1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương

136 2K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sản Xuất Và Tiêu Thụ Sản Phẩm Đồ Gỗ Mỹ Nghệ Huyện Cẩm Giàng, Tỉnh Hải Dương
Tác giả Vũ Việt Anh
Người hướng dẫn PGS.TS Ngô Thị Thuận
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 857,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp hà nội

-

Vũ việt anh

Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ

huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ/ đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ/ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Vũ Việt Anh

Trang 3

lời cảm ơn

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Ngô Thị Thuận, người thầy đ/ hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Viện đào tạo Sau đại học, Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng cùng tất cả các thầy cô giáo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ/ giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Văn phòng UBND huyện, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên- Môi trường huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương và các cơ sở sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện đ/ cung cấp số liệu khách quan, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Cuối cùng với lòng biết ơn sâu sắc nhất xin dành cho gia đình, bạn bè

đ/ giúp đỡ rất nhiều về vật chất và tinh thần để bản thân hoàn thành chương trình học tập cũng như đề tài nghiên cứu

Tác giả luận văn

Vũ Việt Anh

Trang 4

mục lục

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gỗ

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43

3.2 Phương pháp nghiên cứu 52

4.1 Tổng quan sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ của huyện

4.1.2 Kết quả sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng trong 3 năm 60 4.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ toàn huyện 62 4.2 Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ủồ gỗ mỹ nghệ tại các đơn vị sản

Trang 5

4.2.1 Đặc điểm của các đơn vị sản xuất kinh doanh 72 4.2.2 Tình hình sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ của các cơ sở điều tra 78 4.3 Phân tích SWot và các yếu tố ảnh hưởng đối với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ 95

4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh 103 4.4 Định hướng và các giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng 104

4.4.1 Căn cứ đề xây dựng định hướng, giải pháp 104 4.4.2 Những quan điểm định hướng sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ mỹ nghệ 106 4.4.3 Định hướng cho phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng trong thời gian tới 108 4.4.4 Các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện định hướng trên 109

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh mục bảng

2.1 Tình hình xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam 333.1 Tình hình đất đai của huyện Cẩm Giàng 453.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Cẩm Giàng 463.3 Hệ thống hạ tầng cơ sở của huyện Cẩm Giàng năm 2009 483.4 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Cẩm Giàng giai đoạn 2007-

4.8 Chủng loại sản phẩm của các cơ sở sản xuất được điều tra năm 2009 81

4.9 Chi phí sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ các loại hình sản xuất năm 2009 824.10 Thị trường tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ 854.11 Giá thành và giá bán một số sản phẩm gỗ mỹ nghệ 894.12 Giá trị sản xuất các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của các cơ sở sản xuất

Trang 8

4.13 Kết quả và hiệu quả SX- KD đồ gỗ mỹ nghệ các cơ sở điều tra 924.14 Phân tích SWOT sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số ở nông thôn chiếm 73% dân số của cả nước và lao động nông nghiệp chiếm 54% lực lượng lao động x/ hội cả nước Hiện tại thu nhập từ sản xuất nông nghiệp còn thấp, đời sống nông dân còn nhiều khó khăn, do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, góp phần nâng cao đời sống nông dân là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đồ gỗ mỹ nghệ là một sản phẩm truyền thống của huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, được sản xuất tập trung chủ yếu ở x/ Lương Điền và có nguồn gốc từ làng nghề chạm khắc gỗ truyền thống Đông Giao Làng nghề Đông Giao

là một làng nghề truyền thống lâu đời, theo sử tích thì nghề chạm khắc gỗ Đông Giao có từ cuối thế kỷ 18 Sản phẩm ở đây rất phong phú, trước kia chuyên chạm khắc các đồ thờ cúng như: Ngai, ỷ, bài vị, long đình, hoành phi câu đối và các đồ dùng như sập gụ, tủ chè, tràng kỷ Ngày nay, do nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, các loại sản phẩm của Đông Giao lại càng đa dạng như các loại con giống, tượng, tranh gỗ, đồ dùng gia đình…Trong quá trình phát triển nghề truyền thống, đồ gỗ Đông Giao đ/ trải qua những bước thăng trầm, có những thời điểm gần như mai một và bị quên l/ng Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, làng nghề Đông Giao phát triển mạnh mẽ, sản phẩm được tiêu thụ mọi nơi trong cả nước và xuất khẩu sang các nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapo, Đài Loan, HồngKông… Làng nghề này không những tạo ra công ăn việc làm cho lao động địa phương, mà cũn dạy nghề và thu hút một lực lượng lao động rất lớn trong x/ và các vùng lân cận [15]

Trang 11

Trong những năm qua do kinh tế phát triển, nhu cầu sử dụng gỗ mỹ nghệ trong nước ngày càng tăng Bên cạnh đó do chính sách kinh tế mở cửa, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ ra thị trường thế giới

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển

đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tỉnh Hải Dương luôn quan tâm, chú trọng đến việc phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống Trong chương trình phát triển kinh tế x/ hội thời gian qua,

tỉnh Hải Dương đ/ triển khai đề án "Phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng

nghề gắn với bảo vệ môi trường” trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 Để hỗ trợ cho ngành tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, UBND tỉnh đ/ ban hành Quyết định số 920/2003/QĐ-UB ngày 3 tháng 4 năm 2003 về việc ban hành quy định ưu đ/i khuyến khích đầu tư vào các cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương Tính đến năm 2008 Hải Dương đ/ có 1200 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó 51 làng nghề được UBND tỉnh cấp Bằng danh hiệu công nhận làng nghề trong đó có làng nghề gỗ mỹ nghệ

Đông Giao [15]

Hiện nay, ngành tiểu thủ công nghiệp và làng nghề có nhiều cơ hội phát triển nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn đó là thiếu vốn, việc cụ thể hoá các chính sách phát triển làng nghề còn chậm So với thực tiễn, chưa có doanh nghiệp đầu tàu hỗ trợ cho sản phẩm của làng nghề, việc xây dựng thương hiệu sản phẩm còn hạn chế, sự cạnh tranh với sản phẩm các nước khác hết sức gay gắt Những câu hỏi đặt ra cho các cấp l/nh đạo và quản lý của huyện Cẩm Giàng cũng như của tỉnh Hải Dương là: Các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ tại Cẩm Giàng được sản xuất như thế nào? Tiêu thụ ở đâu? Chất lượng sản phẩm ra sao? Khó khăn, thuận lợi, cơ hội, thách thức của sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ mỹ nghệ là gì? Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ gỗ mỹ nghệ ở Cẩm Giàng Để làm rõ các câu hỏi này, chúng tôi chọn nghiên cứu đề

Trang 12

tài “Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng, tỉnh

Hải Dương”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Trên cơ sở đánh giá đúng về thực trạng sản xuất và tiêu thụ, điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức mà đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ủồ gỗ mỹ nghệ của huyện Cẩm Giàng, tại tỉnh Hải Dương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nói chung và sản phẩm ủồ gỗ mỹ nghệ nói riêng

- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ủồ gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng những năm qua

- Phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức và những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ủồ gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

ủồ gỗ mỹ nghệ của huyện trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các sản phẩm gỗ mỹ nghệ chủ yếu: Đồ dùng gia đình, đồ trưng bày, đồ thờ tự

- Các đơn vị sản xuất gỗ mỹ nghệ: Hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân, các mối liên kết trong sản xuất

- Quy trình sản xuất: Làm thủ công, cơ giới

- Các tổ chức dịch vụ khác: cung cấp nguyên liệu, vận chuyển, vốn

Trang 13

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

*Về không gian:

- Đề tài đ−ợc tiến hành trên phạm vi toàn huyện

- Một số nội dung chuyên sâu đ−ợc khảo sát tại các đơn vị sản xuất và tiêu thụ gỗ mỹ nghệ trong huyện (hộ, doanh nghiệp t− nhân, hợp tác x/)

Trang 14

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất và

Như vậy sản xuất là hoạt động của con người nhằm biến đổi các yếu tố đầu vào tạo ra các sản phẩm hữu ích phục vụ cho con người, cộng đồng và x/ hội

2.1.1.2 Các yếu tố của sản xuất

Quá trình sản xuất là sự kết hợp của 3 yếu tố cơ bản là: Sức lao động,

đối tượng lao động và tư liệu lao động trong đó sức lao động là yếu tố chủ thể của sản xuất còn tư liệu sản xuất (gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động)

đóng vai trò là khách thể của sản xuất

* Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động Hay nói cách khác sức lao động chính là khả năng lao động của con người

* Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con

Trang 15

người tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích của con người

Đối tượng lao động tồn tại dưới 2 dạng: dạng có sẵn trong tự nhiên và dạng đ/ qua lao động chế biến hay còn gọi là nguyên liệu

* Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi

đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu của con người

Cả 3 yếu tố trên mới chỉ nói lên khả năng diễn ra sản xuất hay đó chính

là những điều kiện để quá trình sản xuất có thể diễn ra Muốn biến khả năng

đó thành hiện thực thì phải biết kết hợp các yếu tố theo công nghệ nhất định Trong sản xuất rau đối tượng mà con người tác động vào là các cây rau, chúng có thời gian sinh trưởng và phát triển riêng, vì thế con người chỉ sử dụng các tư liệu lao động trong một thời kỳ nhất định để tác động vào đối tượng này

2.1.1.3 Mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất

Trong sản xuất thì có rất nhiều các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Những yếu

tố tham gia vào quá trình sản xuất còn được gọi là các yếu tố đầu vào và sản phẩm tạo ra được gọi là các yếu tố đầu ra

* Các yếu tố đầu vào bao gồm : Lao động, đất đai, vốn, các loại phân bón, thuốc BVTV … Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau

* Các yếu tố đầu ra là sản phẩm của sự kết hợp các yếu tố đầu vào thông qua quá trình sản xuất Những sản phẩm này thường được sản xuất ra để phục vụ cho nhu cầu của con người, nó có thể được tiêu dùng trực tiếp nhưng cũng có thể trở thành các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất khác Sản phẩm của sản xuất rau là các loại rau

Trang 16

Mối quan hệ giữa các yếu tố nh− sau:

+ Mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra: Đ−ợc thể hiện qua hàm sản xuất (là hàm số biểu hiện mối quan hệ về mặt kỹ thuật giữa các yếu

tố đầu vào và yếu tố đầu ra)

Hàm sản xuất có dạng tổng quát:

Q = F (X1, X2,X3,…,Xn) Trong đó: Q là sản l−ợng sản phẩm đầu ra

X1, X2, X3,…,Xn Là các yếu tố đầu vào

Các yếu tố đầu vào bị chi phối bởi quy luật năng suất cận biên giảm dần (Năng suất cận biên của bất cứ yếu tố đầu vào nào cũng sẽ bắt đầu giảm xuống tại một điểm khi ngày càng có nhiều yếu tố đ−ợc đầu t− trong quá trình sản xuất đ/ có) [6]

Trong sản xuất rau quy luật này đ−ợc thể hiện rõ khi ta sử dụng phân

đạm để bón cho rau Ban đầu không sử dụng đạm để bón cho rau thì năng suất rau chỉ đạt đ−ợc ở mức thấp (a kg/đvdt), nh−ng khi sử dụng một l−ợng đạm nhất định để bón thì năng suất tăng lên b kg/đvdt (a < b) Nếu tiếp tục tăng l−ợng đạm bón lên (các yếu tố khác không đổi ) thì năng suất cận biên của rau

hệ thay thế

Trang 17

tăng sử dụng yếu tố đầu vào này thì kéo theo việc sử dụng yếu tố đầu vào kia Trong sản xuất rau được thể hiện đó là khi tăng mức sử dụng phân đạm thì cũng phải đồng nghĩa với việc tăng mức sử dụng phân lân hoặc kali hoặc cả 2

để cung cấp được đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cho cây (trong điều kiện rau cần cả 3 loại dinh dưỡng trên)

• Quan hệ thay thế giữa các đầu vào thể hiện ở chỗ tăng mức sử dụng

đầu vào này có thể làm giảm mức sử dụng đầu vào kia Ví dụ tăng mức sử dụng thuốc trừ cỏ sẽ làm giảm công trừ cỏ, chăm sóc Khi quyết định thay thế

sử dụng đầu vào này bằng đầu vào khác người ta thường chú ý đến tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS X1,X2 ) để giảm chi phí đầu vào khi sản xuất cùng một lượng sản phẩm

+ Mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra : Các loại sản phẩm có mối quan

hệ với nhau theo chiều hướng bổ trợ, cùng tồn tại và cạnh tranh trên phương diện sử dụng nguồn lực Các quan hệ này do bản chất kinh tế, kỹ thuật, sinh học của các sản phẩm quy định

2.1.1.4 Kết quả sản xuất

Kết quả sản xuất là thành quả hoạt động liên tục của con người kết hợp với tư liệu sản xuất tạo ra trong một thời kỳ nhất định thường là một năm Kết quả sản xuất phụ thuộc vào nhiều điều kiện (yếu tố) trong đó có quy trình công nghệ sản xuất Quy trình công nghệ là tổng thể các phương pháp sản xuất, chế biến, thay đổi trạng thái, thuộc tính, hình thức nguyên liệu, vật tư hay bán thành phẩm có liên hệ với nhau trong quá trình sản xuất Quy trình công nghệ là yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm và là chỉ tiêu kinh tế của đơn vị sản xuất Ngược lại, chất lượng sản phẩm phản ánh một cách tổng hợp trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ của một nước, là tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất và có ý nghĩa kinh tế to lớn Mỗi loại sản phẩm thì có những tiêu chuẩn về chất lượng

Trang 18

và hình thái riêng, tuỳ thuộc vào mục đích sản xuất và công nghệ sản xuất Trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) các chỉ tiêu đo lường kết quả sản xuất gồm : Khối lượng sản phẩm; Giá trị sản xuất (GO); Chi phí trung gian (IC); Giá trị tăng thêm (VA); Thu nhập hỗn hợp (MI)

