luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRƯƠNG HỮU NAM
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
ðỒNG BÀO DÂN TỘC MÃ LIỀNG, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TUẤN SƠN
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong
Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ
một học vị nào
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện Luận văn này
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này ñã ñược
chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2010
Tác giả luận văn
Trương Hữu Nam
Trang 3LỜI CẢM ƠN
để thực hiện và hoàn thành Luận văn này, tác giả ựã nhận ựược sự
quan tâm giúp ựỡ tận tình về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân
Trước tiên, tôi xin ựược bày tỏ lòng cảm ơn ựến Ban Giám hiệu Trường
đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn, Bộ môn Phân tắch ựịnh lượng ựã tạo mọi ựiều kiện cho
tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc ựến PGS.TS Nguyễn Tuấn
Sơn, người thầy ựã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp ựỡ tôi hoàn thành
Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Trường đại học Hà Tĩnh, Văn phòng UBND
nhân tỉnh Hà Tĩnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông, Sở Khoa học và Công
nghệ, Sở Giáo dục và đào tạo, Sở Y tế, Cục Thống Kê Hà Tĩnh, Uỷ ban nhân
dân các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang, Uỷ ban nhân dân các xã
Hương Liên, Hương Vĩnh, Hương Lâm, Hương Trạch, Phú Gia (huyện
Hương Khê), Sơn Kim (huyện Hương Sơn), Hương Quang (huyện Vũ
Quang), các hộ ựồng bào dân tộc Mã Liềng trong tỉnh ựã tạo ựiều kiện và giúp
ựỡ vô tư, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan ựể giúp tôi hoàn thành Luận
văn
Cảm ơn bạn bè, ựồng nghiệp, người thân ựã ựộng viên, giúp ựỡ tôi
hoàn thành Luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2010
Tác giả luận văn
Trương Hữu Nam
Trang 4MỤC LỤC
I MỞ ðẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục tiêu của ñề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 ðối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Phạm vi về nội dung 3
1.4.2 Phạm vi về không gian 3
1.4.3 Phạm vi về thời gian 3
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Lý luận chung về phát triển 4
2.1.2 Tư tưởng, quan ñiểm chỉ ñạo thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam 6
2.1.3 Lý luận và thực tiễn ñặc thù liên quan ñến phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số 10
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Về thành phần dân tộc tỉnh Hà Tĩnh 16
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội ñối với ñồng bào dân tộc thiểu số trong nước và quốc tế 26
Trang 5III ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 ðặc ñiểm ñịa bàn 30
3.1.1 ðiều kiện tự nhiên và những vấn ñề về môi trường sinh thái vùng dân tộc và miền núi tỉnh Hà Tĩnh 30
3.1.2 ðiều kiện kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi tỉnh Hà Tĩnh 34
3.1.3 ðiều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái vùng ñồng bào dân tộc Mã Liềng cư trú 38
3.1.4 ðiều kiện kinh tế - xã hội vùng ñồng bào dân tộc Mã Liêng cư trú 39
3.1.5 Phát triển dân số và phân bố dân cư 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Chọn ñiểm nghiên cứu 43
3.2.2 Thu thập tài liệu 43
3.2.3 Tổng hợp, xử lý số liệu 44
3.2.4 Phương pháp phân tích 44
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Thực trạng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 45
4.1.1 Thực trạng phát triển kinh tế 45
4.1.2 Thực trạng về ñời sống văn hóa 58
4.1.3 Thực trạng vấn ñề xã hội của ñồng bào dân tộc Mã Liềng 79
4.1.4 Giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe của ñồng bào dân tộc Mã Liềng 87
4.2 Nhận xét và ñánh giá chung 90
4.3 Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ñồng bào dân tộc Mã Liềng thời gian tới 91
4.3.1 Quan ñiểm của ðảng về chính sách dân tộc 91
4.3.2 Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ñồng bào dân tộc Mã Liềng 95
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
5.1 Kết luận 103
5.2 Kiến nghị 104
Trang 6DANH MỤC BẢNG
2.1 Kết quả ñiều tra ñối tượng dân tộc ñặc biệt khó khăn 17
2.2 Kết quả kiểm tra sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân 17
2.3 Số lượng ñồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi Hà Tĩnh theo sự tự nhận19 2.4 Số người dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh nói ñược tiếng mẹ ñẻ 20
2.5 Ngôn ngữ của Người mã Liềng 25
3.1 Số liệu về dân số của người Mã Liềng qua các năm (1966-2010) 41
3.2 Bình quân nhân khẩu trong một hộ 42
3.3 Tổng hợp số người theo ñộ tuổi ñồng bào dân tộc Mã Liềng 42
4.1 Tình hình sản xuất của ñồng bào dân tộc Mã Liềng 45
4.2 Tầm quan trọng các dạng hình kinh tế của ñồng bào dân tộc Mã Liềng tỉnh Hà Tĩnh 48
4.3 Số lượng ñàn gia súc, gia cầm ở các ñiểm tụ cư 54
4.4 Tình hình ñời sống ñồng bào dân tộc Mã Liềng 56
4.5 Cơ cấu thu nhập của ñồng bào dân tộc Mã Liềng 56
4.6 Cơ cấu chi tiêu của hộ gia ñình dân tộc Mã Liềng 57
4.7 Tổng hợp tình hình giáo dục ñồng bào dân tộc Mã Liềng 88
4.8 Tình hình sức khỏe ñồng bào dân tộc Mã Liềng 90
Trang 7DANH MỤC ðỒ THỊ, BIỂU ðỒ VÀ SƠ ðỒ
3.1 Dân số người Mã Liềng 41
4.1a Tình hình ñời sống và xã hội người Mã Liềng Bản Rào Tre 46
4.1b Tình hình ñời sống và xã hội người Mã Liềng Bản Giàng II 47
4.1 Bố trí nhà sàn của người Mã Liềng 61
4.2 Bố trí nhà trệt của người Mã Liềng 61
Trang 8I MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi cả nước nĩi chung, tỉnh Hà Tĩnh nĩi riêng, giàu truyền thống yêu nước, kề vai sát cánh bên nhau, cùng chung một vận mệnh lịch sử và gắn bĩ với Tổ quốc Việt Nam, đồn kết, trung thành với ðảng, Bác Hồ đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng, giải phĩng dân tộc, thống nhất đất nước; truyền thống đĩ tiếp tục được phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiến hành cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, dân cư phân bố khơng đều, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí thấp, các lĩnh vực kinh tế - xã hội chậm phát triển, tỷ lệ đĩi nghèo cịn ở mức cao, văn hĩa của một số dân tộc đang đứng trước nguy cơ mất dần bản sắc riêng, mơi trường sinh thái bị xâm hại, đời sống cịn gặp nhiều khĩ khăn, thiếu bền vững
Văn kiện ðại hội X của ðảng khẳng định: "Vấn đề dân tộc và đồn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta" [16]
Việc chăm lo nâng cao đời sống bền vững cho đồng bào vùng dân tộc và miền núi tỉnh Hà Tĩnh cũng là một phần cụ thể hĩa các quan điểm của ðảng và
chính sách của Nhà nước ta đối với đồng bào các dân tộc và miền núi
Hà Tĩnh mảnh đất giàu truyền thống văn hố - nơi sinh tụ của khơng nhiều các dân tộc anh em nĩi ngữ hệ Việt - Mường Mặc dù, đã được biết đến
từ lâu nhưng cho đến nay chưa cĩ một nghiên cứu nào về dân tộc thiểu số ở
Hà Tĩnh nĩi chung và người Mã Liềng nĩi riêng
Hiện tại, đời sống của người Mã Liềng đang gặp rất nhiều khĩ khăn, tỷ
lệ hộ đĩi nghèo cao, khoảng cách giàu nghèo giữa đồng bào dân tộc Mã Liềng
và đồng bào dân tộc Kinh khá lớn và đang cĩ xu hướng ngày càng gia tăng
Trang 9ðể giúp ñồng bào vươn lên ñuổi kịp các dân tộc khác trong cộng ñồng các dân tộc Việt Nam ñòi hỏi phải có các chính sách ñồng bộ hợp lý từ Trung ương ñến ñịa phương
Thời gian qua Nhà nước và ñịa phương ñã có nhiều chương trình, dự án ñầu tư giúp ñỡ ñồng bào dân tộc Mã Liềng nhưng hiệu quả mang lại chưa ñược như mong muốn Thu nhập và mức sống của ñồng bào còn thấp, các dạng hình kinh tế lạc hậu, ñời sống văn hoá nghèo nàn, quan hệ xã hội biệt lập Một trong những nguyên nhân của tình hình trên là do hiểu biết về phong tục tập quán của người Mã Liềng còn quá ít ỏi nên các chương trình,
