1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập

99 557 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống Hisex White và gà mái Ai Cập
Tác giả Trần Kim Nhàn
Người hướng dẫn TS. Phạm Công Thiếu, TS. Nguyễn Thị Mai
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 4,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-      -

TRẦN KIM NHÀN

Kh¶ n¨ng s¶n xuÊt cña tæ hîp lai

gi÷a gµ trèng Hisex White Vµ gµ m¸i Ai cËp

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyªn ngµnh: Ch¨n nu«i

M$ sè: 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM CÔNG THIẾU

TS NGUYỄN THỊ MAI

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả

Trần Kim Nhàn

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Ban Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi – Viện Chăn, Khoa Sau Đại học và Khoa Chăn nuôi Thuỷ sản – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ9 giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong nghiên cứu học tập và bảo vệ luận văn

Tiến sỹ Phạm Công Thiếu – Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi, Tiến sỹ Nguyễn Thị Mai – Bộ môn Chăn nuôi Chuyên khoa – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ công nhân viên Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi

Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đ9 động viên, khích lệ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới nhà trường, các thầy cô giáo, các cơ quan, bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đ9 động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Trần Kim Nhàn

Trang 4

Mục lục

Trang

4.2 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi 45

Trang 5

4.7 Khối l−ợng gà thí nghiệm trong giai đoạn sinh sản 58

4.11 Tỷ lệ hao hụt của đàn gà thí nghiệm giai đoạn đẻ trứng 71

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh mục các bảng

Số bảng Tên bảng Trang

4.2 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi 484.3 Khối l−ợng gà thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi (n = 50 con) 51

4.9 Năng suất trứng và −u thế lai của đàn gà thí nghiệm 67

4.11 Tỷ lệ hao hụt đàn gà mái thời kỳ đẻ trứng (21-72 tuần tuổi) 72

Trang 8

Danh môc c¸c h×nh

Sè b¶ng Tªn h×nh Trang

4.5 N¨ng suÊt trøng cña gµ thÝ nghiÖm (qu¶/m¸i/72 tuÇn tuæi) 68

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Sau 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững Năm 1990 tổng đàn gà trên toàn quốc là 80,18 triệu con đến năm 1997 đ9 là 120,6 triệu con, năm 1999 đ9 tăng lên 135,76 triệu con và đến năm 2001 tổng đàn gia cầm đ9 tăng lên 215,8 triệu con, trong đó gà công nghiệp chỉ chiếm 20% số còn lại chủ yếu là các giống gà nội Chúng ta đang phấn đấu đến năm 2010 đạt 360 triệu con (Niên giám thống kê, 2002) [32] Mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 sản lượng thịt gia cầm đạt 880 ngàn tấn, 7,2 tỷ quả trứng và đến năm 2015 sản lượng thịt gia cầm đạt 1.326 nghìn tấn và 13,8 tỷ quả trứng thì cần phải đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng quy mô trang trại hoặc chăn nuôi công nghiệp Nhằm đạt được mục tiêu trên, trong những năm gần đây nhiều giống gà chuyên trứng nổi tiếng được nhập vào nước ta như LodMann LSL, Bab CocK B300, Hisex Brown, Goldline, Brownick, Isa Brown, Hyline Tuy nhiên giải pháp này không chủ động, cần tổ chức triển khai nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất và chất lượng của các giống gia cầm hiện có trong nước và phát huy ưu thế của các giống gia cầm nhập nội Từ những nguồn nguyên liệu này

sẽ tạo ra các tổ hợp lai có năng suất chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển

chăn nuôi hiện tại cũng như thời gian tới

Gà Ai cập, là giống gà hướng trứng phù hợp với nhiều phương thức chăn nuôi khác nhau Được nhập vào nước ta tháng 4 năm 1997, năng suất trứng đạt

200 – 220 quả/mái/năm, giá trứng luôn cao hơn giá trứng gà công nghiệp 1,5 lần Tỷ lệ lòng đỏ cao (31-32%) trứng thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng Tuy nhiên năng suất trứng còn chưa cao 146,18-175,36 quả/mái/61 tuần tuổi (Phùng Đức Tiến, 2001) [47] Gà Ai Cập có sức chống bệnh tốt, tỷ lệ nuôi sống từ 97 – 98%, có khả năng thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau

Trang 10

1,2-Gà Hisex White được nhập vào nước ta tháng 5 năm 2007 trong khuôn khổ của hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Viện Chăn nuôi với Tiểu dự án II,

đây là giống gà hướng trứng, có màu lông trắng, mào đơn to, thân mình thanh

tú, nhanh nhẹn, chân cao, da chân màu vàng Kết quả nghiên cứu của đề tài trọng điểm cấp Bộ: ‘‘Nghiên cứu chọn lọc và nhân thuần 3 giống gà nhập nội

HW, Rid và Pgi’’ từ năm 2008-2010 đ9 xác định gà Hisex White có sức sống tốt và khả năng đẻ trứng cao, năng suất trứng trung bình của một gà mái trong

52 tuần khai thác từ 240-250 quả, tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng là 1,7 kg, khối lượng trứng trung bình 59,5g, tỷ lệ lòng đỏ khá cao, vỏ trứng có màu trắng Ngày 22 tháng 6 năm 2010, thông tư số 33/2010/TT BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT đ9 cho phép giống gà Hisex White vào danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất kinh doanh và đặt tên lại là gà VCN-G15

Để kết hợp được ưu điểm và khắc phục nhược điểm của hai giống gà tạo

ra con lai có năng suất, chất lượng cao cung cấp cho sản xuất chăn nuôi Xuất

phát từ những căn cứ trên chúng tôi đ9 tiến hành đề tài: “Khả năng sản xuất

của tổ hợp lai giữa gà trống Hisex Whitevà gà mái Ai cập’’

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định khả năng sinh sản của con lai giữa gà Hisex White (HW) với

gà Ai cập

- Xác định mức độ biểu hiện ưu thế lai của một số tính trạng năng suất trứng

- Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà lai

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Kết quả của đề tài góp phần bổ sung thêm minh chứng thực tiễn cho lý thuyết lai kinh tế trong chăn nuôi gia cầm để tạo con lai có năng suất và chất lượng trứng tốt hơn Không những thế, đây còn là một minh chứng thêm về mức độ biểu hiện ưu thế lai của một số tính trạng ở gà trong công thức lai kinh

tế đơn giản

Trang 11

- Kết quả của đề tài sẽ cung cấp cho sản xuất một tổ hợp lai để tạo gà hướng trứng có năng suất và chất lượng trứng cao Đây sẽ là nguồn con giống tốt góp phần nâng cao năng suất và chất lượng trứng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường

- Luận văn là tài liệu tham khảo về công tác lai tạo giống gia cầm dùng cho nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất chăn nuôi

Trang 12

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở di truyền một số tính trạng ở gà

Di truyền là sự truyền đạt lại những đặc điểm của bố mẹ cho con cái Các tính trạng sản xuất ở gà được phân thành hai loại là tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng

2.1.1 Di truyền tính trạng chất lượng

Tính trạng chất lượng là tính trạng di truyền biểu hiện không liên tục, hoặc ở trạng thái này hoặc ở trạng thái khác Nó thường được quy định bởi một vài cặp gen có hiệu ứng lớn, hệ số di truyền cao và ít chịu ảnh hưởng của

điều kiện ngoại cảnh Một số tính trạng chất lượng của gia cầm do vài cặp gen qui định Tính trạng chất lượng di truyền theo các qui luật của Mendel ít chịu

ảnh hưởng của ngoại cảnh hoặc độc lập với điều kiện môi trường Vì vậy, có thể thông qua kiểu hình mà xác định được kiểu gen của chúng Những tính trạng này cho phép phân loại về kiểu hình rõ rệt: trội hoặc lặn và thường được qui định bởi một gen hoặc bởi sự tương tác đơn giản của một số ít gen Các tính trạng chất lượng có thể quan sát, mô tả Một số tính trạng được chú ý như màu sắc lông da, hình dạng mào

Màu sắc da lông là m9 hiệu về giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống Màu sắc lông do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng cho di truyền dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc (Đặng Hữu Lanh và cộng sự, 1999) [19] Bateson và Punnet, 1906 [58] cho biết các alen ở locus C và locus

I quyết định sự biểu hiện màu lông

Sự có mặt hoặc thiếu sắc tố xantophyll trên lớp biểu bì da phụ thuộc vào hai locus W và Y (Mc Gibbo, 1981) [70] Alen W+ là alen trội nằm trên nhiễm sắc thể thường qui định tính trạng chân trắng đối lập với chân vàng bởi vì nó cản trở quá trình lắng sắc tố xantophyll trong da, chân, mỏ và mỡ, alen này có mặt trong hầu hết các giống gà Khi phối hợp thêm với alen Id, màu da của gà

Trang 13

trở nên màu trắng hoặc trắng hồng và khi không có mặt alen Id chân có màu xám xanh

Alen lặn w ở dạng đồng hợp tử (ww) qui định màu vàng thông qua quá trình lắng những sắc tố xantophyll trong mỏ, chân, da và mỡ Cần phải đợi đến

8 tuần tuổi để nhận dạng alen w một cách chắc chắn Khi có mặt alen Id chân

có màu vàng, nếu không có alen này chân có màu xanh Alen w được coi là alen đột biến, thường có mặt trong một số quần thể gà hoang d9, bởi vì trong các quần thể này đa số gà có chân xám xanh Những con gà mái mang kiểu gen (ww) đẻ tốt trong thời gian đẻ trứng chân ít vàng hơn so với những con gà mái đẻ kém bởi vì các sắc tố vàng của nó được tập trung vào sản sinh màu vàng của trứng