2.1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất

a Cỏc yếu tố ủầu vào:

Sản xuất là sự phối hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm đầu

ra vì thế có thể nói các đầu vào có ý nghĩa tiên quyết trong quá trình sản xuất, quyết định khối lượng và chất lượng sản phẩm Các đầu vào ở đây phải đảm bảo cả về mặt số lượng cũng như chất lượng và bao gồm:

+ Vốn sản xuất: Trong điều kiện năng suất lao động không đổi khi tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng hàng hoá Bên cạnh đó vốn đầu tư

là một trong những yếu tố để mở rộng quy mô sản xuất, bổ sung cơ sở vật chất

kỹ thuật phục vụ cho sản xuất

+ Lực lượng lao động: Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và

kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất

+ Đất đai: là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng trong sản xuất công nghiệp và dịch

vụ Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm số vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai

b Khoa học và công nghệ: quyết định đến sự thay đổi năng suất lao

động và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản xuất đ/ giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao

Trang 19

động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế x/ hội

c Cỏc cơ chế, chớnh sỏch của Nhà nước:

Bất kỳ một chính sách nào được ban hành đều gây ảnh hưởng đến x/ hội trong đó có sản xuất dù ít hay nhiều Có những chính sách khuyến khích sản xuất cũng có những chính sách hạn chế, cản trở sản xuất Tuy nhiên không phải chính sách nào cũng hoàn toàn xấu, cũng không có chính sách nào hoàn toàn tốt với mọi hoạt động, mọi thành viên trong x/ hội mà nó luôn có tính hai mặt Tận dụng tốt chính sách sẽ tạo điều kiện để phát triển sản xuất tốt

Ngoài ra còn một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng có tác động tới quá trình sản xuất [10]

2.1.2 Lý luận về tiêu thụ sản phẩm

2.1.2.1 Sản phẩm

Theo quan niệm truyền thống sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hóa học, sinh học… có thể quan sát được, dùng để thỏa m/n những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống [5]

Theo quan điểm marketing sản phẩm là thứ có khả năng thỏa m/n nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa

ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút, chú ý mua sắm và tiêu dùng Theo đó, một sản phẩm được cấu thành và hình thành từ hai yếu tố cơ bản

- Yếu tố vật chất: Những đặc tính vật lý, hóa học, hình học, kể cả những

đặc tính đó có tính chất bao gói với chức năng bảo quản hàng hóa

- Yếu tố phi vật chất: Tên gọi, nh/n hiệu, biểu trưng, cách sử dụng, cách thức nhận biết, dịch vụ, những thông tin vê tập quán, thị hiếu, thói quen tiêu

Trang 20

dùng của khách hàng mà các nỗ lực Marketing phải hướng tới thỏa m/n Theo quan điểm này, sản phẩm vừa là cái “đ/ có”, vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu Ngày nay, người tiêu dùng hiện đại khi mua một sản phẩm không những chú ý đến khía cạnh vật chất mà còn quan tâm đến nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và cả yếu tố vô hình của sản phẩm [10]

2.1.2.2 Thị trường

Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán (đây là khái niệm phổ biến nhất)

Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao

đổi Như vậy ở đâu diễn ra các hoạt động trên thì ở đó xuất hiện thị trường Theo học thuyết của Mác thì cần hiểu rằng thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng số cung, cầu, là nơi tập hợp nhu cầu của một loại hàng hoá nào đó [5]

Từ các khái niệm nêu trên cho thấy: Thị trường chứa đựng tổng số cung

và tổng số cầu về một loại hàng hoá, hay nhóm hàng hoá nào đó Thị trường bao gồm các yếu tố thời gian và yếu tố không gian, trên thị trường luôn diễn

ra hoạt động mua bán và các mối quan hệ tiền tệ

Chức năng của thị trường bao gồm:

+ Chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hoá dịch vụ

+ Chức năng thực hiện giá cả

+ Chức năng điều tiết kích thích tiêu dùng x/ hội

+ Chức năng thông tin thị trường

Các quy luật kinh tế thường xuất hiện trên thị trường là:

+ Quy luật giá trị: là quy luật cơ bản của nền sản xuất hàng hoá, quy

Trang 21

luật này yêu cầu trao đổi hàng hoá phải dựa trên chí phí lao động x/ hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó

+ Quy luật cạnh tranh: Đây chính là cơ chế vận động của thị trường cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển mặt khác nó cũng đào thải những hàng hoá không được thị trường chấp nhận

+ Quy luật cung cầu: Quy luật cầu phán ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượng cầu về hàng hoá và dịch vụ, quy luật cung phản ánh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa giá cả và lượng cung về hàng hoá dịch vụ

2.1.2.3 Giá cả

Quan niệm của các nhà kinh tế học cổ điển và các nhà kinh tế kinh điển chủ nghĩa Mác thì: Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Hàng hoá có 2 giá trị là: giá trị sử dụng và giá trị hàng hoá Thước đo giá trị của hàng hoá là lao động x/ hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá đó [12]

Như vậy, giá cả là biểu hiện bằng tiền của lượng lao động x/ hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá đó

Giá cả là một phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hoá Giá cả xuất hiện trong lưu thông và trong thị trường, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, giá cả còn thể hiện sự cạnh tranh, tranh dành về lợi ích kinh tế đồng thời phản ánh giá trị hàng hoá, phán ánh cung cầu Giá cả là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, giá cả là cơ sở quan trọng để người sản xuất và tiêu dùng đưa ra các quyết định khi tham gia thị trường Như vậy, giá cả luôn biểu hiện tổng hợp các mối quan hệ kinh tế, giá cả

và thị trường có mối quan hệ chặc chẽ gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Thị trường chi phối sự cấu tạo và mức độ hoàn thành giá, song giá cả tuỳ lúc, tuỳ nơi cũng gây ra sự biến động mạnh mẽ tới sản xuất và tiêu dùng

Sự hình thành giá cả phán ánh mối quan hệ cung cầu về hàng hoá và

Trang 22

dịch vụ trên thị trường Trên thị trường người sản xuất và người tiêu dùng tuy

đối lập nhau trong việc thực hiện các chức năng riêng biệt của mình, nhưng trong quan hệ trao đổi mua bán họ lại vừa có quan hệ hợp tác, vừa đấu tranh với nhau về giá để rồi cuối cùng hai bên đều đi đến chấp nhận hình thành nên một mức giá nào đó gọi là giá thị trường hay giá cân bằng Giá cân bằng là mức giá tại đó lượng cung bằng lượng cầu, nghĩa là lượng hàng cung ứng ra thị trường vừa đủ để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

2.1.2.4 Kênh tiêu thụ sản phẩm

Kênh tiêu thụ sản phẩm là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập hay phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình tạo dòng vận chuyển hàng hoá dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng [6] Tham gia trong kênh tiêu thụ sản phẩm bao gồm các thành viên trung gian thương mại từ nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý và môi giới