dự án mang nặng tính chủ quan, áp ñặt từ phía các cấp quản lý, chưa xuất phát
từ ñời sống và mong muốn của ñồng bào
ðể có cơ sở giúp các ban, ngành của tỉnh trong việc hoạch ñịnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội từng bước nâng cao ñời sống ñồng bào dân tộc
Mã Liềng vốn ñang rất khó khăn hiện nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề
tài: “Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ñồng bào dân tộc Mã Liềng, tỉnh
Trang 10- Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng ñến sự phát triển kinh
tế - xã hội dân tộc Mã Liềng tỉnh Hà Tĩnh;
- ðề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội cho ñồng bào dân tộc Mã Liềng tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới
1.3 ðối tượng nghiên cứu
ðồng bào dân tộc Mã Liềng tỉnh Hà Tĩnh
ðề tài thực hiện từ tháng 10 năm 2009 ñến tháng 12 năm 2010
Thông tin, số liệu liên quan ñược thu thập từ năm 2009 trở về trước
Trang 11II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận chung về phát triển
Lịch sử phát triển của xã hội loài người ñã trải qua nhiều giai ñoạn thăng trầm và ñã ghi lại những dấu ấn ñậm nét tương ứng với từng hình thái
xã hội khác nhau Ở mỗi giai ñoạn lịch sử ñó, mỗi hình thái xã hội ñều có những bước phát triển tích cực, ñồng thời cũng có những tác ñộng tiêu cực ñến chất lượng cuộc sống của con người ðến thế kỷ thứ XX, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ ñã bùng nổ ñến ñỉnh ñiểm, chất lượng sống của xã hội loài người ñã có những bước tiến rõ rệt do khoa học, công nghệ và năng suất lao ñộng xã hội mang lại Những của cải ñược nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và càng phong phú về chủng loại ñã phần nào thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, ñã ñưa tới sự phát triển nhanh của nền văn minh nhân loại Song cũng chính từ sự phát triển ấy ñã làm nảy sinh một số vấn ñề ngày càng nổi cộm như: tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên, năng lượng; thiên tai, bão, lũ lụt, ô nhiễm
và sự cố môi trường ngày càng gia tăng ñã làm ảnh hưởng ñến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại ñối với sự phát triển kinh tế - xã hội và làm suy giảm tài nguyên và môi trường, ảnh hưởng trực tiếp ñến chất lượng sống, ñe dọa cuộc sống của con người hiện tại và trong tương lai
ðứng trước áp lực của thực tế nghiệt ngã này, con người không còn cách lựa chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của mình với thiên nhiên, phương sách phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển của mình Vấn ñề bức xúc là con người phải tìm ra một con ñường phát triển
mà trong ñó các vấn ñề dân số, kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường phải ñược xem xét một cách tổng thể, nhằm hạn chế những tác ñộng cản trở ñến sự phát triển chung Cách lựa chọn duy nhất ñó là con ñường phát triển có sự kết
Trang 12hợp hài hoà cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, ựó chắnh là con ựường phát triển bền vững
Phát triển bền vững là khái niệm mới xuất hiện gần ựây, trong báo cáo của Hội ựồng Thế giới về Môi trường và Phát triển năm 1987, khái niệm phát triển bền vững mới ựược sử dụng một cách chắnh thức trên quy mô quốc tế và ựược ựịnh nghĩa như sau:
"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm ựáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc ựáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"
Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá,
xã hội, môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người ở các thế hệ hiện tại cũng như trong tương lai
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể ựược ựánh giá bằng những tiêu chắ nhất ựịnh về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường:
Phát triển bền vững về kinh tế ựòi hỏi phải ựảm bảo kết hợp hài hòa giữa
mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, cân ựối tốc ựộ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các ựiều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, ựặc biệt chú trọng ựến phát triển công nghệ sạch
Phát triển bền vững về xã hội ựó là phải xây dựng một xã hội trong ựó
có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn ựịnh phải ựi ựôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong ựó giáo dục ựào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải ựược chăm lo ựầy ựủ và toàn diện cho mọi ựối tượng trong xã hội
Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyên
thiên nhiên tái tạo phải ựược sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục ựược cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải ựược sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khắ, ựất, nước, cảnh quan thiên nhiên và môi trường xã hội (dân số, chất
Trang 13lượng dân số, sức khoẻ, môi trường sống, lao ñộng và học tập của con người ) nhìn chung không bị các hoạt ñộng của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt ñược xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường ñược bảo ñảm, con người ñược sống trong môi trường trong sạch [31]
Những tiêu chí nói trên là những ñiều kiện cần và ñủ ñể ñảm bảo sự phát triển bền vững của một xã hội, nếu thiếu một trong những ñiều kiện ñó thì sự phát triển sẽ ñứng trước nguy cơ mất bền vững
2.1.2 Quan ñiểm phát triển bền vững ở Việt Nam
Tư tưởng và quan ñiểm về phát triền bền vững ñã ñược ðảng và Nhà nước ta quan tâm từ khá sớm và là vấn ñề nhất quán trong các chủ trương, chính sách của ðảng, Chính phủ và Quốc hội, ñã ñược thể hiện trong các văn kiện, các chương trình, kế hoạch phát triển ñất nước phù hợp với từng thời kỳ khác nhau
Có thể nói tư tưởng và mong muốn về phát triển bền vững ở Việt Nam
ñã ñược hình thành ngay từ năm 1945, khi thành lập nước Việt Nam mới - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - mong muốn ấy ñược thể hiện ngay trong bản quốc ca hùng tráng của nước ta, "xây dựng nước non Việt Nam ta vững bền" Với lời lẽ trong sáng ñầy ý nguyện tốt lành ấy chính là ñiều mong ước cho một tương lai ñất nước phát triển trường tồn
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, tư tưởng phát triển bền vững ñã ñược thể hiện trong Văn kiện ðại hội ñại biểu ðảng toàn quốc lần thứ III Trong Văn kiện này "phát triển bền vững" ñược thể hiện bằng cụm từ "tiến vững chắc" và ñã ñược khẳng ñịnh "ñưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" [14]
Quan ñiểm phát triển bền vững ñã ñược khẳng ñịnh trong Quyết ñịnh
số 187-CT (ngày 12/06/1991) của Chính phủ, Nhà nước ta ñã chính thức công
Trang 14bố "Kế hoạch hành ñộng Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai ñoạn 1991 - 2000" [8]
Năm 1992, Việt Nam ñã cam kết thực hiện tuyên ngôn về môi trường
và phát triển bền vững ñược thông qua tại "Hội nghị Thượng ñỉnh về môi trường và phát triển bền vững" với sự tham gia của 179 quốc gia trên thế giới tại Rio de Janeiro, Braxin
Năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường ñã ñược Quốc hội nước ta thông qua Luật này cụ thể hoá ñiều 29 của Hiến pháp năm 1992 trong công tác quản lý Nhà nước về môi trường, giao trách nhiệm cho chính quyền các cấp, các cơ quan và mọi công dân trong việc bảo vệ môi trường, tuân thủ các nguyên tắc bảo vệ môi trường, là cơ sở pháp lý ñể ñiều chỉnh các hoạt ñộng, các hành vi của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và toàn xã hội Luật Bảo vệ môi trường ñược ban hành ñã nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, ñơn vị vũ trang nhân dân ñảm bảo quyền con người ñược sống trong môi trường lành mạnh, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của ñất nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu
Năm 1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ðảng cộng sản Việt Nam ñã ra chỉ thị số 36-CT/TW, trong ñó quan ñiểm về phát triển bền vững ñã ñược khẳng ñịnh Nội dung của chỉ thị số 36-CT/TW nhấn mạnh:
"Bảo vệ môi trường là nội dung cơ bản không thể tách rời trong ñường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành là cơ sở quan trọng bảo ñảm phát triển bền vững" [5]
Năm 2001, tại ðại hội lần thứ IX của ðảng lần ñầu tiên ðảng ta ñã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) trong ñó
ñã khẳng ñịnh quan ñiểm phát triển ñất nước là: "Phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững, tăng trưởng kinh tế ñi ñôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ
Trang 15và cải thiện môi trường, ñảm bảo sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, gìn giữ ña dạng sinh học" [15]
Năm 2003, Chính phủ Việt Nam chính thức phê duyệt "Chiến lược bảo
vệ môi trường Quốc gia ñến năm 2010 và ñịnh hướng ñến năm 2020", trong
ñó quan ñiểm về phát triển bền vững ñược tái khẳng ñịnh: "Bảo vệ môi trường mang tính Quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững" [9] Chiến lược này ñã ñược ñánh giá khách quan diễn biến ngày càng xấu ñi của môi trường nước ta, nhận dạng 8 thách thức cơ bản
và nêu rõ quan ñiểm chỉ ñạo thực hiện bảo vệ môi trường trong thời gian tới Năm 2004, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ðảng ñã ban hành Nghị quyết 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ ñẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện ñại hoá ñất nước, trong ñó nêu rõ các quan ñiểm là "Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải ñược thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng ñịa phương Khắc phục
tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường ðầu tư cho bảo vệ môi trường là ñầu tư cho phát triển bền vững" [6] Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ñã phê duyệt "ðịnh hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) ðịnh hướng này là một chiến lược khung bao gồm những ñịnh hướng lớn về kinh tế, xã hội và môi trường làm cơ sở pháp lý ñể các bộ, ngành, ñịa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện nhiệm vụ của mình và cùng phối hợp hành ñộng nhằm bảo ñảm sự phát triển bền vững của ñất nước Năm 2005, Chính phủ ñã triển khai Chương trình hành ñộng cụ thể hoá các nhiệm vụ, giải pháp ñể thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị
về bảo vệ môi trường trong thời kỳ ñẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện ñại hoá ñất nước nhằm ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi
Trang 16trường, phục hồi và từng bước nâng cao chất lượng mơi trường, kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hồ giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ xã hội và bảo vệ mơi trường phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh
Năm 2005, Quốc hội nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam khố
XI tại kỳ họp thứ 8 đã thơng qua Luật Bảo vệ mơi trường sửa đổi Luật Bảo
vệ mơi trường sửa đổi năm 2005 đã thể hiện các quan điểm và nguyên tắc sau đây: Quán triệt, thể chế hố quan điểm Nghị quyết ðại hội lần thứ IX của ðảng về việc cần thiết phải "phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đơi với bảo đảm tiến bộ, cơng bằng xã hội và bảo vệ mơi trường" [15]; đặc biệt là các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về Bảo
vệ mơi trường trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước Năm 2006, quan điểm phát triển bền vững càng được khẳng định đậm nét hơn và đã trở thành khẩu hiệu hành động của ðại hội đại biểu ðảng tồn quốc lần thứ X, đĩ là: "ðại hội của trí tuệ, đổi mới, đồn kết và phát triển bền vững" [16] Quan điểm đĩ đã được xác định trong văn kiện ðại hội ðảng và được cụ thể hố trong các chương trình hành động của Chính phủ
Năm 2006 là năm đầu tiên được đổi mới cơng tác kế hoạch hố theo hướng phát triển bền vững, mọi chỉ tiêu kế hoạch đều được các thành phần trong xã hội cùng tham gia xây dựng để tạo sự đồng thuận chung của xã hội, đặc biệt đã cĩ sự tham gia của các tổ chức quốc tế để tăng cường hội nhập quốc tế và tăng khả năng thu hút thêm nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước
Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 đã xác định rõ các mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế - xã hội và mơi trường Nhiều chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội đã được rà sốt theo hướng phát triển bền vững ðặc biệt các chỉ tiêu kế hoạch về mơi trường đã được chú trọng nhiều hơn, nhiều chỉ tiêu
Trang 17phát triển bền vững ñã ñược bổ sung, cụ thể hoá như: ðến năm 2010 ñưa tỉ lệ che phủ lên trên mức 43%, tăng diện tích cây xanh ở các khu ñô thị; 95% dân
cư thành thị và 75% dân cư ở nông thôn ñược sử dụng nước sạch; ðến năm
2010, 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc ñược trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải ñạt tiêu chuẩn về môi trường, 50% các cơ sở sản xuất kinh doanh ñạt tiêu chuẩn về môi trường, 40% các khu ñô thị và 70% các khu công nghiệp, 90% chất thải rắn ñược thu gom, xử lý ñược trên 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải bệnh viện [16]…
Như vậy, có thể khẳng ñịnh rằng: Tư tưởng, quan ñiểm chỉ ñạo thực hiện phát triển bền vững ở nước ta ñã trở thành quan ñiểm chỉ ñạo nhất quán của ðảng, hành ñộng cụ thể của Chính phủ, ý chí của toàn dân, nó xuyên suốt mọi chủ trương, chính sách của ðảng và Chính phủ và ñược cụ thể hoá thành mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta, ñược thể chế hoá thành những văn kiện của ðảng, chương trình hành ñộng của Chính phủ và chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước
2.1.3 ðặc thù phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số
2.1.3.1 Khái niệm về dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số ñông nhất trong một nước có nhiều dân tộc [26]
Khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân
số trong một quốc gia ña dân tộc và không mang ý nghĩa phân biệt ñịa vị, trình ñộ phát triển của các dân tộc ðịa vị, trình ñộ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó ñược chi phối bởi những ñiều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng ñể chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia ña dân tộc và cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so
Trang 18sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc cĩ thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời cĩ thể là “thiểu số” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc)…
2.1.3.2 ðặc thù phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số
ðịnh hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã xác định rõ chính sách dân tộc nhất quán của ðảng và Nhà nước là tăng cường đồn kết, giúp đỡ lẫn nhau tập trung xĩa bỏ đĩi nghèo, lạc hậu, xĩa bỏ sự chênh lệch mọi mặt giữa các vùng, các dân tộc, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh ðặc biệt đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi cĩ những đặc thù riêng về địa lý, phân bố dân cư thưa thớt, địa hình hiểm trở, giao thơng đi lại khĩ khăn và dân trí cịn thấp do ít cĩ điều kiện tiếp xúc, giao lưu kinh tế, văn hố với tồn xã hội
Do điều kiện lịch sử để lại, sự phát triển của các dân tộc ở Việt Nam khơng đồng đều, mức sống ở nhiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi cịn rất thấp, đĩi nghèo và lạc hậu hiện cịn là thách thức lớn đối với quá trình phát triển, địi hỏi phải cĩ nhiều giải pháp đồng bộ để giải quyết tình trạng này, trong đĩ cần nghiên cứu những đặc thù của vùng dân tộc thiểu số và miền núi (điều kiện tự nhiên của địa hình, mơi trường sinh thái, cơ sở hạ tầng, phong tục tập quán và nhu cầu của từng nhĩm người, từng cộng đồng xã hội, nghiên cứu đặc điểm kinh tế, lao động, tài nguyên đất đai, khống sản, rừng và nguồn lợi kinh tế của rừng ) để xây dựng và ban hành các thể chế, chính sách riêng cho phù hợp với những đặc thù đĩ, trước mắt cần hồn thiện thể chế phát triển bền vững