Alen Y+ là alen trội gắn liền với alen S (màu bạc) Cùng với sự có mặt của alen ww, alen này qui định màu vàng ở chân và da (Y+ viết tắt cho yellow)

Mc Gibbo, (1981) [70] cho biết alen y (lặn) ức chế sự biểu hiện sắc tố vàng của chân và da Những con gà có kiểu gen đồng hợp tử ww làm giảm màu vàng của mắt và giảm tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Patterson và cộng sự, 1983) [72] Vì vậy, alen này có tác động nhiều hướng,

là trội hoàn toàn so với alen w Nhưng trường hợp này thường không xảy ra và không đặc trưng cho một giống

ảnh 2.1 Da màu trắng ảnh 2.2 Da màu vàng ảnh 2.3 Da màu xanh đen ảnh 2.4 Da màu đen

Trang 14

Màu lông liên kết giới tính được ứng dụng nhiều trong công tác giống khi lai tạo gà chuyên trứng và chuyên thịt lông màu Gen s (lặn) quy định màu lông nâu, gen S (trội) quy định màu lông trắng, nằm trên nhiễm sắc thể giới tính Z Thường chọn gà trống bố ZsZs (nâu) cho phối với mái mẹ ZSW (trắng) cho ra đàn con khi mới nở có gà trống lông trắng (loại bỏ ngay) và gà mái lông nâu

Bộ lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có

ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại Theo hình thái lông người ta có thể phân biệt thành các dạng lông như lông xước, lông mượt, lông cứng

ở gia cầm có quá trình thay lông, bộ lông tơ che phủ lúc mới nở sẽ

được thay thế bằng lớp lông cố định, đặc trưng của từng giống và từng cá thể Nói chung tốc độ mọc lông là thể hiện khả năng mọc sớm hay muộn Đây là một trong những đặc tính di truyền liên quan đến sự trao đổi chất, sinh trưởng, phát triển Theo Heyer và cs, (1970) [67], trong cùng một dòng gà con mái mọc lông đều hơn con trống và ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược với gen liên kết quy định tốc độ mọc lông

Mào là dẫn xuất của da và có nhiều hình dạng kích thước khác nhau

đặc trưng cho từng giống gà Theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại mào cờ (mào đơn hay mào lá), mào hoa hồng, mào hạt đậu, mào nụ, mào trái dâu (Nguyễn Mạnh Hùng và cs, 1994) [14]

Trang 15

ảnh 2.5.Mào đơn ảnh 2.6 Mào chẻ ba ảnh 2.7 Mào hoa hồng ảnh 2.8 Mào hạt đậu

2.1.2 Di truyền tính trạng số lượng

Di truyền tính trạng số lượng là những tính trạng di truyền biểu hiện liên tục, do nhiều gen chi phối Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều gen, mỗi gen chỉ có một tác động nhỏ trong khi đó các tính trạng chất lượng chỉ do một số rất ít gen chi phối Các tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện môi trường trong khi đó các tính trạng chất lượng

ít chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường Theo Nguyễn Văn Đức và cs (2006) [9] có thể xác định các giá trị của tính trạng số lượng bằng các phép đo (cân, đong, đo, đếm) Các giá trị quan sát được của các tính trạng số lượng là các biến thiên liên tục rất khó phân biệt trong khi đó các quan sát của các tính trạng chất lượng là các biến rời rạc

Sự di truyền các tính trạng số lượng cũng tuân theo định luật di truyền cơ bản của Mendel Bản chất di truyền các tính trạng số lượng cũng là do các gen trên nhiễm sắc thể Mỗi gen thường có tác dụng nhỏ đối với kiểu hình song do nhiều gen tác động nên có giá trị cộng gộp tương đối lớn Mỗi gen có thể không đóng góp ngang nhau trong việc chi phối các tính trạng Ngoài ra còn có kiểu tác động ức chế lẫn nhau giữa các gen không cùng nằm trên 1 locus (I) và tác động trội lặn của các gen dị hợp tử trên cùng locus (Đ) Những sai khác giữa các cá thể là những sai khác về mặt số lượng thể hiện tính trạng của từng cá thể và chỉ có thể phát hiện được các sai khác đó bằng các tính toán

Trang 16

và cân đo các cá thể trong quần thể (Hutt FB.,1978) [10]

ở gia cầm có khá nhiều tính trạng số lượng mà người ta có thể theo dõi

được tính chất di truyền của chúng như: tốc độ sinh trưởng, tuổi đẻ quả trứng

đầu, sản lượng trứng, khối lượng trứng … Bản chất di truyền của các tính

trạng số lượng là đa gen và sự di truyền của chúng cũng phù hợp với các quy

luật Mendel (Lê Đình Trung và Đặng Hữu Lanh, 2000) [52] Mỗi alen của

chúng có một hiệu ứng nhỏ riêng biệt và kiểu hình là kết quả cộng gộp mọi

hiệu ứng của các alen Ông cũng cho rằng nhiều yếu tố môi trường ảnh hưởng

đến tính trạng bằng cách tăng cường hay giảm bớt hiệu ứng giống như tác

động của các alen Như vậy, các khác biệt về kiểu hình giữa các cá thể có thể

tách thành các phần do di truyền và do môi trường quy định: P = G + E

G: Giá trị kiểu gen (Genotypic Value)

E: Sai lệch môi trường (Environmental)

Giá trị kiểu gen gồm giá trị cộng gộp A (Addation Value), Sai lệch trội

D (Dominance deviation) và sai lệch tương tác I (Interaction deviation) Sai

lệch môi trường gồm sai lệch môi trường chung Eg (General Environmantal

deviation) và sai lệch môi trường riêng Es (Special Environmantal deviation)

Do đó, kiểu hình của một cá thể được xác định bởi kiểu gen có từ 2 locus trở

lên có giá trị là:

P = A + D + I + Eg + Es

Kiểu di truyền và môi trường đều có tác động lên sự phát triển của tính

trạng Tuy nhiên trong sự biểu hiện của tính trạng qua kiểu hình, kiểu di

truyền quyết định các biến động là phần chính Đối với tính trạng số lượng,

giá trị kiểu gen được tạo thành do hiệu ứng nhỏ của từng gen tập hợp lại

Chúng sẽ có hiệu ứng lớn Trong chọn lọc, nghiên cứu các đặc điểm di truyền

của các tính trạng chính là nghiên cứu sự biến đổi của các phương sai (δ2)

Trong thực tế người ta không thể phân chia giá trị kiểu hình thành các thành

Trang 17

phần di truyền, hoặc môi trường Nhưng nhờ các phương pháp toán học, người

ta có thể phân chia phương sai kiểu hình thành các phương sai thành phần do

di truyền, do môi trường, do gen cộng gộp, do tác động của tương tác gen hay tác động trội lặn Căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng số lượng chúng ta có thể tách được các thành phần phương sai:

δP2 = δG2 + δE 2 hay δP 2= δA 2 + δD 2 +δI 2 +δE 2

Trong nghiên cứu di truyền các tính trạng số lượng người ta thường sử dụng hệ số di truyền để xác định tỷ lệ đóng góp tương ứng của 2 phần là di truyền và ngoại cảnh theo công thức h2 + e2 =1 Hệ số di truyền được xác định

h2= δG2/δP 2 được gọi là hệ số di truyền theo nghĩa rộng Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp là tỷ lệ phương sai do tác động cộng gộp của các gen δA2 và phương sai kiểu hình δP 2: h2 = δA2/δP 2 (Đặng Vũ Bình và cộng sự – 2002) [3]

2.1.2.1 Đặc điểm di truyền về sản lượng trứng

Sản lượng trứng hay năng suất trứng là một tính trạng di truyền, phản

ánh chất lượng giống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Hays (1944), Albada (1955) cho rằng: việc sản xuất trứng do 5 yếu tố quy định: tuổi

đẻ quả trứng đầu tiên, cường độ đẻ trứng, thời gian nghỉ đẻ, thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ trứng, mức độ biểu hiện của bản năng đòi ấp Sản lượng trứng là

số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định có thể tính theo tháng hoặc năm Tính trạng này có hệ số di truyền trung bình khoảng h2 = 0,3 Theo kết quả nghiên cứu về di truyền tính trạng sản lượng trứng các tác giả ở các nước khác nhau và vào từng thời điểm, mùa vụ, giống gia cầm khác nhau thì cho các kết quả khác nhau Scholtyssek (1961) [74] cho biết hệ số di truyền về sản lượng trứng h2 = 0,1, Pingel và Jeroch (1980) [73]; Wegner (1980) [75] thì hệ số di truyền về sản lượng trứng

h2 = 0,2-0,3; 0,27 Trần Long (1994) [21] Nguyễn Văn Thiện (1995) [38] lại cho biết hệ số di truyền về sản lượng trứng h2 = 0,27 -0,35 và 0,12-0,3

Trang 18

Khả năng sản xuất trứng ở gà được quyết định bởi hai nhân tố chính là tuổi thành thục về tính và tỷ lệ đẻ Theo FairFul và Growe (1990) [62] sản lượng trứng của gia cầm là kết quả tác động của rất nhiều gen lên một số lượng lớn các quá trình sinh hoá học Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng) thì rất nhiều gen tham gia điều khiển tất cả các quá trình liên quan đến sản xuất trứng hoạt động cho phép gia cầm phát huy

được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng

Theo Brandsch và Biichel (1978) [5], Nguyễn Thị Mai và cs (2009) [23] cho rằng sản lượng trứng được tính theo năm sinh học 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên Hiện nay các H9ng gia cầm nổi tiếng trên thế giới chỉ tính sản lượng trứng gà bố mẹ hướng thịt đến 9 tháng đẻ (270 ngày) và gà hướng trứng thương phẩm đến 18 tháng đẻ (540 ngày đẻ) Như vậy đánh giá sản lượng trứng theo tỷ lệ phần trăm hoặc số lượng trứng gia cầm đẻ trong một thời gian nhất định là phương pháp thông dụng nhất hiện nay

