Bởi tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc phân tích, đánh giá thường xuyên, kịp thời là việc làm hết sức cần thiết để doan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TRUNG TUẤN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ KỸ THUẬT
ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TRUNG TUẤN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ KỸ THUẬT
ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LƯU QUỐC ĐẠT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần dịch
vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tất cả các nội dung của luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển
từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS Lưu Quốc Đạt Các số liệu và kết quả có được trong luận văn tốt nghiệp
là hoàn toàn trung thực
Tác giả
Nguyễn Trung Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo, sự giúp đỡ động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Xin trân trọng cảm ơn TS Lưu Quốc Đạt người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô Khoa Kinh tế Chính trị đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện luận
Xin trân trọng cảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần dịch vụ kỹ thuật điện lực dầu khí Việt Nam đã dành thời gian quý báu để giúp tôi có số liệu để phân tích và đánh giá; sẵn sàng cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện luận văn
Nguyễn Trung Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý tài chính 5
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp 7
1.2.1 Khái niệm và vai trò của quản lý tài chính trong doanh nghiệp 7
1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý tài chính trong doanh nghiệp 12
1.2.3 Nội dung quản lý tài chính trong doanh nghiệp 15
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính doanh nghiệp 34
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp 39
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Các phương pháp thu thập thông tin, số liệu 42
2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 44
2.2.1 Phương pháp so sánh 44
2.2.2 Phương pháp thống kê mô tả 46
2.2.3 Phương pháp phân tích tỷ lệ 46
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM 48 3.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 48
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 48
3.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 52
Trang 63.1.3 Đánh giá khái quát tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ
Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 54 3.2 Phân tích tình hình quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ
Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 57 3.2.1 Lập kế hoạch tài chính 57 3.2.2 Phân tích thực trạng thực hiện quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 59 3.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động tài chính 75 3.3 Đánh giá chung về tình hình quản lý tài chính của Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 77 3.3.1 Những ưu điểm trong quản lý tài chính tại PV Power Services 77 3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong quản lý tài chính tại Công ty
Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 79 CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM 83 4.1 Phương hướng của Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu Khí Việt Nam 83 4.1.1 Phương hướng chung 83 4.1.2 Bối cảnh mới tác động đến công tác quản lý tài chính của Công ty
cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu Khí Việt Nam 84 4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ
Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 86 4.2.1 Giải pháp hoàn thiện Lập kế hoạch quản lý tài chính 86 4.2.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính 89 4.2.3 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam 98
Trang 74.2.4 Các giải pháp khác 99 KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
PVN Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
PV Power Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam
PV Power Services Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Tổng hợp tình hình tài chính của PV Power
2 Bảng 3.2 Cơ cấu và biến động tài sản tại PV Power
3 Bảng 3.3 Chi tiết các khoản phải thu có giá trị lớn 64
4 Bảng 3.4 Biến động khấu hao tài sản cố định hữu hình
của PV Power Services năm 2019 67
5 Bảng 3.5 Cơ cấu và sự biến động nguồn vốn tại PV
6 Bảng 3.6 Một số khoản phải trả ngắn hạn có giá trị lớn tính đến cuối năm 2019 69
7 Bảng 3.7 Một số khoản người mua trả tiền ngắn hạn có
giá trị lớn tính đến cuối năm 2019 70
8 Bảng 3.8 Doanh thu tại PV Power Services 70
9 Bảng 3.9 Chi phí tại PV Power Services 71
10 Bảng 3.10 Lợi nhuận tại PV Power Services 72
11 Bảng 3.11 Chỉ tiêu khả năng sinh lời tại PV Power
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế như hiện nay, quản lý tài chính đang có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành công của mỗi doanh nghiệp Bởi tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc phân tích, đánh giá thường xuyên, kịp thời là việc làm hết sức cần thiết để doanh nghiệp có thể quản lý, phân phối, sử dụng các loại vốn của doanh nghiệp một cách hợp lý,
từ đó xác định được chính xác các kế hoạch tài chính nhằm đảm bảo sự hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong mọi trường hợp
Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam là Công
ty cổ phần (PV Power Services), hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và theo Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103021005 ngày 27/11/2007 do Sở
Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty
là Dịch vụ vận hành Nhà máy điện; Dịch vụ kỹ thuật: bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa nhà máy điện bao gồm phần thiết bị nhà máy chính và các phần có liên quan Hiện nay, PV Power Services là tổng thầu thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa cho các nhà máy điện Cà Mau 1&2, Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2 và Nhà máy nhiện điện than Vũng Áng 1
Sau hơn mười năm hoạt động, PV Power Services đã khẳng định được vị thế trong lĩnh vực bảo dưỡng, sửa chữa các Nhà máy điện trong toàn quốc Là đơn vị góp phần vào sự ổn định nguồn cung cấp điện năng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia PV Power Services đã luôn hoàn thành các chỉ tiêu tài chính được Đại hội đồng cổ đông phê duyệt hàng năm, thực hiện chi trả cổ tức cho các cổ đông đúng hạn, thực hiện nộp thuế vào ngân sách đúng quy định
Trang 11Bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, trong thực tế công tác quản lý tài chính tại Công ty cũng bộc lộ những hạn chế khi chưa nắm bắt kịp thị trường và phải đối mặt với khó khăn khi các khoản chi phí, cạnh tranh ngành ngày càng tăng; thiếu chủ động trong hoạch định và quản lý chiến lược một cách bài bản; chưa quan tâm đúng mức đến công tác phân tích đánh giá các chỉ tiêu tài chính cũng như chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát còn nhiều hạn chế
Trong những năm gần đây thị trường cung cấp nhân sự bảo dưỡng, sửa chữa cho các Nhà máy điện có sự cạnh tranh khốc liệt đã làm ảnh hưởng đến thị phần trong nước và làm giảm lợi nhuận hàng năm của PV Power Services
PV Power Services đang chịu sức cạnh tranh gay gắt đến từ (i) Công ty Cổ phần Dịch vụ sửa chữa Nhiệt điện Miền Bắc (NPS) – thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) (ii) Công ty Dịch vụ sữa chữa các nhà máy điện, tên giao dịch quốc tế là EVNGENCO 3 Power Service (EPS) đã dẫn đến tình trạng sụt giảm lợi nhuận như hiện nay
Từ những hạn chế này, có thể khẳng định việc hoàn thiện công tác quản
lý tài chính tại Công ty trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Với mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý tài chính, khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch
vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam, để tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện hiện nay cũng như trong thời gian tới, học viên tiến hành nghiên cứu và
lựa chọn đề tài: “Quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn đi tới trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
+ Những hạn chế và tồn tại trong quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam giai đoạn 2017-2019
là gì?