Tuỳ thuộc số lượng các trung gian thương mại tham gia trong kênh tiêu thụ sản phẩm mà có các loại kênh tiêu thụ khác nhau, như kênh tiêu thụ trực tiếp, kênh tiêu thụ cấp 1, kênh tiêu thụ cấp 2

Chức năng chủ yếu của kênh tiêu thụ sản phẩm là:

- Làm cho các dòng chảy của kênh thông suốt, các dòng chảy của kênh tiêu thụ sản phẩm gồm dòng vận chuyển, sản phẩm dịch vụ từ nơi sản xuất

đến người tiêu dùng, dòng chuyển quyền sở hữu hàng hoá, dòng thanh toán, dòng thông tin 2 chiều, dòng xúc tiến hỗ trợ

- Thực hiện một số chức năng cụ thể của hoạt động tiêu thụ như thu thập thông tin thị trường, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại, đàm phán hợp

đồng kinh tế, phân phối sản phẩm, hoàn thiện hàng hoá, tài trợ và chia sẻ rủi ro

2.1.2.5 Tiêu thụ sản phẩm

Trang 23

của hàng hóa, thông qua quá trình này hàng hóa được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển “Hàng hóa - Tiền tệ - Hàng hóa”

được thực hiện [10]

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như người sản xuất

Tiêu thụ là quá trình hoạt động của doanh nghiệp làm cho sản phẩm trở thành hàng hóa trên thị trường

Như vậy có thể hiểu “tiêu thụ” là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa thì khâu tiêu thụ đựợc đánh giá là khâu quan trọng nhất, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất kinh doanh Có thể nói tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện vốn, vật chất thành tiền tệ, quá trình này đòi hỏi đảm bảo tổng doanh thu của doanh nghiệp lớn hơn tổng chi phí bỏ ra Trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt thì công tác tiêu thụ sản phẩm là công việc vô cùng khó khăn buộc các cơ sở sản xuất kinh doanh phải suy nghĩ Tiêu thụ sản phẩm có các vai trò sau:

+ Giúp cho sản xuất thích ứng với thị trường Quan điểm tiêu thụ sản

phẩm là phát hiện nhu cầu khách hàng, đáp ứng và thoả m/n nhu cầu của khách Chẳng hạn, trong tiêu thụ sản phẩm mủ cao su khách hàng cần sản phẩm

nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng, mẫu m/

+ Thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển

Tiêu thụ sản phẩm, nhu cầu khách hàng được phát hiện, từ đó quyết

định sản xuất trên cơ sở lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, mở rộng sản xuất

Sản phẩm mủ cao su được tiêu thụ càng nhiều về số lượng, chủng loại

Trang 24

mẫu m/, chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp sẽ đầu tư khai thác tiềm năng

đất, giống, theo hướng mở rộng qui mô, nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá

thành sản phẩm

+ Đáp ứng tốt hơn nhu cầu x/ hội

Thông qua tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp nắm bắt được xu thế tiêu dùng, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu x/ hội về số lượng chủng loại, chất lượng,

thời gian và khả năng thanh toán

+ Giúp cho doanh nghiệp ra các quyết định có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Tiêu thụ sản phẩm đ/ chỉ ra các nhà quản lý doanh nghiệp nên tác

động ở khâu nào, đầu tư vào sản phẩm nào có hiệu quả kinh tế [8]

Tổ chức tiêu thụ sản phẩm bao gồm nhiều nội dung, song có thể tổng hợp lại ở 3 mảng chính là:

* Lập kế hoạch tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá có mục tiêu là bán hết các sản phẩm doanh nghiệp tạo ra, với doanh thu tối đa và chí phí kinh doanh trong hoạt động tiêu thụ tối thiểu Để thực hiện thành công mục tiêu này thì doanh nghiệp phải lập kế hoạch tiêu thụ vào mỗi kỳ kinh doanh Thông thường thì người ta tiến hành các thủ tục sau:

- Lựa chọn thị trường mục tiêu

- Lựa chọn thương nhân giao dịch

- Lập kế hoạch tiêu thụ

- Đề ra các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ

* Tổ chức mạng lưới tiêu thụ

Xác định hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm, việc xác định này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đặc điểm của

Trang 25

sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp muốn tiêu thụ Thực chất khi xác định

hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp đ/ xác định các điểm bán hàng của mình và phải dựa trên các kết quả nghiên cứu về thị trường

Xây dựng trang thiết bị cho nơi bán hàng: không những nhằm mục đích

bán hàng thuận lợi mà còn phải nhằm mục đích thu hút khách hàng

* Tổ chức bán hàng

Công tác quản trị nhân sự đòi hỏi phải tính toán và tuyển chọn đầy đủ lực lượng cần thiết cho khâu bán hàng Trên cơ sở thiết bị hiện có, việc bố trí, sắp đặt hàng là một việc không chỉ đòi hỏi kỹ thuật mà đòi hỏi nghệ thuật cao,

có một chính sách giá cả hợp lý cũng là chất xúc tác quan trọng nhằm tăng doanh thu bán hàng cho doanh nghiệp

* Tiêu thụ sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Thị trường tiêu thụ sản phẩm thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ Nếu thị trường tiêu thụ chấp nhận sản phẩm thì quy mô sản xuất sẽ được duy trì phát triển và mở rộng, ngược lại thì ngành sản xuất đó sẽ dẫn đến phá sản

Thị trường tiêu thụ sản phẩm tác động mạnh đến sản xuất của doanh nghiệp bởi các quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị Thị trường là đối tượng của sản xuất đồng thời nó cũng điều tiết sản xuất

- Chất lượng sản phẩm

Đó là những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được và có thể so sánh được Để giữ vững và nâng cao uy tín của sản phẩm, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục thì bắt buộc các doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm

Trang 26

- Cơ chế chính sách

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp chịu sự chi phối bởi các quy luật thị trường cung cầu, giá cả Song sự tác động của Nhà nước tới thị trường có ý nghĩa to lớn và giúp cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả Chính sách là những công cụ, biện pháp cụ thể của Nhà nước nhằm khắc phục tình trạng trì trệ, điều chỉnh và định hướng các hoạt

động kinh tế, hoạt động theo khuôn khổ của pháp luật, theo đúng mục tiêu đ/

định trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước

- ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên

ảnh hưởng của vị trí địa lý cũng như các yếu tố phát triển x/ hội, việc huy

động nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển gặp nhiều khó khăn cả về chất và lượng Vị trí địa lý ảnh hưởng không nhỏ tới việc giao hàng, chi phí vận chuyển lớn nếu các cơ sở sản xuất ở xa cảng xuất khẩu

Các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nắng to, mùa đông quá khô nên hay bị nứt

Trang 27

Tóm lại, việc tổ chức các hoạt động tiêu thụ sản phẩm sẽ thúc đẩy nhanh quá trình phân phối và lưu thông, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất x/ hội, trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của nền kinh tế

Trong sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động của tiêu thụ sản phẩm có tác động rất lớn, nhiều khi đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị Chính nhờ tiêu thụ mà các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể thu hồi được các chi phí đ/ bỏ ra, thực hiện được mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu khác trong sản xuất kinh doanh của mình Kết quả của quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ phản ánh tính đúng đắn của mục tiêu

và chiến lược kinh doanh, chất lượng công tác của cả bộ máy quản lý nói chung và bộ phận tiêu thụ sản phẩm nói riêng