Nhìn chung, một hệ thống kinh tế - xã hội muốn phát triển bền vững thì
sự phát triển của từng hệ thống cấu thành nên hệ thống đĩ phải phát triển bền vững Nhưng các hệ thống cấu thành về kinh tế - xã hội và mơi trường lại
Trang 19khơng phát triển một cách độc lập mà chúng luơn tác động qua lại lẫn nhau về
cả hai mặt, theo chiều thuận (tạo ra bền vững chung) và theo chiều nghịch (khơng tạo ra bền vững chung) ðây là tính hai mặt của sự phát triển kinh tế -
xã hội trong tiến trình phát triển của xã hội lồi người và là quy luật biện chứng khách quan Song con người, với tư cách là trung tâm của sự phát triển
cĩ thể chủ động điều chỉnh được quá trình đĩ theo hướng bền vững, nhưng cũng cĩ thể là tác nhân gây ra phát triển khơng bền vững, điều đĩ phụ thuộc vào nhận thức, hiểu biết của con người ðối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi càng cần chú trọng hơn về vấn đề này, bởi vì đặc thù riêng của khu vực này là cĩ rất nhiều điểm khơng thuận lợi để phát triển bền vững theo quy luật khách quan như đã nêu ở trên
Hồn thiện thể chế nĩi chung và thể chế đối với vùng dân tộc thiểu số
và miền núi nĩi riêng phải bao gồm 2 nhĩm vấn đề, đĩ là: Thiết lập đầy đủ hệ thống các quy tắc, luật lệ đủ rõ ràng và đủ sức định hướng đúng các hành vi
đa dạng của con người trong các hoạt động kinh tế, xã hội nhằm đạt tới sự phát triển con người trong dài hạn và phải xây dựng các chế tài xử lý cĩ hiệu lực những hành vi vi phạm quy tắc, luật lệ đã ban hành ðiều này rất khĩ và càng khĩ hơn đối với những vùng dân trí chưa cao, vì thế cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức phát triển cho tồn cộng đồng Tuyên truyền giáo dục phải đa dạng, dưới mọi hình thức, đơn giản, dễ hiểu và phù hợp với trình độ của từng đối tượng
Hồn thiện thể chế chính trị nhằm phát triển bền vững bao gồm xây dựng nhĩm chính sách nhằm tăng cường khối đại đồn kết tồn dân nĩi chung
và trong từng cộng đồng hoặc giữa các nhĩm người trong xã hội nĩi riêng Vùng dân tộc thiểu số và miền núi cĩ đặc thù là mật độ dân cư thấp hơn nhiều
so với vùng đơ thị và đồng bằng, nhưng tính đa dạng về sắc tộc lại cao hơn nhiều, vì thế cũng cần phải cĩ các cơ chế, chính sách mang tính đặc thù đối
Trang 20với từng nhóm người có số lượng khác nhau Tuy nhiên, không thể trái với những quy ựịnh chung của các văn bản pháp luật do Nhà nước ựã ban hành
Phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cấp chắnh quyền Nhà nước từ Trung ương ựến các làng bản, cần chú trọng ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ựặc biệt ắt người, dân trắ chưa cao Mở rộng và ựa dạng hoá các hình thức tập hợp cộng ựồng, nâng cao vị trắ vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các ựoàn thể nhân dân trong việc thực hiện ựại ựoàn kết dân tộc Tăng cường công tác chắnh trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự ựồng thuận trong cộng ựồng, xã hội, ựẩy mạnh phong trào thi ựua yêu nước, ựa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống yêu nước, trách nhiệm công dân, ựạo ựức xã hội, ựạo ựức nghề nghiệp trong nhân dân; phát ựộng sâu rộng các phong trào thi ựua yêu nước, toàn dân ựoàn kết phấn ựấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Hoàn thiện thể chế kinh tế nhằm phát triển bền vững ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phù hợp với hệ thống luật pháp về kinh tế vĩ mô tạo ựiều kiện thuận lợi ựể các tổ chức kinh tế của các dân tộc thiểu số ựược hình thành
và phát triển bình ựẳng tương tự như các nhóm người khác trong toàn xã hội Hoàn thiện thể chế xã hội nhằm phát triển bền vững, bao gồm công tác xoá ựói, giảm nghèo Thể chế ựô thị hoá và di dân nhằm phát triển bền vững
ựô thị, phát triển nhiều thị trấn, thị tứ ở miền núi, tạo ra nhiều tụ ựiểm dân cư ựông ựể thuận lợi trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội đô thị hoá và phát triển ựô thị là hai vấn ựề của một hiện tượng phát triển
xã hội ngày nay Một quốc gia có một chiến lược phát triển hợp lý, khoa học, thực tiễn quá trình này sẽ ựóng góp rất to lớn trong công cuộc phát triển bền vững ựất nước Vì thế, việc nghiên cứu chủ ựề này là nhằm mục ựắch ựạt ựến việc ựề ra hệ thống các tiêu chắ xây dựng ựô thị bền vững ở miền núi đối với miền núi, việc quy hoạch, xây dựng ựô thị bền vững có nhiều thuận lợi hơn,
Trang 21bởi vì quỹ ñất ñai cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan môi trường sinh thái phong phú hơn vùng ñồng bằng và trung du Vùng dân tộc thiểu số và miền núi cần phát huy ưu thế này ñể khai thác tiềm năng sẵn có phục vụ du lịch, dịch vụ và phát triển kinh tế - xã hội trong vùng
Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện ñại hoá ñất nước ñể phát triển
ñô thị hợp lý, phân bố hài hòa nhằm tránh tình trạng tập trung quá tải vào các
ñô thị lớn, góp phần xoá bỏ dần sự cách biệt giữa các vùng, giữa ñô thị và nông thôn, chúng ta phải có cách nhìn tổng quan mỗi ñô thị trong một hệ thống phân bố dân cư ñược liên kết chặt chẽ với nhau theo vùng lãnh thổ và cao hơn có thể là trên phạm vi toàn quốc Hoạch ñịnh ñược hệ thống ñô thị hợp
lý, ñồng bộ với nghiên cứu tổng thể phát triển bền vững kinh tế - xã hội Do ñó, phải xây dựng chiến lược liên ngành giữa khai thác tài nguyên nhân lực, phát triển kinh tế và phân bố dân cư Công việc phải nghiên cứu liên tục trong nhiều năm và thường xuyên có ñiều chỉnh cho phù hợp với từng vùng miền
Thể chế giáo dục ñể nâng cao dân trí và trình ñộ nghề nghiệp ñối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi là việc làm cấp bách hiện nay nhằm cung cấp nguồn lực tại chỗ ñể có ñủ năng lực xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án phát triển bền vững tại ñịa phương Thể chế ñối với chăm sóc sức khỏe dân cư, cải thiện ñiều kiện lao ñộng và vệ sinh môi trường sống cũng cần ñược quan tâm ñúng mức
Hoàn thiện thể chế sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường bao gồm: Thể chế chống thoái hóa ñất, sử dụng có hiệu quả và bền vững ñất; Thể chế bảo vệ môi trường nước; Thể chế bảo vệ khoáng sản; Thể chế bảo vệ và phát triển rừng; Thể chế giảm ô nhiễm không khí ở ñô thị và các khu công nghiệp; Thể chế bảo tồn ña dạng sinh học
ðất ñai ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung còn phong phú,
ña dạng, trong những năm gần ñây mặc dù ñã ñược khai thác, sử dụng nhiều hơn cho các mục ñích kinh tế, song hiệu quả chưa cao Gần một nửa trong số
Trang 2225 triệu ha ñất dốc là ñất xấu, có tầng ñất mỏng, bị xói mòn mạnh và ñang bị suy thoái nghiêm trọng ðể khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ ñất ñai ở miền núi phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp cần hoàn thiện chính sách phát triển những ngành hàng có thể sẽ ñược phát triển trong cả nước hoặc cho từng vùng miền nhằm phát triển theo chiều sâu, tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh mà không gây tác hại ñến môi trường, giảm thiểu phương thức phát triển theo chiều rộng ðảm bảo cho sự phát triển nông nghiệp hàng hoá theo yêu cầu của thị trường Xây dựng chính sách khuyến khích ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ sạch vào sản xuất nông nghiệp theo yêu cầu vừa nâng cao năng suất, chất lượng, nhưng không gây ra những rủi ro ñối với nông dân và những người sản xuất nông nghiệp Hoàn thiện chính sách thị trường nông sản theo hướng tạo thông thoáng ñồng thời hướng dẫn người sản xuất phòng ngừa những rủi ro ñể phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững Xây dựng thể chế thúc ñẩy sự hợp tác giữa hộ, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác cùng tham gia kinh doanh nông nghiệp