Theo Wegner (1980) [75] tương quan di truyền giữa cường độ đẻ trứng với tổng số trứng là tương quan dương, tương quan giữa cường độ đẻ trứng với thời gian nghỉ đẻ và khối lượng trứng là tương quan âm Theo Trần Long (1994) [21], hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể lúc 42 ngày tuổi và sản lượng trứng dòng V3 là -0,144 và dòng V5 là -0,079 Hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể lúc 42 ngày tuổi và khối lượng trứng dòng V3 là 0,410 và dòng V5 là 0,173 Hệ số tương quan di truyền giữa sản lượng trứng với khối lượng trứng dòng V3 là -0,09 và dòng V5 là -0,30

2.1.2.2 Đặc điểm di truyền về khối lượng trứng

Khối lượng trứng cũng là tính trạng di truyền số lượng, đến nay khoa học cũng chưa xác định được chính xác số gen quy định tính trạng này nhưng chắc chắn là ít hơn số lượng gen quy định sản lượng trứng vì khi chọn lọc nâng cao khối lượng trứng dễ dàng và hiệu quả đạt nhanh hơn Khối lượng

Trang 19

trứng gia cầm thuộc nhóm tính trạng chịu ảnh hưởng của nhiều gen đặc biệt là gen liên kết với giới tính (Wegner, 1980) [75] Kiểu di truyền khối lượng trứng ở gà lai là di truyền trung gian đơn giản Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm cao

Hệ số di truyền khối lượng trứng khá cao nên việc chọn lọc có định hướng để nâng cao khối lượng trứng sẽ dễ đem lại thành công Hệ số di truyền

về khối lượng trứng thường cao hơn hệ số di truyền về sản lượng trứng Các tác giả nghiên cứu ở các dòng, giống gia cầm khác nhau ở các thời điểm hay ở từng địa phương khác nhau cho các kết quả khác nhau về hệ số di truyền khối lượng trứng Theo Brandsch và Biilchel (1978) [5] cho biết hệ số di truyền về khối lượng trứng là 0,48 - 0,8; Wegner (1980) [75], Pingel và Jeroch (1980) [73] thì hệ số số di truyền về tính trạng này là 0,4-0,7 Trần Long (1994) [21] nghiên cứu trên các dòng gà thịt Hydro cho biết hệ số di truyền về khối lượng trứng ở dòng V3 là 0,775, ở dòng V5 là 0,303 Nguyễn Văn Thiện (1995) [38] lại cho biết hệ số di truyền về tính trạng là 0,6 - 0,74

Hệ số biến dị về khối lượng trứng ở gà nói chung là nhỏ chỉ khoảng 6% (Pingel và Jeroch 1980) [73] và 3,97 - 4,37% (Trần Long - 1994) [21]

Kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận và cộng sự (1996) [26], Bùi Quang Tiến và cs (1985) [45] cho biết khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng Hệ số tương quan nằm trong khoảng từ -0,33 đến -0,36 Các tác giả còn cho biết giữa khối lượng trứng với tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và khối lượng cơ thể có tương quan dương với hệ số tương quan tương ứng là 0,35 và 0,31

2.1.2.3 Đặc điểm di truyền về tuổi thành thục sinh dục

Tuổi thành thục sinh dục của gà được xác định bằng tuần hoặc ngày kể

từ khi gà nở ra đến khi gà đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi thành thục sinh dục là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng Gà sẽ có năng suất,

Trang 20

sản lượng trứng cao nhất nếu tuổi thành thục sinh dục của gà tuân theo quy luật phát triển chung của giống Tuổi thành thục về tính được xác định thông qua các biểu hiện như bộ máy sinh dục đ9 phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng, con đực sinh tinh ở gia cầm tuổi thành thục về tính được tính từ khi gà bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc trên đàn quần thể là lúc tỷ lệ đẻ đạt 5%

Tính toán tuổi đẻ của gia cầm dựa trên số liệu của từng cá thể trong đàn

là chính xác nhất Không những thế phương pháp này còn phản ánh được độ lớn cũng như mức độ biến dị của tính trạng

Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của giống và môi trường sống Các giống gia cầm khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Có những giống gà thành thục về tính muộn đến 200 ngày tuổi hoặc cao hơn nữa nên chu kỳ đẻ trứng sẽ ngắn hơn Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thạch (1996) [36] thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên ở gà Ri là 135 144 ngày, trong khi đó gà

Đông Tảo là 257-265 ngày (Lê Thị Nga 1997) [30] Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà Hồ là 240-255 ngày (Lê Văn Thưởng-1977) [37], 174 ngày ở gà Mía (Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh 1999) [39] và 120 ngày ở gà ác (Nguyễn Văn Thiện và cộng sự -1999) [40] Theo Pingel và Jeroch (1980) [73], bằng phương pháp chọn lọc qua 5 thế hệ người ta đ9 rút ngắn được tuổi thành thục về tính của gà Rhode Island từ 256 ngày xuống còn 194 ngày

Theo Brandsh và Bilchel (1978) [5] thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và khối lượng cơ thể có tương quan nghịch Những giống gà có khối lượng cơ thể nhỏ (gà ác, gà Ri, gà H’mông) thường có tuổi thành thục về tính sớm hơn

Thí nghiệm của Morris (1973) [71], nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến tuổi thành thục về tính trên gà Leghorn được ấp nở quanh năm cho biết những gà được ấp nở vào tháng 12 và tháng 1 thì có tuổi thành thục về tính là 150 ngày, những gà ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì tuổi thành thục về tính là trên 170 ngày Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính

Trang 21

ngắn hơn vì thời gian sinh trưởng chính của chúng trong những ngày ít ánh sáng, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do vậy sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn tuổi thành thục

2.2 Cở sở khoa học của việc lai tạo

2.2.1 Khái niệm và hiệu quả của việc lai tạo

Lai tạo là phương pháp cho giao phối giữa hai giống có khi là hai chủng

để tạo con lai làm sản phẩm hoặc để tạo sản phẩm mới, dòng mới, giống mới (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992) [27]), hay theo một khái niệm khác thì lai tạo là phương pháp cho giao phối giữa con đực và con cái khác dòng, khác giống có khi là khác chủng để tạo ra con lai làm sản phẩm hoặc tạo ra sản phẩm mới, giống mới

S.Darwin là người đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về công tác lai tạo

đ9 khẳng định vai trò và lợi ích quan trọng của lai tạo và đi đến kết luận: “Lai

hiện tượng sinh học quan trọng đó là ưu thế lai, đồng thời thông qua các chỉ tiêu kinh tế của tổ hợp lai, ưu thế lai làm căn cứ cho việc chọn giống gia súc, gia cầm (Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân (1994) [17]) Hetzel (1982) [66] thì cho rằng có hai cách để nâng cao bản chất di truyền mặc dù chúng đều là thành phần và đều có thể tiến hành đồng thời cùng một lúc đó là: chọn lọc nhân thuần và lai tạo giữa các giống, các dòng

Sự lai tạo được sử dụng nhiều trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm khai thác thế mạnh của con lai, đồng thời nhằm lay động tính bảo thủ di truyền sẵn có của các cá thể, các dòng, các giống

Bonwman (1995) [60] cho biết lợi ích to lớn của lai giống là xuất hiện sức mạnh của con lai gọi là ưu thế lai Con lai thường có sức chống chịu bệnh tật khoẻ hơn, sức sản xuất sản phẩm tốt hơn, khả năng thụ tinh được nâng cao Mặc dù vậy, ưu thế lai không thể đoán trước được, sự khác biệt giữa hai giống càng lớn thì ưu thế lai càng lớn Ưu thế lai chỉ có thể xảy ra ở một công thức

Trang 22

lai nào đó, vì vậy phải tiến hành nhiều công thức lai khác nhau, ưu thế lai không di truyền, nếu tiếp tục cho giao phối đời con với nhau thì sẽ làm mất ưu thế lai và sự đồng đều

Bên cạnh việc chọn lọc, nhân giống thuần chủng, lai tạo là phương pháp cải tiến di truyền có hiệu quả cao và nhanh Trong công tác giống kể từ những con vật nuôi đầu tiên được tạo ra từ cuối thế kỷ thứ XVIII, các giống mới được hình thành qua con đường lai tạo sau đó mới được chọn lọc củng cố, ổn định tính trạng trở thành các dòng thuần Những giống gốc ban đầu ít nhiều có pha máu của nhiều giống khác nhau Hiện nay việc tạo ra số lượng sản phẩm lớn cũng đều thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng có ảnh hưởng tốt đến sản lượng

và chất lượng sản phẩm

Các giống, dòng càng thuần bao nhiêu thì con lai càng có ưu thế lai cao bấy nhiêu (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29] Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới được Mendel đưa vào để nghiên cứu đó là phương pháp lai, cũng chính từ việc nghiên cứu này ông đ9 phát hiện và hình thành nên những quy luật cơ bản của di truyền

2.2.2 Cở sở khoa học của lai kinh tế

Căn cứ vào mục đích của lai tạo, người ta thường áp dụng những phương pháp lai khác nhau như lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu) lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành) song lai kinh tế là phương pháp phổ biến nhất (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, (1992)) [27]

Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc thuộc hai giống khác loài Con lai này không sử dụng làm giống mà chỉ để lấy sản phẩm như thịt, trứng, sữa (thường chủ yếu lấy thịt vì sinh trưởng nhanh) Lai kinh tế còn được coi là lai công nghiệp vì chỉ dùng F1 làm sản phẩm, nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh hàng loạt, có chất lượng, lại quay vòng nhanh (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29] Người

ta tiến hành lai kinh tế là để sử dụng ưu thế lai làm tăng nhanh mức độ trung

Trang 23

bình tính trạng giữa hai giống gốc, hai dòng thuần, nhất là đối với tính trạng khối lượng, tăng trọng, tăng các chiều đo Con lai có thể mang những đặc tính trội của giống gốc bố, mẹ hoặc cũng có thể phối hợp được những đặc tính của

2 giống đó

Năng suất vật nuôi phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố, đó là bản chất di truyền và ngoại cảnh Do vậy trong chăn nuôi có hai hướng chủ yếu để nâng cao năng suất vật nuôi Đó là cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi và cải thiện điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng chúng

Muốn lai kinh tế có hiệu quả phải chọn lọc thật tốt các dòng thuần, trong đó các cá thể dị hợp tử sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn Ân và cộng sự, 1983) [1] Nguyễn Văn Thiện (1996) [38] cho rằng giống là một quần thể đủ lớn trong cùng một loài, có một nguồn gốc chung,

có một số đặc điểm chung về hình thái và ngoại hình, sinh lý và năng suất sinh vật học, khả năng chống đỡ bệnh tật, đồng thời có thể truyền đạt các đặc

điểm đó cho đời sau Trong giống lại bao gồm có các dòng, mỗi dòng có đặc

điểm chung của giống, nhưng lại có đặc điểm di truyền riêng biệt Sự khác biệt mỗi dòng về kiểu gen chính là yếu tố quyết định sẽ làm xuất hiện ưu thế lai

Người ta cho lai các dòng gà khác biệt về kiểu gen nhưng lại có khả năng kết hợp được trong cùng một cơ thể sinh vật Vì vậy, phải chọn lọc các dòng gà trong các giống hoặc các dòng gà trong cùng một giống có khả năng kết hợp Con lai không những thể hiện được chất lượng tổ hợp lai của những dòng thuần mà còn đạt được hiệu quả của ưu thế lai 5-20% Đây có thể nói là một sự ưu đ9i của tự nhiên mà con người có thể sử dụng tốt, nếu nắm được quy luật của phương pháp này và biết cách tổ chức sản xuất, sử dụng các gia cầm lai giữa các dòng là một trong những vấn đề quan trọng nhất (Hoàng Kim Loan, 1973) [20]

Giangmisengw (1983) [11] cho rằng, người ta có thể dùng phép lai giữa các loài, hay tạo ra các dòng đồng huyết và cho chúng lai với nhau Trong

Trang 24

những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm trên thế giới đang có những thay đổi cơ bản, những thay đổi này liên quan đến việc áp dụng phương pháp sản xuất sản phẩm, bằng cách phối hợp tốt những dòng đ9 được chọn lọc và thông qua phương pháp lai, sẽ đạt hiệu quả của ưu thế lai ở thế hệ sau Trong chăn nuôi gia cầm khi lai kinh tế có thể là lai đơn hoặc lai kép

Lai đơn là phương pháp lai kinh tế để phát huy ưu thế lai, lai đơn được dùng khi lai giữa giống địa phương và giống nhập nội cao sản Phương pháp này phổ biến và được sử dụng nhiều trong sản xuất gà kiêm dụng, trứng thịt hoặc thịt trứng Lai đơn nhằm tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà địa phương và tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất trứng cao, ấp nở tốt của gà nhập nội, gà Rhode island Red, gà Leghorn được lai với gà Ri (Tạ An Bình, 1973) [4]; Bùi Quang Tiến và cộng sự (1985) [45] Kết quả của các công trình nghiên cứu này tạo ra con lai cho khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, khối lượng trứng cao hơn gà Ri, thành công này đ9 chứng minh hiệu quả của phương pháp lai đơn

Lai kép là phương pháp lai phổ biến để tạo ra con lai thương phẩm và

được sử dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, phương pháp này ngày càng được áp dụng nhiều trong việc tạo ra gà thương phẩm phù hợp với phương thức nuôi tập trung hoặc bán chăn thả

Mỗi cơ sở giống đều có những dòng khác nhau và khi lai giữa các dòng riêng biệt sẽ tạo ra con lai thương phẩm năng suất cao Ví dụ gà hướng trứng

có gà lai 4 dòng như gà Goldline 54, Isa Brown, Hyline, Brown Nick Gà hướng thịt như BE 88, AA cobb 500, Ross 308 người ta có thể phân biệt trống mái thông qua màu lông và tốc độ mọc lông cánh như ở gà Kabir, GoldLine 54 Nghiên cứu và sử dụng ưu thế lai trong sản xuất chăn nuôi, thực sự là

đòn bẩy để nâng cao năng suất Sự thể hiện ưu thế lai rất đa dạng, phụ thuộc bản chất di truyền từng cặp lai và điều kiện môi trường Muốn phát huy tốt ưu

Trang 25

thế lai cần phải có những thử nghiệm nghiêm túc trong điều kiện cụ thể, đối với từng cặp lai cụ thể

2.3 Cơ sở khoa học của ưu thế lai

2.3.1 Lược sử về ưu thế lai

Hiện tượng ưu thế lai đ9 được biết và vận dụng từ lâu Điển hình là việc tạo con La, kết quả lai khác loài giữa Ngựa cái (E quus Cabal Lus) và Lừa đực (E quus Asinus) Con lai nổi tiếng về sức khoẻ, sức dẻo dai và khả năng chịu nóng (Hutt, 1978) [10], (Trần Đình Miên, 1994) [28]

Tuy nhiên việc nghiên cứu các hiện tượng trên một cách có hệ thống mới bắt đầu từ > 200 năm nay Darwin (1876) với công trình khoa học tác dụng của giao phấn và tự thụ phấn trong giới thực vật đ9 minh chứng lợi ích của tạp giao và tác hại của giao phối cận huyết (Nguyễn Ân và cộng sự, 1983) [1] Năm 1914 Shull đưa ra thuật ngữ ưu thế lai (Heterosis) (Vũ Kính Trực, 1992) [51] Dubinin (1948) xác định ưu thế lai trên ruồi dấm, Cale; Goven (1956) nghiên cứu ưu thế lai trên ong mật (Hutt, 1978) [10], nghiên cứu ưu thế lai trên bò, Brisles, Bishell, NordsKog (1967) xác định ưu thế lai trên gà, tất cả

đều đi đến kết luận con lai có ưu thế hơn bố mẹ về nhiều đặc tính sản xuất quan trọng (Nguyễn Ân và cộng sự, 1983) [1]

Sự lai tạo được sử dụng nhiều trong chăn nuôi nhằm khai thác thế mạnh của con lai, nên nó được áp dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bán công nghiệp ở các nước đang phát triển Chính là lai giữa các giống khác nhau đ9 giúp cho việc quyết định chiến lược thích hợp về công tác giống (Flock, 1996) [63]

2.3.2 Sự biểu hiện của ưu thế lai trong chăn nuôi

Sự biệu hiện ưu thế lai trên cơ thể lai trong chăn nuôi rất đa dạng, khác nhau ở tính trạng Sự ưu việt của con lai không chỉ biểu hiện bằng sự lớn hơn

về giá trị của tính trạng so với trung bình bố mẹ mà còn biểu hiện bằng mức

độ tối ưu của tính trạng, sự biểu hiện ưu thế lai có thể phân ra thành các loại

Trang 26

sau (Nguyễn Ân và cộng sự, 1983) [1]; (Kushner KF, 1974) [15]; Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29]

+ Con lai F1 của những công thức lai xa khác giống vượt bố mẹ về thể chất, tuổi thọ, sức làm việc, nhưng mất một phần hay hoàn toàn khả năng sinh sản Điển hình như con La đ9 nêu ở phần trên hay con Mullard (lai giữa vịt và ngan) + Con lai F1 vượt hơn trung bình bố mẹ về khối lượng cơ thể và sức sống, có khả năng sinh sản bình thường hoặc tốt hơn bố mẹ Điển hình là trường hợp lai giữa một số giống bò thịt hoặc một số giống lợn mà ở nước ta nhiều nhà khoa học đ9 thực hiện đem lại hiệu quả tốt trong chăn nuôi

+ Con lai F1 có khối lượng chỉ ở mức trung gian, song khả năng sinh sản, mức sống cao hơn hẳn bố mẹ Điển hình như lai giữa gà Leghorn trắng và

gà New HamShire, gà Plymouth Rock và gà Australorp

+ Con lai F1 biểu hiện ưu thế lai đặc biệt là trường hợp xét về mặt tính trạng riêng rẽ thì có kiểu di truyền trung gian nhưng sản phẩm cuối cùng một mặt nào đó lại vượt hơn trung bình bố mẹ Trường hợp này có thể xảy ra ở bò, lợn, gà

Ưu thế lai là hiện tượng sinh học, biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của những cá thể lai được tạo ra từ các con gốc không cùng huyết thống Cũng có thể hiểu ưu thế lai là sự tăng sức sống, tăng khối lượng cơ thể của con lai F1 so với bố mẹ của chúng Các cá thể lai có thể có năng suất vượt trội, vượt hơn cả bố và mẹ chúng Ưu thế lai biểu hiện qua hiện tượng sinh trưởng nhanh hơn, kích thước cơ thể tăng lên, sức sản xuất và sức sống tăng lên Theo Falconer (1960) dẫn theo Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) [29] ưu thế lai là sự khác biệt giữa giá trị tính trạng của con lai

so với bố mẹ, thường là vượt trên trung bình bố mẹ

M Bố +M mẹ

Mcon lai >

2

Trang 27

Tóm lại, trên cơ thể lai ưu thế lai không biểu hiện đồng loạt ở tất cả các

tính trạng, trên tất cả các giai đoạn, sự biểu hiện này phụ thuộc vào từng cặp lai cụ thể, các yếu tố ngoại cảnh, giai đoạn phát triển và từng cá thể