Trang 12+ Lãnh đạo Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam cần phải làm gì để hoàn thiện hoạt động quản lý tài chính trong thời gian tới?
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam giai đoạn 2017-2019, luận văn
đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động quản lý tài chính ở Công ty trong giai đoạn 2020-2025
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại doanh nghiệp
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý tài chính tại Công ty
cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam; chỉ ra những điểm đạt được, những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý tài chính tại Công ty
Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam
Trang 13Nội dung: Phân tích hoạt động quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam theo quy trình quản lý từ xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá hoạt động quản lý tài chính
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo kết cấu gồm 04 Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ
Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý tài chính
Để có cơ sở thực hiện đề tài của mình, tác giả đã tham khảo một số tài liệu liên quan như sau:
Lương Thị Thu Hiền, 2015, Hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với công ty TNHH Một thành viên 95 Tổng cục Công nghiệp Quốc Phòng,
luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên; tác giả đã làm rõ các vấn đề cơ bản về tài chính doanh nghiệp
và quản lý tài chính doanh nghiệp Trên cơ sở đó tác giả đã phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH MTV 95 thông qua các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí, lợi nhuận mà công ty đang thực hiện, qua đó nêu ra những mặt tích cực và hạn chế để đưa ra những giải pháp nâng cao công tác quản lý Các giải pháp luận văn đưa ra tuy sát với thực tế nhưng chưa thực sự tương xứng với quy mô Công ty trong giai đoạn phát triển nhanh chóng của nền kinh tế
Vũ Thái Hằng, 2015, Quản lý tài chính tại công ty Cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia
Hà Nội; tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính bao gồm sự cần thiết phải quản lý tài chính doanh nghiệp, mục tiêu-nguyên tắc và vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp Từ đó tác giả đã phân tích các quy trình quản lý tài chính mà công ty đang thực hiện, qua đó tìm ra những điểm hạn chế và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại công ty Cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam Tuy nhiên, các giải pháp đề tài đưa ra vẫn còn mang tính lý thuyết khi chỉ tập trung vào việc hoàn thiện các hệ thống văn bản pháp lý và ứng dụng khoa học công nghệ vào quy
Trang 15trình quản lý tài chính và cần thời gian dài để có thể ứng dụng trực tiếp vào
số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính tại công ty Cổ phần điện tử tin học viễn thông Hà Nội Luận văn đã chỉ ra tương đối chi tiết thực trạng mà một công ty cổ phần thường gặp phải, tuy nhiên các giải pháp đưa ra
mới chỉ mang tính chất tình thế mà chưa có định hướng lâu dài theo giai đoạn
Đào Thị Diễm Hương, 2018, Quản lý tài chính tại Công ty TNHH Tuấn
Tú Phú Thọ, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà
Nội đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận, có tính cấp thiết và thiết thực về nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp Tác giả đã đánh giá, phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH Tuấn Tú Phú Thọ, từ đó rút ra nguyên nhân của những hạn chế, đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty TNHH Tuấn Tú Phú Thọ Luận văn đã phân tích thực trạng dựa trên so sánh, đối chiếu với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tuy nhiên để có tính ứng dụng cao hơn thì luận văn cần nghiên cứu được một quy chuẩn về công tác quản lý tài chính để nhiều công ty khác
Trang 16xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Thủy Điện Hủa Na
Dựa trên các kết quả nghiên cứu nêu trên, tác giả nhận thấy rằng đề tài quản lý tài chính đã được nhiều tác giả nghiên cứu, phân tích trên nhiều quan điểm, khía cạnh và phạm vị khác nhau Trên nền tảng kế thừa và phát triển các cơ sở lý luận về hoạt động quản lý tài chính, luận văn trình bày thực trạng triển khai hoạt động tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu, so sánh, đối chiếu với các Công ty trực thuộc các công ty, Tập Đoàn làm nền tảng để rút ra những thành công, tồn tại cũng như nguyên nhân của những tồn tại đó trong hoạt động quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam Hơn nữa cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về thực tiễn hoạt động quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam, hoạt động kinh doanh của công ty cũng có những đặc thù riêng so với các Công ty trực thuộc các công ty, Tập Đoàn Đây chính là
cơ sở để luận văn đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Điện lực Dầu khí Việt Nam trong thời gian tới
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và vai trò của quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm của tài chính doanh nghiệp
Ở Việt Nam, theo điều 4 - Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng
11 năm 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ
giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế.”
Trang 17Như vậy, về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp phản ánh những quan
hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Các quan hệ kinh tế này gọi là quan hệ tài chính doanh nghiệp Cốt lõi của các quan hệ tài chính doanh nghiệp là các quyết định của doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận và tối thiểu rủi ro kinh doanh.”