2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ

2.1.3.1 Quan niệm về sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ

* Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ: Trong thực tế có nhiều khái niệm về sản phẩm gỗ mỹ nghệ, nhưng tập trung lại có một số cách hiểu cơ bản sau:

- Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ là sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu là

gỗ với đôi tay thợ thủ công, nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng của con người

- Sản phẩm gỗ mỹ nghệ là sản phẩm thủ công, gồm những đồ gia dụng, trưng bày, thờ cúng

- Sản phẩm gỗ mỹ nghệ là sản phẩm xuất phát từ những làng nghề truyền thống, chuyên sản xuất những đồ từ gỗ để phục vụ nhu cầu con người [13]

Đến nay chưa có khái niệm chính xác nào về sản phẩm đồ mỗ mỹ nghệ

mà là do quan niệm chung của x/ hội về đồ gỗ mỹ nghệ Những khái niệm trên không hoàn toàn chính xác nhưng đó là những khái niệm cơ bản hợp lý và phổ thông được đông đảo mọi người chấp nhận Từ các quan điểm đó chung

Trang 28

2.1.3.3 Đặc điểm kỹ thuật

Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ dựa vào tay nghề của người thợ thủ công là chính Tuy nhiên trong những năm trở lại đây thì máy móc đang thay thế dần người thợ ở những khâu làm thô và hoàn thiện sản phẩm như vanh, đục lỗ, lọng, bào, quay giấy giáp, phun sơn Để có được sản phẩm có chất lượng, đòi hỏi người thợ phải có trình độ chạm khắc gỗ khéo léo, tính kiên trì, công phu

và sự sáng tạo nghệ thuật Người thợ thủ công ngành nghề này đều được đào tạo theo hình thức truyền nghề, vì vậy để có tay nghề giỏi phải trải qua nhiều năm lao động và tích luỹ kinh nghiệm

Nguyên liệu để sản xuất sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ là gỗ tự nhiên Tuy nhiên không phải bất kỳ loại gỗ nào cũng có thể được sử dụng, mà cần phải lựa chọn những loại gỗ có tích chất phù hợp với việc chạm khắc, đó là không

được quá cứng hoặc quá giòn Bên cạnh đó gỗ được sử dụng làm nguyên liệu

Trang 29

phải đảm bảo cho ra các sản phẩm có độ thẩm mỹ cao và bền, không bị nứt do tác động của thời tiết Có rất nhiều loại gỗ khác nhau được dùng làm nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ, nhưng các làng nghề sử dụng chủ yếu các loại gỗ như là: Gỗ gụ, gỗ trắc, gỗ mun, gỗ hương, gỗ muồng đen , Ngày nay do nguyên liệu ngày càng khan hiếm nhất là các loại gỗ quý, cho nên trong sản xuất người ta dùng nhiều các loại gỗ thuộc nhóm gỗ tạp, nhưng vẫn được thị trường chấp nhận vì chúng có tính chất phù hợp với việc chạm, khắc và sản phẩm đảm bảo chất lượng

Mẫu m/ sản phẩm thường dựa vào những mẫu m/ cổ truyền là chủ yếu Các loại mẫu m/ cổ truyền được lưu trong trí nhớ của các người thợ lành nghề, các nghệ nhân Do đó mà nhiều mẫu m/ được lưu truyền hàng trăm năm, không cần phải có kỹ thuật sao chép, lưu trữ hiện đại Tuỳ vào từng loại sản phẩm mà được áp dụng các loại mẫu m/ khác nhau

- Đối với các sản phẩm dùng để trưng bầy như tranh gỗ thì sử dụng các mẫu m/ cổ truyền sản phẩm được gắn liền với các tích cổ như: Tứ quý, tứ bình, tứ linh, lưỡng long chầu nguyệt, văn vương cầu hiền, m/ đáo thành công, anh hùng tương ngộ

- Đối với các loại con giống như: hươu, nai, ngựa, đầu lợn thì mẫu m/ đều

do người thợ sáng tạo, kích thước sản phẩm tuỳ vào yêu cầu của khách hàng

- Các loại sản phẩm gia dụng và thờ cúng thì đều sử dụng mẫu m/ cổ truyền, như sập gụ, tủ chè, tràng kỷ, ghế giả cổ, hoành phi, câu đối

Bên cạnh đó các cơ sở sản xuất còn dựa vào nhu cầu về các loại sản phẩm của thị trường mà sản xuất các mẫu m/ khác nhau Các cơ sở sản xuất

có thể nhận các đơn đặt hàng có mẫu trước theo yêu cầu của khách hàng hoặc

vẽ mẫu theo ý tưởng của khách hàng Đây là một cách thức hợp lý nhằm đa dạng hoá sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước

Trang 30

Một khó khăn trong bảo quản sản phẩm gỗ mỹ nghệ là do nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao, nguyên liệu gỗ phần lớn không được xử

lý theo công nghệ tiên tiến nên một số sản phẩm dễ bị cong, nứt Khi sản xuất

gỗ mỹ nghệ, người ta thường sử dụng gỗ không được khô để dễ chạm trổ, cho nên khi sau khi sơn sản phẩm một thời gian thường bị sùi, phải làm lại Do đó một một số sản phẩm thường bị khách hàng trả lại để xử lý cho nên phát sinh thêm chi phí sản xuất Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia các sản phẩm đồ gỗ như sau:

- Đồ dùng cho thờ tự: Tủ thờ, hoành phi, câu đối

- Đồ dùng trong phòng khách: Sập gụ, tủ chè, tràng kỷ

- Đồ dùng để bày trang trí: Tranh gỗ, các loại cây cảnh, con vật

* Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ:

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ đó là:

- Nguồn nguyên liệu: Do nguồn cung cấp gỗ ngày càng khan hiếm, giá cả tăng nhanh nên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất Như chúng ta biết, nguyên liệu gỗ dành cho sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ có tính chất riêng, thông thường là các loại gỗ thuộc nhóm quý hiếm, cho nên việc giá gỗ tăng làm cho chi phí sản xuất tăng mạnh Bên cạnh đó, trong những năm qua, việc khai thác

và chặt phá rừng bừa b/i, nguồn gỗ tự nhiên ngày càng cạn kiệt, nhiều cơ sở sản xuất không đủ nguyên liệu để sản xuất

- Thị trường tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ trong nước về sản phẩm gỗ mỹ nghệ khá ổn định Tuy nhiên sản phẩm gỗ mỹ nghệ của huyện Cẩm Giàng phần lớn phục phụ cho xuất khẩu, do đó phụ thuộc rất nhiều vào thị trường các nước nhất là Trung Quốc Đặc điểm của thị trường xuất khẩu cũng thay đổi theo mùa vụ, thường nhu cầu lớn về 3 tháng đầu năm và 3 tháng cuối năm Nếu thị trường Trung Quốc có biến động sẽ gây ra rủi ro lớn cho ngành sản