ðể thực hiện mục tiêu phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi, cần chú trọng phát huy những tiềm năng, thế mạnh trong vùng, một trong những thế mạnh ñó là phát triển nghề rừng (lâm nghiệp) Trước hết ngành lâm nghiệp cần rà soát các quy hoạch, phân bố các loại rừng trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng lâm nghiệp Thực hiện tốt hơn, minh bạch hơn chính sách giao ñất, khoán rừng có chủ quản lý cụ thể Hoàn thiện chính sách công nghệ lâm nghiệp và khuyến lâm theo hướng bền vững Nâng cao năng lực hệ thống thể chế phát triển lâm nghiệp bền vững Cần xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực cho ngành lâm nghiệp bền vững, chính sách huy ñộng và
sử dụng vốn cho phát triển lâm nghiệp bền vững, khai thác, chế biến và thị trường lâm sản theo hướng bền vững và chính sách hưởng lợi từ nguồn tài nguyên rừng Triển khai các chính sách xã hội vùng lâm nghiệp nhằm ổn ñịnh
ñời sống người làm rừng ñể phát triển bền vững về xã hội ở vùng lâm nghiệp
Trang 232.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình dân tộc thiểu số tỉnh Hà Tĩnh
Các nguồn tài liệu viết về các dân tộc trong cả nước có nhiều nhưng tài liệu viết về các tộc người ở tỉnh Hà Tĩnh thì hầu như không có Những số liệu của các bản niên giám thống kê hàng năm, các tiêu chí về dân tộc không ñược
ñề cập ñến, còn số liệu của các cuộc ñiều tra dân số về lĩnh vực này cũng rất hiếm hoi
Thời kỳ chiến tranh (trước năm 1975), chưa có tài liệu nào nói về các dân tộc ñang sinh sống ở Hà Tĩnh Bởi vì lúc bấy giờ cả nước phải lo toan vào một công việc lớn nhất là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Thời gian nhập tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An (1976 - 1991) do chỗ coi các dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh chỉ là một phần rất nhỏ trong nhiều dân tộc thiểu số ở Nghệ Tĩnh nên chưa ñược quan tâm giúp ñỡ cũng như quan tâm nghiên cứu nhiều Trong Danh mục các dân tộc ở Việt Nam khi nói về ñịa bàn cư trú chủ yếu của từng dân tộc thiểu số không hề nhắc ñến Hà Tĩnh Theo Khổng Diễn
“Hà Tĩnh là một tỉnh trước ñây không có dân tộc thiểu số” [12] ðiều ñó chứng tỏ rằng: Nếu có thì tỉnh Hà Tĩnh cũng có không nhiều các dân tộc Trong cuốn lịch sử Nghệ Tĩnh khi ñề cập ñến các dân tộc anh em cùng chung sống trong tỉnh, ở Hà Tĩnh chỉ nói ñến mỗi dân tộc Chứt với hai ngành
Mã Liềng và Cọi cư trú ở huyện Hương Khê [19]
Năm 1995, Ban Miền núi - Di dân và Phát triển vùng kinh tế mới phối hợp với Cục Thống kê Hà Tĩnh tiến hành ñiều tra ñối tượng dân tộc ñặc biệt khó khăn thì thống kê ñược 227 hộ với 1.127 nhân khẩu bao gồm 5 tộc người
là Mã Liềng, Cọi, Lào, Mường, Mán (Bảng 2.1)
Trang 24Bảng 2.1 Kết quả ñiều tra ñối tượng dân tộc ñặc biệt khó khăn
Khẩu
2 Cọi Khạ Phoọng 9 30 Hương Vĩnh (Hương Khê)
Hương Lâm, Phú Gia (Hương Khê) và Vũ Quang (Vũ Quang)
5 Mán Mán Thanh 46 203 Sơn Kim - Hương Sơn
(Nguồn: [3])
Vì là ñiều tra dân tộc ñặc biệt khó khăn nên tên gọi tộc người cũng chỉ dựa vào sự tự khai báo nhưng khi kiểm tra sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân thì có sự không trùng hợp (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Kết quả kiểm tra sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân
hộ
Khẩu
2 Cọi Khạ Phoọng 9 30 Hương Vĩnh (Hương Khê)
Vũ Quang (Vũ Quang)
(Nguồn: [3])
Trên thực tế thành phần dân tộc không phải là bất biến mà vấn ñề này ở tỉnh Hà Tĩnh từ trước tới nay lại chưa ñược quan tâm Xác ñịnh thành
Trang 25phần tộc người ñiều quan trọng phải xem ñó là một cộng ñồng tộc người hay là một bộ phận của nó, ñây là nhóm bị cách biệt về lãnh thổ của một dân tộc hay chính là một dân tộc Giải quyết vấn ñề này rất khó khăn, ngay
cả khi có trong tay những tài liệu thống kê khá tỷ mỹ Có nhiều nguyên nhân dẫn ñến những thay ñổi về thành phần tộc người ở những mốc thời gian khác nhau Trong ñó có quá trình tộc người (cố kết, ñồng hoá hoặc phân ly tộc người), cũng có khi do chưa ñủ cơ sở khoa học, lại có sự can thiệp mang tính chủ quan, áp ñặt của các nhà quản lý; mặt khác nó còn bị tác ñộng bởi các lợi ích chính trị, kinh tế của các nhóm tộc người ñang là
ñối tượng ñể nghiên cứu [11]
Ở Hà Tĩnh cho ñến nay thành phần các dân tộc vẫn chưa có sự thống nhất [32] Mỗi ñợt ñiều tra ñều ñưa ra những số liệu khác nhau; bởi vì mục tiêu của các ñợt ñiều tra là không giống nhau Những năm gần ñây, ñược sự quan tâm của ðảng, Chính phủ có nhiều chương trình, dự án ñầu tư lên vùng miền núi, ñặc biệt ưu tiên cho vùng có ñồng bào dân tộc thiểu số cư trú Các chương trình như: ðịnh canh - ñịnh cư, hỗ trợ ñồng bào ñặc biệt khó khăn, 134 chỉ ñầu tư cho vùng có ñồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
Vì vậy, chính quyền ñịa phương cũng như người dân muốn tự nhận mình là người dân tộc thiểu số ñể ñược hưởng chính sách Trong khi công tác ñiều tra, nghiên cứu cũng chỉ mới dừng lại ở mức ñộ tập hợp thống kê theo sự khai báo của người dân, của chính quyền ñịa phương Còn các dấu hiệu về dân tộc chưa ñược xem xét ñầy ñủ thậm chí chưa ñược ñề cập ñến Thêm vào ñó là công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu của chính quyền ñịa phương còn lỏng lẻo
Trên cơ sở kết quả ñiều tra, chúng tôi ñã tổng hợp ñược 308 hộ với 1.529 khẩu bao gồm 5 tộc người là Mã Liềng, Cọi (Khạ Phoọng), Lào,
Trang 26Mường, Mán, cư trú tại 8 thôn (bản) thuộc 7 xã của 3 huyện miền núi Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang (Bảng 2.3)
Bảng 2.3 Số lượng ñồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi Hà Tĩnh
theo sự tự nhận
Số lượng T
hộ
Khẩu (người)
3 Lào Lào Thưng 111 594
Bản Giàng I xã Phú Lâm, huyện Hương Khê Bản Kim Quang xã Vũ Quang, huyện
(Nguồn: Tổng hợp số liệu ñiều tra 2009)
Tìm hiểu về ngôn ngữ thì trong số 1.529 người chỉ có 149 người ở bản Rào Tre (Hương Liên) và Giàng II (Hương Vĩnh) nói ñược ngôn ngữ của dân tộc mình, còn bộ phận khác chỉ nói ñược mỗi tiếng Việt (Bảng 2.4)
Trang 27Bảng 2.4 Số người dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh nói ñược tiếng mẹ ñẻ
(Nguồn: Tổng hợp số liệu ñiều tra, 2009)
Nghiên cứu kỷ hơn về các ñặc trưng văn hoá, ñặc ñiểm cư trú, hôn nhân, nguồn gốc tộc người, sinh hoạt kinh tế chúng tôi thấy rằng ngoài người Mã Liềng và người Cọi, bộ phận khác không còn giữ ñược nét ñặc trưng riêng của mình
* Nhóm người Mường: Mường là tên tự gọi của một nhóm người sống
ở bản Lòi Sim xã Hương Trạch huyện Hương Khê Nhóm người này từ xã Hoá Hợp huyện Minh Hoá tỉnh Quảng Bình di cư ra Hương Trạch - Hương Khê từ năm 1952 Lúc ñầu chỉ có 7 hộ, 35 khẩu về ñịnh cư với người dân ñịa phương ở xóm Chuối - Một vùng ranh giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình cách bản ngày nay chừng 3 km Do ñiều kiện làm ăn, sinh sống ở ñây thuận lợi hơn
ở Hoá Hợp nên những năm sau bà con tiếp tục di cư ra Tổng số các ñợt di cư ñến năm 1958 có 14 hộ với 78 khẩu Từ ñó ñến nay không có chuyện di cư nữa và dân số hiện nay là các thế hệ con cháu của họ
Thời kỳ chiến tranh ác liệt, nằm cạnh cầu La Khê nên xóm Chuối trở thành “túi bom, chảo lửa”, ñồng bào phải tản cư vào ðồng Cố, ðồng ðể làm nhà tạm trong rừng, trong núi Sau ngày hoà bình lập lại, ñất nước ñược thống nhất, thực hiện chính sách ñịnh canh - ñịnh cư của ðảng ñồng bào mới về ñịnh cư xen ghép với dân ñịa phương ở bản Lòi Sim ngày nay
Trang 28Theo tài liệu của Ban Dân tộc và Miền núi Quảng Bình thì tỉnh Quảng Bình có 15 nhóm tộc người thiểu số, trong ñó người Mường chỉ có 6 người cư trú ở huyện Bố Trạch, còn ở huyện Minh Hoá có các nhóm Khùa, Sách, Mày, Rục, Arem, Thổ, Thái và Pa cô không có dân tộc Mường Các nhóm: Khùa, Sách, Mày, Rục, Arem, Thổ, Thái và Pa cô không có lịch sử di cư ra Hương Trạch của Hà Tĩnh [2]