Các quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm: (1) quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước, (2) quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính, (3) quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác, (4) quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.”
Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.”
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ.YTrên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trai phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn.YNgược lại doanh nghiệp phải trả lãi vốn vay, trả cổ phần cho những nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền chưa sử dụng.”
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động.” Đây là thị trường mà tại đó doanh nghiệp có thể tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hoá, dịch vụ cần thiết cung ứng.”
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: đây là quan hệ giữa các bộ phận
Trang 18giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức chính sách đầu tư, chính sách cơ cấu vốn, chi phí ”
Hoạt động tài chính doanh nghiệp luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bị chi phối bởi tính chất sở hữu vốn trong mỗi doanh nghiệp và bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận Bởi vậy, tài chính doanh nghiệp thực chất nghiên cứu ba quyết định chủ yếu đó là: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận.”
1.2.1.2 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý là quá trình điều khiển và hướng dẫn tất cả các bộ phận trong một tổ chức, thường là một tổ chức kinh tế thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên, lấy hiệu quả kinh tế là nguyên tắc hoạt động.”
Theo học thuyết quản lý tài chính của Ezara Solomon (1963): “Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính các tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó.” Lưu Thị Hương (2005) đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý tài chính là quá trình lập và kiểm soát các nguồn lực để tối đa lợi ích kinh tế và tài chính của tổ chức.”
Theo đó, quản lý tài chính được hiểu là sự tác động có chủ đích của nhà quản lý tới các quan hệ tài chính của doanh nghiệp Quản lý tài chính được thực hiện thông qua một cơ chế Đó là cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là tổng thể các phương pháp, các hình thức, các công cụ được vận dụng để quản lý các quan hệ tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm: cơ chế
Trang 19quản lý tài sản; cơ chế huy động vốn; cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận; cơ chế kiểm soát tài chính của doanh nghiệp.”
Trong luận văn này, quản lý tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương thức, các nguyên tắc hoạt động, các công cụ tài chính được các nhà quản lý sử dụng trong từng điều kiện nhất định để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp ”
Việc quản lý tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính dài hạn
và ngắn hạn, đồng thời quản lý có hiệu quả vốn hoạt động thực của công ty Đây là công việc rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnh hưởng đến cách thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì và mở rộng công việc kinh doanh Lập kế hoạch tài chính sẽ cho phép quyết định lượng nguyên liệu thô doanh nghiệp có thể mua, sản phẩm công ty có thể sản xuất và khả năng công ty có thể tiếp thị, quảng cáo
để bán sản phẩm ra thị trường.”
1.2.1.3 Vai trò và sự cần thiết của quản lý tài chính trong doanh nghiệp
a Vai trò của quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Quản lý tài chính luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc quản lý doanh nghiệp, nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Trong nền kinh
tế hiện nay, quản lý tài chính càng trở nên quan trọng vì khi đầu tư vốn vào một doanh nghiệp, chủ đầu tư luôn xem xét doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không thông qua việc phân tích, đánh giá kỹ năng quản lý tài chính của doanh nghiệp.”Từ đó họ mới đưa ra quyết định đầu tư cho doanh nghiệp hay không và đầu tư bao nhiêu.”
Quản lý tài chính còn giúp hoạch định chiến lược tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia thị trường tiền tệ, thị trường vốn,
Trang 20thị trường chứng khoán, xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất Bên cạnh đó, quản lý tài chính còn có một nhiệm vụ quan trọng là xem xét, lựa chọn cơ cấu
sử dụng vốn sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất.”
Quản lý tài chính còn có vai trò kiểm soát việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp, tranh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích Thông qua tình hình tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản lý của doanh nghiệp có thể đánh giá, tổng hợp và kiểm soát được các hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại hay khó khăn vướng mắc trrong kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định để điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế hoạt động SXKD.”
Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên những tổn thất lớn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.”
b Sự cần thiết phải quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đưa ra các thông tin giúp nhà quản trị tìm ra những giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Vì vậy việc quản lý tài chính trong doanh nghiệp là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa trong hệ thống quản lý tài chính.”
Phân tích hiệu quả quản lý tài chính bao gồm việc phân tích quy mô, cơ cấu, cách thức tổ chức và quản lý tài sản, nguồn vốn cũng như chính sách tài chính của doanh nghiệp thông qua việc phân tích các chỉ tiêu như hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí trong một giai đoạn nhất định Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là cơ sở, căn cứ để đưa ra các quyết định trong ngắn hạn và dài hạn.”
Trang 21Quản lý tài chính nhằm giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển một cách bền vững, việc tăng cường khả năng quản lý tài chính còn là một chỉ tiêu đánh giá kết quản lkinh doanh, trình độ quản lý của doanh nghiệp, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.”
1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Vì một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định, chính họ phải nhận thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên, khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trường trong các rủi ro trong hoạt động kinh doanh Quản lý tài chính chính là nhằm thực hiện các mục tiêu đó.”
Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: “điều này trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp.”
Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả: việc huy động vốn kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tranh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra đồng thời giảm bớt được nhu cầu váy vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ
Trang 22của doanh nghiệp cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng phạt vật chất một cách hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy người lao động gắn bó với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, nâng cáo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.”
Giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: “thông quá tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá tổng hợp và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại hay khó khăn vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định để điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.”
1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế căn bản là giống nhau nên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định nên khi áp dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải gắn với những điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.”