Trang 31

xuất đồ gỗ mỹ nghệ Bên cạnh đó, thị trường trong nước tuy rộng lớn, nhưng sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng vẫn chưa khai thác hết tiềm năng Một số sản phẩm chỉ mới tiêu thụ tại các khu du lịch và vài thành phố lớn, trong đó chủ yếu là những sản phẩm trưng bày Những sản phẩm gia dụng, thờ cúng một thời là sản phẩm truyền thống chủ yếu, tạo nên thương hiệu của đồ

gỗ mỹ nghệ Cẩm Giàng thì ngày nay sản xuất và tiêu thụ với số lượng rất ít

- Vốn: Sản xuất gỗ mỹ nghệ cần lượng vốn lớn bởi chi phí cho nguyên liệu sản xuất đắt, giá công lao động cao, tiêu thụ sản phẩm mang tính mùa vụ cho nên cần lượng vốn lớn để đầu tư cho sản xuất Vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng, là điều kiện đầu tiên để cho các cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ có

điều kiện mở rộg quy mô sản xuất, đầu tư trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ sản xuất Tuy nhiên, hiện nay việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của các cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ rất khó khăn và hạn chế Nguyên nhân chính là thủ tục còn nhiều và quy định còn khá chặt chẽ, nhất là trong bối cảnh nhà nước thắt chặt chính sách tiền tệ như thời gian qua

- Nguồn nhân lực: Tuy nguồn nhân lực đa phần là thợ thủ công có tay nghề khéo, nhưng đại bộ phận có trình độ văn hoá thấp Đặc biệt là trình độ về quản lý sản xuất, kiến thức về kinh tế thị trường của người thợ rất hạn chế, bởi

họ chủ yếu là được đào tạo thông qua hình thức truyền nghề Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng quản lý và phát huy sự sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các hộ trong tình hình hiện nay

- Chính sách phát triển nghề thủ công mỹ nghệ của địa phương: Trong những năm qua tỉnh Hải Dương đ/ có chủ trương phát triển ngành thủ công

mỹ nghệ đặc biệt là các làng nghề truyền thống Tuy nhiên sự hỗ trợ của các cấp chính quyền đối với việc phát triển các làng nghề vẫn còn hạn chế, đặc biệt là vốn, cơ sở hạ tầng, xúc tiến thương mại quốc tế

Trang 32

2.1.4 Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ

Các chủ trương chính sách liên quan đến sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ mỹ nghệ nằm trong chính sách phát triển các làng nghề của Đảng và Nhà nước ta

Từ khi đất nước thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế, các làng nghề được quan tâm, hỗ trợ đ/ phát triển mạnh mẽ, hoà nhập dần với cơ chế thị trường,

đóng góp không nhỏ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

Làng nghề có vai trò quan trọng trong giải quyết các vấn đề kinh tế x/ hội ở nông thôn như chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giải quyết việc làm tại chỗ, xoá đói giảm nghèo, khai thác được tiềm năng cũng như phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương Do đó, việc xây dựng các chính sách nhằm phát triển các làng nghề là rất cần thiết Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đ/ nêu: “ phát triển đa dạng công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, thị tứ, thị trấn Liên kết với công nghiệp đô thị lớn và khu công nghiệp tập trung Phát triển các làng nghề nhất là các làng nghề làm hàng xuất khẩu ”

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vẫn tiếp tục khẳng định: “ mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ”

Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đ/ nhấn mạnh:

“ khuyến khích các doanh nghiệp và hợp tác x/ đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển bền vững các làng nghề tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm cả trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại chỗ và ngoài nông thôn ” [2]

Ngày 13 tháng 07 năm 2006 Chính phủ đ/ ký Nghị định số

Trang 33

66/2006NĐ-CP về phát triển các ngành nghề ở nông thôn Trong đó có những chính sách khuyến khích như:

- Bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống; phát triển làng nghề gắn với du lịch; phát triển làng nghề mới

- Tạo điều kiện thuận lợi về giao đất, có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê

đất tại các khu, cụm các cơ sở ngành nghề nông thôn và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai

- Được hưởng ưu đ/i đầu tư theo luật đầu tư, hỗ trợ l/i xuất đầu tư theo quy định hiện hành; vay vốn từ quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm theo quyết định hiện hành ”

- Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ sở ngàhh nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiện hành của xúc tiến thương mại quốc gia ”

Đặc biệt gần đây, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đ/ ban hành Nghị quyết số 26-NQ/T.W về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó nhấn mạnh: “ Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn theo quy hoạch Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu

và thị trường; đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống của dân cư nông thôn ”

Đó chính là những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

* Đối với tỉnh Hải Dương

Hải Dương là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống với nhiều loại hình

Trang 34

sản phẩm phong phú đa dạng như đồ gỗ mỹ nghệ, nấu rượu, may tre đan, chạm bạc Trong những năm qua, nhận thức được vai trò quan trọng của làng nghề đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tỉnh Hải Dương có nhiều chính sách nhằm bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống

Ngày 3/4/2003 UBND tỉnh Hải Dương đ/ ban hành Quyết định số 920/2003/QĐ-UB về việc ban hành Quy định về ưu đ/i khuyến khích đầu tư vào các cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh

Trong những năm vừa qua, tỉnh Hải Dương đ/ tích cực triển khai Đề án

"Phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường" trên

địa bàn tỉnh đến năm 2010

Chủ trương phát triển làng nghề tại Hải Dương luôn được thực hiện

đồng bộ với việc quy hoạch, xây dựng các khu, cụm công nghiệp Đến thời

điểm hiện nay toàn tỉnh đ/ có 10 khu công nghiệp đ/ được phê duyệt quy hoạch chi tiết với tổng diện tích là 2060 ha (trong đó huyện Cẩm Giàng có 5 khu công nghiệp) Trong đó có 6 khu công nghiệp cơ bản đ/ đầu tư xây dựng xong hạ tầng kỹ thuật và lấp đầy diện tích cho thuê Hiện nay Tỉnh Hải Dương cùng với huyện Cẩm Giàng đang triển khai xây dựng khu công nghiệp Lương

Điền - Cẩm Điền, nơi có làng nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống Đông Giao Đây

là chủ trương đúng đắn nhằm phát triển khu công nghiệp đồng thời hỗ trợ làng nghề gỗ mỹ nghệ phát triển trong thời gian tới [18]

Các chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cũng như của Tỉnh Hải Dương đ/ góp phần khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, trong đó có sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Việc làm này đ/ góp phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động tại các làng nghề và các vùng lân cận, đồng thời góp phần chuyển dịch kinh tế nông thôn theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cải thiện đời sống

Trang 35

người dân Bên cạnh đó hàng năm cung cấp một lượng lớn hàng hoá phục vụ cho việc xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước

- Nhật Bản: là một nước giàu truyền thống văn hóa, tuy công nghiệp

hoá diễn ra nhanh và mạnh song làng nghề vẫn tồn tại, các nghề thủ công truyền thống vẫn phát triển Họ không những duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ra một số nghề mới Đồng thời Nhật Bản rất chú trọng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn ở đô thị