Như vậy, người dân từ Hoá Hợp - Minh Hoá di cư ra Hương Trạch - Hương Khê là dân tộc gì? Chúng tôi ñã có dịp vào Hoá Hợp tìm hiểu vấn ñề này và ñược biết ñây là nhóm người Nguồn Trong Danh mục các dân tộc thiểu số ở Quảng Bình, người Nguồn không ñược xếp vào dân tộc thiểu số Theo Khổng Diển thì ñây là một bộ phận của người Kinh từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An di chuyển vào từ thế kỷ XIV, XV cùng với quá trình mở mang
và phát triển của ñất nước Hiện nay, ñồng bào vẫn muốn tự nhận mình là một dân tộc, tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa tìm ñược một nét ñặc trưng riêng nào
về văn hoá, ngôn ngữ cũng như sinh hoạt kinh tế
* Nhóm người Lào
Người Lào ở Hà Tĩnh ñược nhắc ñến ñầu tiên vào năm 1995, khi Ban Miền núi - Di dân và Cục Thống kê tỉnh tiến hành ñiều tra ñối tượng ñặc biệt khó khăn [3] Mặc dù, họ ñã sinh sống xen ghép với người Kinh ở ba bản Giàng I (Hương Lâm), Phú Lâm (Phú Gia) của huyện Hương Khê và Kim Quang (Vũ Quang) của huyện Vũ Quang từ rất lâu rồi
- ðối với người dân ở Bản Giàng I: Theo gia phả họ Trần ở Hương
Lâm thì một người ñàn ông có tên là Uyên ở Bản Giàng II (Hương Vĩnh) kết hôn với một người Kinh quê ở Giàng I - Hương Lâm và rồi họ về ñịnh cư ở bản Giàng I Tính ñến nay ñã 7 ñời và thế hệ con cháu bây giờ, ngoài tiếng Kinh không còn nói ñược một ngôn ngữ nào khác Như vậy, việc người dân ở bản Giàng I tự nhận là người Lào cũng không phù hợp với nguồn gốc hình thành; bởi vì người dân ở bản Giàng II không phải là người Lào
Trang 29- ðối với người dân ở bản Kim Quang và Phú Lâm: Dân số hiện nay ở
hai bản Kim Quang và Phú lâm chủ yếu là người Kinh Tuy vậy, cũng có một
bộ phận ít người có gốc gác xa xưa từ Lào, họ về ñịnh cư ở ñây từ những năm ñầu thế kỷ XX Quá trình cộng cư lâu ñời nên hôn nhân ngoại tộc ñã xẩy ra từ rất sớm và lớp con cháu bây giờ không nói ñược một ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Việt
* Nhóm người Mán Thanh
Thượng Kim và ðại Kim là tên gọi của 2 bản người thuộc xã Sơn Kim huyện Hương Sơn Trước ñây bà con không nhận mình là dân tộc thiểu số Thời gian gần ñây bà con tự nhận là dân tộc Mán Thanh (Kết quả ñiều tra ñối tượng dân tộc ñặc biệt khó khăn), tuy nhiên hoàn cảnh mà họ về ñịnh cư ở hai bản này là không giống nhau
- ðối với người dân ở bản ðại Kim: Khoảng ñầu những năm hai mươi
của thế kỷ trước, một nhóm người chạy loạn do giặc dã, gồm 9 hộ với 39 khẩu ñều là anh em, họ hàng với nhau ở bản Napê huyện Kăm Kớt tỉnh Pô Ly Khăm Xay của nước bạn Lào về ñịnh cư ở nước Sốt (Nậm Sốt ngày nay) thuộc xã Sơn Kim huyện Hương Sơn Sống ở ñây ñược một thời gian thì bị thực dân Pháp ñốt nhà, phá làng bà con phải sống chui lủi trong rừng Sau năm 1945 ñược chính quyền ñịa phương ñưa về vùng Hói Trươi xã Sơn Thọ tuy nhiên 2 năm sau thì chính quyền huy ñộng lực lượng này ñi ñốt than ở ðại Kim, những người có sức khoẻ trong bộ phận này ñã tham gia và dần dần họ ñưa cả gia ñình lên ðại Kim sinh sống Do ảnh hưởng của dòng họ Lê là dòng
họ chiếm số ñông ở ðại Kim hồi ñó nên bà con lấy họ Lê làm họ cho mình và sinh hoạt kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngươì Kinh Các thế hệ con cháu của bộ phận này kết hôn với người Kinh và ñến nay ñã có 37 hộ với 171
và chỉ nói ñược mỗi tiếng Kinh
- ðối với người dân ở bản Thượng Kim: Thượng Kim là vùng ñất rộng
và bằng phẳng Người dân Sơn Giang ñã lên khai phá vùng ñất này từ ñầu
Trang 30những năm 1930 Năm 1935 một nhóm người gồm 6 hộ với 18 khẩu từ Phủ Quỳ - Nghệ An di cư về ñây [1] Họ phát nương làm rẫy, làm nhà dựng cửa
và sống xen ghép với người Kinh ðến nay ñã có 35 hộ với 213 khẩu và ngôn ngữ chỉ có tiếng Kinh
Trong quá trình cộng cư với người Kinh, sự giao lưu về kinh tế ñã ảnh hưởng mạnh mẽ ñến sự giao lưu về văn hoá, nó ảnh hưởng lớn ñến mức phá
vỡ những nét cổ truyền và phát triển ngang bằng với người Việt sở tại Hiện nay, không còn ai nói ñược tiếng mẹ ñẻ và các sắc thái văn hoá riêng của các nhóm người Lào, Mường, Mán cũng không tìm thấy
* Nhóm Mã Liềng
Năm 1966, khi ñi tuần tra bộ ñội biên phòng ñã phát hiện ra người Mã Liềng Hồi ñó người Mã Liềng sống ở Cửa Ba - Bản Quạt giáp ranh với tỉnh Quảng Bình sát ngay biên giới Việt - Lào Họ sống trong các lán tạm ñược che bằng lá rừng hoặc sống trong các hang ñá, hốc cây Về sau bộ ñội biên phòng kết hợp với chính quyền huyện Hương Khê ñưa về ñịnh cư ở bản Giàng II xã Hương Vĩnh Quá trình sống chung với người ở Giàng có ñến gần
10 năm, năm 1976 người Mã Liềng ñược ñưa về ñịnh cư ở bản Rào Tre ngày nay [28]
Trong bảng Danh mục các dân tộc ở Việt nam, người Mã Liềng cùng với các nhóm Sách, Rục, Mày, Arem hợp thành dân tộc Chứt, ñịa bàn cư trú chỉ có ở Hà Tĩnh và Quảng Bình [20] Ở Hà Tĩnh chỉ có mỗi nhóm Mã Liềng
Mã Liềng là một trong những tộc người lạc hậu và kém phát triển nhất hiện nay Tuy nhiên, cho ñến những năm gần ñây cả giới nghiên cứu dân tộc học cũng như dư luận xã hội chưa biết hoặc chưa quan tâm gì nhiều về người Mã Liềng Do chỗ coi tộc người này là một bộ phận của dân tộc Chứt, người ta luôn tưởng rằng những giới thiệu về người Chứt dựa vào hiểu viết về nhóm Sách - Rục cũng ñã là những hiểu biết về nhóm người này [22] Trong quá trình chỉ ñạo thực tiễn cũng như qua những lần ñi nghiên cứu ñiền dã, chúng
Trang 31tôi có cảm nhận rằng giữa các nhóm người khác nhau ñược gộp vào dân tộc Chứt, người Mã Liềng cũng có những nét riêng của họ Chúng tôi sẽ trình bày vấn ñề này một cách kỹ hơn trong những phần sau
* Nhóm người ở bản Giàng II
Người Khạ Phoọng có nguồn gốc từ bản Ma Ca, bản Pụng bên Lào di
cư ñến bản Giàng II cách ñây từ rất lâu Bằng chứng là hiện nay trong bản có những cây trồng cổ thụ có hàng trăm năm tuổi
Người ở Giàng II cũng là người Mã Liềng vì những lý do chính sau ñây:
- “Khạ Phoọng” là tên người Lào ñặt cho người ở Giàng với nghĩa xem
họ là một tộc người ngoài người Lào Còn tên gọi là “Cọi” do người Việt ở Hương Khê gọi nhóm người này với nghĩa họ là cư dân sống dọc bờ cõi
- Sau khi phát hiện ñược người Mã Liềng, người ta ñã ñưa người Mã Liềng lên sống gần với người ở Giàng Thời gian hai nhóm này sống chung có ñến gần mười năm nhưng rồi họ không “hợp” ñược với nhau mà phải trở lại nơi cư trú mới như hiện nay Tuy nhiên, việc họ ít có quan hệ với nhau hay không “hợp” nhau không nói lên một ñiều gì ñể chứng minh họ không cùng là một dân tộc cả Sở dĩ người ở Giàng hay liên hệ với người Ma Ca, bản Pụng bên Lào vì các bản này vừa là ñồng tộc, vừa có trình ñộ văn hoá và văn minh tương tự nhau Còn những người ở Giàng và những người ở Rào Tre thì vấn
ñề không như vậy Về cơ bản các tập tục như ñể tang người chết bố trí trong một ngôi nhà, việc kiêng kỵ của người phụ nữ khi ñẻ giữa hai nhóm người này là như nhau, nhưng họ không cùng một trình ñộ văn minh Trong cuộc sống người ở Giàng hướng tới sự ổn ñịnh của việc ñịnh cư hơn Sự chênh lệch này khiến cho người ở Giàng không muốn nhập người Rào Tre là "cùng cấp" với mình, còn người Rào Tre thì có ý thức coi mình cũng chẳng khác gì người
ở Giàng Sự khác biệt giữa hai nhóm này âu cũng là sự khác nhau như kiểu người Việt Hà Nội và người Việt ở một làng hẻo lánh nào ñó Vì thế nếu người ở Giàng có tâm lý không muốn “ở cùng hàng” với người Rào Tre cũng
Trang 32là một tâm lý bình thường Nhưng ñiều ñó hoàn toàn không thể là cơ sở ñể chúng ta coi giữa người ở Giàng và ở Rào Tre không cùng một dân tộc nếu những ñiều khác thể hiện khả năng ñó
- ðiều thứ ba là vấn ñề ngôn ngữ Chúng ta có thể thấy qua một số ví
dụ sau ñây:
Bảng 2.5 Ngôn ngữ của người Mã Liềng