Nguyên tắc 1 đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận: Quản lý tài chính phải
dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận.‟ Giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, tức là, một quyết định kinh doanh hoặc đầu tư của một doanh nghiệp cho một hoạt động phụ thuộc vào tính rủi
ro của hoạt động đó, hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao sẽ đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao và ngược lại „Điều đó cũng thể hiện sự đánh đổi khi lựa chọn các phương án đầu tư, kinh doanh Nếu nhà quản lý tài chính muốn thu được lợi nhuận cao vào cuối kỳ thì sẽ phải chấp nhận mức rủi ro cao hơn Việc áp dụng nguyên tắc này ở mỗi doanh nghiệp có sự khác nhau tùy thuộc vào mức độ chấp nhận và năng lực dự đoán rủi ro của họ.‟
Trang 23Nguyên tắc 2 giá trị thời gian của tiền: Một lượng tiền nhất định tại một
thời điểm nhất định có thể sử dụng để đầu tư cho một hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng có thể quy đổi ra những hàng hóa và dịch vụ cụ thể Môi trường kinh
tế là một môi trường luôn luôn biến đổi, do vậy một lượng tiền cụ thể tại mỗi thời điểm khác nhau sẽ có giá trị khác nhau khi đưa về thời điểm hiện tại‟ „Điều
đó xảy ra do tác động của các yếu tố như lãi suất, lạm phát, Do vậy, trong hoạt động quản lý tài chính, để tính toán hiệu quả của một công cuộc đầu tư, các nhà quản lý cần đưa kết quả về hiện tại để so sánh và phân tích.‟
Nguyên tắc 3 chi trả: Thông thường các kết quả báo cáo hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ phản ánh thực trạng lỗ lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên trong thực tế, điều mà doanh nghiệp quan tâm hơn chính là dòng tiền „Dòng tiền vào và dòng tiền ra của các doanh nghiệp phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí Do đó, nguyên tắc này có nghĩa là việc quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn cần phải quan tâm đến việc phân
bổ lợi nhuận cho các hoạt động chi trả khác như: cổ tức‟ Nguyên tắc này đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua các phương
án phân phối lợi nhuận hợp lý và hiệu quả.”
Nguyên tắc 4 thị trường có hiệu quả: Thị trường có hiệu quả là thị
trường mà ở đó giá trị của các tài sản tại các thời điểm khác nhau đều phản ánh đầy đủ các thông tin một cách chính xác và công khai Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn chịu các tác động của thị trường.”
Nguyên tắc 5 gắn kết lợi ích của nhà quản lý với lợi ích của các cổ đông: nhà quản lý là những người chịu trach nhiệm phân tích, lập kế hoạch tài
chính, quản lý nguồn quỹ và chi tiêu cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
và đầu tư Cổ đông lại là những người góp vốn để xây dựng nên doanh
Trang 24nghiệp Do vậy, cần đảm bảo sự gắn kết lợi ích của hai chủ thể này nhằm đạt được sự hài hòa tối đa đối với các quyết định và chiến lược của doanh nghiệp
1.2.3 Nội dung quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.2.3.1 Lập kế hoạch tài chính
Lậpykếyhoạchytài chính là quáytrình phát triển các kế hoạch tài chính ngắn hạn cũng như dài hạn nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.”Việc lập kế hoạch tài chính là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp bởi nó ảnh hưởng đến cách thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì và mở rộng việc kinh doanh.”Khi có kế hoạch tài chính doanh nghiệp có thể xác định chính xác chi phí đầu tư cũng như nguồn nhân lực mà doanh nghiệp cần để thực hiện kế hoạch đó.”
Lập kế hoạch ngắn hạn liên quan đến quản lý tài sản lưu động và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.”Tài sản lưu động quan trọng nhất là tiền mặt, chứng khoán thị trường, hàng tồn kho và khoản phải thu.‟Nợ ngắn hạn quan trọng nhất là khoản vay ngân hàng và khoản phải trả.”Sai biệt giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn được gọi là vốn luân chuyển thuần.”
Tài sản lưu động và nợ ngắn hạn quay vòng nhanh hơn các hạng mục khác trong bảng cân đối kế toán Các quyết định đầu tư và tài trợ ngắn hạn được thay đổi nhanh và dễ hơn các quyết định dài hạn.”Như vậy giám đốc tài chính không cần phải bận tâm vào tương lai khi đưa ra các quyết định này.”
Lập kế hoạch tài chính dài hạn hay kế hoạch mang tính chiến lược liên quan đến việc lập các mục tiêu tăng trường doanh thu và lợi nhuận trong vòng
từ 3 đến 5 năm.‟ Để làm được điều này nhà quản lý cần dự đoán được hết các biến động sẽ xảy ra với doanh nghiệp trong 3-5 năm tới các nhà quản lý cần xác lập tốc độ tăng trưởng mong muốn mà công ty có thể đạt được; tính toán mức vốn cần thiết để trang trải các khoản chi phí đầu vào, tồn kho, trang thiết
Trang 25bị để đạt được tốc độ tăng trường doanh thu Việc lập kế hoạch tài chính dài hạn luôn phải được cập nhật chính xác và kịp thời nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng
Do đó việc lập kế hoạch tài chính dù theo ngắn hạn hay dài hạn đều cần
có những bước cơ bản sau:”
Bước 1: Dự báo môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Bước 2: Xây dựng các mục tiêu
Bước 3: Dự báo các nguồn vốn có thể huy động được
Bước 4: điều chỉnh việc phân bổ các nguồn vốn trong doanh nghiệp Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính
a Tổ chức bộ máy quản lý tài chính
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào bộ máy quản lý tài chính đều đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó, tùy theo quy mô và hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.”