2.3.3 Bản chất di truyền của ưu thế lai

Bản chất di truyền của ưu thế lai là trạng thái dị hợp tử ở con lai, từ đó người ta nêu 3 giả thiết để giải thích về ưu thế lai (Nguyễn Ân và cộng sự,

1983 [1]), (Lê Thị ánh Hồng và cộng sự, 1995 [13]), (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [38]

+ Thuyết tập trung các gen trội có lợi

Trong qua trình tiến hoá, dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên, các gen trội bất lợi bị đào thải, gen trội có lợi được nhân lên Trong khi đó các gen lặn bất lợi vẫn tồn tại ở trang thái dị hợp tử, bên cạnh các gen trội có lợi Khi giao phối cận huyết, các quần thể sẽ phân hoá thành các dòng khác nhau ở trạng thái

đồng hợp tử theo các gen trội có lợi khác nhau Khi lai các dòng này với nhau dẫn đến con lai F1 tập hợp được các gen trội có lợi ở các bố và các mẹ làm xuất hiện ưu thế lai Ví dụ có 5 locus gen cùng tham gia hình thành một tính trạng kinh tế Người ta cho rằng mỗi gen trội hoặc mỗi đôi gen dị hợp tử Aa có giá trị tính trạng là 2 đơn vị (AA = Aa = 2) Mỗi đôi gen lặn chỉ làm tăng giá trị tính trạng lên một đơn vị (aa = 1), ta có AA = Aa > aa Khi lai hai dòng cận huyết, con lai F1 có các tính trạng kinh tế cao hơn cả bố và mẹ, xuất hiện ưu thế lai

P kiểu gen: AAbbCCddEE ( P1) x aaBBccDDee (P2)

Giá trị kiểu hình: 2 + 1 + 2 + 1 + 2 = 8 1+ 2 + 1 + 2 + 1 = 7 F1 kiểu gen: AaBbCcDdEe

Giá trị kiểu hình: 2 + 2 + 2 + 2 + 2 = 10

Như vậy ưu thế lai là hiệu quả của việc tập trung các gen trội có lợi không cùng alen ở F1 FornerD, 1917 giải thích rằng các gen trội có lợi này không phải phân ly độc lập mà liên kết với nhau, vì vậy không thể tổ hợp tự

do, kết quả của sự phối hợp lai ở F1 thể hiện như sơ đồ sau:

Trang 28

có lợi này sẽ nhỏ hơn F1, kết quả ở F2 ưu thế lai sẽ giảm

+ Thuyết dị hợp tử và siêu trội

Thuyết dị hợp tử: chính là dị hợp tử của nhiều gen làm xuất hiện ưu thế lai Các gen khác nhau ở cùng 1 locus tổng hợp các protein chức năng khác nhau trong quá trình phát triển, nhờ vậy chúng bổ sung cho nhau làm xuất hiện

ưu thế lai

Thuyết siêu trội: dựa vào thuyết dị hợp tử phát triển thêm, các gen ở trạng thái dị hợp tử có sự tương tác nhau mạnh hơn so với các gen đồng hợp

tử Kết quả làm xuất hiện ưu thế lại ở F1: Aa > AA > aa

Có thể minh hoạ thuyết dị hợp và siêu trội, giải thích ưu thế lai như sau: Giả sử có 5 cặp gen tham gia xác định một tính trạng kinh tế Các kiểu gen

đồng hợp tử lặn đóng góp một đơn vị tính trạng, các kiểu gen đồng hợp tử trội cho 1,5 đơn vị tính trạng, các kiểu gen dị hợp sẽ cho 2 đơn vị tính trạng

Kiểu gen P: AabbCCddEE x aaBBccDDee

Trang 29

Kiểu gen F1: AaBbCcDdEe

Giá trị kiểu hình: 2+2+2+2+2 =10

+ Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locus

Cơ thể lai do có bản chất dị hợp mà sự tác động tương hỗ giữa các gen không cùng một locus (I) được tăng lên, nhờ vậy tăng hiệu quả tác dụng ưu thế lai Ví dụ, ở các cơ thể đồng hợp tử AABB thì chỉ xuất hiện một loại tác

động tương hỗ giữa A và B (A - B), nhưng ở thể dị hợp tử AaBb có 6 loại tác

động tương hỗ A-a,; B-b; A-B, A-b; a-B và a-b Trong đó A-a và B-b là tác

động tương hỗ giữa các gen trên cùng alen, 4 loại còn lại là tác động tương hỗ giữa các gen không cùng alen Ngoài ra có thể thêm các loại tác động tương

hỗ cấp 2 như B, b và các loại tác động tương hỗ cấp 3 như Bb, bb Kết quả làm nâng giá trị kiểu hình, làm tăng hiệu quả ưu thế lai

Aa-Dựa trên sự kết hợp các giả thuyết, đưa ra quan điểm về sự thay đổi trạng thái hoạt động của hệ thống enzym trong cơ thể sống là quá trình dị hợp

và tương tác với nhau của cặp gen mới có ưu thế lai Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [27] cho biết ưu thế lai phụ thuộc vào hai yếu tố: trạng thái hoạt động của dị hợp tử (H) và sự sai khác nhau của hai quần thể xuất phát (Y)

HF1 = dY2 HF2 = 1/2HF1 HF3 = 1/4HF1

Ưu thế lai cao nhất ở đời F1 rồi từ đó giảm dần, sự giảm ưu thế lai ở đời sau có sự thay đổi trong sự tác động tương hỗ và tương quan giữa các gen thuộc các locus khác nhau, hơn nữa biểu hiện của tính trạng không chỉ chịu

ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh, hay nói cách khác mức độ ưu thế lai cao hay thấp còn phụ thuộc vào sự tương quan âm hay dương giữa môi trường và kiểu di truyền Ưu thế lai thể hiện ở mức độ khác nhau và thường được thể hiện ở các tính trạng số lượng, còn tính trạng chất lượng thì ít được thể hiện Các tính trạng có hệ số di truyền cao (như tốc độ mọc lông, thành phần hoá học của thịt ) thì sẽ ít chịu ảnh hưởng của ưu thế lai

Trang 30

Theo Kushner K.F, (1978) [16] nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đ9 cho rằng khi chọn đúng cặp bố mẹ cho giao phối, con lai có sức sống phôi và hậu phôi, sản lượng trứng tăng và chi phí thức ăn giảm Do đó để có ưu thế lai thì phải lựa chọn cặp bố, mẹ có khả năng phối hợp tốt Vì khả năng đó có sẵn ở gen con trống, con mái và phải được các nhà chọn giống có nhiều kinh nghiệm phát hiện và chọn phối

2.3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai

Mức độ ảnh hưởng của ưu thế lai phụ thuộc vào 4 yếu tố (Nguyễn Văn Thiện, 1995, [38]) các yếu tố đó là:

+ Nguồn gốc di truyền của bố mẹ

Bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa nhau thì ưu thế lai càng cao và ngược lại Ví dụ: lai xa khác loài vịt x ngan tạo ra con lai có tốc độ sinh trưởng rất cao, nhưng khả năng sinh sản rất khó khăn (bất thụ) (Nguyễn Tấn Anh và cộng sự (1988-1993) [2]

+ Tính trạng nghiên cứu

Các tính trạng có hệ số di truyền thấp (như năng suất trứng, tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ nở ) thì có ưu thế lai cao Các tính trạng có hệ số di truyền cao (khối lượng trứng, khối lượng cơ thể ) thì ưu thế lai thấp

Theo Nguyễn Huy Đạt (1991) [6], nghiên cứu xác định ưu thế lai của một số công thức gà lai giữa gà Leghorn x Austraulorp có hệ số di truyền năng suất trứng/mái là 25 %, tỷ lệ nuôi sống đến 60 ngày tuổi là 2,5% Gà Leghorn x Newhamp shire có ưu thế lai về tỷ lệ đẻ là 9,3% và tỷ lệ nở là 12,5%

Các tác giả Hoàng Thị Lan và cộng sự (2003) [18], khi nghiên cứu chọn tạo hai dòng vịt cao sản SM (dòng vịt T5 x T6) tạo con lai có ưu thế lai 10,2%

+ Công thức giao phối

Trang 31

Ưu thế lai còn phụ thuộc vào việc sử dụng con vật nào làm bố và con vật nào làm mẹ Khi cho lai giữa hai dòng, giống với nhau, cho dù dòng nào làm bố hay mẹ thì con lai đều có tổ hợp gen giống nhau Nếu biểu hiện giá trị kiểu hình chỉ là giá trị cộng gộp của kiểu gen thì tính năng sản xuất của chúng

là tương đương Nhưng trong thực tế các công thức lai khác nhau thì tính năng sản xuất của con lai khác nhau Kết quả nghiên cứu ngan lai dòng R51 với siêu nặng (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2003 [48]) kết quả con lai giữa trống siêu nặng với mái R51 có ưu thế lai về khối lượng cơ thể là 2,64% Ưu thế lai

về tỷ lệ nuôi sống là 0,64% Con lai giữa ngan trống R51 với mái siêu nặng có

ưu thế lai về khối lượng cơ thể là 3,4% và ưu thế lai về tỷ lệ nuôi sống là 1,91%

+ Khả năng phối hợp (Nicking)