Những ví dụ trên ñây tuy không nhiều nhưng có một vai trò quan trọng
Bởi vì, chúng là những từ thuộc vào lớp từ cơ bản nhất của một ngôn ngữ Sự
tương ứng ñều ñặn của những từ thuộc lớp từ cơ bản ấy thể hiện một sự tương ứng của một ngôn ngữ thống nhất Nói một cách khác tiếng Rào Tre và tiếng Giàng mặc dù có sự khác nhau nhất ñịnh nhưng vẫn là một bộ phận của một ngôn ngữ thống nhất [13]
Từ những lý do ñã nêu trên, chúng tôi thấy rằng hợp lý hơn cả là coi người ở bản Giàng cũng là một “ñịa phương” hay một “bộ phận” của người
Mã Liềng Và tất nhiên, bộ phận này có nét “văn minh” hơn so với các ñịa phương khác của tộc người này
Trang 33Công việc xác minh thành phần dân tộc là một vấn ựề phức tạp, nó vừa
là vấn ựề khoa học, vừa là vấn ựề chắnh trị, tâm lý, tình cảm dân tộc [24] Vì thế, không nên chủ quan, áp ựặt, cũng như không nên chỉ dựa vào mặt này, phủ nhận mặt khác mà phải xem xét ựầy ựủ tất cả các mặt Từ sự phân tắch như trên, với những ghi nhận bước ựầu chúng tôi thấy rằng trong các dân tộc thiểu số ở vùng núi Hà Tĩnh chỉ có nhóm Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt ựang
cư trú mang tắnh tộc người Bộ phận khác sống xen ghép với người Kinh, hầu như không còn tiếng nói, không còn giữ ựược bản sắc văn hoá riêng, thậm chắ không còn nhớ tên gọi của tộc người mình nữa; về cơ bản họ ựã hoà ựồng vào dân tộc Kinh cùng chung sống
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội ựối với ựồng bào dân tộc thiểu
số trong nước
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra ựời, năm 1946, Chủ tịch
Hồ Chắ Minh ựã nói: Ộđồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay
Ê đê, Xê đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, ựều là con cháu Việt Nam, ựều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no ựói giúp nhauỢ [29]
đã hơn 30 năm kể từ ngày thống nhất ựất nước và hơn 20 năm kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh chóng ựã ựóng vai trò quan trọng trong xóa ựói giảm nghèo và cải thiện mức sống của người dân trên nhiều phương diện Tuy nhiên, thực tế cho thấy tác ựộng của quá trình tăng trưởng kinh tế ựến mức sống của các nhóm dân tộc là không ựồng ựều Chi tiêu của người Kinh tăng lên nhanh hơn so với mức trung bình
ở nông thôn, còn chi tiêu của các nhóm dân tộc thiểu số thấp hơn và tăng chậm hơn Chênh lệch chi tiêu giữa người Kinh và dân tộc thiểu số là ựáng kể
và khoảng cách này có xu hướng gia tăng trong những năm gần ựây Một phần của chênh lệch này là do nguồn lực hạn chế của ựồng bào hoặc do các ựặc tắnh của xã hội nơi họ sinh sống điều này cho thấy các giải pháp cải
Trang 34thiện cơ sở hạ tầng cấp xã và cải thiện nguồn lực của ñồng bào dân tộc thiểu
số dù quan trọng nhưng sẽ không ñủ ñể xoá bỏ chênh lệch chi tiêu nói trên
ðảng và Nhà nước rất quan tâm ñến ñồng bào dân tộc thiểu số, có rất nhiều chính sách và chương trình ñược thiết kế và thực hiện nhằm hỗ trợ cho
sự phát triển của ñồng bào Những chương trình và chính sách này chú trọng giải quyết nhiều vấn ñề kinh tế - xã hội có liên quan ñến sự phát triển của dân tộc thiểu số và hướng vào thực hiện nhiều mục tiêu Một số chương trình (như hợp phần cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình 135 và 143, hợp phần nước thuộc Chương trình 134) tập trung vào xây dựng hạ tầng cơ sở cơ bản ở các vùng ñặc biệt khó khăn Nhà nước cũng áp dụng trợ cấp về giá và cước vận chuyển cho các xã khó khăn và ở vùng xa Các chương trình và chính sách khác như hợp phần khuyến nông thuộc Chương trình 143, hợp phần ñào tạo thuộc Chương trình 135, miễn giảm viện phí và nhà ở thuộc Chương trình 134) ñã
hỗ trợ kỹ thuật canh tác, tay nghề, chăm sóc sức khoẻ, phổ cập kiến thức và nhà ở cho các hộ thuộc dân tộc thiểu số hoặc hộ nghèo Loại chương trình thứ
3, ñiển hình là Chương trình hỗ trợ Các hộ dân tộc thiểu số có hoàn cảnh ñặc biệt khó khăn và một số sáng kiến ở các tỉnh nhằm hỗ trợ cho các nhóm dân tộc thiểu số, thường là các dân tộc có ít người và mức sống rất thấp Theo thời gian, do tăng trưởng kinh tế nhìn chung giúp nâng cao mức sống của người dân, dường như ñã có sự chuyển hướng từ hỗ trợ theo ñịa bàn sang các chính sách và chương trình ñược ñịnh hướng trực tiếp vào các nhóm ñồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm người nghèo khác Bên cạnh việc hỗ trợ các xã nghèo ở vùng xa, còn tăng cường các giải pháp hỗ trợ trực tiếp nhóm ñồng bào dân tộc ñặc biệt khó khăn Cũng cần có các chính sách và chương trình nâng cao hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực của ñồng bào các dân tộc thiểu
số Chênh lệch hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực giữa ñồng bào Kinh và ñồng bào dân tộc thiểu số cho thấy những khó khăn liên quan ñến văn hoá, ngôn ngữ, ñịa lý và thị trường nên ñồng bào các dân tộc thiểu số ñã không tận
Trang 35dụng hết ñược những cơ hội mà sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của nền kinh tế mang lại Do vậy, các chính sách giúp tăng hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực của ñồng bào dân tộc thiểu số có vai trò càng ngày càng quan trọng Một số ưu tiên trước mắt có thể là:
+ Mở rộng các chương trình khuyến nông, dịch vụ thị trường tập trung vào khuyến khích ở rộng và nâng cao hiệu quả canh tác tại các vùng trung du
2.2.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội ñối với ñồng bào dân tộc thiểu
số ở một số nước trên thế giới
Ở phần lớn các nước công nghiệp hoá và ñang phát triển, các nhóm dân tộc thiểu số nghèo hơn dân tộc ña số, tuy mức ñộ có khác nhau Hai nhóm chính sách ñược sử dụng rộng rãi ñể giúp nhóm dân tộc thiểu số thu hẹp chênh lệch về hiệu quả thu nhập từ các nhóm nguồn lực là:
+ Luật tạo cơ hội ngang bằng, nhằm tránh trường hợp người có khả năng chuyên môn và kinh nghiệm tương ñương lại phải nhận mức lương thấp hơn, có cơ hội tiếp cận làm việc và các dịch vụ của Chính phủ ít hơn xuất phát
từ dân tộc, giới tính, tôn giáo hoặc xu hướng tình dục của họ Ví dụ như sau cách mạng năm 1959 ở Cuba, luật tạo cơ hội ngang bằng ñã ñược thực hiện
Trang 36song song với các chính sách kinh tế và xã hội toàn diện, kết quả là ñến thập niên 80 ñã gần như xoá bỏ chênh lệch mức sống giữa người da trắng và da ñen Gần ñây hơn, Hiến pháp 1998 của E-cu-a-ño ñã ñảm bảo quyền ñất ñai công của người dân bản ñịa, quyền có giáo dục bằng ngôn ngữ người bản ñịa
và quyền ñược tham gia quyết ñịnh việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên Dù Luật tạo cơ hội ngang bằng ñược áp dụng rộng rãi ở các nước ñã nêu, các nước ñang phát triển và công nghiệp hoá, nhiều nghiên cứu cũng ñã cho thấy chênh lệch về lương và mức sống vẫn còn phổ biến
+ Các chương trình hành ñộng tích cực, nhằm giành quyền ưu tiên cho thành viên của các nhóm chịu thiệt thòi Ví dụ như ở Ấn ðộ, từ năm 1950 một
số suất học cao học, việc làm trong Chính phủ và ghế trong thượng nghị viện ñược giành riêng cho thành viên thuộc một số bộ tộc Tương tự, chính sách kinh tế mới của Malaysia năm 1971 cũng ñã ñặt ra chỉ tiêu ñịnh lượng về chủ
sở hữu công ty của người Mã Lai bản ñịa và việc làm của họ trong các ngành Các chương trình hành ñộng tích cực cũng ñược sử dụng tại Châu Phi và Mỹ song thường gây tranh cãi và bị chỉ trích là ñã trợ giúp cho các thành viên khá giả của một số nhóm dân tộc ñược hỗ trợ, gây ra sự bất bình từ phía các nhóm dân tộc khác và ảnh hưởng ñến sự khuyến khích tài năng và ñóng góp thực sự Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy rằng thực hiện phối kết hợp các chương trình hành ñộng ở một số ngành là cần thiết ñể giảm thiệt thòi cho các dân tộc thiểu số Các tổ chức, diễn ñàn và tổ chức Phi Chính phủ hoạt ñộng vì quyền lợi của nhóm dân tộc thiểu số hoặc do những người thuộc nhóm dân tộc thiểu số trực tiếp thực hiện có vai trò quan trọng trong thực hiện luật và xoá bỏ rào cản văn hoá và tư tưởng giữa các nhóm dân tộc Ví dụ như Băng-la-desh và Indonesia, Philippine và Thái Lan, các tổ chức của người dân bản ñịa ñã tạo ñiều kiện cho dân tộc thiểu số có tiếng nói có ảnh hưởng hơn Có thể nói các tổ chức này giúp cải thiện cả nguồn lực cũng như hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực của dân tộc thiểu số
