luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỌ HUNG NÂU
(HOLOTRICHIA SP.) HẠI MÍA
TẠI GIA LAI”
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình th ực hiện và hoàn thành luận văn tôi ñã nhận ñược sự
Ngoài ra trong su ốt thời gian học tập và tiến hành luận văn tôi còn nhận ñược sự giúp ñỡ nhiệt tình của Tập thể cán bộ nhóm nghiên cứu sâu hại cây
cán b ộ lãnh ñạo chính quyền ñịa phương và bà con nông dân nơi tiến hành thực
ñỡ quí báu ñó
Tôi xin c ảm ơn các thầy cô ñã truyền ñạt những kiến thức mới cho tôi trong
Nông nghi ệp Việt Nam ñã tạo mọi ñiều kiện ñể tôi hoàn thành bản luận văn này
Quy Nh ơn, tháng 12 năm 2009
ðoàn Công Nghiêm
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung th ực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
tin, tài li ệu trong luận văn ñã ñược ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
ðoàn Công Nghiêm
Trang 4MỤC LỤC
Trang Lời cảm ơn i
Lời cam ñoan ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình……….….vii
MỞ ðẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 4
1.1.1 Tình hình sản xuất mía trên thế giới 4
1.1.2 Các nghiên cứu về sâu hại mía trên thế giới 5
1.1.3 Nghiên cứu về bọ hung hại mía 7
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 12
1.2.1 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam 12
1.2.2 Các nghiên cứu về thành phần sâu, bệnh hại mía ở Việt Nam 15
1.2.3 Các nghiên cứu về bọ hung hại mía 16
1.2.4 ðặc ñiểm vùng Tây Nguyên và tình hình gây hại của bọ hung 22
Chương 2: ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 ðỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.2 ðỊA ðIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25
2.2.1 ðịa ñiểm nghiên cứu 25
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 26
2.3 DỤNG CỤ VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 26
2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.5.1 ðiều tra thực trạng tình hình sản xuất mía tại vùng có dịch bọ hung gây hại 27
2.5.2 ðiều tra thu thập thành phần sâu hại mía, xác ñịnh loài bọ hung gây hại có vai trò quan trọng trong sản xuất vùng nghiên cứu 27
2.5.3 Nghiên cứu ñặc ñiểm hình thái, sinh học của bọ hung nâu hại mía 29
2.5.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bọ hung nâu 30
2.5.5 Phương pháp tính toán 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT MÍA TẠI VÙNG NGHIÊN CỨU 35
3.1.1 ðiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai 35
Trang 53.1.2 ðiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu 36
3.1.3 Thực trạng sản xuất mía tại vùng nghiên cứu 37
3.2 THÀNH PHẦN SÂU HẠI MÍA TẠI GIA LAI 42
3.3 ðẶC ðIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA LOÀI BỌ HUNG NÂU HOLOTRICHIA SP HẠI MÍA 48
3.3.1 ðặc ñiểm hình thái của bọ hung nâu Holotrichia sp 48
3.3.2 ðặc ñiểm sinh học bọ hung nâu Holotrichia sp 53
3.4 ðẶC ðIỂM SINH THÁI CỦA BỌ HUNG NÂU HOLOTRICHIA SP 59
3.4.1 ðặc ñiểm phát sinh của trưởng thành bọ hung nâu Holotrichia sp tại tỉnh Gia Lai, năm 2009 59
3.4.2 Diễn biến mật ñộ ấu trùng bọ hung và tỷ lệ hại do chúng gây ra cho sản xuất mía tại Gia Lai, năm 2009 60
3.4.3 Tình hình gây hại của ấu trùng bọ hung ñối với các giống mía khác nhau 64
3.4.4 Tình hình gây hại của ấu trùng bọ hung hại mía ở các chân ñất trồng mía khác nhau 65
3.4.5 Tình hình gây hại của ấu trùng bọ hung cho mía trên các tuổi khác nhau 66
3.4.6 Vai trò của nấm ký sinh ñến bọ hung nâu Holotrichia sp 68
3.5 BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỌ HUNG NÂU HOLOTRICHIA SP HẠI MÍA 68
3.5.1 Biện pháp thủ công trong phòng trừ bọ hung nâu Holotrichia sp hại mía 68
3.5.2 Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ bọ hung nâu Holotrichia sp hại mía 70
KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 ðề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
I Tài liệu tiếng Việt 77
II Tài liệu tiếng Anh 81
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 73.10 Trọng lượng và kích thước mảng ñầu của ấu trùng bọ hung nâu
Holotrichia sp (Viện Bảo vệ thực vật, năm 2008 - 2009) 53
3.11 Thời gian phát dục của các pha loài bọ hung nâu Holotrichia sp
3.12 Diễn biến mật ñộ và tỷ lệ mía bị hại do ấu trùng bọ hung gây ra tại Gia
3.16 Kết quả thu bắt trưởng thành và ấu trùng bọ hung nâu bằng biện pháp thủ
3.17 Các công thức trong thí nghiệm phòng trừ trong nhà lưới 71 3.18 Hiệu lực phòng trừ bọ hung hại mía của một số loại thuốc bảo vệ thực vật 71
Trang 83.19 Các công thức trong thí nghiệm phòng trừ ngoài ñồng ruộng 72 3.20 Hiệu lực phòng trừ bọ hung hại mía của một số loại thuốc bảo vệ thực vật
Trang 9më ®Çu
Cây mía (Saccharum officinarum L.) thuộc chi Saccharum, họ Poaceae, bộ
Poales, xuất hiện trên trái ñất từ khi lục ñịa châu Á và châu Úc còn dính liền nhau cách ñây hàng vạn năm Ngoài ñường Saccaroza, các sản phẩm phụ là những nguyên liệu quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp (giấy, rượu, cồn, bánh kẹo, ) có giá trị lớn hơn gấp nhiều lần so với chính phẩm (ñường) Ấn ðộ