Bộ máy quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp lớn thường có đầy
đủ các chức danh như giám đốc phụ trách tài chính, ban tài chính Nhiệm vụ chính của giám đốc phụ trách tài chính nhằm giải quyết các vấn đề tài chính hàng ngày như quyết định đầu tư mua sắm tài sản, các khoản chi tiêu ngắn hạn, các chính sách đầu tư Trong khi đó,bộ máy quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nhỏ thường được tinh giản gọn nhẹ khi mọi công tác tài chính đều được đưa ra bởi ban tài chính kế toán và được thực hiện bởi các kiểm toán viên “
Nhiệm vụ chung của bộ máy quản lý tài chính của doanh nghiệp nhỏ hay doanh nghiệp lớn đều là cung cấp thông tin liên tục và kịp thời cùng với
độ nhạy cao để tham mưu cho giám đốc/giám đốc phụ trách tài chính đưa ra các quyết định tài chính chính xác, có lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp.”
Trang 26Tuy nhiên, một bộ máy quản lý tài chính tốt cần phải phân định rõ ràng chức năng của giám đốc tài chính và kế toán trưởng như là một bộ phận quản
lý tài chính và bộ phận kế toán trong doanh nghiệp, điều này sẽ giúp cho việc phân cấp công việc trở nên rõ ràng hơn khiến cho các quyết định được nhanh chóng và có tính thời sự cao hơn Ngoài ra, tổ chức bộ phận quản lý tài chính doanh nghiệp do giám đốc tài chính đứng đầu phải theo một cơ cấu thống nhất giữa các doanh nghiệp Hơn thế nữa, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn mối quan hệ mật thiết giữa bộ phận quản lý tài chính doanh nghiệp với các phòng ban chức năng khác, đặc biệt là tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa bộ phận quản lý tài chính, giám đốc tài chính với giám đốc, tổng giám đốc hay hội đồng quản trị của doanh nghiệp Đó là những việc làm cần thiết để cho bộ máy quản trị tài chính của doanh nghiệp trở nên tốt hơn, giúp doanh nghiệp phát triển nhanh hơn và tăng thêm khả năng hội nhập kinh tế thế giới.”
Quản lý sự biến động của tài sản, nguồn vốn trong doanh nghiệp
b Quản lý sự biến động của tài sản
Trong mọi doanh nghiệp, việc quản lý và sử dụng hợp lý tài có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.”Việc quản lý tài sản tập trung trên những nội dung sau đây:”
Thứ nhất, quản lý dự trữ, tồn kho: Trong quá trình luân chuyển của tài
sản lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc dự trữ vật tư, hàng hoá
là nhu cầu cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.” Hàng tồn kho có ba loại:”Nguyện liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phẩm.“Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không thể sản xuất đến đâu mua nguyên liệu đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ.”Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường.”Dự trữ hàng hóa thành phẩm nhằm đảm bảo quá
Trang 27trình phân phối hàng hóa cho khách hàng đều đặn.”Nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn Còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả tiếp theo
Thứ hai, quản lý tiền mặt và các chứng chỉ có giá trị tương đương tiền:”Quản lý tiền mặt là quản lý tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đáng chuyển.”Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần một lượng tiền mặt và phải dùng nó để trả cho các khoản thanh toán thường xuyên.”Trong thực tiễn của các doanh nghiệp, rất hiếm khi mà lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn.‟Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, các nhà kinh tế học đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng nhất định, tức
là lượng tiền dự trữ của doanh nghiệp cần biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất ”
Khoảng dao động của lượng tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố
cơ bản sau: i) mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ.”Sự dao động này được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ.“Phương sai của thu chi ngân quỹ là tổng các bình phương (độ chệnh lệch) của thu chi ngân quỹ thực tế càng có xu hướng khác biệt so với chi phí bình quân.”Khi đó doanh nghiệp cũng sẽ quy định khoảng dao động tiền mặt cao; ii) chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán.”Khi chi phí này lớn người ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn khi đó khoảng dao động của tiền mặt cũng lớn; iii) lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống.”
Thứ ba, quản lý các khoản phải thu: Trong mỗi doanh nghiệp, các
khoản phải thu bao gồm: Phải thu từ khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu tạm ứng và phải thu khác Phải thu từ khách hàng là những khoản nợ có nguồn gốc từ việc bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ, các khoản chiết khấu thanh toán Phải thu nội bộ là các khoản phải thu giữa các đơn vị nội bộ doanh nghiệp.”
Trang 28Về mặt quy chế, quy định, doanh nghiệp cần xây dựng và thực hiện đúng theo quy chế quản lý các khoản nợ phải thu, phân công và xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc theo dõi, thu hồi, xử lý các khoản phải thu.”Các khoản phải thu phải được mở sổ theo dõi theo từng đối tượng nợ; đối chiếu công nợ khi khóa sổ lập báo cáo tài chính năm và các trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật (Khi đối chiếu phải lập biên bản đối chiếu ghi đầy đủ các thông tin và có xác nhận của các bên có liên quan);” Phân loại các khoản nợ, đôn đốc thu hồi nợ, trích lập dự phòng phải thu khó đòi theo quy định.”Các khoản phải thu khó đòi, nợ không thu hồi được phải được xử lý kịp thời.”Quyết định mức bồi thường thiệt hại, kỷ luật đối với tập thể, cá nhân liên quan khi phát sinh các khoản nợ khó đòi, nợ có khả năng không thu hồi.”Đối với phải thu không có khả năng thu hồi, doanh nghiệp cần
có trách nhiệm xử lý:‟Sau khi trừ tiền bồi thường của cá nhân, tập thể có liên quan, số còn lại được bù đắp bằng khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi;”Nếu vẫn còn thiếu thì hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp.”Doanh nghiệp có thể bán các khoản nợ phải thu theo quy định của pháp luật để thu hồi vốn.”Việc bán nợ chỉ được thực hiện đối với các tổ chức kinh tế có chức năng kinh doanh mua bán nợ,“không được bán nợ trực tiếp cho khách nợ.”Giá bán các khoản nợ do các bên tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm về quyết định bán khoản nợ phải thu.”Trường hợp bán nợ mà dẫn tới doanh nghiệp bị thua
lỗ, mất vốn, hoặc mất khả năng thanh toán thì các cá nhân có liên quan trực tiếp đến việc phát sinh khoản nợ khó đòi phải bồi thường theo quy định của pháp luật, Điều lệ doanh nghiệp.”
