luận văn
Trang 1trường đại học nông nghiệp hà nội
luận án tiến sỹ kinh tế
NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC: PGS TS Lê Hữu ảnh
Hà NộI – 2009
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
li ệu nêu trong luận án là trung thực, mọi trích dẫn ñều ñược chỉ rõ nguồn
g ốc; những kết luận khoa học của luận án chưa từng ñược ai công bố
Tác giả luận án
Nguyễn Nhân Chiến
Trang 3MụC LụC
Trang
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vii
Mở đầu 1 1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới của luận án 3
Chương I - một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phân hoá giàu nghèo ở nông thôn 1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu phân hoá giàu nghèo 5
1.1.2 Khái niệm về giàu nghèo và phân hoá giàu nghèo 9
1.1.3 Bản chất kinh tế - chính trị của phân hoá giàu nghèo 14
1.1.4 Biểu hiện của sự phân hoá giàu nghèo ở nông thôn 21
1.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến phân hoá giàu nghèo 23
1.1.6 Nội dung nghiên cứu phân hoá giàu nghèo 30
1.1.7 Một số công cụ thước đo phân hoá giàu nghèo 31 1.1.8 Các giải pháp chủ yếu hạn chế phân hoá giàu nghèo 35
1.2 Cơ sở thực tiễn 36
1.2.1 Sự phân hoá giàu nghèo trên thế giới 36
1.2.2 Vấn đề đói nghèo và phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam 52
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 62
Chương II - Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xU hội của tỉnh Bắc Ninh 65
2.2 Phương pháp nghiên cứu 77
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu chủ yếu 81
Trang 4Chương III - Thực trạng phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Bắc Ninh
3.1 Thực trạng hộ giàu, nghèo ở nông thôn Bắc Ninh 83
3.1.1 Đối với hộ giàu 83
3.1.2 Đối với hộ nghèo 85
3.2 Thực trạng phân hoá giàu nghèo ở nông thôn Bắc Ninh 86
3.2.1 Về việc làm 87
3.2.2 Về tài sản 91
3.2.3 Về thu nhập 94
3.2.4 Về sử dụng đất đai 101
3.2.5 Về tiếp cận với tín dụng 103
3.2.6 Về tiếp cận với y tế 104
3.2.7 Về tiếp cận với giáo dục 105
3.2.8 Về trợ cấp xU hội 108
3.2.9 Về quyền lực, địa vị của các hộ trong xU hội 108
3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phân hoá giàu nghèo 110
Chương IV - giải pháp hạn chế phân hoá giàu nghèo ở nông thôn tỉnh bắc ninh trong thời gian tới 4.1 Quan điểm về hạn chế phân hoá giàu nghèo 121
4.2 Mục tiêu giải quyết phân hoá giàu nghèo ở nông thôn Bắc Ninh
123 4.3 Giải pháp hạn chế phân hoá giàu nghèo ở nông thôn Bắc Ninh 125
4.3.1 Đẩy nhanh đô thị hoá, công nghiệp hoá, góp phần làm kinh tế tăng trưởng cao
125 4.3.2 Về đầu tư công 126
4.3.3 Về cung cấp dịch vụ công 127
4.3.4 Ban hành các quy định phù hợp của địa phương 129
4.3.5 Xây dựng và thực hiện tốt các quy định phát triển đồng đều giữa các vùng, khu vực và các huyện trong tỉnh
131 4.3.6 Khuyến khích làm giàu chính đáng 133
4.3.7 Đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo 134
4.3.8 Tổ chức triển khai thực hiện các chính sách 134
4.3.9 Tăng cường vai trò chỉ đạo, quản lý điều hành của chính quyền các cấp trong giải quyết phân hoá giàu nghèo 136
Trang 5kÕt luËn Vµ KIÕN NGHÞ . 138
nh÷ng c«ng tr×nh nghiªn cøu cña t¸c gi¶ ®C ®−îc c«ng bè . 142
danh môc tµi liÖu tham kh¶o . 143
phô lôc . 149
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
ESCAP: Economic Society Committee Αsia - Pacific
ODA : Official Development Assistance
OXFAM: Oxford Committee For Famine Relief
UNDP : United National Development Progamme
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Biểu hiện của sự phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam 22
Bảng 1.2: Mức GDP và GDP bình quân đầu người ở các nhóm nước 40 Bảng 1.3: GDP bình quân đầu người năm 2006 của một số nước 41
Bảng 1.4: Sự phân bố về các tỷ phú đô la Mỹ năm 2008 42
Bảng 1.5: Kinh nghiệm của một số nước về giải quyết phân hoá giàu nghèo 50
Bảng 1.6: Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam xét theo thu nhập 57
Bảng 1.7: Tỷ lệ hộ nghèo thuộc các vùng kinh tế qua các năm 59
Bảng 1.8: Chênh lệch thu nhập giữa 2 nhóm hộ xét theo vùng, khu vực của chủ hộ 60
Bảng 1.9: Tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ đói nghèo và phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam 62
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu cơ bản của tỉnh Bắc Ninh 66
Bảng 2.2: Tình hình kết cấu hạ tầng nông thôn tỉnh Bắc Ninh 68
Bảng 2.3: Nông thôn so với thành thị tỉnh Bắc Ninh năm 2007 71
Bảng 2.4: Tình hình thực hiựn các mực tiêu kinh tự - xU hựi cựa tựnh Bực Ninh 74
Bảng 2.5: Tỷ lệ hộ nghèo đói phân theo huyện, thành phố 76
Bảng 2.6: ðặc ủiểm của hộ ủiều tra năm 2005 78
Bảng 2.7: So sánh một số tiêu chí của hộ do tác giả điều tra với tiêu chí do Cục Thống kê tỉnh điều tra . 80
Bảng 3.1: Đặc điểm hộ giàu, nghèo ở nông thôn Bắc Ninh so với cả nước . 84
Bảng 3.2: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo bằng cấp cao nhất, theo thành thị - nông thôn, giới tính và 5 nhóm thu nhập năm 2006 .
88 Bảng 3.3: Tỷ lệ hộ xét theo trình độ văn hoá ở từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh năm 2005 89 Bảng 3.4: Tỷ lệ hộ cú nhà ở chia theo loại nhà, thành thị - nụng thụn, giới tớnh chủ hộ và 5 nhúm thu nhập năm 2006 91
Trang 8Bảng 3.5: Trự giỏ ựự dựng lõu bựn bỡnh quõn 1 hự chia theo thành
thự - nụng thụn, giựi tớnh chự hự và 5 nhúm thu nhựp 93
Ninh so với vùng ĐBSH và cả nước 94
nghèo ở tỉnh Bắc Ninh 96
theo tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp Nhà nước đU thu hồi
Đất nông nghiệp của hộ khảo sát hiện đang sử dụng và
đất Nhà nước đU thu hồi chia theo đơn vị hành chính 102
Trang 9DANH MỤC CÁC HèNH
Trang
Hình 1.1: Sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 17
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa lao động và tiền lương 18 Hình 1.3: Tổng hợp cỏc nhõn tố tỏc ủộng ủến phõn hoỏ giàu nghốo ở nụng thụn
23 Hình 1.4: Đường cong Lorenz 33
Hình 1.5: Tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 1992 - 2007 59
Hình 2.1: Cơ cấu hộ nông thôn theo ngành sản xuất tỉnh Bắc Ninh 76
Hình 3.1: Nội dung nghiên cứư phân hoá giàu nghèo 86
Hình 3.2: Tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Bắc Ninh
97 Hình 3.3: Đường cong Lorenz năm 2002 và 2005 của hộ điều tra 100
Trang 10Mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
ở nước ta, nông nghiệp, nông thôn có vị trí hết sức quan trọng trong lịch
sử và có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xU hội Với đặc
điểm của Việt Nam, khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, lực lượng lao động chủ yếu vẫn là nông dân, do đó, nông thôn vẫn có vai trò chi phối trực tiếp nhiều lĩnh vực kinh tế - xU hội Phát triển nông thôn, gắn nông thôn với sự phát triển chung là vấn đề khách quan và là trách nhiệm của toàn xU hội Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và đU có nhiều chủ trương chính sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển khu vực này Chính vì vậy, trong những năm qua nông nghiệp, nông thôn nước ta có bước phát triển toàn diện, góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế - xU hội, tạo tiền đề đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xU hội ở nông thôn nước ta đang
đặt ra nhiều thách thức to lớn Sự phát triển năng động của kinh tế theo cơ chế thị trường làm nảy sinh các vấn đề xU hội Do đó, giải quyết các vấn đề xU hội, trong đó có vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN), giảm dần sự phân hoá giàu nghèo, bảo đảm tiến bộ và công bằng xU hội trong quá trình phát triển là bài toán đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách, các ngành, các cấp, các địa phương và người dân ở mỗi giai đoạn phát triển
Trước thời kỳ đổi mới, với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đời sống, thu nhập giữa người giàu và người nghèo đU có sự chênh lệch nhưng không lớn Khi nền kinh tế thị trường phát triển, sự khác biệt về đời sống, thu nhập, tài sản, tiện nghi sinh hoạt giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn hơn, khoảng cách giàu nghèo - phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng Sự phân hoá giàu nghèo một mặt là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển; mặt
Trang 11khác dưới tác động tiêu cực của nó cũng ảnh hưởng khá lớn đến xU hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xU hội, thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ mà Việt Nam đU cam kết
ở Bắc Ninh, do có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên xU hội thuận lợi, tỉnh có nhiều chủ trương phù hợp, nên đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; đô thị và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển nhanh; tổng sản phẩm trong tỉnh tăng cao (bình quân đạt 15,5%/năm giai đoạn 2002 - 2008); đời sống của các tầng lớp nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,72% năm 2008 Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế cao, sự phân hoá giàu nghèo trong tỉnh đang có xu hướng tăng lên: Hệ số chênh lệch giàu nghèo tăng từ 1,8 lần năm 1985 lên 6,8 lần năm 2006 và đang có xu hướng tăng lên
Thực trạng phân hoá giàu nghèo diễn biến như thế nào? Sự phân hoá giàu nghèo ở Bắc Ninh đU đến mức nghiêm trọng chưa? Có vấn đề gì cần chú ý? Sự phát triển kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển văn hoá
- xU hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xU hội, cụ thể có ảnh hưởng như thế nào đối với sự phân hoá giàu nghèo? Phân hoá giàu nghèo phát triển như thế nào trong điều kiện kinh tế thị trường? Làm thế nào để hạn chế phân hoá giàu nghèo mà không làm giảm hoặc triệt tiêu động lực cho tăng trưởng kinh tế?
Có cách nào để phát huy được mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của phân hoá giàu nghèo? Đó là những vấn đề đặt ra có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn cần được giải đáp Xuất phát từ những nội dung trên, chúng tôi lựa chọn vấn
đề “Nghiên cứu sự phân hoá giàu nghèo ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh” làm
đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Từ phân tích đánh giá thực trạng phân hoá giàu nghèo ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh, đề xuất quan điểm và giải pháp hạn chế sự phân hoá giàu nghèo ở Bắc Ninh
Trang 122.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về phân hoá giàu nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xU hội ở nông thôn
- Đánh giá được thực trạng phân hoá giàu nghèo trong nông thôn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua
- Đề xuất, hoàn thiện các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, bảo đảm cho nông thôn Bắc Ninh phát triển bền vững
3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu phân hoá giàu nghèo về kinh tế (việc làm, tài sản, thu nhập, đất đai ) và phi kinh tế (sự tiếp cận với giáo dục, y tế, các khoản trợ cấp
xU hội, quyền lực xU hội) của các nhóm hộ giàu và nghèo ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong mối quan hệ phân hoá giàu nghèo chung của toàn tỉnh
- Chủ thể là hộ gia đình ở nông thôn trong vùng nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt khảo sát hộ nông thôn các vùng đại diện của tỉnh
- Thời gian: Các số liệu thu thập, sử dụng để nghiên cứu chủ yếu từ năm
1985 đến nay Một số số liệu điều tra khảo sát để phân tích thực trạng phân hoá giàu nghèo ở Bắc Ninh lấy tại hai thời điểm 2002 và 2005
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đU góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về giàu, nghèo, phân hoá giàu nghèo, kinh nghiệm một số nước và chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết vấn đề phân hoá giàu nghèo
- Luận án đU đánh giá thực trạng phân hoá giàu nghèo về kinh tế và phi
Trang 13kinh tế, phân tích nội dung biểu hiện của phân hoá giàu nghèo, những nhân tố
ảnh hưởng đến phân hoá giàu nghèo và dự báo xu hướng phân hoá giàu nghèo
ở nông thôn Bắc Ninh trong mối quan hệ với các khu vực khác trong tỉnh
- Luận án đU đề xuất những quan điểm và giải pháp góp phần hạn chế phân hoá giàu nghèo phù hợp với đặc điểm của nông thôn Bắc Ninh và sự phát triển chung của tỉnh cũng như cả nước, nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế
đi liền với giải quyết tốt vấn đề phân hoá giàu nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xU hội trong suốt quá trình phát triển
Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với việc lUnh đạo, chỉ đạo công tác XĐGN, giải quyết vấn đề phân hoá giàu nghèo ở nông thôn Bắc Ninh
Trang 14chương i một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về phân hoá giàu nghèo ở nông thôn
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu phân hoá giàu nghèo
Phân hoá giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế - xU hội xuất hiện và phát triển khi xU hội có sự phân chia thành các giai cấp Sự phát triển của kinh
tế thị trường sẽ làm cho kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng cũng làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo Hiện tượng này diễn ra sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc
đến các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá và xU hội cả trên 2 mặt tích cực và tiêu cực
* ảnh hưởng tích cực
Phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường đU góp phần khơi dậy tính năng động xU hội trong mỗi con người, mỗi nhóm xU hội, kích thích họ tìm kiếm và khai thác các cơ may, vận hội để phát triển vượt lên, góp phần kích thích nền kinh tế phát triển, vì cho dù là người giàu hay người nghèo họ
đều không ngừng vươn tới những mục tiêu ngày càng cao hơn trong cuộc sống Những người giàu tìm mọi cách để có thu nhập nhiều hơn nữa, nên họ sẽ
đầu tư để mở rộng hơn nữa quy mô sản xuất, kinh doanh Người nghèo cũng phải tìm mọi phương kế để giảm bớt nghèo, thoát khỏi cảnh đói nghèo, tiến tới
có của ăn, của để rồi tích luỹ làm giàu, mặc dù tốc độ tăng thu nhập của người nghèo thấp hơn nhiều so với người giàu Cùng với quá trình này, phân hoá giàu nghèo cũng tạo nên môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, qua đó sàng lọc và tuyển chọn được những người vượt trội, người tài giỏi về mọi mặt,
là nguyên nhân và động lực cho sự phát triển kinh tế - xU hội Mặt khác, trong
xU hội có bộ phận giàu lên, những người “vượt trội” sẽ đi tiên phong trong
Trang 15động vào nông thôn, người nghèo, đưa ánh sáng văn minh hiện đại, lối sống mới công nghiệp… tác động vào đối tượng này, làm cho họ dễ thích ứng với cái mới, từng bước tiến kịp văn minh thời đại Vì vậy, phải chấp nhận phân hoá giàu nghèo, đương nhiên ở một mức độ nhất định; khoảng cách an toàn của hệ số chênh lệch giàu nghèo từ 4,5 đến 21 lần, hoặc “tiêu chuẩn 40” từ 12% đến 17% Nếu hệ số chênh lệch nhỏ hơn 4,5 lần (hoặc “tiêu chuẩn 40” lớn hơn 17%) thì sẽ xảy ra tình trạng trì trệ về kinh tế; còn nếu hệ số chênh lệch lớn hơn 21 lần (hoặc “tiêu chuẩn 40” nhỏ hơn 12%) sẽ dẫn đến xung đột
về mặt xU hội [22, tr203]
* ảnh hưởng tiêu cực
- Đối với sự phát triển kinh tế - x hội
+ Tạo ra sự chênh lệch và điều kiện kinh tế, thu nhập, mức sống giữa các vùng, khu vực và bộ phận dân cư, nếu đến mức chênh lệch quá lớn dễ gây
sự chia rẽ, bất ổn xU hội
+ Khó khăn cho Nhà nước trong việc quy hoạch ổn định, cân đối nền kinh tế giữa các ngành tại các vùng khác nhau (giữa nông thôn và thành thị, giữa miền xuôi và miền ngược, hải đảo xa xôi)
+ Do không đồng thuận trong các tầng lớp xU hội, nên không phát huy
được nội lực của nền kinh tế và mọi khả năng tiềm tàng trong mọi tầng lớp dân cư vào các hoạt động sản xuất thích hợp
+ Sự phân hoá giàu nghèo làm cho Nhà nước mất đi một phần nguồn lực
sử dụng trong việc XĐGN, phân phối lại cho người nghèo có thu nhập thấp để thực hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xU hội, do đó dẫn đến nguồn lực không tập trung cho mục tiêu kinh tế, làm hạn chế sự tăng trưởng nền kinh tế Nếu nguồn lực này phân phối theo kiểu bình quân “cào bằng” cũng dẫn tới sự trì trệ của nền kinh tế, vì thiếu động lực cho phát triển
Trang 16- Đối với lĩnh vực văn hoá
Với người nghèo, mức độ hưởng thụ về văn hoá tinh thần ít hơn nhiều
so với người giàu Với nước nghèo, khó khăn cho việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Nền văn hoá của một nước phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế Các nước nghèo không chỉ bị lệ thuộc về vấn đề kinh tế mà đôi khi còn bị áp đặt bởi một nền kinh tế và văn hoá ngoại bang Trong xU hội có sự phân hoá giàu nghèo thì sự ảnh hưởng, tiếp thu, giữ gìn, phát huy những tinh hoa văn hoá của một đất nước trong các tầng lớp dân cư cũng rất khác nhau, nên sẽ gây cản trở
đến sự phát triển của nền văn hoá Nhất là trong điều kiện quốc tế hoá về kinh
tế, Nhà nước phải giảm sự can thiệp đối với các dịch vụ công về văn hoá, giáo dục, mặt khác do sự xâm lăng văn hoá làm mất dần đi những giá trị văn hoá truyền thống bản sắc của dân tộc
- Đối với lĩnh vực x hội
+ Phân hoá giàu nghèo trong xU hội sẽ tác động sâu sắc về mặt tâm lý, niềm tin về công bằng xU hội, là mầm mống xuất hiện sự chia rẽ trong nội bộ các tầng lớp dân cư, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, thiếu sự đồng thuận trong
Trang 17+ Tạo ra sự chênh lệch lớn về trình độ học vấn giữa các nhóm dân cư; người giàu càng có điều kiện nhiều hơn cho họ và các thành viên gia đình họ học tập lên cao, trong khi đó người nghèo mất dần cơ hội học tập
- Đối với lĩnh vực môi trường
Phân hoá giàu nghèo góp phần tác động xấu đến môi trường sinh thái do rừng, biển bị tàn phá để khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên Bên cạnh đó người giàu, nước giàu sẽ làm gia tăng số lượng xe hơi, chất thải công nghiệp… càng làm cho môi trường sống của con người trong xU hội bị đe doạ trầm trọng hơn
Do những ảnh hưởng tích cực của phân hoá giàu nghèo trong nền kinh
tế thị trường đU làm cho kinh tế tăng trưởng nhanh hơn; nhưng mặt khác ảnh hưởng tiêu cực của phân hoá giàu nghèo cũng rất lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xU hội và môi trường Do đó, rất cần thiết phải nghiên cứu sâu sắc vấn đề phân hoá giàu nghèo, từ đó có những giải pháp phù hợp để phát huy mặt tích cực, đồng thời kiểm soát, kiềm chế, giảm thiểu mặt tiêu cực của phân hoá giàu nghèo, góp phần vào sự phát triển bền vững của xU hội Trên thực tế chúng ta có thể xoá được nghèo tuyệt đối khi kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, thu nhập bình quân đầu người sẽ vượt mức tối thiểu, nhưng không thể xoá được nghèo tương đối, vì dù kinh tế có phát triển thế nào
đi nữa cũng vẫn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp trong mỗi quốc gia Điều
đó cũng có nghĩa không thể xoá bỏ được hiện tượng phân hoá giàu nghèo trong xU hội, mà chỉ có thể hạn chế mức độ gay gắt của nó bằng những chính sách phù hợp Điều này phù hợp với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu và kết luận thông qua điều tra của Tổ chức Lao động quốc tế: “Không thể thủ tiêu phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường, mà vấn đề là hạn chế
đến mức thấp nhất chênh lệch giàu nghèo Sự chênh lệch về thu nhập tăng lên khi đi từ các nước có thu nhập thấp tới thu nhập vừa, và giảm từ các nước có thu nhập vừa tới thu nhập cao” [49, tr25]
Trang 181.1.2 Khái niệm về giàu nghèo và phân hoá giàu nghèo
Trên những góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đU đưa ra những quan niệm khác nhau về giàu, nghèo
* Quan niệm về giàu
- Giàu là có nhiều tiền của; giàu là trái ngược với nghèo [6, tr735]
- Giàu là có nhiều hơn mức bình thường cái có giá trị về vật chất hoặc tinh thần [6, tr735]
- Hộ giàu là hộ có mức thu nhập tính bình quân 1 nhân khẩu/1 năm từ 1 triệu đồng trở lên và có các tiêu chuẩn khác như giá trị tài sản cố định dùng trong sản xuất mà hộ đU đầu tư và hiện có đến thời điểm điều tra; các tiện nghi phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình (nhà
ở, đồ dùng sinh hoạt trong nhà,…); mức chi tiêu sinh hoạt đời sống vật chất và tinh thần của hộ; mức tích luỹ hàng năm của hộ [43, tr13]
- Hộ giàu thường có nhiều tài sản ban đầu, nhất là đất, lao động và vốn; quan hệ xU hội tốt; tiếp cận nhanh với thông tin, thị trường; có nhà cửa chắc chắn và nhiều tiện nghi sinh hoạt; có đủ đất nông nghiệp, đất vườn màu mỡ;
có tư liệu sản xuất và máy móc; được dùng nước sạch, điện, có nhiều tiền và thu nhập khá; được vay vốn và có nhiều vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh;
có sức khoẻ tốt, có trình độ học vấn khá; có kiến thức, biết làm ăn, có lao
động và khả năng tìm kiếm việc làm ổn định, người ăn theo ít; con cái được học hành đầy đủ; quan hệ xU hội rộng; cư trú ở địa điểm thuận lợi, có phương tiện giao thông tốt… [29, tr 68-69] Khái niệm này rộng hơn, đầy đủ hơn, diễn giải khá chi tiết về các khía cạnh, đặc điểm của hộ giàu cả về kinh tế và phi kinh tế
Theo chúng tôi, người giàu là có đầy đủ các nguồn lực, có cuộc sống vật chất và tinh thần cao hơn mức khá của xU hội
Trang 19* Quan niệm về nghèo đói
Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại Hội nghị bàn về XĐGN ở khu vực châu á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9 năm 1993: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mUn những nhu cầu cơ bản của con người đU được xU hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xU hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [20, tr22] Theo khái niệm này, không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo thời gian, không gian
Một khái niệm khác được đưa ra tại Báo cáo chung của các nhà tài trợ Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12/2003: nghèo là tình trạng bị thiếu ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ
bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít được tham gia quá trình ra quyết
định, cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng [3, tr7] Khái niệm này cho thấy người nghèo không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn thiếu thốn cả đời sống văn hoá tinh thần, vị thế trong xU hội thấp
Tuy nhiên, các tiêu chí và chuẩn mục đánh giá phân loại sự nghèo đói còn phụ thuộc vào từng vùng, từng điều kiện lịch sử nhất định
Để phân biệt một cách chi tiết hơn, người ta còn phân chia thành hai loại là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Sự phân chia này, giúp cho mỗi quốc gia đề ra những giải pháp XĐGN phù hợp Trên thực tế, sự cố gắng của mỗi quốc gia cũng chỉ có thể xoá được nghèo tuyệt đối; còn nghèo tương đối thì luôn tồn tại hiện diện ở bất kể quốc gia nào, trình độ phát triển kinh tế nào
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng của một số bộ phận dân cư không có khả năng thoả mUn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống [21, tr 22] Nó là tình trạng con người không có ăn, không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết
Trang 20[22, tr 187] Theo quy định của Ngân hàng Thế giới (WB), nhu cầu dinh dưỡng đối với các nước Đông Nam á phải đạt số lượng là 2.100 calo/người/ngày [2, tr 5]
Xác định được chuẩn nghèo tuyệt đối có ý nghĩa cho phép chúng ta so sánh mức nghèo đói giữa các thời kỳ khác nhau, giúp chúng ta đánh giá hiệu quả của các chính sách chống đói nghèo theo thời gian, hay để đánh giá ảnh hưởng của một dự án trong lĩnh vực chống đói nghèo Ngân hàng Thế giới dùng chuẩn nghèo tuyệt đối để có thể so sánh tỷ lệ đói nghèo của các quốc gia, điều
đó có ích trong việc xác định nơi các nguồn lực cần được chuyển đến và cũng
để đánh giá những tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định [22, tr 189] Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định, tuỳ thuộc vào mức sống chung của xU hội Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xU hội tổ chức tại Copenhangen, Đan Mạch tháng 3/1995 đU đưa ra khái niệm về nghèo cụ thể hơn: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1USD/mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [9, tr148] Tuyên bố Thiên niên kỷ đU xác định chuẩn nghèo cho giai
đoạn 1990 - 2015 là mức thu nhập dưới 1USD/ngày/người [18, tr 40] Với khái niệm này, đU quy định cụ thể hơn với những ai là nghèo biểu hiện thông qua thu nhập của họ nếu không đạt mức 1USD/ngày
ở Việt Nam đU có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về nghèo đói Các ý kiến tập trung nhất là:
+ Nghèo: là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mUn
Trang 21một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của con người và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện [40, tr49]
+ Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu, không bảo đảm nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn đứt bữa từ 1-2 tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả [40, tr50]
Cách phân chia nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối ở Việt Nam cũng tương tự như cách phân chia hiện nay của một số nước đang sử dụng
Từ những đánh giá trên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xU hội và vấn đề cần quan tâm là hạn chế phân hoá giàu nghèo Vì nghèo tuyệt đối là mức thu nhập tối thiểu cụ thể do mỗi quốc gia xác định phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định, nên khi kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, thu nhập bình quân người sẽ vượt mức tối thiểu, sẽ xoá nghèo tuyệt đối Còn nghèo tương đối được xác định trong mối tương quan xU hội về tình trạng thu nhập giữa các nhóm người, dù kinh tế có phát triển thế nào chăng nữa cũng vẫn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong mỗi quốc gia, do đó không thể xoá được nghèo tương đối
* Quan niệm liên quan đến phân hoá giàu nghèo
Có khá nhiều quan điểm khác nhau về phân hoá giàu nghèo Các nhà xU hội học thường có cách tiếp cận truyền thống về phân tầng xU hội, phân hoá giàu nghèo đại diện cho 2 trường phái Mác xít (đại biểu là C Mác) và phi Mác xít (đại biểu là M Weber) Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tính đa chiều trong phân tầng xU hội, phân hoá giàu nghèo càng nổi rõ, do vậy cách tiếp cận kinh điển truyền thống có phần hạn chế Để khắc phục các hạn chế đó, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều chiều cạnh khác nhau về phân tầng xU hội, phân hoá giàu nghèo
Trang 22Một là, phân hoá là sự phân chia thành các bộ phận khác biệt nhau [6, tr 1324]
Hai là, phân hoá giàu nghèo chủ yếu là sự phân cực về kinh tế [40, tr 41] Quan niệm này có cách nhìn chủ yếu về lĩnh vực kinh tế, chưa thấy hết sự phân hoá giàu nghèo trong lĩnh vực phi kinh tế (địa vị, uy tín, văn hoá, giáo dục, y tế…)
Ba là, phân hoá giàu nghèo là trục trung tâm của phân tầng xU hội [37,
tr 30] Với quan niệm này, phân tầng xU hội có tầm bao quát rộng hơn so với phân hoá giàu nghèo Sự phân tầng xU hội gắn với những hệ quả của sự bất bình đẳng xU hội Phân tầng xU hội không chỉ đóng khung trong lĩnh vực kinh
tế mà còn cả trong lĩnh vực xU hội (uy tín, quyền lực, địa vị xU hội khác nhau…)
Bốn là, phân hoá giàu nghèo là một hiện tượng xU hội phản ánh quá trình phân chia xU hội thành các nhóm xU hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau Phân hoá giàu nghèo là phân tầng xU hội về mặt kinh tế, thể hiện trong
xU hội có nhóm giàu – tầng đỉnh, nhóm nghèo - tầng đáy Giữa nhóm giàu và nhóm nghèo là khoảng cách về thu nhập, mức sống [19, tr 1]
Phân hoá giàu nghèo có thể xem như những biến thể, hay là trường hợp riêng của phân tầng xU hội, hay nói cách khác, phân hoá giàu nghèo là phân tầng xU hội theo mức sống, theo thu nhập [39, tr 1]
Năm là, phân hoá giàu nghèo là hiện tượng kinh tế - xU hội có từ lâu đời gắn liền với quá trình phân chia xU hội thành giai cấp [48, tr 18]
Sáu là, phân tầng xU hội theo mức sống tức là phân hoá giàu nghèo [29,
tr 32]
Trang 23Bảy là, phân tầng xU hội là một trong những khái niệm cơ bản của xU hội học Nó là sự xếp hạng một cách ổn định các vị trí trong xU hội xét từ góc
độ quyền lực, uy tín, hoặc các đặc quyền, đặc lợi không ngang nhau Trong sự phân tầng xU hội, có các tầng, mỗi tầng là một tập hợp người (cá nhân) giống nhau về địa vị, bao gồm địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chính trị (quyền lực) hay địa vị xU hội (uy tín), từ đó mà họ có được những cơ hội thăng tiến, sự phong thưởng và những thứ bậc nhất định trong xU hội
Tám là, xu hướng phân hoá giàu nghèo là sự thiên về một hướng nào đó của sự phân hoá (phân hoá nhiều hay ít, phân hoá tăng lên hay giảm đi, phân hoá trầm trọng hay không trầm trọng… của sự giàu nghèo) với thời gian dài trong quá trình phát triển kinh tế - xU hội
Qua một số khái niệm do các nhà nghiên cứu đưa ra ở trên cho thấy, hầu như nói đến phân hoá giàu nghèo là nói đến sự phân cực về kinh tế (thu nhập, mức sống), khái niệm phân hoá giàu nghèo có giới hạn hẹp hơn khái niệm phân tầng xU hội
Thực tế trong xU hội hiện nay, ở các nước cũng như ở Việt Nam, sự phân hoá giàu nghèo không chỉ nhìn thấy sự khác nhau về mặt kinh tế mà cũng còn có sự khác nhau rất rõ về phi kinh tế Vì vậy, theo chúng tôi nếu chỉ hiểu phân hoá giàu nghèo là phân hoá về kinh tế là chưa đủ, cần hiểu rộng hơn ngoài phân hoá về kinh tế còn có phân hoá phi kinh tế Do đó, theo chúng tôi, phân hoá giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế - x hội, phản ánh sự phân chia x hội thành các nhóm x hội có điều kiện về kinh tế và phi kinh tế khác biệt nhau
1.1.3 Bản chất kinh tế - chính trị của phân hoá giàu nghèo
Việc tiếp cận vấn đề phân hoá giàu nghèo rất đa dạng và ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung việc xem xét, đánh giá sự phân hoá giàu nghèo thường gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể và trong một giai
Trang 24đoạn nhất định và ngày nay được bổ sung, hoàn chỉnh đầy đủ hơn trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại Trong các xU hội có giai cấp, phân hoá giàu nghèo là hiện tượng tất yếu và luôn gắn liền với bất bình đẳng xU hội Phân hoá giai cấp và phân hoá giàu nghèo là hệ quả tất yếu của nhau
C.Mác (1818 - 1883), đU phân tích có hệ thống vấn đề phân hoá giai cấp và phân hoá giàu nghèo trong các xU hội có giai cấp C.Mác cho rằng, tư liệu sản xuất hay quyền sở hữu tài sản là nhân tố giữ vai trò quyết định trong phân chia xU hội thành các giai cấp, các tầng lớp khác nhau Quan hệ chiếm hữu tư liệu sản xuất là cơ sở, là yếu tố quyết định trong quan hệ phân phối và
do đó làm xuất hiện sự khác nhau về thu nhập và dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo Vì vậy, theo C.Mác, thủ tiêu chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xoá bỏ chế độ người bóc lột người là cơ sở để hạn chế sự phân hoá giàu nghèo [37, tr7]
Cùng nghiên cứu về vấn đề này, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, tức là chủ nghĩa đế quốc, đây là thời kỳ phân hoá cao độ diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, trong giai đoạn này, V.I Lênin tiếp tục phát triển các quan điểm của C.Mác Theo V.I Lênin, sự phân tầng xU hội, phân hoá giai cấp bắt nguồn từ sự khác nhau
về quan hệ đối với tư liệu sản xuất, về địa vị trong hệ thống sản xuất và dẫn
đến sự hưởng thụ kết quả lao động khác nhau [40, tr 42]
Nhà xU hội học M.Weber (1864 - 1920) cho rằng sự phân tầng xU hội, phân hoá giàu nghèo gắn liền và là hệ quả của sự bất bình đẳng xU hội Sự bất bình đẳng đó thường biểu hiện trong quan hệ về tài sản, quyền lực và uy tín, tạo ra những cộng đồng người có địa vị kinh tế, địa vị chính trị và địa vị xU hội khác nhau M.Weber một mặt thừa nhận nguồn gốc phân chia giai cấp gắn với phân chia giữa những người có sở hữu và những người không có sở hữu, mặt khác ông nhấn mạnh rằng, ngoài ra còn phải chú ý đến sự hình thành các
Trang 25nhóm xU hội trên cơ sở tín nhiệm Trong lý luận của mình, M.Weber cũng nhấn mạnh đến khả năng thị trường, coi đó là nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng x hội hơn là yếu tố tài sản Khả năng tiếp cận thị trường của mỗi người không giống nhau Ngoài yếu tố tài sản, các nhân tố tự nhiên, bẩm sinh cũng như nhân tố xU hội cũng tác động đến khả năng tiếp cận này ở mỗi người đều có sự khác nhau về năng lực, trí tuệ Sự không đồng đều này chính
là nguồn gốc tự nhiên đầu tiên của sự bất bình đẳng, của phân hoá giàu nghèo [37, tr8] Như vậy, trên cơ sở lý luận phân tích cơ cấu xU hội của C.Mác, M.Weber đU bổ sung trong điều kiện mới của tư bản hiện đại
Cùng với lý thuyết về phân tầng xU hội, nhiều nhà xU hội học như Parron (1902 - 1979) [27, tr294], đặc biệt là nhà xU hội học Pháp Bourdieu [27, tr295] đU đưa ra khái niệm về vốn kinh tế, vốn văn hoá, vốn x hội để phân tích quan hệ giữa các giai cấp Có thể nói: tài sản, trí tuệ, quyền lực là các yếu tố cơ bản trong sự phân tầng x hội, phân hoá giàu nghèo
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, theo cách tiếp cận khác, các nhà kinh tế học như Kuznets, Lewis, Oshima cũng đU đề cập đến vấn đề công bằng xU hội và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xU hội
- Kuznets, trong tác phẩm Sự tăng trưởng kinh tế của các nước (năm 1971) [37, tr 8], đU đưa ra lý thuyết phát triển là một quá trình cân bằng Theo
ông, phát triển là một quá trình cân bằng, trong đó các nước tiến lên một bước vững chắc Cũng trong tác phẩm này, Kuznets có chú ý tới mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Dựa vào số liệu của các nước có mức thu nhập giàu, nghèo khác nhau trong thời kỳ dài, ông cho rằng mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có dạng
Trang 26chữ U ngược, tức là, tăng trưởng về kinh tế trước, phân phối lại thu nhập sau (Hình 1.1) Điều này có nghĩa là khi tăng trưởng được thực hiện trong giai
đoạn đầu, tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập tăng Tuy nhiên, khi đạt tới trình độ phát triển nhất định, thì tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giảm dần
Tuy nhiên, trong mô hình của mình, Kuznets chỉ tạo ra được xu hướng vận động có tính quy luật của mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xU hội Ông chưa lý giải được vì sao lại có tính quy luật đó và vai trò Nhà nước trong quá trình vận động của mối quan hệ này, làm thế nào để phát triển phải hạ thấp đỉnh chữ U ngược [1, tr 4]
Hình 1.1: Sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
- Nhà kinh tế học Lewis đồng tình với Kuznets về xu hướng thay đổi theo hình chữ U ngược Lewis đU tập trung và lý giải nguyên nhân dẫn đến mô hình chữ U ngược Trong tác phẩm Lý thuyết và phát triển kinh tế (1955) [37, tr10] ông đU trình bày rõ mô hình dư thừa lao động của mình như nghiên cứu mối quan hệ giữa hai khu vực: công nghiệp và nông nghiệp
Lewis đU phát triển lý luận trên cơ sở luận điểm của Ricardo [37, tr10] cho rằng: Lợi nhuận trong nông nghiệp có xu hướng giảm dần vì để mở rộng
Trang 27sản xuất, nông nghiệp ngày càng phải sử dụng đất đai xấu hơn, dẫn đến chi phí cho một tấn lương thực ngày càng gia tăng Cũng vì vậy mà ở nông thôn
có lao động dư thừa Theo Ricado, khi đất đai là giới hạn của sự phát triển nông nghiệp thì cần phải chuyển bớt số lao động dư thừa trong nông nghiệp sang công nghiệp
Dựa vào luận điểm trên của Ricardo, Lewis [37, tr10] cho rằng muốn lôi kéo được lao động dư thừa từ nông nghiệp sang công nghiệp thì các xí nghiệp công nghiệp phải trả tiền công tương ứng với mức tiền công tối thiểu
mà họ kiếm được ở nông thôn Nhưng cứ chuyển mUi lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp thì đến mức độ nào đó, sẽ làm ảnh hưởng đến nông nghiệp Khi đó lao động trở nên đắt hơn và các chủ công nghiệp phải trả tiền công cao hơn mới đủ sức lôi kéo lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp Quan điểm trên của Lewis có thể được trình bày ở hình 1.2
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa lao động và tiền lương
Đường MPL (SL) phản ánh cung lao động trong công nghiệp mà Lewis muốn miêu tả
Điểm E trên đường cung lao động cho công nghiệp được gọi là điểm ngoặt phản ánh những thay đổi khi lao động trực tiếp rút ra khỏi khu vực nông nghiệp sau mức LO
Trang 28Từ những trình bày trên đây, Lewis kết luận: lúc đầu của quá trình tăng trưởng thì bất bình đẳng tăng lên vì quy mô sản xuất công nghiệp ngày càng
mở rộng thì lao động từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp ngày càng tăng nhưng tiền công của công nhân vẫn giữ mức tối thiểu Trong khi tiền công không thay đổi thì thu nhập của các nhà tư bản tăng lên do kết quả của công nhân đem lại nhờ mở rộng quy mô sản xuất, vì thế trong giai đoạn này đại bộ phận những người lao động nghèo khổ, chỉ có một số ít các nhà tư bản trở lên giàu có
Đến giai đoạn sau của quá trình tăng trưởng, bất bình đẳng giảm bớt do lao động dư thừa đU được hút hết vào khu vực công nghiệp và lao động trở thành yếu tố khan hiếm của sản xuất Khi đó nhu cầu lao động tăng lên đòi hỏi tiền lương phải tăng lên Sự tăng lên về tiền lương dẫn đến giảm bớt sự bất bình đẳng
Như vậy, theo Lewis, tăng trưởng diễn ra trước, bình đẳng diễn ra sau Tăng trưởng là điều kiện làm giảm bớt bất công bằng x hội Trong sự bất bình đẳng đó, những người có thu nhập cao sẽ giành một phần đáng kể thu nhập của mình cho tích luỹ, dẫn đến tăng đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Vì vậy, các cố gắng để phân phối lại thu nhập một cách vội
vU, không đúng lúc sẽ dẫn đến nguy cơ bóp nghẹt sự tăng trưởng kinh tế
Oshima - một nhà kinh tế Nhật Bản - dựa vào những luận điểm của Ricado về mối quan hệ giữa khu vực nông nghiệp và khu vực công nghiệp,
ông đi sâu nghiên cứu mối quan hệ này trong điều kiện một nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao Trong tác phẩm Tăng trưởng kinh tế ở châu á gió mùa, ông đU đưa ra mô hình tăng trưởng mới gắn liền với giải quyết vấn đề công bằng xU hội [37, tr12]
Theo Oshima, do nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao nên có lúc thiếu lao động, nhưng nhiều lúc thừa lao động Do đó, trong thời kỳ đầu có
Trang 29thể tăng năng suất lao động nông nghiệp bằng cách giảm tình trạng thiếu việc làm thông qua tăng vụ, đa dạng hoá cơ cấu cây trồng công nghiệp và cây lâm nghiệp Vì có việc làm nhiều hơn nên thu nhập của người nông dân cũng tăng lên, giảm bớt sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa nông thôn và thành thị Khi thu nhập tăng lên, nông dân bắt đầu có tích luỹ và có thể tăng
đầu tư cho sản xuất, nhờ vậy nông nghiệp được tăng trưởng nhanh hơn Đồng thời Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ nông nghiệp về các mặt thuỷ lợi, giao thông, điện, trường học… để thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh hơn Tiếp theo, do nông nghiệp được phát triển ở mức độ nhất định có thể cho phép đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn
Như vậy, phát triển nông nghiệp đU tạo điều kiện mở rộng thị trường cho công nghiệp, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển Điều đó tạo nên
sự di chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và các ngành dịch vụ Cùng với quá trình phát triển công nghiệp, tiền lương trong nông nghiệp cũng dần dần tăng lên
Tóm lại, theo Oshima, tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo vấn đề công bằng x hội Và khi công bằng x hội đạt được ở mức độ nào đó lại là tiền đề để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hơn nữa
Như vậy, phân hoá giàu nghèo xuất hiện và phát triển khi xU hội phân chia thành các giai cấp đối kháng Trong lịch sử phát triển của xU hội loài người, sự phân hoá giàu nghèo từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến chế độ tư bản ngày càng trở nên phức tạp hơn Thật vậy, trong nền kinh tế tự nhiên, sự phân hoá giàu nghèo gắn liền với sự bất bình đẳng trong điều kiện kinh tế kém phát triển Sự phát triển của lực lượng sản xuất xU hội đU phá vỡ nền kinh tế tự nhiên, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Với sự xuất hiện của kinh tế thị trường - gắn liền với nền kinh tế tư bản, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng trở lên gay gắt hơn Quyền tư hữu là một trong những nhân tố cơ bản trong
Trang 30nền kinh tế thị trường Trên cơ sở tư hữu, nền kinh tế thị trường hình thành lợi ích cá nhân để thúc đẩy con người hành động Mọi người luôn luôn hành động với mục tiêu được thoả mUn tối đa với chi phí tối thiểu Hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại đều cho rằng trong cơ chế thị trường việc phân phối tài sản và thu nhập được căn cứ chủ yếu vào quyền sở hữu, do đó đU gây ra sự tập trung tài sản và của cải ở một lớp người, dần dần đU tạo ra sự phân hoá giàu nghèo, dẫn
đến nhiều bất công cả về kinh tế và xU hội
Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, kinh tế thị trường đU phân hoá những người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo và chuyên môn hoá họ thành những người sản xuất và những người quản lý Khi phát triển hơn, nền kinh tế thị trường tiếp tục phân hoá và chuyên môn hoá các nhà kinh doanh vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế cụ thể mà ở đó họ có ưu thế nhất, làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng nghiêm trọng
Phân hoá giàu nghèo là một hiện tượng xU hội Cơ sở của sự phân hoá giàu nghèo bao gồm rất nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là mối quan hệ về tài sản, quyền lực, trí tuệ Để giảm sự phân hoá giàu nghèo trước tiên là phải xây dựng một thể chế kinh tế - xU hội tạo điều kiện cho thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, giải quyết xoá đói giảm nghèo Nhà nước phải hoạch định các chính sách, biện pháp hạn chế sự phân hoá giàu nghèo Việc giải quyết xoá đói, giảm nghèo và phân hoá giàu nghèo phải kết hợp cả vai trò Nhà nước, vai trò của gia đình và cộng đồng xU hội
1.1.4 Biểu hiện của sự phân hoá giàu nghèo ở nông thôn
ở nông thôn sự phân hoá giàu nghèo được biểu hiện chủ yếu ở sự chênh lệch nhau giữa 2 nhóm hộ giàu và nghèo về các lĩnh vực như việc làm, đất đai, thu nhập, mức sống (chi tiêu), tài sản; sự tiếp cận với giáo dục, y tế, văn hoá thể thao, vui chơi giải trí, tham quan du lịch, các khoản trợ cấp xU hội, quyền lực địa vị trong xU hội Để dễ so sánh chúng tôi hệ thống qua bảng 1.1
Trang 31Bảng 1.1: Biểu hiện của sự phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam
Việc làm
- Trong hộ có nhiều lao động
- Lao động có trình độ học vấn cao
(63% có trình độ cấp II và cấp III)
- Lao động có trí tuệ, kinh nghiệm, sức
khoẻ nên có thể tự giải quyết được mọi
công việc
- Có thể thuê thêm lao động trong đó
chủ yếu là nông dân nghèo ít ruộng
- Có đủ việc làm trong năm
- Trong hộ có ít lao động, nhiều con,
đông người ăn theo
- Lao động không có hoặc trình độ học vấn thấp (53,6% chủ hộ văn hoá cấp I)
- Lao động không biết kinh nghiệm sản xuất kinh doanh
- Thiếu việc làm, đi làm thuê cho người khác
Đất đai
- Diện tích đất vườn và đất nông nghiệp
bình quân /hộ cao (đất vườn 1.286m 2 ,
đất nông nghiệp 12.537m 2 )
- Muốn có nhu cầu tăng thêm đất đai để
sản xuất kinh doanh (thuê hoặc chuyển
nhượng, đấu thầu )
- Diện tích đất vườn và đất nông nghiệp bình quân/hộ rất thấp (đất vườn 771m 2 ,
đất nông nghiệp 2.771m 2 )
- Hệ số sử dụng đất thấp (1,2lần/năm)
Thu nhập - Có thu nhập cao trong xU hội - Có thu nhập thấp, không đủ ăn, phải đi vay mượn
Chi tiêu
- Mức chi tiêu cao so với mức sống
chung của xU hội
- Cơ cấu chi: tỷ trọng chi cho ăn uống
thấp hơn chi ngoài ăn uống
- Mức thi tiêu thấp, phải đi vay mượn mới đủ ăn
- Cơ cấu chi tiêu: tỷ trọng chi chủ yếu dành cho ăn uống
Tài sản
- Chi nhiều tiền cho mua sắm tài sản
- Có nhiều tài sản, tài sản có giá trị lớn,
đắt tiền, ”hàng hiệu”
- Có nhiều vốn đầu tư cho sản xuất kinh
doanh hoặc cho vay lấy lUi
- Tích cực tham gia các hoạt động văn
hoá, thể thao, vui chơi giải trí, tham
quan du lịch
- Chủ hộ và người thân ngại học tập, trình độ học vấn thấp
- Nhận thức xU hội kém
- ít chú ý đến sức khoẻ, sống trong môi trường dễ ô nhiễm, hay bị ốm, thiếu thuốc chữa bệnh
- Rất ít hoặc không tham gia các hoạt
động xU hội, văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí, tham quan du lịch
- Tham gia các chức vụ lUnh đạo ở địa
phương nhiều hơn; địa vị cao hơn trong
xU hội; hoạt động xU hội tích cực hơn
- Địa vị xU hội thấp; tự ti, ngại tiếp xúc,
ít hoạt động xU hội
(Nguồn: [43, tr19-29])
Trang 321.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến phân hoá giàu nghèo
Trong quá trình phát triển của xU hội có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng
đến phân hoá giàu nghèo, bao gồm cả nhân tố ngoại sinh (khách quan) và nhân tố nội sinh (chủ quan của chính hộ) (Hình 1.3)
Dịch vụ công Tiềm lực của hộ
rủi ro
Khả năng phản ứng với thị trường
Khả năng thích ứng với
Vị trí
địa lý
Tăng trưởng kinh tế
Trang 33với nông thôn; hoặc chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư thành thị là do một số lao động nông thôn di cư ra thành thị chưa được đào tạo, kỹ năng lao động thấp, việc làm không ổn định, thu nhập không cao
Mặt khác, Chính phủ các nước thực hiện chính sách “thiên về thành phố”, nên nguồn lực được tập trung đầu tư nhiều hơn cho khu công nghiệp, đô thị (về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xU hội; về hỗ trợ khuyến khích thu hút đầu tư cho lĩnh vực, sản phẩm mới theo ý muốn của cấp lUnh đạo; đề ra các chính sách bảo hộ thuế quan, ưu đUi, miễn giảm thuế, hoàn thuế, và đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, các dịch
vụ công cộng so với vùng nông thôn đông dân cư ), làm cho kinh tế ở vùng
đô thị, khu công nghiệp phát triển hơn, thu nhập của người dân cao hơn ở nông thôn
- Về cung cấp dịch vụ công: Dịch vụ công cộng là các hoạt động phục
vụ các lợi ích chung thiết yếu của số đông hay của cộng đồng Dịch vụ công của Nhà nước có thể bao gồm nhiều loại khác nhau do Nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức sự nghiệp của Nhà nước thực hiện, như dịch vụ sự nghiệp công (cung cấp các phúc lợi về y tế, giáo dục, văn hoá, khoa học, bảo hiểm, thể dục thể thao ); dịch vụ công ích (cung cấp các phúc lợi vật chất phục vụ nhu cầu sinh hoạt của toàn xU hội như vệ sinh môi trường, giao thông công cộng ); và dịch vụ công phục vụ sản xuất (hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, cung cấp giống, thuỷ lợi, dự báo dịch bệnh, thông tin về thị trường, môi trường)
Trong nền kinh tế thị trường, do các thất bại của thị trường dẫn đến chỗ người ta phải thừa nhận sự can thiệp của Chính phủ (bàn tay hữu hình) vào nền kinh tế là cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xU hội Chính phủ là người sử dụng nguồn thu có được từ sự đóng góp chung có tính bắt buộc (thuế, phí, lệ phí ) để cung ứng, trang trải các chi phí về hàng hoá công cộng cho tất cả mọi người, nhằm bảo đảm cho sự công bằng xU hội và cho sự phát triển Tuy
Trang 34nhiên, trong thực tế, người giàu biết chớp thời cơ, nhanh nhậy nắm bắt thông tin
để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trong đời sống, nên chính họ lại được thụ hưởng nhiều hơn từ các dịch vụ công của xU hội Ngược lại, người nghèo do tự ti, chậm chạp, ngại hoạt động xU hội, thua thiệt hơn trong việc hưởng thụ các dịch vụ công của Nhà nước làm cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng
- Nguồn lực tổ chức xoá đói giảm nghèo: Một trong những giải pháp hạn chế phân hoá giàu nghèo, làm giảm sự gia tăng phân hoá giàu nghèo là thực hiện có hiệu quả chương trình XĐGN, trong đó nguồn lực phục vụ cho XĐGN có vai trò quan trọng, bảo đảm cho chương trình XĐGN có được thực hiện hiệu quả hay không Nguồn lực cho XĐGN bao gồm nhiều lĩnh vực:
+ Nguồn lực về con người, bao gồm lUnh đạo các cấp, các ngành, các thành viên Ban chỉ đạo chương trình XĐGN ở các cấp làm nhiệm vụ chỉ đạo,
tổ chức thực hiện; nguồn lực của chính bản thân người nghèo về sức khoẻ, trình độ văn hoá, học vấn, hiểu biết, kinh nghiệm thị trường
+ Nguồn lực về vốn, tài sản, tư liệu sản xuất, đất đai của chính hộ nghèo
+ Nguồn lực do cơ chế chính sách của Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ và cộng đồng, dòng họ trợ giúp cho người nghèo
Nếu các nguồn lực trên đầy đủ, kịp thời sẽ giúp cho chương trình XĐGN đạt hiệu quả cao, người nghèo sẽ tăng thu nhập, nâng cao mức sống, thoát nghèo, góp phần làm giảm phân hoá giàu nghèo Ngược lại, thiếu nguồn lực sẽ dẫn đến thực hiện chương trình XĐGN kém hiệu quả, người nghèo vẫn thu nhập thấp, không thể thoát nghèo, dẫn đến gia tăng phân hoá giàu nghèo
- Về tăng trưởng kinh tế: Thực tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế và phân
Trang 35và tiền đề cho nhau cùng phát triển Tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để thực hiện công bằng xU hội, hạn chế phân hoá giàu nghèo Tăng trưởng kinh tế
là điều kiện cần thiết khách quan để xoá bỏ những bất bình đẳng, hạn chế phân hoá giàu nghèo Thế nhưng tăng trưởng kinh tế lại làm nảy sinh những bất bình đẳng mới, sự phân hoá giàu nghèo tăng lên Sự phân hoá tăng lên là
do trí tuệ, năng lực, phẩm chất, nguồn lực của mỗi cá nhân trong xU hội khác nhau, dẫn đến thu nhập khác nhau, tạo nên phân hoá giàu nghèo Để góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế đương nhiên phải do các tập thể, cá nhân có tiềm lực về mọi mặt: lao động, vốn, tư liệu sản xuất kinh doanh, sự hiểu biết, kinh nghiệm thị trường Chính những người này biết tập trung các nguồn lực đầu tư cho sản xuất kinh doanh, làm cho kinh tế gia đình họ phát triển, thu nhập tăng cao và góp phần vào tăng trưởng kinh tế Quá trình đó làm cho người giàu lại càng giàu hơn, tạo sự gia tăng phân hoá giàu nghèo trong xU hội
- Về chính sách của Nhà nước : Các chính sách kinh tế - xU hội có vai trò
rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xU hội của mỗi quốc gia, nó là một trong những công cụ quan trọng nhất của Nhà nước để quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế - xU hội theo mục tiêu xác định Tuy nhiên, chính sách là nhằm phục vụ lợi ích chung phù hợp với từng giai đoạn của sự phát triển, do đó không tránh khỏi những khiếm khuyết của chính sách có thể gây bất lợi cho một số ít người nào đó trong xU hội Ví dụ như Chính phủ ở các quốc gia đều muốn ưu tiên đầu tư đẩy nhanh quá trình đô thị hoá, CNH, HĐH, phát triển các khu công nghiệp tập trung, đương nhiên phải đầu tư nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng ở khu vực này, vì vậy có ít nguồn lực hơn để đầu tư cho vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ người nghèo; hoặc chính sách vay vốn của các ngân hàng thương mại phải có tài sản thế chấp, người giàu có tài sản sẽ dễ dàng vay vốn, nhưng người nghèo do không có tài sản thế chấp nên không thể vay được Do không có vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, nên thu nhập thấp hơn người giàu ở Việt Nam, thời gian qua duy trì chính sách bù lỗ cho giá xăng
Trang 36dầu, giá điện (tức áp dụng giá bao cấp cho tất cả các đối tượng) Nhưng người giàu lại được bao cấp, thụ hưởng nhiều hơn, vì họ có nhiều phương tiện ô tô, xe máy, thiết bị điện họ càng dùng nhiều ngân sách Nhà nước càng bù lỗ nhiều cho họ Trong khi đó, người nghèo không có phương tiện hiện đại (ô tô, xe máy ), thiết bị điện nên không sử dụng hoặc sử dụng rất ít, nên không được hoặc rất ít được hưởng sự bù giá của Nhà nước Đây là sự bất công, cần phải thay đổi chính sách này theo hướng điều hành giá theo kinh tế thị trường, không bao cấp qua giá để lấy phần tăng thu ngân sách bù lỗ qua giá trước đây của Nhà nước trợ cấp cho đúng đối tượng người nghèo để bảo đảm điều tiết thu nhập, tạo
sự công bằng xU hội
Hoặc do chính sách đền bù đất đai: Chính phủ ban hành chính sách bồi thường đền bù khi Nhà nước, tổ chức, cá nhân thu hồi đất; mỗi địa phương vận dụng cụ thể hoá mức đền bù khác nhau trong khung giá pháp luật cho phép và phù hợp với đặc thù mỗi địa phương Điều này cũng làm chênh lệch thu nhập của các hộ dân giữa các địa phương Mặt khác ngay trong mỗi địa phương cũng xảy ra sự chênh lệch rất lớn giữa giá đất khi chủ đầu tư thu hồi đất đền bù bồi thường hỗ trợ cho nông dân so với giá đất nhà đầu tư cấp, bán cho các đối tượng khác có nhu cầu, hoặc do sản xuất kinh doanh sinh lời trên chính thửa đất đó, thậm chí có nơi chênh nhau hàng trăm lần tạo nên phân hoá thu nhập giữa các
đối tượng
- Về đầu tư công: Do thực hiện các chương trình phát triển, Chính phủ các nước đều sử dụng các nguồn lực về tài chính công để thực hiện các chức năng vốn có của mình Đây là công cụ để Nhà nước chi phối, điều chỉnh các hoạt động của xU hội, phục vụ cho các lợi ích chung, lợi ích công cộng của toàn
xU hội, của quốc gia hoặc của đa số Trong nền kinh tế thị trường, nhiều lĩnh vực các doanh nghiệp và hộ cá thể không có khả năng hoặc không muốn làm, nhưng để bảo đảm cho sự phát triển chung của xU hội, khuyến khích lĩnh vực
Trang 37Nhà nước phải đầu tư công cho khu vực này về xây dựng kết cấu hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi); đầu tư vào hệ thống cung cấp điện, nước, vệ sinh môi trường, các công trình văn hoá, thể thao, công viên, khu vui chơi giải trí, chợ nông thôn nhằm mục đích khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế thị trường, tạo sự công bằng cho mọi đối tượng được hưởng thụ Trên thực tế người giàu lại
được thụ hưởng từ đầu tư công nhiều hơn người nghèo vì nhu cầu mọi mặt của người giàu cao hơn người nghèo, tạo sự chênh lệch về mức sống giữa người giàu và người nghèo
- Về năng lực tổ chức thực hiện các chính sách: Quá trình tổ chức thực hiện chính sách cũng phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người thi hành công
vụ, của một số cấp lUnh đạo, do đó cũng có thể vì lý do nào đó (có thể do nhận thức chưa hết hoặc động cơ không trong sáng ) làm cho việc thực hiện chính sách sai lệch, phần thiệt hơn thường rơi vào người nghèo do quan hệ, vị thế xU hội của họ hạn chế Với người giàu, việc nắm bắt kịp thời chính sách, chớp thời cơ đề nghị các cấp giải quyết dễ dàng được thực hiện
- Về vị trí địa lý: Hộ giàu thường sống ở nơi có nhiều thuận lợi về vị trí
địa lý, điều kiện tự nhiên (nơi đô thị, gần trung tâm, tiện lợi về giao thông giao lưu trao đổi với xU hội ) làm cho dễ có việc làm, thu nhập cao Trong khi đó
hộ hộ nghèo thường tập trung sống ở những nơi có điều kiện địa lý tự nhiên không thuận lợi (vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, nơi cách
xa các trung tâm đô thị, thị trấn, thị xU, thành phố, không thuận tiện về đường giao thông, giao lưu phát triển kinh tế - xU hội) Hoặc có thể sống ở nơi gần trung tâm đô thị nhưng không may gặp phải rủi ro, tai nạn, bệnh tật, sự tàn phá của thiên tai, thời tiết làm cho thu nhập, đời sống thấp hơn nhiều so với
hộ giàu
1.1.5.2 Nhóm nhân tố nội sinh (chủ quan của chính hộ): các nhân tố nội sinh của chính hộ thường bao gồm: tiềm lực của hộ (tài sản, đất đai, nguồn
Trang 38lực tài chính, nguồn nhân lực, địa vị trong xU hội ), khả năng thích ứng thị trường và khả năng phản ứng với rủi ro của hộ Các nhân tố này cũng có ảnh hưởng khá lớn đến phân hoá giàu nghèo Tuy nhiên, vì chủ hộ có kiến thức học vấn thấp nên rất khó thay đổi, cần phải có thời gian dài mới có thể giúp họ thay đổi được các nhân tố này
- Tiềm lực của hộ: Hộ giàu thường có tiềm lực mạnh hơn cả về vật chất
và tinh thần phục vụ cho sản xuất và đời sống (đất đai, tài sản, tiền vốn, nguồn nhân lực, địa vị trong xU hội ), vì thế sản xuất kinh doanh phát triển, cho thu nhập cao Ngược lại, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hộ nghèo thường thiếu hoặc không có tiềm lực phục vụ cho sản xuất và đời sống, làm cho sản xuất chậm phát triển, đời sống thu nhập thấp, tạo nên chênh lệch lớn so với hộ giàu
- Khả năng thích ứng với thị trường: ở các hộ nghèo, chủ hộ và các thành viên thường không có hoặc có trình độ học vấn rất thấp, chậm hiểu biết, không hoặc ít biết kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, chủ yếu làm theo phong tục tập quán truyền thống lạc hậu vì chậm hoặc không tiếp thu được cái mới, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, không nhanh nhậy nắm bắt thời cơ, chính sách, khả năng thích ứng với thị trưởng rất chậm hoặc không thích ứng được, nhất là những thay đổi nhanh chóng của thị trường, dẫn đến thua thiệt, thu nhập thấp Trong khi đó hộ giàu, chủ hộ và các thành viên thường có trình độ học vấn cao, hiểu biết nhiều hơn, khả năng thích ứng với thị trường nhanh, tiếp cận tranh thủ thời cơ, chính sách, kinh nghiệm thị trường tốt; mạnh dạn áp dụng cái mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại cho năng suất lao động cao, thu nhập cao hơn nhiều so với hộ nghèo, tạo sự chênh lệch so với hộ nghèo
- Khả năng phản ứng với rủi ro: Với hộ giàu, do có trình độ học vấn cao, hiểu biết xU hội, thích ứng với thị trường nhanh nên họ thường tìm kiếm việc làm, ngành nghề ổn định cho thu nhập cao, ít bị rủi ro của thời tiết, thiên
Trang 39tai dịch bệnh, giá cả (thường chọn lĩnh vực phi nông nghiệp, hoặc lĩnh vực sản xuất kinh doanh tổng hợp, nguồn thu đa dạng ), tạo nguồn thu cao hơn nhiều
so với hộ nghèo Khi có rủi ro, họ thường biết cách xoay sở, phản ứng nhanh chóng để tránh thua thiệt Ngược lại, với hộ nghèo, do nhận thức kém và tiềm lực yếu, nên lĩnh vực sản xuất kinh doanh của họ chủ yếu là thuần nông, độc canh, dễ gặp rủi ro hoặc ngành nghề, việc làm không ổn định, khả năng phản ứng với những rủi ro kém, dễ bị thua thiệt, làm cho thu nhập thấp
Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến phân hoá giàu nghèo trên
đây, điều quan trọng rút ra là cần phải nhận thức được đầy đủ các nhân tố cả
về ngoại sinh và nội sinh, từ đó có những giải pháp kiềm chế, kiểm soát, hạn chế nó phù hợp mỗi thời kỳ, địa phương, quốc gia, góp phần hạn chế sự gia tăng phân hoá giàu nghèo trong xU hội
1.1.6 Nội dung nghiên cứu phân hoá giàu nghèo
Phân hoá giàu nghèo được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh khác nhau, trong luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung phân hoá giàu nghèo như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu phân hoá giàu nghèo về kinh tế: việc làm, tài sản, thu nhập, đất đai
- Về việc làm: nghiên cứu sự khác nhau của những người từ 15 tuổi trở lên có khả năng làm việc, có nhu cầu làm việc giữa các nhóm hộ về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, có việc làm, thiếu việc làm và không
có việc làm (thất nghiệp)
- Về tài sản: nghiên cứu sự khác nhau giữa các nhóm hộ về mức độ sở hữu, mua sắm tài sản trong năm (nhà ở, tài sản cố định, đồ dùng lâu bền, vốn )
- Về thu nhập: nghiên cứu sự khác nhau giữa các nhóm hộ về thu nhập của hộ gia đình, bao gồm toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành
Trang 40viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, gồm: thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản sau khi đU trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất; thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản sau khi đU trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất; thu từ tiền công, tiền lương; các loại thu khác
được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
- Đất đai: nghiên cứu quy mô, mức độ sử dụng đất đai vào sản xuất kinh doanh của hộ giàu và hộ nghèo
Thứ hai, nghiên cứu phân hoá giàu nghèo về phi kinh tế (sự tiếp cận với giáo dục, y tế; các khoản trợ cấp xU hội; quyền lực, địa vị xU hội)
- Về tiếp cận với giáo dục: nghiên cứu sự thụ hưởng khác nhau về giáo dục giữa các nhóm hộ thông qua đầu tư công của Nhà nước và chi phí của hộ gia đình cho các hoạt động giáo dục trong một thời gian nhất định
- Tiếp cận với y tế: nghiên cứu sự thụ hưởng khác nhau về y tế giữa các nhóm hộ thông qua đầu tư công của Nhà nước và chi phí của hộ gia đình cho các hoạt động y tế trong một thời gian nhất định
- Tiếp cận với các khoản trợ cấp xU hội: nghiên cứu mức thụ hưởng khác nhau giữa các nhóm hộ về mức trợ cấp khó khăn; trợ cấp thường xuyên cho người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, người tâm thần, người đơn thân nuôi con nhỏ, gia đình có 2 người tàn tật nặng, người nhiễm HIV/AIDS, người già từ đủ 80 tuổi trở lên; trợ cấp cho người bị nhiễm chất độc hoá học
- Quyền lực, địa vị xU hội: nghiên cứu sự khác nhau về mức độ của chủ
hộ tham gia các chức vụ lUnh đạo và các hoạt động xU hội của địa phương
1.1.7 Một số công cụ thước đo phân hoá giàu nghèo
Các thước đo nghèo đói tập trung vào tình trạng của người hay hộ có thu nhập hoặc chi tiêu nằm ở mức thấp, trong khi đó phân hoá giàu nghèo là