Để có ưu thế lai phải chọn cặp bố mẹ có khả năng phối hợp tốt Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [27] cho thấy trong thực tế chăn nuôi, không phải giống, dòng nào cho lai cũng cho kết quả tốt, tức là khi chọn phối các cặp bố mẹ phải có khả năng phối hợp Khả năng phối hợp phụ thuộc vào mức độ chọn lọc các giống gốc, nếu các giống gốc có áp lực chọn lọc cao,

có tiến bộ di truyền (∆g) lớn thì khi cho lai với nhau mới có khả năng phối hợp cao Trong chăn nuôi gà, với mỗi dòng khác nhau, đều phải được chọn lọc chặt chẽ để có tổ hợp cho năng suất cao Tuy nhiên, khả năng phối hợp cũng

là một hiện tượng tổ hợp mới được tạo ra khi chọn phối, bởi vì khả năng đó phải được những nhà chọn giống có nhiều kinh nghiệm phát hiện và chọn phối Greffing đ9 khái quát quan niệm này bằng mô hình toán học: M = X/p2

Mô hình đ9 nói lên được sự phối hợp, sự tương tác, sự cộng gộp…trong một tổ hợp gen mới

Ngoài quan niệm kết hợp chung như đ9 nói còn có khả năng kết hợp

đặc biệt, khả năng kết hợp chung thường là do hoạt động của các gen trội, gen lấn át, có ảnh hưởng của sinh thái môi trường, có tương quan giữa môi trường và

di truyền

Trang 32

+ Điều kiện nuôi dưỡng

Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng có ảnh hưởng tới ưu thế lai, nuôi dưỡng tốt ưu thế lai sẽ được nâng cao, nuôi dưỡng kém ưu thế lai có được sẽ thấp Do các tính trạng sản xuất hay còn gọi là các tính trạng số lượng chịu

ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh được thể hiện qua công thức:

P = G + E Trong đó, P là kiều hình, G là kiểu di truyền, E là sai lệch môi trường (gồm hai thành phần (sai lệch môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường riêng (Es)

Theo Hutt, (1978) [10] mức độ biểu hiện của ưu thế lai bị ảnh hưởng của môi trường sống như địa điểm nuôi, chế độ dinh dưỡng, vị trí địa lý Blyth

và Sang, (1960) [59]; Aggarwal và cộng sự, (1979) [57], Horn và Kally (1980) [69] các tác giả đều cho rằng ưu thế lai không những bị ảnh hưởng của chế độ chăm sóc, chuồng trại mà còn ảnh hưởng của mùa vụ ấp nở trong năm và nhiệt

độ của môi trường

Bố mẹ càng khác nhau, ưu thế lai càng cao Bản chất của ưu thế lai được giải thích tập trung vào hai thuyết chính

Thuyết tập trung các gen trội: những tính trạng như sức sống, khả năng sinh sản … là những tính trạng số lượng, do nhiều gen điều khiển Sau quá trình tạo dòng chuyên hoá bằng phương pháp cận huyết, các gen thường tập hợp dưới dạng đồng hợp tử trội hoặc lặn Các dòng thuần có thể có năng suất không cao Nhưng khi lai với nhau sẽ cho con lai F1 có năng suất cao hơn trung bình của bố mẹ, đó là biểu hiện của ưu thế lai Thế hệ con lai sẽ được thể hiện tác động của các gen trội, có thể từ bố hoặc từ mẹ so với các gen lặn tương ứng trên cùng locus gen Khi cha mẹ có quan hệ huyết thống càng xa thì xác suất để mỗi cặp cha mẹ truyền lại cho con những gen trội khác nhau

Trang 33

Đời cha mẹ AAbbccDDee X aaBBccddEE

Số locus mang gen trội 2 2

Đời con AaBbccDdEe

Số locus mang gen trội 4

Thuyết siêu trội: Hiệu quả của một alen ở trạng thái dị hợp thường khác với hiệu quả của từng alen này biểu hiện ở trạng thái đồng hợp Trạng thái siêu trội có thể là do ở trạng thái di hợp tương tác giữa hai alen sẽ có tác động lớn lên kiểu hình, phần lớn các trường hợp alen trội thắng thế Cứ sau mỗi thế

hệ ưu thế lai giảm đi một nửa (HF 3 = 1/2 HF 2 = 1/2 HF1) Ưu thế lai cao nhất

ở F1 rồi từ đó giảm dần

Theo Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân (1994) [17], khi các loài, chủng, giống hoặc dòng thuần khác nhau được giao phối với nhau thì con lai F1 có thể vượt bố mẹ về tốc độ sinh trưởng, khả năng sử dụng chất dinh dưỡng, tính chống chịu bệnh tật…

Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [1] cho rằng trong chăn nuôi, việc lai các cá thể khác dòng, khác giống, khác chủng nói chung đ9 xuất hiện ưu thế lai ở các tính trạng sản xuất, có thể phân thành các loại sau:

- Con lai F1 vượt hơn cả bố và mẹ về số lượng và sức sống (hiện tượng siêu trội)

- Con lai F1 có khối lượng cơ thể ở mức độ trung gian giữa hai giống song khả năng sinh sản và sức sống có thể hơn hẳn bố mẹ như là giữa 2 loài ngan và vịt, lừa và ngựa

- Con lai F1 trội hơn cả bố và mẹ về thể chất, tuổi thọ, sức làm việc, song nó mất một phần hoặc hoàn toàn khả năng sinh sản

- Một dạng ưu thế lai đặc biệt là nếu tính từng tính trạng riêng rẽ thì khả năng di truyền theo kiểu trung gian, song có khi liên quan đến sản phẩm cuối cùng thì lại khác

Trang 34

Trong lịch sử của ngành chăn nuôi, ưu thế lai được biểu hiện rõ rệt trong việc lai lừa với ngựa thành con la Kết quả con lai được tạo ra hơn hẳn gốc bố mẹ về nhiều mặt như tầm vóc, sức thồ, sức dẻo dai, sức chịu đựng nhưng không có khả năng sinh sản (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29]

Ưu thế lai chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là yếu tố

di truyền, công thức giao phối, tình trạng xem xét, điều kiện nuôi dưỡng và tính thích nghi của gia cầm

Nếu bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa nhau thì ưu thế lai cao hơn hẳn bố mẹ có nguồn gốc gần nhau khi lai cùng dòng của cùng 1 giống Các giống tham gia lai có mức độ sai khác về di truyền lớn sẽ cho ưu thế lai cao hơn so với các giống có mức độ sai khác di truyền nhỏ Điều kiện môi trường, chế độ nuôi dưỡng, vị trí địa lý cũng tạo điều kiện cho ưu thế lai có thể thay đổi

Ngoài ra ưu thế lai cũng chịu ảnh hưởng của giới tính, ưu thế lai về sinh trưởng của cơ thể con trống cao hơn hẳn so với con mái

Yếu tố di truyền và điều kiện ngoại cảnh là hai yếu tố cơ bản quyết định

đến năng suất vật nuôi Con giống tốt được nuôi dưỡng trong điều kiện phù hợp sẽ phát huy tối đa tiềm năng di truyền, ngược lại nếu điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi sẽ ảnh hưởng tới sức sản xuất của giống

- Khả năng thụ tinh là một tính trạng của con bố và con mẹ, con cái lai chịu ảnh hưởng ưu thế lai của tỷ lệ phôi, còn con trống lai thì ảnh hưởng rất ít (Horn và Kalley, 1980) [69] Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho rằng tỷ lệ nở phụ thuộc do một vài gen chi phối, tỷ lệ nở phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh, khối lượng trứng, chỉ số hình thái, thời gian và chế độ bảo quản trứng ấp (nhiệt độ, độ ẩm, thông thoáng, đảo trứng) Tác giả Gowe (1985) [65] cho biết ưu thế lai về tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ

nở phụ thuộc vào mùa vụ và chế độ dinh dưỡng

Trang 35

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.4.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nghành chăn nuôi gia cầm đ9 phát triển rất nhanh trong mấy thập kỷ qua Năm 2003, tổng đàn gà trên thế giới đạt 45,986 triệu con, sản lượng trứng 55,827 triệu tấn Tốc độ tăng đầu con trong giai đoạn 1993-2003 đạt bình quân 5% (Niên giám thống kê, 2003) [33]

Nhằm đáp ứng nhu cầu về con giống có năng suất cao hoặc cải tiến chất lượng, tạo ra con giống có ngoại hình (màu lông da thịt ) được người chăn nuôi và người tiêu dùng ưa chuộng, người ta thường tiến hành tổ hợp lai Nhờ có công tác chọn lọc và lai tạo các giống gia cầm đ9 giúp cho ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới phát triển mạnh mẽ từ những năm đầu của thế kỷ 19 Nước Anh và một số quốc gia khác ở Châu Âu đ9 du nhập các giống gà từ các nước vùng vịnh, Trung Quốc và vùng Đông Nam á thông qua các thương thuyền đi biển để về nghiên cứu lai tạo nhằm tạo ra gà Boiler có năng suất cao phục vụ chăn nuôi Các dòng bố đầu tiên để tạo gà Cornich ở Anh bắt nguồn từ 3 giống gà chọi

Người Mỹ phát hiện ra gà Cornich có biệt tài làm bố nên họ đ9 nghiên cứu sử dụng giống gà này tạo ra gà Broiler Từ các giống gà Cornick của Trung Quốc lai với giống gà Dominique và Java tạo nên gà Plymuth Rock vằn Trong những năm sau này từ những giống gà Plymuth Rock vằn người ta

đ9 chọn tạo ra dòng gà Plymuth Rock trắng để làm dòng mẹ sản xuất ra gà Broiler lông trắng chăn nuôi công nghiệp ở Canada người ta dùng các dòng

bố bắt nguồn từ giống Cornich của dòng Vartree có chất lượng thịt thơm ngon, lớn nhanh, ngực rộng, đùi to làm dòng bố lai với các dòng gà kiêm dụng đẻ nhiều trứng như gà Plymuth Rock trắng

ở cộng hoà Cuba, gà Broiler cũng được tạo ra từ các dòng gà Cornich

và Plymuth Từ hai dòng gà Cornich trắng mào đơn P1, L2 và hai dòng Plymuth trắng B7 và B1

Trang 36

H9ng Grimaud Freres sö dông trèng G99 lai víi m¸i GF t¹o con lai ë

63 ngµy, khèi l−îng c¬ thÓ 2100g, tiªu tèn thøc ¨n/kg t¨ng träng khèi l−îng c¬ thÓ lµ 2,22 kg Trèng G99 lai víi m¸i GF26 t¹o con lai ë 63 ngµy tuæi cã khèi l−îng c¬ thÓ 1900g, tiªu tèn thøc ¨n/kg t¨ng träng khèi l−îng c¬ thÓ 2,49kg Trèng L11 vµ m¸i GF86 t¹o con lai ë 63 ngµy, khèi l−îng c¬ thÓ 2730g, tiªu tèn thøc ¨n/kg t¨ng träng khèi l−îng c¬ thÓ 2,48kg Trèng L11 va m¸i GF26 t¹o t¹o con lai ë 63 ngµy, khèi l−îng c¬ thÓ 2480g, tiªu tèn thøc

¨n/kg t¨ng träng khèi l−îng c¬ thÓ 2,47kg

Trung Quèc n−íc l¸ng giÒng gÇn ViÖt Nam còng ®9 thµnh c«ng trong lÜnh vùc chän läc vµ lai t¹o c¸c dßng gµ l«ng mµu th¶ v−ên Gµ Tam Hoµng lµ nhãm gièng cã nguån gèc tõ Salen (Qu¶ng §«ng - Trung Quèc) sau nµy cã tªn lµ Th¹ch Kú Thêi k× ®Çu gµ cã tÇm vãc bÐ, sinh s¶n kÐm, cuèi n¨m 1970

Trang 37

công ty gia cầm Bạch Vân - Quảng Tây đ9 cho lai gà này với gà Kabir lông trắng tạo ra giống gà Thạch Kỳ Tạp, sau đó tiếp tục chọn lọc và nhân giống, dùng gà Jiang Thôn lai với gà Thạch Kỳ Tạp đ9 tạo ra giống gà Tam Hoàng gồm hai dòng 882 và Jiangcun

Xí nghiệp gà giống Nam Ninh - Trung Quốc cũng dùng gà trống địa phương lai với gà mái nhập ngoại tạo ra nhóm giống gà Lương Phượng có chất lượng thịt ngon, sức đẻ trứng và khả năng cho thịt tốt, gà thương phẩm nuôi 65 ngày đạt 1,5 - 1,6 kg/con, chí phí thức ăn/1 kg tăng khối lượng cơ thể 2,4 - 2,6

kg, tỷ lệ nuôi sống đạt trên 95%

Khi nghiên cứu ưu thế lai về sức sống FairFull và Growe (1990) [62] cho biết ưu thế lai về sức sống cao từ 9 - 24% và không phải con lai nào cũng thể hiện ưu thế lai Ưu thế lai của sức sống là kết quả tương tác tổ hợp của các yếu tố ảnh hưởng đặc biệt là của một số bệnh và yếu tố stress Hill và cộng sự (1954) [68] cho rằng hệ số di truyền của sức sống và khả năng kháng bệnh là 0,06 Tính trạng này được tính ở các giai đoạn nuôi dưỡng khác: gà con (từ 0,

28, 42, 56, 63 ngày tuổi); gà dò (từ 63 - 119 ngày tuổi), gà hậu bị (từ 120-161 ngày tuổi) và gà đẻ (từ 162-252 ngày tuổi hoặc đến hết 448 ngày) Gavorah, (1990) [64] thì thông báo hệ số di truyền tỷ lệ chết là 0,07 và hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25

Khả năng thụ tinh là một tính trạng của con bố và con mẹ, con cái lai chịu ảnh hưởng ưu thế lai của tỷ lệ phôi, còn con trống lai thì ảnh hưởng rất ít (Horn và Kalley, 1980) [69] Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho rằng tỷ lệ nở phụ thuộc do một vài gen chi phối, tỷ lệ nở phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh, khối lượng trứng, chỉ số hình thái, thời gian và chế độ bảo quản trứng ấp (nhiệt độ, độ ẩm, thông thoáng, đảo trứng) Tác giả Growe (1985) [65] cho biết ưu thế lai về tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ

nở phụ thuộc vào mùa vụ và chế độ dinh dưỡng

Trang 38

2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Song song với việc nuôi thích nghi, nuôi nhân thuần các bộ giống gà Plymuth Rock, HyBro HV 85, BE 88 Nước ta đ9 nhập tiếp các dòng gà cao sản như AA, Lohman, Ross 208, 308, ISA Vedette, Aviantừ những nguồn nguyên liệu nhập nội chúng ta đ9 tiến hành lai tạo được những tổ hợp lai có năng suất cao phục vụ sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

Phùng Đức Tiến (1996) [46] nghiên cứu một số tổ hợp lai gà Broiler giữa các dòng gà hướng thịt Ross 208 và Hydro HV 85, kết quả gà lai F1 có khả năng sinh trưởng thấp hơn từ 24,5-31,5% so với gà Ross 208, nhưng lại cao hơn gà HyBro HV 85 từ 15,67 - 20,48% Lê Hồng Mận và cs (1987) [25]

đ9 nghiên cứu tổ hợp lai giữa gà HyBro HV85 với gà Plymuth Rock cho thấy

gà lai có khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi cao hơn gà Plumuth Rock dòng TD93 từ 105,0 - 107,26g Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể thấp hơn từ 0,02 - 0,24 kg

Đoàn Xuân Trúc và cộng sự (1999) [50] đ9 khảo sát tổ hợp lai giữa gà

AA và gà HyBro HV85 cho kết quả con lai có chỉ tiêu sản xuất cao hơn gà HV85

Nguyễn Huy Đạt và cs (2003) [7] nghiên cứu tổ hợp lai giữa gà Lương Phượng với gà Ri nhằm tạo ra gà Ri cải tiến R1A3/4 và R1 B3/4 thương phẩm nuôi thịt Kết quả cho thấy, gà Ri cải tiến có ngoại hình tương tự gà Ri Khối lượng cơ thể nuôi chăn thả 75-84 ngày đạt1,4-1,5kg, tỷ lệ nuôi sống 94,4-98,4%, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 2,78-2,87 kg, có khả năng chịu đựng được với điều kiện chăn nuôi chăn thả quảng canh, chất lượng thịt thơm ngon như gà Ri

Tạ An Bình (1973) [4] đ9 sử dụng phương pháp lai kinh tế đơn giản giữa gà Plymuth Rock với gà Ri, gà Cornich với gà Ri cho kết quả con lai F1

có khối lượng cơ thể ở các giai đoạn 60, 90, 120 ngày tuổi cao hơn gà Ri Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao (1985) [45] đ9 nghiên cứu lai tạo giữa gà Rhode Island Red với gà Ri Hải Dương bằng phương pháp lai gây thành tạo giống RhodeRi Qua 4 thế hệ chọn lọc gà RhodeRi có sản lượng

Trang 39

trứng cao hơn gà Ri 8,6%

Trần Công Xuân và cs (1991) [54] ; Trần Công Xuân và cs (1999) [55], nghiên cứu tổ hợp lai kinh tế gà Leghorn và gà Rhoderi, gà Goldline 54 với gà Rhoderi cho thấy con lai F1 có sản lượng trứng cao hơn gà Rhoderi từ 12 -15%, khối lượng trứng cao hơn từ 4 - 5g/quả

Từ năm 1994 đến năm 1999 nước ta đ9 nhập một số giống gà lông màu thả vườn như Sasso, Kabir, Lương phượng, Tam Hoàng Cùng thời gian này cũng đ9 có một số nghiên cứu lai tạo giữa các giống gà trên với các giống gà nội như gà Ri, gà Mía, gà Đông Tảo nhằm tạo ra các tổ hợp lai thích hợp đáp ứng yêu cầu sản xuất cũng như thị hiếu của người tiêu dùng Nguyễn Đăng Vang và cs (1997) [53], nghiên cứu khả năng sản xuất của gà Đông Tảo và con lai giữa gà Đông Tảo và gà Tam Hoàng Jiangcun Kết quả gà lai F1 84 ngày tuổi đạt 1683,95 g/con cao hơn gà Đông Tảo 54,24 g, tiêu tốn thức ăn/1

kg tăng khối lượng cơ thể là 3,11 kg

Phạm Minh Thu và cộng sự (2001) [42], nghiên cứu khả năng cho thịt của con lai giữa gà Kabir và gà lai giữa gà Rhoderi với Jiangcun tạo con lai 3 máu Kết quả gà lai 3 máu có tỷ lệ nuôi sống cao, tốc độ sinh trưởng nhanh,

gà nuôi thịt đến 84 ngày tuổi có tỷ lệ nuôi sống 94%, khối lượng cơ thể bình quân 2013,96g/con, xấp xỉ gà Kabir (2137g/con), tiêu tốn 2,92 kg thức ăn cho

1 kg tăng khối lượng cơ thể

Hồ Xuân Tùng (2000) [44], nghiên cứu lai giữa gà Kabir với gà Ri, gà Lương phượng với gà Ri Kết quả con lai nuôi 70 ngày tuổi có khối lượng cơ thể từ 1124,1 - 1195,5g, tiêu tốn từ 2,8 - 3,1 kg thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể, tỷ lệ nuôi sống đạt 90 - 91,2%

Nguyễn Thanh Sơn và cs (2001) [34], nghiên cứu một số công thức lai giữa gà Ri với các giống gà thả vườn nhằm tạo con lai có năng suất và chất lượng thịt cao Khi cho lai giữa gà mái Ri với gà trống Kabir cho con lai có ngoại hình tương tự gà Ri, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng mà khả năng

Trang 40

tăng khối lượng cơ thể vượt trội gà Ri từ 60-70% Tiêu tốn thức ăn thấp hơn 10,7% Lúc 12 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống và chất lượng thịt đạt tương đương gà Ri Lương Thị Hồng (2005) [12], nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hmông với gà Ai cập Kết quả cho thấy gà mái lai F1 (trống Hmông với mái Ai cập) có ưu thế lai về năng suất trứng là 5,17%, tỷ lệ phôi 2,8%, tỷ lệ nở là 5,72%, tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng thấp hơn gà H’mông 27,91%

Nguyễn Thị Mười (2006) [24], tiến hành nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Ai cập với gà ác Thái Hoà Trung Quốc Tác giả cho biết gà lai thương phẩm M1 và M2 5 tuần tuổi đều có khối lượng cơ thể cao hơn gà Thái Hoà, ưu thế lai so với trung bình bố mẹ đều dương với giá trị là 13,55% ở gà M1 và 14,00% ở gà M2

Tóm lại, từ những kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy con lai đều có

ưu thế so với trung bình bố mẹ trên nhiều chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (khối lượng cơ thể, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ nuôi sống) các tổ hợp lai giữa các giống nhập nội

và giống bản địa để tạo ra con lai vẫn giữ được các đặc tính quý của giống bản

địa như dễ nuôi, khả năng tự kiếm ăn, thịt thơm ngon, màu sắc lông được người tiêu dùng ưa chuộng mà lại tăng khả năng cho thịt, trứng, giảm chi phí thức ăn, tăng hiệu quả kinh tế

Ngày đăng: 25/11/2013, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn  n, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ (1983), Di truyền học động vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà nội, tr 86, 88, 185, 196 -200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Nguyễn  n, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà nội
Năm: 1983
2. Nguyễn Tấn A nh, Lê Viết Ly, L−ơng Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiệu, Triển vọng của việc ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trong lai khác loài giữa ngan và vịt, Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học Công nghệ - Trung tâm Nghiên cứu Vịt § ại Xuyên 1988- 1993, tr. 176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học Công nghệ - Trung tâm Nghiên cứu Vịt §ại Xuyên 1988- 1993
3. Đ ặng Vũ Bình, 2002, Di truyền số l−ợng và chọn giống vật nuôi, Giáo tr×nh sau § ại học, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền số l−ợng và chọn giống vật nuôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
4. Tạ A n Bình (1973), Những kết quả b−ớc đầu về lai kinh tế gà, tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, tr.598-603 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Tạ A n Bình
Năm: 1973
6. Nguyễn Huy Đ ạt (1991), Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần Bộ giống gà Leghorn trắng trong điều kiện Việt Nam, Luậnán PTS K hoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, tr 13-15 và 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần Bộ giống gà Leghorn trắng trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Đ ạt
Năm: 1991
7. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thành Đồng, Phạm Bích H−ờng (2003), “Nghiên cứu con lai giữa gà L−ơng Ph−ợng với gà Ri nhằm chọn tạo giống gà thả v−ờn phục vụ chăn nuôi nông hộ”, Báo cáo khoa học năm 2003 , Hội nghị khoa học Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con lai giữa gà L−ơng Ph−ợng với gà Ri nhằm chọn tạo giống gà thả v−ờn phục vụ chăn nuôi nông hộ”, "Báo cáo khoa học năm 2003
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thành Đồng, Phạm Bích H−ờng
Năm: 2003
9. Nguyễn Văn Đ ức, Trần Long, Giang Hồng Tuyến (2006), Cơ sở di truyền và thống kê ứng dụng trong công tác giống gia cầm, NXB N ông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền và thống kê ứng dụng trong công tác giống gia cầm
Tác giả: Nguyễn Văn Đ ức, Trần Long, Giang Hồng Tuyến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
10. F.B.Hutt, 1978, “Di truyền học động vật” (Phan Cự Nhân dịch), NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, tr.349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật”
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
12. L−ơng Thị Hồng (2005), Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hmông và gà A i cập, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, tr.47- 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hmông và gà Ai cập
Tác giả: L−ơng Thị Hồng
Năm: 2005
13. Lê Thị á nh Hồng, Nguyễn Hữu Đ ông, Đ ặng Thị Chín (1995), Ư u thế lai và việc sử dụng nó trong tạo giống cà chua, Tạp chí Sinh học,Hà nội, tr.7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Sinh học
Tác giả: Lê Thị á nh Hồng, Nguyễn Hữu Đ ông, Đ ặng Thị Chín
Năm: 1995
14. Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994), Chăn nuôi gia cầm, NXB Nông nghiệp, tr.104-108, 122-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
16. Kushner KF (1978), Những cơ sở di truyền học của việc sử dụng −u thế lai trong chăn nuôi, trích dịch của: “Những cơ sở di truyền và chọn giốngđộng vật”, (Người dịch: Nguyễn Ân, Trần Cừ, Nguyễn Mộng Hùng, LêĐình L−ơng), Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr.280-296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở di truyền học của việc sử dụng −u thế lai trong chăn nuôi", trích dịch của: “Những cơ sở di truyền và chọn giống động vật
Tác giả: Kushner KF
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1978
17. Lê Đ ình L−ơng, Phan Cự Nhân (1994), Cở sơ di truyền học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội, tr.78-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cở sơ di truyền học
Tác giả: Lê Đ ình L−ơng, Phan Cự Nhân
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1994
19. Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng (1999), Cơ sở di truyền động vật, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền động vật
Tác giả: Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Bình Trọng
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
20. Loan Hoàng Kim Loan (1973), Công tác giống trong nghành chăn nuôi gia cầm theo quy mô công nghiệp ở Liên Xô, Viện thông tin khoa học và kỹ thuật Trung −ơng, tr.4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giống trong nghành chăn nuôi gia cầm theo quy mô công nghiệp ở Liên Xô
Tác giả: Loan Hoàng Kim Loan
Năm: 1973
21. Trần Long (1994), Xác định đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt HyBro HV 85, Luận án PTS K hoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt HyBro HV 85
Tác giả: Trần Long
Năm: 1994
22. Ngô Giản Luyện, 1994, Nghiên cứu một số tính trạng năng suất các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam, luận án PTS Khoa học Nông nghiệp Viện KHKT Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng năng suất các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam
23. Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đ oàn, Hoàng Thanh (2009), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đ oàn, Hoàng Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2009
24. Nguyễn Thị M−ời (2006), Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Ai cập với gà ác Thái Hoà Trung Quốc, Luận văn Thạc sỹ, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Ai cập với gà ác Thái Hoà Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Thị M−ời
Năm: 2006
25. Lê Hồng Mận, Đ ào Xuân Trúc, Nguyễn Huy Đ ạt, Nguyễn Thanh Sơn (1987), Nghiên cứu các tổ hợp lai giữa gà trống thịt HV 85 và Plymuth Rock. Tuyển tập công trình Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật gia cầm 1986-1996, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội, tr.26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật gia cầm 1986-1996
Tác giả: Lê Hồng Mận, Đ ào Xuân Trúc, Nguyễn Huy Đ ạt, Nguyễn Thanh Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Chế độ dinh d−ỡng của gà thí nghiệm - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 3.1. Chế độ dinh d−ỡng của gà thí nghiệm (Trang 43)
Bảng 4.1. Một số đặc điểm ngoại hình của gà thí nghiệm - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.1. Một số đặc điểm ngoại hình của gà thí nghiệm (Trang 50)
Bảng 4.2. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.2. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi (Trang 56)
Bảng 4.3. Khối l−ợng gà thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi  (n = 50 con) - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.3. Khối l−ợng gà thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi (n = 50 con) (Trang 59)
Hình 4.1. Khối l−ợng gà mái thí nghiệm  từ 0-19 tuần tuổi - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Hình 4.1. Khối l−ợng gà mái thí nghiệm từ 0-19 tuần tuổi (Trang 60)
Hình 4.2. Khối l−ợng gà mái thí nghiệm ở 9 và 19 tuần tuổi - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Hình 4.2. Khối l−ợng gà mái thí nghiệm ở 9 và 19 tuần tuổi (Trang 60)
Bảng 4.4. L−ợng thức ăn thu nhận - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.4. L−ợng thức ăn thu nhận (Trang 62)
Bảng 4.5. Tuổi thành thục sinh dục (ngày) - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.5. Tuổi thành thục sinh dục (ngày) (Trang 64)
Bảng 4.6. Khối l−ợng trứng gà thí nghiệm (n = 100) - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.6. Khối l−ợng trứng gà thí nghiệm (n = 100) (Trang 66)
Bảng 4.7. Khối l−ợng  gà trong giai đoạn đẻ - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.7. Khối l−ợng gà trong giai đoạn đẻ (Trang 67)
Hình 4.3. Khối l−ợng gà mái thời kỳ đẻ trứng - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Hình 4.3. Khối l−ợng gà mái thời kỳ đẻ trứng (Trang 68)
Hình 4.4. Tỷ lệ đẻ của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Hình 4.4. Tỷ lệ đẻ của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (Trang 72)
Bảng 4.9. Năng suất trứng và −u thế lai  của đàn gà thí nghiệm - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Bảng 4.9. Năng suất trứng và −u thế lai của đàn gà thí nghiệm (Trang 75)
Hình 4.5. Năng suất trứng của gà thí nghiệm (quả/mái/72 tuần tuổi) - Luận văn khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống hisex white và gà mái ai cập
Hình 4.5. Năng suất trứng của gà thí nghiệm (quả/mái/72 tuần tuổi) (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w