Thứ tư, quản lý tài sản cố định: tài sản cố định là một bộ phận của tư
liệu lao động; còn đối tượng lao động là những vật thể hay các yếu tố vật chất chịu tác động của lao động bao gồm các nguyên, nhiên vật liệu được sử dụng trong quá trình sản xuất Doanh nghiệp phải xây dựng quy chế quản lý tài sản
Trang 29để xác định rõ trách nhiệm của từng khâu trong công tác theo dõi, quản lý sử dụng tài sản của doanh nghiệp Tổ chức kiểm kê, đối chiếu theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của cổ đông, cơ quan chức năng có thẩm quyền:
Giao trách nhiệm quản lý tài sản: Do tài sản có thể bị mất mát, nên khi đưa tài sản vào sử dụng cần giao trách nhiệm cho trưởng bộ phận có liên quan trong việc quản lý, sử dụng tài sản Đối với các tài sản di chuyển trong nội bộ, cần lập chứng từ để phản ánh việc chuyển tài sản và cần có sự phê chuẩn bởi người có trách nhiệm.”
Thực hiện kiểm kê TSCĐ: Hàng năm, đơn vị, DN nên tiến hành kiểm
kê tất cả TSCĐ Khi kiểm kê TSCĐ cần đối chiếu số lượng thực tế với danh sách TSCĐ để phát hiện tài sản mất mát.”Qua kiểm kê TSCĐ có thể phát hiện tài sản không còn sử dụng được, tài sản bị hư hỏng.”Trường hợp, đơn vị có bộ phận kiểm toán nội bộ, bộ phận này nên có kế hoạch kiểm tra tài sản, so sánh tài sản hiện còn với số liệu trên sổ sách và xem xét tính hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng tài sản.”
Quản lý khấu hao tài sản cố định: khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian sử dụng của TSCĐ.”Một số phương pháp khấu hao TSCĐ gồm: Phương pháp khấu hao đường thẳng; phương pháp khấu hao theo
số dư giảm dần có điều chỉnh; phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.”
Việc áp dụng phương pháp và thời gian khấu hao có quan hệ trực tiếp đến hạch toán và xác định thu nhập doanh nghiệp.”Trong một thời kỳ xác định, nếu thời gian khấu hao nhanh sẽ dẫn đến tăng tương đối chi phí sản xuất
và giảm lợi nhuận trước thuế.”Do vậy, mỗi doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thực tế kinh doanh, khả năng về tài chính để lựa chọn phương pháp khấu hao cho phù hợp và phải đăng ký với cơ quan thuế quản lý trực tiếp về phương
Trang 30pháp khấu hao, thời gian khấu hao TSCĐ.”Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ mà doanh nghiệp đã lựa chọn phải được đăng ký thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ đó.”Quá trình thực hiện khấu hao TSCĐ, số tiền khấu hao được cộng dồn lại gọi là số khấu hao luỹ kế, số khấu hao luỹ kế hình thành quỹ khấu hao.”
Quản lý sự biến động của nguồn vốn
Nguồn vốn có vai trò quan trọng và không thể thiếu với bất kỳ doanh nghiệp nào.”Do đó việc quản lý sử dụng vốn hiệu quả là điều mà mọi doanh nghiệp quan tâm.”Việc quản lý và sử dụng vốn chính là việc doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và sử dụng vốn chủ sở hữu cũng như quản lý nợ phải trả
để đảm bảo luôn có tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh.”Nguồn vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.”
Vốn chủ sở hữu:”Bao gồm vốn do chủ sở hữu đóng góp theo điều lệ khi mới thành lập doanh nghiệp, vốn góp tăng vốn điều lệ, và vốn tăng trưởng
từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.”Đối với mỗi loại hình kinh doanh, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: i) vốn góp ban đầu; ii) lợi nhuận không chia, (thặng dư vốn cổ phần); iii) tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới.”
Vốn vay (Nợ phải trả): Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất- kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng vay nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, thuê mua tài chính và vay thông qua phát hành trái phiếu.”
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể về nhu cầu vốn và tình hình thị trường vốn, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương thức huy động vốn khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hoá nhằm khai thác mọi nguồn tài trợ trong nền kinh tế.”
Trang 31Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, với sự phát triển của thị trường tài chính, các doanh nghiệp có thể khai thác những nguồn vốn vay khá đa dạng như sau: i)”vay vốn từ các ngân hàng thương mại (thường gọi là tín dụng ngân hàng); ii) vốn vay của các tổ chức phi ngân hàng như: các công ty tài chính, tín dụng thuê mua, vay nước ngoài,”vay của cán
bộ nhân viên trong doanh nghiệp; iii)”vốn huy động thông qua hình thức tín dụng thương mại, tức là nợ thương mại giữa các công ty, các doanh nghiệp; iv) nhận vốn góp liên doanh, liên kết.”
Trong các nguồn vốn kể trên, nguồn vốn tín dụng ngân hàng giữ vị trí quan trọng nhất Tính đa dạng, mức độ an toàn, thuận lợi và hiệu quả cao đã làm cho nguồn vốn tín dụng ngân hàng chiếm vị trí quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.”
Ngoài ra các doanh nghiệp khó vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất, thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan
hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế.”
Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn thể hiện qua lãi suất (hoặc chi phí) của khoản vốn nhận được Đó là chi phí lãi vay và các chi phí giao dịch được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ Khi mua bán hàng hoá trả chậm, chi phí này có thể “ẩn” dưới hình thức thay đổi mức giá tuỳ thuộc quan
hệ và thoả thuận cụ thể giữa các bên.”Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng được đa dạng hoá và linh hoạt hơn; do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.”
Trang 32c Quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp là tiền đề để dự đoán và các định được quy mô các dòng tiền trong tương lai làm căn cứ tính toán thời gian thu hồi vốn đầu tư, giá trị hiện tại ròng, tỷ lệ nội hoàn ‟để ra quyết định đầu tư dài hạn trong doanh nghiệp.‟Hơn thế nữa việc quản lý tốt doanh thu, chi phí, lợi nhuận còn giúp nhà quản lý tài chính và các cơ quan liên quan lập và hiểu các báo cáo tài chính doanh nghiệp, nhận biết được mối liên hệ giữa các báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đối kế toán – những căn cứ để phân tích tài chính doanh nghiệp.”
Quản lý doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp Căn cứ vào nguồn hình thành, doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh thu từ hoạt động kinh doanh, doanh thu hoạt động tài chính
và thu nhập khác
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: Là toàn bộ tiền bán sản phẩm hàng hoá, cung ứng dịch vụ sau khi trừ giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại được khách hàng chấp thuận thanh toán (không phân biệt đã thu tiền hay chưa) Doanh thu của doanh nghiệp được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả các điệu kiện sau:”
“Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm/hàng hoá hoặc hoàn thành cung cấp dịch vụ cho người mua;”
“Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người
sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá;”
“Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;”
“Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ;”
Trang 33“Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
Doanh thu hoạt động tài chính: Bao gồm các khoản thu nhập từ: hoạt động góp vốn cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền cho vay, thu từ hoạt động mua bán chứng khoán (công trái, trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu), lãi chuyển nhượng vốn ;”Từ hoạt động nhượng bán ngoại tệ hoặc thu nhập về chênh lệch tỷ giá nghiệp vụ ngoại tệ theo quy định của chế độ tài chính;”Hoàn nhập số dư khoản dự phòng giảm giá chứng khoán;”Tiền cho thuê tài sản đối với doanh nghiệp cho thuê tài sản không phải là hoạt động kinh doanh thường xuyên ”
Quản lý chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố tiêu hao phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định.‟Về bản chất, chi phí phản ánh sự tiêu hao,
sự phí tổn của các yếu tố hữu hình và vô hình dưới hình thức tiêu hao lao động sống và lao động quá khứ trong một thời kỳ kế toán xác định.‟
Trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp cần chú trọng hoàn thiện các quy định, các nguyên tắc hạch toán chi phí số liệu và thông tin báo cáo sai lệch có thể dẫn đến quyết định sai lệch Một trong những nguyên nhân thường gây ra sai sót trong kế toán chi phí đó là sự lẫn lộn giữa chi phí bằng tiền và luồng tiền ra (chi trả) của doanh nghiệp trong kỳ Các khoản tiền chi trả của doanh nghiệp phản ánh quy mô luồng tiền ra khỏi doanh nghiệp nhưng
đó không phải là con số chi phí của doanh nghiệp.”
Có thể sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại chi phí của doanh nghiệp Sự lựa chọn tiêu thức phân tích chi phí phụ thuộc mục đích, phạm vi hoặc góc độ nghiện cứu Theo nội dung kinh tế, các khoản chi phí bao gồm:”
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh: Chi phí hoạt động sản xuất kinh
Trang 34doanh bao gồm các chi phí có liện quan đến quá trình hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh có thể được phân loại theo nội dung kinh tế như sau: chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương; chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác ”
Chi phí hoạt động tài chính: Là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng hợp lý các nguồn vốn tăng thêm thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Chi phí liên doanh liên kết, chi phí thuê tài sản, chi phí vay nợ, chi phí mua bán chứng khoán ”
Chi phí hoạt động khác: Đây là các chi phí hợp lý, hợp pháp không thuộc chi phí sản xuất- kinhdoanh và chi phí hoạt động tài chính.”
Quản lý lợi nhuận
Lợi nhuận trước thuế hay thu nhập trước thuế của doanh nghiệp được hiểu là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để đạt được doanh thu
đó Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính
và lợi nhuận từ các hoạt động khác.”
Trong thực tế, việc xác định đúng số lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp cũng rất phức tạp, nó bắt nguồn từ những khó khăn trong việc xác định đúng doanh thu và chi phí Việc hạch toán đúng, hợp lý và đầy đủ đối với cả hai chỉ tiêu doanh thu và chi phí là một vấn đề không đơn giản ngay cả với những nước có hệ thống kế toán tài chính khá hoàn chỉnh.”
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận
Trang 35hay không Lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp thực hiện tái đầu tư mở rộng sản xuất Trên phạm vi toàn xã hội, lợi nhuận là nguồn để thực hiện tái sản xuất
xã hội Tuy vậy, lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động của doanh nghiệp.”Bởi vì, lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính cuối cùng nên nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan, khách quan.”Do vậy, để đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp, người ta phải kết hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu,
tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản; ”
d Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể là việc phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi
ro trong tương lai ”
Để đảm bảo tính minh bạch, kịp thời cho bộ máy quản lý tài chính sử dụng thì việc quản lý hoạt động phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Việc cung cấp các thông tin phân tích tài chính chính xác giúp nhà quản lý doanh nghiệp đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời, tiềm năng, hiệu quả và triển vọng trong hoạt động kinh doanh cũng như những rủi ro trong doanh nghiệp nhằm có những quyết định thay đổi hợp lý để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp vận hành trơn tru.”
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực
Trang 36kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau.”
Nội dung cơ bản của phân tích tài chính của doanh nghiệp gồm: phân tích khái quát tình hình tài chính và phân tích các hệ số tài chính.”
Phân tích khái quát tình hình tài chính:
Thông qua các Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để phân tích khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
Phân tích tình hình biến động tài sản và cơ cấu tài sản của doanh nghiệp; Phân tích tình hình biến động nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp;
Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
Phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp;
Phân tích các chỉ số tài chính:
Các chỉ số tài chính không chỉ có ý nghĩa với các nhà phân tích mà còn rất quan trọng đối với nhà đầu tư cũng như chính bản thân doanh nghiệp và các chủ nợ Các chỉ số tài chính cho phép chúng ta so sánh các mặt khác nhau của các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong toàn ngành, thấy được xu hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như giúp các nhà đầu tư, các chủ nợ kiểm tra được tình hình tài chính của một doanh nghiệp
Công cụ được sử dụng phổ biến là các thông số tài chính Có bốn nhóm thông số tài chính như sau:
Thứ nhất, khả năng thanh toán
Doanh nghiệp thường xuyên phải xem xét khả năng thanh toán để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc vào
Trang 37mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn Việc quản lý khả năng thanh toán bao gồm việc khớp các yêu cầu trả nợ với thời hạn của tài sản và các nguồn tiền mặt khác nhằm tránh mất khả năng thanh toán mang tính chất kỹ thuật Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng
Do đó, vấn đề chính là liệu một doanh nghiệp có khả năng tạo ra đủ tiền mặt để thanh toán cho những nhà cung cấp nguyên vật liệu và các chủ nợ hay không Về
cơ bản, các hệ số về khả năng thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán của một doanh nghiệp Hai hệ số thông dụng được sử dụng để xác định khả năng thanh toán của một doanh nghiệp bao gồm hệ số khả năng thanh toán hiện tại tỷ lệ tài sản trên nợ và hệ số khả năng thanh toán nhanh.”
“Khả năng thanh toán” là số tiền có thể dùng để thanh toán, còn “Nhu cầu thanh toán” là số tiền phải, cần được thanh toán Hệ số khả năng thanh toán phản ánh mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp, là cơ sở để đánh giá tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Cụ thể, hệ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp bao gồm:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp tương ứng với tiềm lực của những khoản có thể nhanh chóng quy đổi ra tiền để thanh toán Hệ số này lớn hơn 1 nghĩa là tình hình thanh toán nhanh tương đối khả quan Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tức là tình hình thanh toán đang gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể phải bán gấp sản phẩm, hàng hóa để trang trải các khoản nợ Tuy nhiên, độ lớn của tỷ lệ này còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ phải thu, phải trả trong kỳ
Trang 38Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền
Khả năng thanh toán bằng tiền = Tiền
Tổng số nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán bằng tiền cho biết khả năng thanh toán bằng nguồn tiền hiện có của doanh nghiệp để trang trải cho các khoản nợ đến hạn phải thanh toán
Tùy thuộc vào từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhưng thực tế cho thấy nếu hệ số này >0.5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn <0.1 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ Do đó doanh nghiệp có thể phải bán gấp hàng hóa, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên VCSH = Tổng số nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
Trang 39“Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho thấy tỷ trọng giữa nợ với vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng đi vay nợ, có thể hàm ý doanh nghiệp chịu rủi ro thấp Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế.”
Thứ ba, khả năng hoạt động
Các chỉ tiêu này đo lường tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các chỉ tiêu này các nhà quản lý tài chính có thể tác động
vào khâu nào để nâng cao chất lượng kinh doanh
Vòng quay các khoản phải thu
Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu tiền do thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán các khoản trả trước cho người bán
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định (vòng quay tài sản cố định)
Hệ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu quả sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần
TSCĐ bình quân Muốn đánh giá việc sử dụng tài sản dài hạn có hiệu quả không phải so sánh với các doanh nghiệp khác cùng nghành hoặc so sánh với các thời kỳ trước Tuy nhiên, khi phân tích hệ số này cần lưu ý là trong tài sản dài hạn có tài sản cố định mà tài sản cố định phải được xác định theo giá trị còn lại tại thời điểm báo cáo.”
Trang 40Hiệu quả sử dụng tổng tài sản (vòng quay toàn bộ tài sản)
Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu quả sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân Nếu như trong các thời kỳ, tổng mức tài sản của doanh nghiệp đều tương đối ổn định, ít thay đổi thì tổng mức bình quân có thể dùng số bình quân của mức tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ Nếu tổng mức tài sản có sự thay đổi biến động lớn thì phải tính theo tài liệu tỷ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phân tử và mẫu số trong công thức phải lấy trong cùng một thời kỳ Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợp toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng tốt Giá trị của chỉ tiêu càng cao chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của doanh nghiệp càng cao Nếu ngược lại, thì chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp chưa được sử dụng
có hiệu quả.”
Thứ tƣ, khả năng sinh lời
Để phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất - kinh doanh và hiệu năng quản lý, chúng ta cần phải tính toán các tỷ số lợi nhuận Thông qua các tỷ số lợi nhuận, các nhà quản lý đánh giá năng lực thu lợi của doanh nghiệp vì lợi nhuận là kết quả cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp, thu được lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu của sự tồn tại doanh nghiệp
Đây là những chỉ tiêu thường được các nhà quản trị, các nhà đầu tư quan tâm xem xét bởi họ đặc biệt chú ý đến khả năng sử dụng tài sản một cách có hiệu quả nhất, để mang lại lợi tức cao nhất