Ngành nghề tiểu thủ công truyền thống của họ bao gồm: Chế biến lương thực, thực phẩm, đan nát, dệt chiếu, dệt lụa Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản

có 867 nghề thủ công truyền thống vẫn còn hoạt động, Năm 1992 đ/ có 2640 lượt người của 62 nước trong đó có Trung Quốc, Anh, Pháp tới thăm các làng nghề truyền thống của Nhật Trong đó đáng chú ý, vào những năm 70 ở tỉnh

Ôita (miền Tây nam Nhật Bản) đ/ có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm phát triển làng nghề cổ truyền trong nông thôn, do đích thân ông tỉnh trưởng phát động và tổ chức Kết quả cho thấy, ngay những năm đầu tiên

họ đ/ sản xuất được 143 loại sản phẩm, thu được 1,2 tỷ USD trong đó 114 triệu USD thu từ bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” đ/ nhanh chóng lan rộng khắp nước Nhật

Đi đôi với việc phát triển ngành nghề cổ truyền, Nhật Bản còn nghiên cứu các chủ trương chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập nhiều văn

Trang 36

phòng cố vấn khác Nhờ đó các hoạt động phi nông nghiệp được phát triển mạnh mẽ; thu nhập ngoài nông nghiệp chiếm 85% tổng thu nhập của hộ Năm

1993 nghề thủ công và làng nghề đ/ đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ USD

- Trung Quốc: là một nước có truyền thống lâu đời hàng nghìn năm với

các sản phẩm thủ công nghiệp nổi tiếng như gốm sứ, tơ lụa, luyện kim, làm giấy Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đ/ có khoảng 10 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp làm việc trong các hộ gia đình, trong các phường nghề và làng nghề Về sau các xí nghiệp Hương Trấn rất phát triển làm thay đổi rất lớn bộ mặt nông thôn Trung Quốc

Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, thương, xây dựng, hoạt động ở khu vực nông thôn Nó bắt đầu xuất hiện vào năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Xí nghiệp Hương Trấn phát triển mạnh mẽ đ/ góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn Những năm 80, các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triển nhanh, đóng góp tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn và trong số 32% sản lượng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp cá thể tạo ra

có phần đóng góp đáng kể từ làng nghề

- Hàn Quốc: sau khi kết thúc chiến tranh, Chính phủ Hàn Quốc đ/ thực

hiện chiến lược phát triển công nghiệp hoá nông thôn, đây là chiến lược quan trọng để phát triển các ngành thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống Các mặt hàng được tập trung sản xuất chủ yếu ở đây là các hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ nhu cầu du lịch và xuất khẩu, chế biến lương thực thực phẩm theo công nghệ cổ truyền

Chiến lược phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn được tiến hành bắt đầu từ năm 1997 Các nghề này được tập trung sử dụng các lao

động thủ công, công nghệ đơn giản và sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu sẵn

có ở địa phương, sản xuất quy mô nhỏ với vốn đầu tư không nhiều và dễ dàng

Trang 37

tiêu thụ sản phẩm

Các ngành nghề thủ công ngày càng phát triển rộng khắp trên đất nước Hàn Quốc, vào những thập kỷ 80 đ/ có tới hàng nghìn xưởng thủ công dân tộc, chiếm 2,9% xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút khoảng 23 nghìn lao động theo hình thức sản xuất tại gia đình là chính với 79,4% là dựa vào hộ gia đình riêng biệt và sử dụng nguyên liệu địa phương, bí quyết truyền thống

- Thái Lan: là nước có nghiều ngành nghề thủ công nghiệp và làng

nghề truyền thống Chủ yếu là chế tác vàng, bạc, đá quý, đồ trang sức với các nghệ nhân tài hoa, công nghệ và kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường Nghề gốm sứ cổ truyền ở Chiềng Mai đang được xây dựng thành trung tâm gốc quốc gia Hiện tại có khoảng 95% hàng hoá xuất khẩu của Thái Lan là đồ dùng trang trí nội thất và quà lưu niệm Đến nay nghề chế biến gỗ, ngọc vẫn tiếp tục phát triển khá tốt, tạo ra thu nhập cao cho dân cư nông thôn

- ấn độ: là nước có nền văn hoá, văn minh lâu đời được thể hiện rõ trên

các sản phẩm thủ công truyền thống Bên cạnh nghề nông, hàng triệu người dân sinh sống bằng các nghề tiểu thủ công nghiệp với doanh thu hàng năm khoảng 1000 tỷ rupi Nông thôn ấn Độ trong thời kỳ công nghiệp hoá có nhiều cơ sở nông nghiệp mới, công nghiệp sản xuất công cụ cải tiến, công nghiệp cơ khí chế tạo và công nghiệp chế biến được phát triển Đồng thời các ngành công nghiệp cổ truyền và tiểu thủ công nghiệp cũng rất phát triển Vào những năm 1980 lực lượng thợ thủ công hoạt động trong các làng nghề là 4-5 triệu nười chuyên nghiệp, chưa kể hàng chục triệu nông dân làm nghề phụ, có những nghề sản xuất ra hàng tiêu dùng thủ công mỹ nghệ cao cấp như kim hoàn vàng, bạc, ngọc ngà, đồ mỹ nghệ

- Philippin: là một nước thuộc vùng Đông Nam á như chúng ta, ngay

từ đầu chính phủ của họ đ/ quan tâm đến công nghiệp hoá nông nghiệp, nông

Trang 38

thôn trên cơ sở phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn Từ những năm 1978-1982, Chính phủ đ/ đề ra chương trình và dự

án phát triển công nghiệp nông thôn, mà trước hết tập trung vào ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản, chế biến thực phẩm và chế tạo công nghiệp Chương trình của Chính phủ chủ yếu tập trung giúp tiểu thủ công nghiệp về tài chính, công nghệ và tiếp thị Cụ thể là miễn thuế cho các xí nghiệp có quy mô dưới 20 lao động và ưu tiên vốn tín dụng với l/i suất thấp cho xí nghiệp nhỏ để hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật công nghệ và thông tin thị trường giá cả [13]

* Kinh nghiệm phát triển tiểu thủ công nghiệp từ các nước trên thế giới

Từ sự phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của một số nước trên thế giới chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm phát triển cho mình:

Muốn phát triển tiểu thủ công nghiệp trước hết phải chú ý đến làng ngành nghề và nhất là làng nghề truyền thống Làng nghề phát triển sẽ có điều kiện sản xuất ra các sản phẩm thủ công truyền thống có giá trị kinh tế và văn hoá cao Từ đó tạo thị trường rộng lớn ở vùng nông thôn cho các sản phẩm phi nông nghiệp và dịch vụ, góp phần thúc đẩy làng nghề phát triển theo hướng CNH-HĐH Để tăng năng suất lao động và giảm lao động nặng nhọc, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đ/ trang bị một số máy móc thiết bị cơ khí

và nửa cơ khí, cùng với việc kết hợp bàn tay khéo léo và óc sáng tạo của các nghệ nhân làng nghề cho ra các sản phẩm có chất lượng và giá trị cao

Các nước đều phải sử dụng triệt để các phương pháp huấn luyện tay nghề cho người lao động Đó là dạy nghề và bồi dưỡng tay nghề tại chỗ, bồi dưỡng ngắn hạn, theo phương châm thiếu gì bổ sung tới đó Và các nước này cũng rất chú ý đến kinh nghiệm thực tiễn, mời các nhà sản xuất kinh doanh có tiếng, có nhiều thành công trong lĩnh vực công nghiệp hoá nông thôn để tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm hoặc mang các sản

Trang 39

phẩm triển l/m Đồng thời, có nước họ còn tiến hành lập ra các trung tâm nghiên cứu và đào tạo nghề một cách có hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặc

địa phương có nhu cầu

Chính sách của nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc khuyến khích,

hỗ trợ cho các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển Bằng các chính sách tín dụng trong nông thôn, chính sách thuế và thị trường phù hợp cho các cơ sở sản xuất trong các làng nghề truyền thống có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Một số nước có nền công nghiệp phát triển còn có sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, giữa trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống Sự kết hợp này thể hiện sự phân công lao động, có sự hỗ trợ lẫn nhau nhất là trong vấn đề lựa chọn cách thức sản xuất và quy trình kỹ thuật

2.2.1.2 ở Việt Nam

*Tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp

Ngành nghề thủ công nghiệp ở nước ta xuất hiện từ rất lâu đời Thời kỳ Bắc thuộc, ngoài sản xuất nông nghiệp đ/ có sản xuất các công cụ vật dụng bằng sắt, gỗ, đồng, gốm Dưới thời Ngô đô hộ, hàng nghìn thợ thủ công Việt Nam bị bắt đưa sang Trung Quốc xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp

Thời Lý- Trần (thế kỷ X-XIV) ngoài việc phát triển nông nghiệp như khai hoang vùng ven biển, củng cố đê điều thì tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng được triều đình chú trọng phát triển Nổi lên là nghề dệt Thăng Long, gốm Bát Tràng, đúc đồng Đại Bái, khắc gỗ Đồng Kỵ…

Thời kỳ hậu Lê, nông nghiệp phục hồi và có điều kiện để phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp Riêng ở vùng đồng bằng Sông Hồng có hàng trăm nghề như dệt Hà Đông, chế tác vàng bạc Châu Khê – Hải Dương, sắt Đa Hội – Bắc Ninh Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) các ngành nghề phát triển phong phú hơn,

Trang 40

các sản phẩm gốm, tơ lụa không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn đem ra nước ngoài như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Trung Quốc…

Thời kỳ Pháp thuộc, nhiều sản phẩm công nghiệp từ nước ngoài tràn vào Việt Nam cạnh tranh và chiếm hữu thị trường trong nước làm cho một số nghề thủ công truyền thống bị mai một Tuy nhiên, một số ngành nghề khác lại kích thích phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện tại và du nhập thêm một số nghề mới từ Pháp và một số nước khác vào Việt Nam [4]

Giai đoạn từ hoà bình lập lại đến trước những năm 1986, các ngành nghề được chú trọng phát triển và sản phẩm được du nhập sang thị trường

Đông Âu Các hộ làm nghề tiểu thủ công nghiệp được vận động vào các tổ hợp tác, hợp tác x/ Đồng thời để hỗ trợ cho các ngành nghề phát triển, nhà nước còn hình thành các xí nghiệp công ty xuất nhập khẩu để thu mua, trao

đổi hàng hoá, lấy sản phẩm trong ngành nghề phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

Đầu những năm 1990, thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ biến động nên ngành tiểu thủ công nghiệp của Việt Nam không tiêu thụ được sản phẩm, sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh phải ngừng hoạt

động và đóng cửa, lao động TTCN giảm mạnh: Hà Tây năm 1988 có 111.963 lao động TTCN đến năm 1991 chỉ còn 63.313 lao động, giảm 43,31% Trong thời kỳ này ở Hải Phòng, trong 6 nghề thủ công đ/ giảm 11.000 người, ở Thái Bình với nghề mây tre đan sản phẩm tiêu thụ năm 1991-1992 chỉ bằng 10-15% so với giai đoạn 1988-1989 [13]

Từ năm 1993 trở lại đây, đường lối đổi mới kinh tế đ/ đem lại nhiều kết quả tích cực Chúng ta đ/ thực hiện chiến dịch mới mở rộng thị trường bằng tuyên bố “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”, chính vì vậy đ/ chuyển từ thị trường các nước Đông Âu, Liên Xô truyền thống trước đây sang các nước khác, ưu tiên các nước trong khu vực Giai đoạn này ngành nghề TTCN lại phục hồi, chuyển hướng và phát triển

Ngày đăng: 25/11/2013, 23:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  : Tình hình xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 2.1 : Tình hình xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam (Trang 42)
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Cẩm Giàng - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Cẩm Giàng (Trang 54)
Bảng 3.3:  Hệ thống hạ tầng cơ sở của huyện Cẩm Giàng năm 2009 - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 3.3 Hệ thống hạ tầng cơ sở của huyện Cẩm Giàng năm 2009 (Trang 57)
Bảng 3.4: Tình hình phát triển kinh tế của huyện Cẩm Giàng - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 3.4 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Cẩm Giàng (Trang 59)
Sơ đồ 3.1. Ma trận SWOT - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Sơ đồ 3.1. Ma trận SWOT (Trang 64)
Bảng 4.1:  Một số chỉ tiêu về kết quả SX-KD sản phẩm đồ gỗ mỹ nghề toàn - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu về kết quả SX-KD sản phẩm đồ gỗ mỹ nghề toàn (Trang 70)
Sơ đồ 4.1.  Các công đoạn chủ yếu sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.1. Các công đoạn chủ yếu sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ (Trang 74)
Bảng 4.3: Tình hình tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng (Trang 80)
Bảng 4.4: Tình hình chung về các cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ năm 2009 - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.4 Tình hình chung về các cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ năm 2009 (Trang 82)
Bảng 4.5 Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.5 Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất (Trang 85)
Bảng 4.7: Tình hình sử dụng các loại nguyên liệu gỗ chính tại các cơ sở - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.7 Tình hình sử dụng các loại nguyên liệu gỗ chính tại các cơ sở (Trang 88)
Bảng 4.8:  Chủng loại sản phẩm của các cơ sở sản xuất đ−ợc điều tra năm 2009 - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.8 Chủng loại sản phẩm của các cơ sở sản xuất đ−ợc điều tra năm 2009 (Trang 90)
Bảng 4.9 : Chi phí sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ các loại hình sản xuất năm 2009 - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.9 Chi phí sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ các loại hình sản xuất năm 2009 (Trang 91)
Bảng 4.10 Thị trường tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Bảng 4.10 Thị trường tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ (Trang 94)
Sơ đồ 4.2. Kênh tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng  Kênh 2: - Luận văn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ huyện cẩm giàng tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.2. Kênh tiêu thụ sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Cẩm Giàng Kênh 2: (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w