Trang 37III đẶC đIỂM đỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 đặc ựiểm ựịa bàn
3.1.1 điều kiện tự nhiên và những vấn ựề về môi trường sinh thái vùng dân tộc và miền núi tỉnh Hà Tĩnh
Vùng dân tộc và miền núi tỉnh Hà Tĩnh có diện tắch tự nhiên 417.519
ha và dân số 554.076 người [27], là vùng ựất nằm tập trung ở phắa Tây của tỉnh, có dãy Hoành Sơn giăng ngang ở phắa Nam, núi Trường Sơn vây kắn ở phắa Tây, vùng ựồi bán sơn ựịa khép lại ở phắa đông - Bắc Vùng dân tộc và miền núi tỉnh Hà Tĩnh có vị trắ hết sức quan trọng về kinh tế, chắnh trị và quốc phòng Nơi ựây chứa ựựng nhiều tiềm năng về kinh tế rừng, là nơi có nhiều núi cao, rừng rậm, thác nước nổi tiếng, nhiều ựỉnh núi cao tiêu biểu như: Rào
Cọ 2.235 m, Ba Mụ 1.367 m, Giăng Màn 931 m, là nơi có ựường ỘXẻ dọc Trường Sơn ựi cứu nướcỢ ựi qua và là nơi căn cứ ựịa của nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta
Vùng dân tộc và miền núi tỉnh Hà Tĩnh bao gồm 4 huyện là Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Vũ Quang và thị xã Hồng Lĩnh, ngoài ra 5 huyện khác tuy không phải là huyện miền núi nhưng có xã miền núi và tổng số xã miền núi của Hà Tĩnh là 126 xã Trải dài từ 17ồ54Ỗ ựến 18ồ50Ỗ ựộ vĩ Bắc và từ 103ồ48Ỗ ựến 108ồ00Ỗ ựộ kinh đông Có thể nói vùng dân tộc và miền núi tỉnh
Hà Tĩnh chia ra 2 phần rõ rệt Một phần nằm tập trung dọc theo triền đông của dãy Trường Sơn địa hình hẹp và dốc, phắa Bắc giáp huyện Nam đàn, Hưng Nguyên của tỉnh Nghệ An, phắa Tây giáp nước bạn Lào và phắa Nam giáp huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch của tỉnh Quảng Bình Núi ở ựây nghiêng dần theo hướng Tây - đông và do ựó ựộ dốc không ựều nhau Các dãy núi nối liền trùng ựiệp tạo thành hình vòng cung có một ựầu nhô ra sát biển (dãy Hoành Sơn) Phắa đông là một phần không lớn bao gồm nhiều ngọn núi thoải
Trang 38trải dài, giữa chúng có khi gián ựoạn bởi các cánh ựồng và làng mạc hoặc có những ngọn núi ựộc lập lọt thỏm giữa các cánh ựồng hoặc kề ngay sát biển nằm rải rác giữa các huyện Nghi Xuân, Hồng Lĩnh, đức Thọ, Can Lộc, Thạch
Mặt khác, do sự chuyển biến phức tạp của quá trình trầm tắch và phun trào ựá vôi qua các thời kỳ kiến tạo ựịa tầng, nên ựịa hình ở ựây không ựều, có vùng núi nhấp nhô trùng ựiệp, có vùng ựất trầm tắch tạo thành những thung lũng tương ựối bằng phẳng có núi ựứng riêng lẻ xung quanh
Cũng do các cuộc kiến tạo ựịa tầng phức tạp nên ựất ựai ở ựây có nhiều loại khác nhau thắch nghi với từng loại cây trồng có giá trị như ựất Feralắt vàng ựỏ phát triển trên ựá granắt Loại ựất này chiếm một diện tắch rất lớn thắch nghi với các loại cây lâu năm như: bưởi, cam, chè
Ở ựây còn có ựất nâu thẩm phát triển trên ựá Paragnai hay ựá phiến thạch, loại ựất này thường thấy ở các sườn ựồi thắch hợp cho việc trồng hoa màu như: khoai, sắn, lạc Ngoài ra ở ựây còn có loại ựất thắch hợp cho việc phát triển lúa nước, ngô, mắa đó là ựất dốc tụ và ựất phù sa cổ đất dốc tụ
do quá trình trầm tắch của ựá vôi tạo thành và thường là những khoảnh ruộng bậc thang ở vùng các thung lũng, còn ựất phù sa thì nằm dọc theo triền các con sông, suối lớn Và do ựặc trưng của hệ thống sông, suối ựầu nguồn, nên ựất phù sa ở ựây ựược chia làm 3 loại: Phù sa cổ, phù sa Feralắt hoá trồng lúa, phù sa ựược bồi ựắp hàng năm
Trang 39Phù sa cổ là loại ñất ñược bồi ñắp từ thời xa xưa, ngày nay do dòng chảy thu hẹp, ñất bị nâng lên bậc thềm cao không ñược bồi ñắp Loại ñất này trồng ñược các loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày như ñậu, lạc, mía ðất phù sa Feralít hoá cũng là loại ñất không ñược bồi ñắp hàng năm, nhưng ở bậc thấp hơn phù sa cổ nên có thể ñắp ñập, be bờ làm lúa Tuy vậy loại ñất này thường bị chua phèn nên năng suất lúa không cao, còn loại ñất phù sa ñược bồi ñắp hàng năm rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước Nhưng
do tác ñộng của hệ thống sông, suối ñầu nguồn nên loại ñất này ở vùng núi Hà Tĩnh thường không nhiều và chỉ tập trung ở một vài vùng núi có con sông lớn chảy qua như Ngàn sâu, Ngàn phố
Như vậy, ñất trồng ở vùng dân tộc và miền núi Hà Tĩnh có nhiều loại, nhiều tầng canh tác cho phép chúng ta phát triển một nền nông nghiệp toàn diện gồm nhiều loại cây trồng và vật nuôi
Ngoài ra, ñất trồng và ñịa hình ở ñây còn là ñiều kiện thuận lợi cho các hệ ñộng thực vật phát triển phong phú và ña dạng cả về số lượng và chủng loại
Với 180.000 ha chiếm gần 40% toàn bộ diện tích tự nhiên, rừng Hà Tĩnh tập trung ở vùng dân tộc và miền núi là một kho tài nguyên phong phú
về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến mật, ñinh gõ, pơ mu, lim, táu, dổi, chò, kiền kiền Ngoài gỗ quý rừng ở ñây còn có nhiều loại tre, nứa, song, mây ñó là nguyên liệu ñể phát triển tiểu thủ công nghiệp và nhiều loại cây dược liệu có giá trị như: sa nhân, sến, trầm Rừng trồng ở Hương Khê còn có những ñồi thông bát ngát, gỗ và nhựa thông là nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến
Bên cạnh ñó ñồng cỏ ở ñây cũng là một nguồn lợi thiên nhiên quý giá xen lẫn giữa sông, suối, núi rừng, trên các sườn ñồi là những bãi cỏ xanh tươi Nguồn lợi thiên nhiên này là ñiều kiện quan trọng ñể phát triển chăn nuôi ñại gia súc
Trang 40Núi rừng Hà Tĩnh còn là nơi sinh sống của hàng trăm loài chim, thú như hươu, nai, lợn rừng, chồn, cáo một vài khu rừng già còn tồn tại nhiều ựộng vật như voi, hổ, báo, vượn ựen, dê sừng thẳng, gấu, sơn dương, sao la, công mà ựặc biệt là khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang; nơi lưu giữ nhiều ựộng vật, thực vật quý hiếm có giá trị cao cho du lịch và nghiên cứu khoa học Nhìn chung, thảm thực vật và các loại ựộng vật có ựiều kiện phát triển thuận lợi Rừng Hà Tĩnh nhiều tầng, nhiều lớp chứa ựựng một tiềm năng kinh
tế lớn không chỉ trên lĩnh vực khai thác gỗ và lâm sản, dược liệu, hương liệu
mà còn là môi trường lý tưởng cho nhiều loại thú quý sinh trưởng
Vùng dân tộc và miền núi Hà Tĩnh có một hệ thống sông suối dày ựặc Một vài con sông lớn và các phụ lưu bắt nguồn từ vùng này ựổ ra biển đông như Ngàn Sâu, Ngàn phố, sông Tiêm, sông Rác ựã chia cắt ựịa hình ở ựây ựến mức cứ vài chục km có nơi vài km ựã thấy xuất hiện những sông, suối khá lớn Sông ở ựây có hiện tượng ựảo lòng khá mạnh bắt nguồn từ vùng thượng lưu có ựộ cao (trên 800 m) sau ựó thấp dần ựến vùng hạ lưu và ựổ ra biển đông Vì thế chúng có ựộ dốc lớn (từ 10 - 300) lòng sông cạn và hẹp Lưu lượng nước của các sông suối ựược thay ựổi theo mùa, mùa nắng mực nước những dòng sông, con suối thường thấp thuận tiện cho việc ựi lại của con người, nhưng gây trở ngại lớn ựến quá trình sản xuất nông nghiệp, cũng như ựến ựời sống hàng ngày của ựồng bào Vào mùa mưa lưu lượng nước rất lớn, từ hàng trăm con suối lớn nhỏ nước chảy xuống các lòng sông ựổ ra biển
cả cuốn phăng cây cỏ, bào mòn các sườn ựồi Mặt khác do lưu lượng của các dòng chảy lớn nên việc ựi lại và các hoạt ựộng bình thường khác của ựồng bào gặp nhiều khó khăn
Về khắ hậu, vùng dân tộc và miền núi Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt ựới gió mùa, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của khắ hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam Với ựặc trưng của khắ hậu nhiệt ựới ựiển hình ở miền Nam
và một mùa đông giá lạnh của miền Bắc Hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa