nhở việc học tập của các em và học thuộc bản cửu chương Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp

Để lớp đủ dụng cụ học tập tôi liên hệ thư viện mượn sách giáo khoa và vở bài tập cho học sinh, còn thiếu một ít thì bản thân tôi mua cho các em nên lớp tôi

có 23/ 23 học sinh có đầy đủ dụng cụ học tập

Trang 4

1 Luyện cho học sinh thuộc bảng nhân, chia.

Đã nhiều năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán thì không thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, chia Bởi lẽ học sinh

có thuộc bảng nhân, chia mới vận dụng giải các bài tập có liên quan Đặc biệt là các phép chia có số bị chia 3, 4 chữ số và giải toán hợp

Để luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, chia tôi làm như sau:

Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh lập được bảng nhân, chia và tôi chốt lại cho học sinh nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn như sau:

VD: Bảng nhân.

Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau

Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2, 3, 4,

5, 6, 7, 8, 9, 10 Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị ( trong bảng nhân các thừa số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số 0)

Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa số thứ nhất (Tích thứ nhất trong bảng nhân chính là thừa số thứ nhất, tích cuối cùng trong bảng nhân gấp thừa số thứ nhất 10 lần)

VD: Bảng chia 9.

Các số bị chia trong bảng chia 9 là các tích của bảng nhân 9, và hơn kém nhau 9 đơn vị

Số chia trong bảng chia 9 là các thừa số thứ nhất của bảng nhân 9 đều là 9 Các thương của bảng chia 9 là thừa số thứ hai của bảng nhân 9

Hàng ngày, đầu giờ học môn toán, thay vì cho học sinh vui, để khởi động, tôi thay vào cả lớp cùng đọc một bảng nhân hoặc chia và cứ thế lần lượt từ bảng nhân 2, bảng chia 2 đến bảng nhân, chia hiện học

Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng nhân, chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép nhân, chia trong bảng Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phút cho các em ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu Tôi và học sinh cùng nhau nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các em làm bài chưa tốt

Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em chưa thuộc vào tập riêng Ngày sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu giờ, sau đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên

Để khắc sâu kiến thức cho học sinh, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.

VD: Trò chơi ôn lại bảng nhân ( trò chơi lô tô)

Tôi chuẩn bị nhiều bảng theo thứ tự đảo ngược như sau:

Cách chơi:

Trang 5

Phát cho mỗi em một bảng Giáo viên hoặc lớp trưởng lần lượt đọc mỗi lần

1 phép tính trong bảng nhân 4 nhưng không nêu kết quả Học sinh nghe và tự tìm kết quả đánh dấu vào ô có kết quả đúng Nếu học sinh nào đánh đúng, đủ 3 ô hàng ngang hoặc hàng dọc thì em đó thắng

Tiếp tục như những cách làm trên cho đến khi cả lớp đều thuộc từ bảng nhân, chia 2 đến 9 Qua thời gian không lâu lớp tôi có 18/ 23 học sinh thuộc tất

cả bảng nhân chia từ 2 đến 9

2 Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên.

( Học sinh biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên là chuỗi kiến thức rất quan trọng trong chương trình toán 3)

Chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được cách đọc, viết và so sánh các số tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số thứ tự và giải bài toán hợp

Dạy chuỗi kiến thức này theo tôi người giáo viên cần hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản sau:

Giúp học sinh hiểu các số tự nhiên.

Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, là các số tự nhiên

Số 0 là số tự nhiên bé nhất, không có số tự nhiên lớn nhất

Số 0, 2, 4, 6 là các số tự nhiên chẵn, số 1, 3, 5,7, 9, 11, là các số tự nhiên lẻ Hai số chẵn ( hoặc lẻ) liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị

Nắm được tên và vị trí của các hàng ( hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn)

Biết qui tắc các giá trị theo vị trí của các chữ số trong cách viết số

VD: Dạy cho học sinh:

Các số có bốn chữ số gồm hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị

Tôi giải thích cho học sinh là: hàng nghìn các chữ số lớn hơn 0.

VD: 1234; 2574; 4351; hàng nghìn là: 1, 2, 4 nghìn Không thể có

hàng nghìn là 0 như: 0234, 0574, 0351, Vậy số có bốn chữ số có hàng nghìn nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 9

Hướng dẫn đọc, viết.

Hướng dẫn phân hàng: VD số: 5921

Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị

Số 5921: Có 5 nghìn, 9 trăm, 2 chục, 1 đơn vị

Đọc số 5921: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt

Giáo viên viết: 5921

Phân tích: 5 9 2 1

5nghìn 9trăm 2chục 1đơn vị

Hoặc: lớp nghìn lớp đơn vị

Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải)

Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó

Học sinh đọc: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt

Hơn thế nữa, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc như sau:

Trang 6

VD: Số 5921 và 5911.

Số 5921 đọc là: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt

Số 5911 đọc là: Năm nghìn, chín trăm mười một

Nói cụ thể hơn, từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng

hàng đơn vị của hai số là khác nhau chỗ mốt và một Nghĩa là số 5921, hàng đơn

vị đọc là mốt, còn số 5911 hàng đơn vị đọc là một Tuy cùng hàng và đều là số

“1” nhưng tên gọi lại khác nhau Tôi còn phát hiện và giúp học sinh đọc và

nhận ra cách đọc của một vài số lại có cách đọc tương tự trên:

VD: Số 2305 và 2325 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là “năm”

và “lăm”.

VD: Số 2010: Học sinh nhiều em đọc là “Hai nghìn không trăm linh mười” Tôi hướng dẫn các em Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, linh chín, không có đọc là linh mười” vậy số 2010 đọc là: Hai nghìn không trăm mười.

Hướng dẫn so sánh.

Trong qui tắc là: Khi ta so sánh trong hai số thì: Số nào có ít chữ số hơn thì

số đó bé hơn và ngược lại VD: 9999 < 10 000 ; 1000 > 999

Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi còn làm như sau:

3 Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia

cột dọc)

Theo tôi, đặt tính cũng là một việc hết sức quan trọng trong quá trình làm tính Nếu học sinh không biết cách đặt tính hoặc tính sai sẽ dẫn đến kết quả sai

Vì thế theo tôi nghĩ, để học sinh có căn bản khi thực hiện phép tính phải nắm vững cách đặt tính, các thành phần cũng như sự liên quan trong khi tính cộng trừ, nhân chia

Đối với phép cộng, trừ: ( giúp học sinh nhớ và áp dụng)

Phép cộng:

VD : 2473 + 3422 = 5895

Số hạng số hạng Tổng

Nếu ta thay đổi chỗ các số hạng của tổng thì tổng không thay đổi

2473 + 3422 = 3422 + 2473= 5895

Muốn tìm tổng ta lấy số hạng thứ nhất cộng với số hạng thứ hai

2473 + 3422 = 5895

Muốn tìm số hạng chưa biết, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết

2473 - x = 5895

x = 5895- 2473

Bất kì số nào cộng với 0 cũng bằng chính số đó

2 + 0 = 2

Phép trừ: VD: 8265 - 5152 = 3113

Số bị trừ số trừ hiệu

Muốn tìm hiệu ta lấy số bị trừ, trừ đi số trừ

Trang 7

8265 - 5152 = 3113

Muốn tìm số bị trừ chưa biết, ta lấy hiệu cộng với số trừ

x - 5152 = 3113

x = 3113 + 5152

x = 8265

Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu

8265 - x = 3113

x = 8265 - 3113

x = 5152

Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó

4 - 0 = 4

Đặt tính và tính:

Cần hướng dẫn học sinh kĩ là phải đặt tính thẳng hàng (hàng đơn vị theo hàng đơn vị, hàng chục theo hàng chục, hàng trăm theo hàng trăm, hàng nghìn theo hàng nghìn) Hướng dẫn học sinh bắt đầu cộng từ hàng đơn vị (hoặc từ phải sang trái) Nên lưu ý học sinh đối với phép trừ có nhớ, cần bớt ra khi trừ hàng kế tiếp

GV nói: Khi kẻ lần vạch ngang, tất cả các em đều dùng bằng thước Nhắc học sinh chú ý: Trong phép cộng, trừ chỉ nhớ số 1, không nhớ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.(trừ khi có nhiều số hạng cộng với nhau như bài tập 1b trang 156) Đối với phép nhân, chia: (giúp học sinh nhớ và áp dụng). Phép nhân: VD: 1427 x 3 = 4281

Thừ số Thừa số Tích

Muốn tìm tích, ta lấy thừa số thứ nhất nhân với thừa số thứ hai 1427 x 3 = 4281 Muốn tìm thừa số chưa biết, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết 1427 x x = 4281 x = 4281 : 1427 Khi ta thay đổi các thừa số trong một tích thì tích không thay đổi 3 x 9 = 9 x 3 = 27 Số nào nhân với 1 cũng bằng chính số đó 3 x 1 = 3; 6 x 1 = 6;

Số nào nhân với 0 cũng bằng 0 3 x 0 = 0 VD: Phép cộng có nhớ một lần.

435

127

562

Lần: 321

 5 cộng 7 bằng 12, viết 2 nhớ 1  3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6  4 cộng 1 bằng 5, viết 5

+

Trang 8

Đặt tính và tính:

Khi đặt tính giáo viên lưu ý cho học: Viết thừa số thứ nhất ở 1 dòng, viết thừa số thứ hai ở dòng dưới sao cho thẳng cột với hàng đơn vị (nhân số có 2, 3,

4 chữ số với số có 1 chữ số) Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số thứ nhất và

thừa số thứ hai và lùi ra khoảng 1, 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ.

Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn vị, sau đó đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn (hoặc tính từ phải sang trái) Các chữ số ở tích nên viết sao cho thẳng cột với theo từng hàng, bắt đầu từ hàng đơn

vị, chục, trăm, nghìn của thừa số thứ nhất

Đối với cách viết từng chữ số của tích có nhớ, ta nên viết số đơn vị, nhớ số

chục (hoặc nhắc học sinh viết số bên tay phải nhớ số bên tay trái).

Nhắc thêm cho học sinh:

Nếu trường hợp như: 8 nhân 3 bằng 24, thì viết 4 nhớ 2, ( đối với phép nhân thì chỉ có nhớ 1, 2, 8, không có nhớ 9)

Phép chia:

Muốn tìm thương, ta lấy số bị chia, chia cho số chia 6369 : 3

Muốn tìm số bị chia chưa biết, ta lấy thương nhân với số chia

x : 3 = 2123

x = 2123 x 3

Muốn tìm số chia chưa biết, ta lấy số bị chia, chia cho thương

32 : x = 8

x = 32 : 8

Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó

4 : 1 = 4; 9 : 1 = 9

0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0

0 : 3 = 0

* Nhắc thêm cho học sinh: không thể chia cho 0

3 : 0

Muốn tìm số chia trong phép chia có dư, ta lấy số bị chia trừ đi số dư rồi chia cho thương

7 : 3 = 2(dư 1) Vậy: (7 – 1) : 2

Muốn tìm số bị chia trong phép chia có dư, ta lấy thương nhân với số chia rồi cộng với số dư

7 : 3 = 2 (dư 1) Vậy: 2 x 3 + 1

Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1

đơn vị ( trong chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 8).

VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, 8 (số dư phải nhỏ hơn số chia)

Đặt tính và tính:

 3 nhân 4 bằng 12, viết 2 nhớ 1

 Không viết 1 nhớ 2

 3 nhân 3

+

VD: 3034

3

2

Trang 9

Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép chia là khó nhất vì:

Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có

em chỉ mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện hết) Cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, Đặc biệt đối với học sinh yếu toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện Thực hiện như sau:

Khi hạ hàng nào phải hạ dưới sao cho thẳng hàng, để ta biết sẽ thực hiện hàng

đó, sau đó mới thực hiện hàng kế tiếp

Nhắc học sinh:

Tôi nói trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng đơn

vị, hàng chục, Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tụ từ trái sang phải, hoặc

từ hàng cao nhất đến hàng thấp nhất ( hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị)

Đối với các em này, hàng ngày mỗi tiết học toán tôi gọi lên bảng thực hiện phép tính Tôi cũng thường xuyên đến các em yếu toán, việc làm theo yêu cầu

cần đạt của chuẩn kĩ năng, kiến thức Có khi tôi yêu cầu những em này chỉ làm một phần trong mỗi bài tập và hướng dẫn rất kĩ khi làm bài vào vở

Qua một thời gian các em có tiến bộ rõ rệt Mỗi lần thực hiện các em viết rất rõ ràng và tính chính xác

4 Hướng dẫn giải toán có lời văn.

Đây là chuỗi kiến thức học sinh mất căn bản Các em thường chưa biết phân tích đề toán, chưa biết suy luận, tổng hợp, so sánh tìm cách giải hợp lí cho từng bài Vì vậy, trong mỗi tiết học gặp những bài toán giải có lời văn tôi yêu cầu học sinh như sau:

Phần đọc thành tiếng và đọc thầm

Đọc kĩ đề toán, gạch chân từ, số quan trọng liên quan đến khâu giải (GV theo dõi cả lớp đọc thầm và yêu cầu em nào cũng phải đọc, có đọc mới hiểu và làm bài đựơc)

Khi đọc cần hiểu bài toán cho ta biết điều gi? Bài toán hỏi gi?

Phần hướng dẫn giải.

Hướng dẫn tóm tắt đề toán bằng hình vẽ, lời câu văn,

Tìm hướng giải: Phân tích hoặc tổng hợp

Gợi mở khâu đặt lời giải rõ ràng, gọn, đúng yêu cầu bài toán

VD: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị

Có 35l mật ong đựng đều vào 7 can Nếu có 10l mật ong thì đựng đều vào

mấy can như thế?

Bước 1: Gọi học sinh đọc kĩ đề: 2 em đọc to, cả lớp đọc thầm (chú ý nội dung)

Bước 2: Hướng dẫn phân tích để xác định cái đã cho và cái cần tìm, sau đó giáo viên gạch chân

Hỏi: Cái đã cho: 35l mật ong , 7 can

Cái cần tìm: Có 10l mật ong đựng trong bao nhiêu can.

Trang 10

Giáo viên hướng dẫn tóm tắt bài toán.

35 lít mật ong: 7 can

10 lít mật ong: can?

Bước 3: Tìm hướng giải:

Bài toán hỏi gì? (có 10l mật ong thì đựng trong bao nhiêu can?)

Muốn biết 10l mật ong đựng đều mấy can, ta phải làm gì? (tìm xem 1 can

đựng được bao nhiêu lít mật ong)

Muốn tìm được 1 can đựng bao nhiêu lít mật ong ta làm sao?

Gợi mở cho học sinh đặt lời giải và chọn phép tính giải

Số lít mật ong đựng trong 1can là:

35 : 7 = 5 ( l )

Hỏi tiếp:

Biết được mỗi can 5l mật ong Vậy nếu có 10l mật ong thì đựng đều mấy

can như thế?

Gợi mở để cho học sinh chọn lời giải và phép tính

Số can đựng 10l mật ong là:

10 : 5 = 2 (can)

Đáp số: 2 can

Song song với qui trình hướng dẫn giải, tôi luôn lưu ý học sinh cách trình bày bài giải sao cho phù hợp với trình tự yêu cầu của đề, cụ thể như bài toán vừa hướng dẫn trên, tôi hướng dẫn các em trình bày như sau:

Bài giải

Số lít mật ong đựng trong mỗi can là:

35 : 7 = 5 (l)

Số can đựng trong 10l mật ong là:

10 : 5 = 2 (can)

Đáp số: 2 can

Những biện pháp trên được áp dụng ở lớp tôi về giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị và mang lại kết quả tương đối cao, và trong lớp bây giờ có khoảng ba phần tư học sinh giải thành thạo

5 Giúp học sinh nắm, thuộc các qui tắc đã học.

Tuy nhiên học sinh đã biết cộng, trừ, nhân, chia, cũng chưa giải hết được các bài toán trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 3 Vì thế tôi cần giúp cho các em thuộc và khắc sâu các qui tắc đã học để áp dụng và làm toán tốt hơn, tôi làm như sau:

Tôi soạn lại các qui tắc đã học và có ví dụ , rồi in trên giấy A4, phát cho học sinh và yêu cầu các em phải học thuộc

Giáo viên

Có tinh thần công tác giảng dạy phải có nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu, vượt nhiều khó khăn để dồn về công sức vào nhiệm vụ giảng dạy

Để học sinh chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức, vận dụng được chính xác, linh hoạt kiến thức đó trong luyện tập, thực hành thì đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kĩ nội dung bài dạy trước khi lên lớp

Ngày đăng: 02/04/2021, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w