và Trung Quốc là hai nước trồng mía có lịch sử lâu ñời nhất trên thế giới
vùng có khí hậu thích hợp cho cây mía sinh trưởng phát triển Năng suất tiềm năng ñạt trên 200 tấn/ha, trữ lượng ñường cao, do có mùa khô lạnh trùng vào thời gian mía chín, vì vậy mía là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao Dưới ánh sáng Nghị quyết ðại hội VIII của ðảng, cây mía ñược phát triển khắp 3 miền ñất nước Tính ñến niên vụ 2006 - 2007 cả nước có diện tích trồng mía ñạt 310.000 ha với năng suất trung bình 54,8 tấn/ha nên sản lượng thu ñược 17 triệu tấn mía nguyên liệu, so với niên vụ trước sản lượng năm 2007 tăng gần 30% so với cùng kỳ Sản lượng ñường thu ñược trong niên vụ sản xuất 2006 - 2007 là 1,244 triệu tấn Niên vụ 2007 - 2008, diện tích mía của cả nước là 316.000 ha (tăng 6.000 ha ở các vùng nguyên liệu tập trung của các nhà máy), cung cấp 13,4 triệu tấn mía cây, cho ra 1,3 triệu tấn ñường thành phẩm cùng khoảng 100.000 tấn ñường thủ công, ñáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước Có thể nói cây mía ñã góp phần quan trọng trong việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập, xoá ñói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao ñộng trong cả nước và là hình mẫu trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện ñại hóa nông
Trang 10Bên cạnh những thành cơng nêu trên, do hình thành các vùng sản xuất mía nguyên liệu tập trung, diện tích rộng, cũng như khơng cĩ điều kiện tưới tiêu, luân xen canh cây mía với các cây trồng khác, những điều đĩ đã dẫn đến nhiều lồi dịch hại phát sinh, phát triển với mật độ cao và tỷ lệ gây hại lớn Cụ thể là, từ năm 2002 đến nay tại tỉnh Gia Lai bọ hung đã bùng phát thành dịch và gây hại trên diện rộng Theo các thơng tin từ Chi cục Bảo vệ thực vật và Ủy Ban nhân dân tỉnh Gia Lai cho biết, tại Gia Lai, năm 2005 bọ hung hại với diện tích vào khoảng 1.500 ha, mật độ trung bình 0,5 con/khĩm, cao nhất tới 6 - 7 con/khĩm
Tỷ lệ hại trung bình từ 20 - 30%, cao nhất lên tới 60% Năm 2006 diện tích bị hại tăng nhanh đạt tới 3.000 ha Năm 2007 con số bị hại đã tăng lên trên 10.000
ha ðể bảo vệ các vùng nguyên liệu mía, người nơng dân đã dùng đủ loại thuốc trừ sâu cĩ độ độc cao, bĩn tràn lan để trừ bọ hung, nhưng tỷ lệ và diện tích mía
bị hại do bọ hung gây ra vẫn rất cao, làm tăng đầu tư cho người sản xuất, gây ơ nhiễm mơi trường và đặc biệt là gây hoang mang cho người sản xuất Theo dự đốn diện tích bị hại sẽ cịn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới Tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về bọ hung hại mía ở các vùng sản xuất mía trọng điểm của tỉnh Gia Lai vẫn cịn rất ít, chưa cĩ giải pháp phịng trừ hiệu quả
Từ những bức xúc của sản xuất địi hỏi cần cĩ cơng trình nghiên cứu về thành phần lồi, các đặc điểm sinh học, sinh thái, tình hình gây hại trên cơ sở đĩ nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phịng trừ bọ hung cĩ hiệu quả, để duy trì
và ổn định diện tích năng suất mía, giảm thiệt hại do chúng gây ra ở những vùng trồng mía trọng điểm ở Gia Lai nĩi riêng, của cả nước nĩi chung gĩp phần phục
vụ mục tiêu sản xuất bền vững và hiệu quả cho ngành sản xuất mía đường ở nước ta hiện nay ðể gĩp phần thực hiện mục tiêu trên, chúng tơi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phịng trừ bọ hung nâu (Holotrichia sp.) hại mía tại Gia Lai”
Trang 11Mục tiêu của ñề tài
- ðiều tra hiện trạng sản xuất mía tại tỉnh Gia Lai, các ưu và hạn chế của chúng liên quan ñến tình hình gây hại của bọ hung trên mía
- Xác ñịnh thành phần bọ hung hại mía Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh
học, phát sinh và vai trò gây hại của bọ hung nâu (Holotrichia sp.)
- Nghiên cứu biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học và thuốc hoá học phòng trừ bọ hung nâu hiệu quả và bền vững phục vụ sản xuất
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
ðề tài ñược thực hiện ñã bổ sung các dẫn liệu khoa học mới về thành phần loài bọ hung, ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của loài bọ hung nâu gây hại quan trọng trên mía, làm phong phú thêm các tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, cũng như công tác giảng dạy
Về mặt thực tiễn, ñề tài ñã nghiên cứu và ñề xuất ñược một số giải pháp phòng trừ bọ hung hại mía có hiệu quả, góp phần hạn chế thiệt hại do chúng gây
ra, bảo vệ sản xuất, hạn chế ô nhiễm môi trường, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho ngành sản xuất mía ñường ở nước ta nói chung, tỉnh Gia Lai nói riêng
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
1.1.1 Tình hình sản xuất mắa trên thế giới
Ngành mắa ựường trên thế giới ựã gặt hái ựược nhiều thành công nhờ có
sự ựóng góp quan trọng của nhiều công trình nghiên cứu về giống, kỹ thuật thâm canh và phòng chống sâu bệnh hại mắa Dưới ựây là một số thông tin liên quan
thế giới Hiện nay, cây mắa ựược trồng nhiều nhất ở Trung Quốc và Ấn độ [50]
Ở Mỹ diện tắch trồng mắa tại bang Florida là 173.200 ha, bang Louisiana
là 143.200 ha, chiếm diện tắch chiếm tương ứng là 12,05% và 11,09% diện tắch ựất trồng trọt ở các khu vực này [50]
Năng suất mắa ở đài Loan ựạt 456,95 tấn/ha với mắa 24 tháng tuổi, ở Ấn
độ là 440,85 tấn/ha với mắa 18 tháng tuổi và 406,38 tấn/ha với mắa 12 tháng tuổi (Theo Mohan Naidu, K and Arularag - Sugarcane technologies, Sugarcane Breeding institute Ciombatore - 1987) [50]
Trên thế giới có các Cơ sở và Trung tâm lai tạo giống mắa, cụ thể là: Châu Úc: Cơ sở nghiên cứu, lai tạo giống mới ở Queensland; Châu Á: Ấn độ, Pakistan; Trại Coimbato ở Madrat (1982) Indonexia: Trại giống đông Java (1982) tạo giống POJ.2878 Philippine: Mắa trồng hom ngọn và hom thân non, sản xuất vườn ươm giống đài Loan là nước ựạt ựược nhiều thành tựu trong nghiên cứu khoa học nhất là giống Hiện nay các giống mắa ựang trồng với diện tắch lớn tại Việt Nam có nguồn gốc từ đài Loan như các giống; ROC1, ROC10, ROC20
Các công trình nghiên cứu sử dụng những sản phẩm sinh học ựể nâng cao năng suất cây mắa như: Mann và cộng sự 1989 ựã nghiên cứu kỹ thuật vùi lá mắa
Trang 13có tác dụng làm tăng khả năng hút chất dinh dưỡng của mắa, tăng khả năng giữ nước của ựất, hạn chế cỏ dại và nâng cao ựộ phì nhiêu cho ựất
Tủ lá mắa còn tiết kiệm ựược 30% lượng nước cần tưới và làm tăng năng suất mắa 10%, năng suất ựường 9% so với không tủ lá, vùi ngọn lá mắa còn có tác dụng kắch thắch sinh trưởng (Hagihara, 1975)
1.1.2 Các nghiên cứu về sâu hại mắa trên thế giới
Trên thế giới ựã ghi nhận có nhiều loài sâu hại mắa, chúng phá hại ở cả trên mặt ựất và dưới mặt ựất Sâu hại mắa luôn có mặt trên ựồng mắa, gây hại mắa
từ khi cây mới mọc cho ựến khi thu hoạch Những sâu hại quan trọng sống trên mặt ựất thuộc: Bộ Coleoptera (họ Pyralidae, Noctuidae và Castniidae), bộ Homoptera (họ Aphididae, Coccidae, Delphaciae, Diaspididae, Pseudococcidae),
bộ Orthoptera (họ Acridoidae) Các sâu hại sống trong ựất thuộc bộ Coleoptera (họ Curculionidae, Elateridae, Scarabaeidae và Cerambycidae), bộ Isoptera, bộ Hymenoptera Tuy nhiên các loài sâu hại mắa quan trọng trên thế giới gây giảm năng suất ựáng kể phải kể ựến là: Rệp, sâu ựục thân, bọ hung, xén tóc, vòi voi, và rầy
Box (1953) [44] thống kê có khoảng 1.300 loài sâu trên ruộng mắa, trong
ựó rất ắt loài có phạm vi phân bố rộng trên toàn thế giới Có khoảng 75% số loài trong số nói trên chỉ thấy xuất hiện ở một quốc gia hoặc một hòn ựảo, khoảng dưới 4% số loài là thấy xuất hiện ở 4 hoặc 5 nước Có khoảng 500 loài ựược phát hiện thấy ở châu Mỹ và một số lượng tương tự ựược phát hiện thấy ở các nước châu Á Pemberton (1963) [53] còn cho biết thêm rằng có 62 loài sâu hại mắa chỉ thấy ở Formosa (đài Loan), 22 loài chỉ thấy ở Philippines, 40 loài chỉ thấy ở ựảo Java, 36 loài chỉ thấy ở Úc, 11 loài chỉ thấy ở Fiji và 13 loài chỉ thấy ở quần ựảo Hawaii mà không thấy ở bất cứ một nơi nào khác trong khu vực Thái Bình
Trang 14Dương, mặc dù một số ít loài trong số chúng có thấy xuất hiện ở những khu vực khác trên thế giới
Theo David và cs (1986) [49], dựa trên tập tính gây hại, các loài sâu hại mía ñược phân thành 5 nhóm chính:
- Nhóm sâu ñục thân: Sâu ñục thân mía 4 vạch, sâu ñục thân mía mình hồng
- Nhóm sâu chích hút: Bọ xít xanh, rầy ñầu vàng
- Nhóm sâu hại dưới ñất: Mối, bọ hung (sùng trắng), xén tóc
- Nhóm sâu ăn lá: Châu chấu, câu cấu xanh, sâu keo
- Nhóm dịch hại không phải là côn trùng: Nhện ñỏ, chuột, chồn
Trong số các nhóm sâu hại kể trên, bên cạnh nhóm sâu ñục thân, nhóm sâu hại dưới ñất cũng ñược các nhà khoa học ở một số quốc gia như Úc, Mỹ, Braxin, Nam Phi… tập trung nghiên cứu, do tính chất nguy hiểm và thiệt hại về kinh tế
mà chúng gây nên ñối với sản xuất mía là rất lớn, ñặc biệt là ñối với các loài bọ hung hại mía
Theo Hiệp hội Kỹ thuật Mía ñường Quốc tế (Internatinal Society of Sugar Cane Technologists - ISSCT) [51], tổng số loài dịch hại mía ñược ghi nhận ñến thời ñiểm tháng 2/1999 là 324 loài Trong số 324 loài dịch hại mía ñã xác ñịnh ñược trên toàn thế giới, ngành chân khớp (Arthropoda) chiếm số lượng loài nhiều nhất (84,5%), 4,9% số loài là tuyến trùng; 5,9% số loài là ñộng vật gặm nhấm ăn thực vật và 4,7% số loài là các dịch hại khác Trong ngành chân khớp, lớp côn trùng (Hexapoda) chiếm 84,2% tổng số loài Trong lớp côn trùng, bộ cánh vảy (Lepidoptera) chiếm số lượng loài nhiều nhất 50,3% tổng số loài, tiếp ñến là bộ cánh nửa (Hemiptera) chiếm 16,7% và bộ cánh cứng (Coleoptera) chiếm 11,7% Các bộ côn trùng khác còn lại chiếm tỷ lệ ít hoặc rất ít
Theo CIRAD (2000) [6], có 4 nhóm ñộng vật ñược coi là gây hại ñáng kể cho sản xuất mía ñường của thế giới bao gồm: Côn trùng, nhện, tuyến trùng và
Trang 15do các viện, cơ quan nghiên cứu cung cấp thì ta có thể thấy rõ rằng côn trùng là nhóm sâu hại quan trọng nhất (8 trong 10 trường hợp) và trong nhóm côn trùng thì sâu ñục thân thường xuất hiện nhiều hơn cả (50% thông tin), kế ñến là nhóm côn trùng chích hút (15 - 20% thông tin), sau ñó là các loài bọ hung ñục gốc (10 -14% thông tin) Tuyến trùng và chuột tương ứng là 5 - 10% và 5 - 6% thông tin
1.1.3 Nghiên cứu về bọ hung hại mía
1.1.3.1 Sự phân bố và phổ ký chủ của bọ hung hại mía
Họ bọ hung (Scarabeidae) có số lượng loài lớn nhất trong bộ Coleoptera
và phân bố rộng rãi trên thế giới Nhiều loài trong ñó có vai trò gây hại rất lớn cho cây trồng, nhất là cây trồng cạn Khi nghiên cứu, các loài bọ hung ñược phân
ra làm 3 nhóm: nhóm 1, nhóm bọ hung gây hại cho cây trồng; nhóm 2, nhóm bọ hung có ích trong việc phân giải chất hữu cơ; nhóm 3, nhóm bọ hung làm cảnh Trong ñề tài này chúng tôi chỉ quan tâm nghiên cứu ñến nhóm bọ hung gây hại cho cây trồng, cụ thể ở ñây là cây mía
Theo Wilson (1969) [66] trên thế giới, có khoảng 20 loài bọ hung hại mía, chúng phân bố khá rộng, ñặc biệt gây hại nặng ở các vùng mía chuyên canh, tập
trung gần các khu rừng Trong số ñó các loài Holotrichia sp., Anomala sp., Heteronychus sp., Lepidiota sp., Leucopholis sp., Dermolepida sp., và Schizonycha sp ñược xác ñịnh là những loài hại mía phổ biến và quan trọng nhất
Ở Ấn ðộ, loài bọ hung Holotrichia serrata Fabr là loài dịch hại nguy hiểm tầm cỡ quốc gia trên cây mía Patil và Hasbe (1981) [52] cho biết một số vùng mía ở Ấn ðộ ñôi khi bị mất 100% năng suất do loài bọ hung này gây hại Theo Raodev và Deshpande (1987) [55] thống kê thì hàng năm ở Ấn ðộ có khoảng 60.000 ha mía bị loài bọ hung này gây hại nặng Còn Yadava (1995) [67] thì cho rằng thiệt hại do loài bọ hung này gây ra ñối với sản xuất mía biến ñộng
Trang 16từ 20 - 100% năng suất mắa, trên một m2 ựất trồng mắa có sự hiện diện của loài
bọ hung này có từ 80 - 100% số cây bị chết do bị chúng gây hại
Cũng tại Ấn độ, Viện Nghiên cứu Cây trồng cho Vùng Bán khô hạn Nhiệt đới (ICRISAT) qua nhiều năm nghiên cứu cho thấy loài bọ hung Holotrichia
reynaudi là loài bọ hung gây hại nặng nhất trên cây lạc ở các vùng thuộc miền Nam Ấn độ Theo ựánh giá có tới 80 ngàn hecta lạc ở bang Andhra Pradesh ựã
bị thiệt hại do bọ hung vào năm 1993 Chúng cũng hại cả những cây lấy dầu, cây rau và những cây trồng cạn khác ựược trồng ở các vùng ựất nhờ nước trời Vòng ựời của chúng kéo dài tới 1 năm
Vùng sản xuất mắa ở miền đông ựảo Java kể từ năm 1915, loài bọ hung
Lepidiota stigma Fabr ựã gây hại mắa rất nghiêm trọng, do mắa không ựược luân canh, tưới nước và ựể lưu gốc nhiều năm Lần ựầu tiên vào năm 1979 ghi nhận
có sự gây hại của loài bọ hung Lepidiota stigma Fabr tại miền Trung ựảo Java
của Indonesia Nhưng chỉ sau 6 năm vào năm 1985 loài bọ hung này ựã trở thành dịch hại nguy hiểm nhất ở nhiều vùng trồng mắa của Indonesia, trải rộng suốt từ ựảo Java sang ựảo Sumatra, South Kalimata và South Sulawasi (Pramono D., 1995) [54]
Theo kết quả nghiên cứu của Ronbertson và cs (1995) [58], ở Úc có 19
loài bọ hung ựục gốc mắa Trong ựó, loài Dermolepida albohirtum Waterhouse
(Coleoptera: Scarabaeidae), ựược biết ựến với cái tên là bọ hung lưng xám hại mắa (The greyback canegrub), ựược xác ựịnh là loài sâu hại mắa nguy hiểm và quan trọng nhất ở bang Queensland Thiệt hại hàng năm do chúng gây ra ựối với sản xuất mắa ựường ở Úc vào khoảng 10 - 12 triệu ựô la Úc (Tucker, 2006 [63], Sallam và cs, 2007 [59])
Ở Mauritius, có 3 loài bọ hung hại mắa là Phillophaga smithi Arrow,
Heteronychus licas Kalug và Alissonotum piceum Fabr., trong ựó loài H Licas là
Trang 17loài gây hại nguy hiểm và quan trong nhất, ñặc biệt ở giai ñoạn cây mía còn nhỏ ðây cũng là loài bọ hung ñục gốc mía chủ yếu ở ñảo Re’union (Behari Paray và Rajaballee, 1997 [43]; Vercamber và ctv, 2004 [64])
Ở Philippines, có 3 loài bọ hung hại mía chủ yếu là Leucopholis inrorata
Chevr., Holotrichia sp., và Anomola sp., trong ñó loài bọ hung Leucopholis inrorata Chevr gây hại phổ biến và quan trọng nhất, chúng thường xuyên xuất hiện, gây hại nặng cho sản xuất mía ñường ở các vùng mía của Luzon (Recuenco, 2000) [56]; vùng DonPdro, Balayan, Tarlac và Pampang (Recuenco
và Guevarra, 2001) [57]
Ở Mỹ, bọ hung ñục gốc là một trong các dịch hại mía phổ biến nhất,
chúng bao gồm các loại chính như: Anomala, Sclocephala, Euphoria, Ligyrus và Phillophaga Trong ñó loài Ligyrus và Subtropicus là 2 loài gây hại nguy hiểm
và quan trọng nhất Số liệu ghi nhận thiệt hại lớn nhất do hai loài này gây ra là làm giảm 39% năng suất mía ở vùng Louisiana (Cherry, 2008) [47]
1.1.3.2 ðặc ñiểm hình thái của bọ hung hại mía
Bọ hung trưởng thành lúc mới vũ hóa có mầu vàng nhạt, sau ñó chuyển dần sang mầu nâu ñỏ và cuối cùng thành mầu ñen lấp lánh Mặt bụng và chân có mầu nâu ñen, cơ thể dài 15 - 17 mm ðầu nhỏ hình tam giác, ñầu mút phía trước
có hai cục lồi Hai cục lồi này tạo với hai u lồi trên ñỉnh ñầu thành hình thang ngược Gần mép trước mảnh lưng ngực trước không có u lồi rõ rệt Mép ngoài
ðốt ñùi chân giữa và chân sau có 3 túm lông nhỏ Trên cánh cứng có 8 tuyến rõ rệt Tuyến thứ nhất và tuyến thứ 7 có nhiều ñiểm ñen không theo quy luật Riêng tuyến thứ 3 và thứ 5 có những ñiểm xếp theo quy luật và trật tự hơn
Trang 18Trứng hình bầu dục, mầu trắng sữa Kích thước 2,3 x 1,5 mm, mặt trứng
có những vân hình mạng lưới Vài ngày sau khi ñẻ, trứng mới trở thành hình tròn, trước khi nở trứng có mầu xám tro
Bọ hung non có mầu trắng sữa, ñầu và chân có mầu vàng nhạt Bụng có mầu vàng nhạt, phía cuối có mầu ñen và nhiều lông gai Các lông hình móc câu,
ở mặt bụng ñốt cuối cùng xếp không thành hàng nhất ñịnh Lỗ thở xấp xỉ bằng nhau và có mầu vàng nâu Sâu non có 3 tuổi, tuổi 1 dài 5,5 - 8 mm, tuổi 2 dài 12
- 21 mm, tuổi 3 dài 19 - 23 mm Nhộng có mầu nâu vàng, dài 16 - 25 mm hình bầu dục [17]
Một năm có 1 lứa, ấu trùng 3 tuổi, tuổi 3 có thời gian dài nhất Qua ñông ở giai ñoạn trưởng thành từ tháng 11 năm trước ñến tháng 4 năm sau khi có mưa mới bay ra, hại lá mía [17]
1.1.3.3 ðặc ñiểm sinh học, quy luật phát sinh của bọ hung hại mía
Việc xác ñịnh ñặc ñiểm sinh học, sinh thái, quy luật phát sinh của nhiều loài bọ hung ñã ñược nhiều tác giả miêu tả khá kỹ Bọ hung thường có kích thước khoảng 2 - 62 mm, ña số có kích thước 2 - 20 mm Một số loài có thể ñạt ñến 160 mm, nặng 100 gam Chúng thường có màu vàng ñỏ, có nhiều hình dạng khác nhau, từ hình ô van ñến hình thon dài Nhiều loài màu nâu hoặc ñen, nhưng
một số loài có màu sáng hoặc sọc, một số loài có những chiếc sừng ở phía trên ñầu
Hầu hết các pha phát dục của loài bọ hung hại mía ñều sinh sống hoặc trú
ẩn trong ñất cho ñến khi vũ hóa trưởng thành Thời gian vũ hóa trưởng thành rộ trong năm biến ñộng rất khác nhau tùy thuộc vào loài và sự phân bố lượng mưa trong năm, tập trung chủ yếu vào ñầu mùa mưa (David và Ananthanarayana,
1986 [49]; Behary Paray và Rajaballee, 1997 [43]; Recuenco, 2000 [56]) loài bọ
hung nâu H serrata ở vùng Coimbatore (Ấn ðộ) thường vũ hóa tập trung vào
Trang 19Ananthanarayana, 1986) [49], còn loài Leucopholis irrorata Chevr ở Philippines
chủ yếu vũ hóa rộ vào tháng 5 - 6 hàng năm, vào khoảng thời gian từ 20 - 24 giờ trong ngày (Recuenco, 2000) [56] Pha trưởng thành của hầu hết các loài bọ hung ñục gốc mía ñều có xu tính bị hấp dẫn bởi ánh sáng ñèn, tuy nhiên mức ñộ mạnh hay yếu là tùy thuộc vào từng loài Sau khi vũ hóa, ban ngày chúng thường
ẩn nấp trong gốc mía, dưới ñất hoặc dưới lớp lá khô, ban ñêm chúng chui lên ñậu trên ngọn lá ăn hại mía Thời gian phát dục của pha trưởng thành kéo dài từ 76 -
286 ngày tùy theo loài (David và Ananthanarayana, 1986 [49]; Raodev và Deshpande, 1987 [55]; Pramono, 1995 [54]; Ronbertson và ctv, 1995 [58]; Recuenco, 2000 [56]; Cherry, 2008 [47]) Các pha phát dục sinh sống và trú ẩn trong ñất bao gồm: Pha trứng, sâu non và nhộng Trong khoảng thời gian từ tháng 3 ñến tháng 6 hàng năm tùy theo loài, trứng thường ñược trưởng thành cái
ñẻ riêng lẻ từng quả ở trong ñất, nơi có các vết nứt, ñứt gãy hoặc tơi xốp giàu mùn Thời gian phát dục pha trứng kéo dài từ 8 - 17 ngày (ví dụ: ñối với loài bọ
hung nâu H serrata là 10 - 12 ngày, David và Ananthanarayana, 1986) [49] Pha
sâu non thường có 3 tuổi, tuổi 1 và tuổi 2 chủ yếu ăn các chất mùn mục trong ñất, chưa ăn hại rễ và gốc cây mía, có thời gian phát dục biến ñộng từ 25 - 35
ngày (ví dụ loài bọ hung nâu H serrata, sâu non tuổi 1 là 30,2 ngày, tuổi 2 là 3,8
ngày, David và Ananthanarayana, 1986) [49] Sâu non tuổi 3 là pha gây hại chủ yếu cho mía bằng cách ñục ăn phần rễ và gốc mía, làm mía bị ñổ ngã, không hấp thu ñược nước và dinh dưỡng, cây dần dần bị chết ðây cũng là pha có thời gian phát dục dài nhất, biến ñộng từ 70 - 130 ngày tùy theo loài và ñiều kiện ngoại
cảnh (ví dụ: loài bọ hung nâu H serrata là 102,9 ngày, biến ñộng từ 72 - 188
ngày, David và Ananthanarayana, 1986) [49] Pha nhộng của các loài bọ hung hại mía thường nằm trong tổ kén làm bằng ñất, nằm ở ñộ sâu từ 20 - 30 cm tùy theo loài và thời gian phát dục kéo dài từ 12 - 206 ngày tùy theo loài và ñiều kiện
Trang 20ngoại cảnh (Pramono, 1995 [54]; Ronbertson và ctv, 1995 [58]; Recuenco, 2000
[56]) Vòng ựời của các loài bọ hung ựục gốc mắa trên thế giới thường kéo dài
khoảng trên dưới 1 năm, trừ loài Lepidoiota mansueta Brum kéo dài khoảng 2 năm
(David và Ananthanarayana, 1986 [49]; Recuenco, 2000 [56]; Tucker, 2006 [63])
1.1.3.4 Biện pháp phòng trừ bọ hung
Trên thế giới có khá nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về biện pháp phòng trừ các loài bọ hung và xén tóc hại mắa, ựặc biệt là ựối với các loài bọ hung ựục gốc mắa Như các công trình nghiên cứu của Alosopp (2000) [41, 42]; Chandler và cs (2006) [46]; Robertson và cs (1995) [58]; Tucker (2006) [63]; Sallam và cs (2007) [59]; Samson và cs (2005) [60]Ầở Úc Cadet và cs (2002) [45] ở Nam Phi Behary Paray và Rajaballee (1997) [43] ở Mauritius, Vercambre
và cs (2004) [64] ở Reunion (Pháp); Recuenco và Guevarra (2001) [57] ở Philippines; Cherry (2008) [47] ở Mỹ; Wang và Leu (1972) [65] ở đài Loan; David và Ananthanarayana, (1986) [49]; Patil và Hasbe (1981) [52], Raodev và Deshpande (1987) [55] ở Ấn độ
Tác giả Peter G Alosopp thuộc Bureau of Sugar Experiment Station, Bundaberg, Qld ựã cho biết muốn phòng trừ ựược bọ hung hại mắa cần lưu tâm ựến các vấn ựề sau [40]
+ Xác ựịnh nguyên nhân hạn chế hiệu quả của thuốc trừ sâu trong phòng trừ? Cách sử dụng thuốc trừ sâu ựể tăng hiệu quả sử dụng của thuốc?
+ Luân canh cây trồng ựể giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu, phát triển thuốc trừ sâu sinh học cho mỗi loài Xác ựịnh biện pháp canh tác trong tổng thể các biện pháp sản xuất mắa và biện pháp canh tác này có tác dụng hạn chế việc tăng quần thể, chọn tạo giống kháng hoặc chống chịu
+ Dự tắnh dự báo sự phát sinh và sự phân bố của các loài bọ hung
Công nghệ Pheromon ựã ựược sử dụng rất thành công trong dự tắnh dự
Trang 21phụ của trưởng thành ñể diệt trừ bằng thuốc hoá học, ñã giảm ñược số lượng thuốc và bảo vệ an toàn cho môi trường Xử lý Chlorpyriphos 6g/1kg hạt giống trước khi gieo cũng có hiệu quả trong phòng trừ các loài bọ hung này
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Nghề trồng mía của Việt Nam ñã có từ lâu ñời, người Việt cổ ñã biết trồng mía từ thời Hùng Vương, cách ñây 4.000 năm, nhân dân ta ñã biết chế biến mía thành ñường, mật ñể dùng Tuy cây mía và nghề làm mật, ñường ở Việt Nam ñã
có từ xa xưa, nhưng công nghiệp mía ñường mới ñược bắt ñầu từ thế kỷ thứ XX ðến năm 1994, cả nước mới có 9 nhà máy mía ñường, với tổng công suất gần 11.000 tấn mía/ngày và 2 nhà máy ñường tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu Hàng năm phải nhập khẩu từ 300.000 ñến 500.000 tấn ñường Năm 1995, với chủ trương “ðầu tư chiều sâu, mở rộng các nhà máy ñường hiện
có, xây dựng một số nhà máy có quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ Ở Những vùng nguyên liệu tập trung lớn, xây dựng các nhà máy có thiết bị công nghệ tiên tiến hiện ñại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản lượng ñường năm 2000 ñạt khoảng một triệu tấn” (Nghị Quyết ðại hội ðảng toàn quốc lần thứ 8) Chương trình mía ñường ñược chọn là chương trình khởi ñầu ñể tiến hành công nghiệp hoá, hiện ñại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá ñói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao ñộng nông nghiệp Ngành mía ñường ñược giao “không phải là ngành kinh tế vì mục ñích lợi nhuận tối ña mà là ngành kinh tế xã hội”
(Trích bài phát bi ểu tại hội nghị doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam khi gia
Thực hiện “Chương trình quốc gia 1 triệu tấn ñường” ngành mía ñường Việt Nam tuy còn non trẻ, chỉ sau 5 năm (1995 - 2000) ñã có bước tiến ñột phá ðầu tư mở rộng công suất 9 nhà máy cũ, xây dựng mới 33 nhà máy, tổng số nhà
Trang 22máy ñường của cả nước là 42, tổng công suất là 81.500 tấn (so với năm 1994 tăng thêm 33 nhà máy và trên 760.000 tấn công suất), năm 2000 ñã ñạt mục tiêu
1 triệu tấn ñường Về cơ bản ñã ñáp ứng ñược nhu cầu ñường tiêu dùng trong nước, chấm dứt ñược tình trạng hàng năm Nhà nước phải bỏ ra hàng trăm triệu USD ñể nhập khẩu ñường ðặc biệt hầu hết các nhà máy ñường mới ñều ñược xây dựng tại các vùng nông thôn, vùng trung du, miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng ñất khó khăn, vùng sâu, vùng xa và ñược phân bổ khắp cả 3 miền (miền Nam: 14 nhà máy, miền Trung và Tây Nguyên: 15 nhà máy, và miền Bắc: 13
nhà máy) (Trích bài phát biểu tại hội nghị doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam khi gia nh ập WTO của ông Lê Văn Tam, Chủ tịch hiệp hội mía ñường Việt Nam)
Diện tích trồng mía cả nước tăng lên rất nhanh, ñặc biệt là sau năm 1975 khi ñất nước hoàn toàn thống nhất Trong thời gian gần ñây diện tích trồng mía vẫn tiếp tục ñược mở rộng nhờ những tiến bộ về giống, kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh, cụ thể như sau:
Vụ 2006 - 2007, diện tích mía cả nước ñạt trên 310.000 ha (tương ñương mục tiêu phát triển ñến 2010), năng suất mía ñạt xấp xỉ 55 tấn/ha, tăng (10% so với niên vụ 2005 - 2006) và ñã có 32/36 nhà máy ñường hoạt ñộng có lãi, tổng giá trị sản xuất toàn ngành ñạt trên 10.000 tỷ ñồng Niên vụ 2007 - 2008, diện tích mía cả nước ñược nâng lên 316.000 ha (tăng 6.000 ha vùng nguyên liệu tập trung của các nhà máy), cung cấp 13,4 triệu tấn mía cây, cho ra 1,3 triệu tấn ñường thành phẩm cùng khoảng 100.000 tấn ñường thủ công sẽ ñáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước [19]
Cơ cấu giống mía mới hiện nay chỉ vào khoảng 85.000 ha (chiếm 37% diện tích mía cả nước) chứng tỏ những hạn chế trong việc triển khai chương trình giống mía ñặc biệt ở quá trình lai tạo, khảo nghiệm trước khi triển khai trồng ñại
Trang 23trà giống mới Bên cạnh ñó, việc nhập ồ ạt giống mới thiếu kiểm soát chặt chẽ ñã làm xuất hiện một số loại dịch bệnh mới trên cây mía
Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ñã ñưa ra khuyến cáo về việc thực hiện ñịnh hướng phát triển ngành mía ñường ñến năm 2010 và ñịnh hướng năm 2020 Theo ñó, diện tích trồng mía hiện nay sẽ ñược giữ nguyên ñến năm 2010 và tập trung ñầu tư tăng năng suất bình quân lên ñến 80 tấn/ha, tương ñương sản lượng 24 triệu tấn nguyên liệu vào năm 2020, ñáp ứng nhu cầu mở rộng công suất của các nhà máy ñường, thay vì xây dựng thêm những nhà máy ñường mới, tránh nguy cơ khủng hoảng thừa trong nước, từng bước hạ giá thành
ñủ sức ñể xuất khẩu Và do ñó các nhà máy chỉ ñược phép mở rộng công suất trên cơ sở vùng nguyên liệu và phát huy hết tiềm năng của dây chuyền hiện có chứ không lắp ñặt thêm dây chuyền khác
Mặc dù cây mía ñã ñược trồng ở Việt Nam từ rất lâu và công tác nghiên cứu về cây mía cũng ñã ñược quan tâm thực hiện kể từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, tuy nhiên các công trình nghiên cứu trong nước về cây mía nói chung, sâu bệnh hại mía nói riêng còn khá khiêm tốn, ñặc biệt là các công trình nghiên cứu về bọ hung và xén tóc hại mía Như công trình nghiên cứu của Nguyễn ðức Khiêm (1996) [13], Lại Phú Hoàng và cs (2003) [9], Vũ Tứ Mỹ và
cs (2004) [16], ðinh Văn ðức (2005) [2], Phạm Thị Vượng và cs (2005) [37], Cao Anh ðương (1998, 2002, 2006) [3; 4; 5]
Theo tác giả Lương Minh Khôi - Viện BVTV (1992 - 1995) [10, 11, 12]
ñã ghi nhận trên mía có 20 loài sâu hại, và 25 loài bệnh hại Trong số 20 loài sâu
hại mía thì các loài như: sâu ñục thân (Argyroploce schistaceana Snellen), bọ hung ñục gốc (Alissonotum impressicolle Arrow), rệp sáp (Trionymus sacchari
Trang 24Kockerell), và châu chấu mía (Hieroglyphus sp.) là những ñối tượng phổ biến và
gây hại nguy hiểm nhất trên ruộng mía
ðỗ Ngọc Diệp, Cao Anh ðương (1998 - 2002) [39] (Viện Nghiên cứu mía ñường Bến Cát) cho biết, hiện nay có ít nhất có 6 loài sâu ñục thân thường xuyên xuất hiện gây hại cho cây mía ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ Chúng bao gồm
sâu ñục thân mình hồng (Sesamia inferens Walker), sâu ñục thân 4 vạch (Chilo sacchariphagus Bojer), sâu ñục thân 5 vạch (Chilo infuscatellus Snellen), sâu
ñục thân mình trắng (Scirpophaga nivella Fabricius), sâu ñục thân mình vàng
(Argyroploce schistaceana Snellen) và sâu ñục thân mình tím (Phragmatoecia castaneae Hubner)
Theo tác giả Phạm Thị Vượng và cs (2004 - 2006) [35; 36; 37] trên mía
có 26 loài sâu và 16 loại bệnh hại, trong ñó các loài sâu ñục thân (Argyroploce schistaceana Snellen), bọ hung ñục gốc (Alissonotum impressicolle Arrow), rệp
xơ trắng (Ceratovacuna lanigera Z.), rệp sáp (Trionymus sacchari Kockerell), và châu chấu mía (Hieroglyphus sp.) là những loài sâu hại nguy hiểm có mức ñộ
phá hại cao và phân bố rộng trên nhiều vùng trồng mía trong cả nước Rệp xơ
trắng (Ceratovacuna lanigera Z.) là nguyên nhân cơ bản làm giảm năng suất và
hàm lượng ñường trong cây mía, chúng còn gây hiện tượng úa vàng, cây cằn cỗi
và làm bệnh muội ñen phát triển mạnh Tại Nông trường Hà Trung - Thanh Hóa,
tỉ lệ cây bị hại lên tới 73% Những cây mía bị rệp xơ trắng chích hút ñã bị giảm
35 - 40% lượng ñường, 10 - 20% năng suất, ngọn mía mất khả năng nảy mầm, gốc mất khả năng tái sinh [28]
Trong 16 loài bệnh thì các bệnh trắng lá (Mycoplasma like Organism), bệnh thối ñỏ (Glomerellar tucumanensis), bệnh phấn trắng (Peronosclerospora sacchari)
là những bệnh có tỷ lệ bị hại và mức ñộ phổ biến trên nhiều vùng trồng mía
1.2.3 Các nghiên cứu về bọ hung hại mía
Trang 25Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1976) [31], ñã ghi nhận có 10 loài bọ hung hại mía thuộc 3 phân họ, nhưng trong ñó có 2 loài phát
sinh với mật ñộ cao, gây hại lớn là bọ hung ñen (Alisonotum impressicolle Arrow) nằm trong phân họ Dinasthinae và bọ hung nâu lớn (Holotrichia sp2.)
nằm trong phân họ Melolonthinae
Theo Nguyễn ðức Khiêm (1996) [13], loài bọ hung nâu Serica orientalis
Mostchulky cũng là một trong những loài bọ hung ñục gốc hại mía phổ biến ở vùng phía Bắc trong suốt giai ñoạn từ 1967 - 1985, mức ñộ gây hại mía nặng hay nhẹ tùy thuộc vào loại ñất, giống mía và ñiều kiện canh tác
Theo Cao Anh ðương (1998) [3], thành phần bọ hung hại mía ở các vùng
trồng mía của phía Nam bao gồm 3 loài chính là bọ hung ñen Alisonotum impressicolle Arrow, bọ hung nâu Holotrichia sp và bọ cánh cam Anomala sp
Trần Huy Thọ, Phạm Thị Vượng và cs (1995 - 1999) [20] cho biết ñã xác ñịnh ñược 6 loài bọ hung hại cây trồng cạn ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam,
trong ñó loài bọ hung hại mía nghiêm trọng nhất là Alissonotum impressicolle
Arrow
Theo kết quả ñiều tra của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thanh Hóa năm
2002 [28], các loài bọ hung, xén tóc là những nguyên nhân gây tổn thất lớn cho sản xuất mía ở vùng nguyên liệu mía Thạch Thành Chúng làm giảm năng suất trung bình là 35% và diện tích bị hại từ 30 - 60% ðến giữa năm 2002, tình hình
bọ hung hại mía ñã ñến mức báo ñộng Huyện Thạch Thành có 900 ha mía bị bọ hung ñen phá trong ñó có 230 ha bị hại rất nặng, 100 ha mất trắng Các vùng nguyên liệu mía khác vốn ñược coi là sạch sâu bệnh như Nông Cống, Lam Sơn… ñều ñã bị dịch bọ hung ñen gây hại Dịch bọ hung ñen hại mía không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng ñến năng suất, chất lượng của các vùng trồng mía mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của ñại bộ phận nông dân trồng mía, nhiều
Trang 26nông dân trồng mía phải bỏ mía ñể chuyển sang trồng các loại cây trồng khác ít
có hiệu quả kinh tế như ñay hay ñậu tương
Phan Kim Oanh, Phạm Thị Vượng (2002) [36], nghiên cứu về họ bọ hung
hại cây trồng cạn ñã xác ñịnh hai loài A impressicolle, và M cephalotes ñang là
ñối tượng gây hại lớn và ñã phát triển thành dịch tại Thạch Thành - Thanh Hoá
và Nông trường Hà Trung - Thanh Hoá Tác giả cũng ñã mô tả ñặc ñiểm hình thái chi tiết của từng loài
Theo Vũ Tứ Mỹ và cs (2004) [16], tại huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa năm 1996, bọ hung mới chỉ xuất hiện và gây hại trên 4 ha mía nhưng ñến năm
2002 dịch hại bọ hung ñã lan ra gần 1.000 ha chiếm khoảng 1/5 diện tích mía toàn huyện Cũng tại huyện Thạch Thành và thị xã Bỉm Sơn tỉnh Thanh Hóa, kết quả ñiều tra của Cao Anh ðương năm 2002 [4], ñã xác ñịnh ñược thành phần bọ hung, xén tóc hại mía ở vùng này bao gồm 3 loài, trong ñó có 2 loài chủ yếu là
bọ hung ñen Alisonotum impressicolle Arrow và xén tóc nâu lớn hại mía Dorysthenes sp., loài bọ hung nâu gây hại thứ yếu Tỷ lệ hại của nhóm bọ hung
và xén tóc là gần tương ñương nhau (50:50)
Viện Bảo vệ thực vật ñã có nhiều ñề tài nghiên cứu về bọ hung hại mía trong những năm trước ñây, ñiển hình là ñề tài nghiên cứu về bọ hung hại mía ở các vùng mía trọng ñiểm phía Bắc, nghiên cứu sâu về loài bọ hung ñen hại mía
Alissonotum impressicolle Arrow, một loài ñã gây thành dịch lớn tại vùng trồng mía trọng ñiểm phía Bắc tỉnh Thanh Hóa Qua ñó ñã xác ñịnh ñược 10 loài bọ hung hại mía, trong ñó loài bọ hung ñen có khả năng gây hại mạnh nhất, ảnh hưởng trực tiếp ñến năng suất, sản lượng mía của vùng [36, 37]
Phạm Thị Vượng và cs (2002 - 2004) [35, 36] ñã nghiên cứu bọ hung hại mía và biện pháp phòng trừ tại Thanh Hoá Nhóm tác giả ñã xác ñịnh ñược bọ hung ñen và bọ hung nâu hại mía là nguyên nhân gây phát sinh thành dịch tại
Trang 27Thạch Thành, Thanh Hoá Nghiên cứu ựã khẳng ựịnh vòng ựời, thời gian các pha
và số lứa sâu trong năm cũng như thời gian phát sinh gây hại của 2 ựối tượng dịch hại này đề tài ựã ựưa ra quy trình phòng trừ bọ hung hại mắa có hiệu quả cho vùng mắa trọng ựiểm của phắa Bắc cũng như ở Thanh Hóa với sự kết hợp ựồng thời nhiều biện pháp như luân canh cây trồng, thu bắt bằng bẫy ựèn, bón phân cân ựối, sử dụng các chế phẩm trừ sâu sinh học kết hợp với dùng thuốc hoá học
Theo Phạm Thị Vượng và cs (2005) [37], kết quả ựiều tra từ năm 1996 tại vùng mắa Thạch Thành - Thanh Hóa cho thấy, vùng mắa này trồng chủ yếu là giống MY, F còn các giống ROC chỉ chiếm 15% Tuy nhiên, sau khi có chủ trương nhập khẩu giống mắa ROC từ đài Loan phục vụ chương trình 1 triệu tấn ựường, diện tắch các giống mắa ROC ựã tăng lên ựột biến, chiếm tới 95,2% diện tắch trong niên vụ 2002 - 2003, kéo theo sự phát sinh và gây thiệt hại nặng cho sản xuất mắa ựường trong vùng của các loài bọ hung, xén tóc hại mắa Qua ựiều tra cho thấy, các giống mắa ROC luôn có tỷ lệ bọ hung, xén tóc gây hại cao gấp 3 lần các giống mắa khác Ngoài ra, ựất trồng mắa ở vùng này chủ yếu là thịt nhẹ và cát pha nên rất phù hợp cho các loài bọ hung, xén tóc sinh sống, gây hại
Theo Phạm Thị Vượng và cs (2007) [38], khi nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại chắnh trên mắa tại các vùng trồng mắa trọng ựiểm phắa Bắc đã xác ựịnh ựược các ựối tượng dịch hại quan
trọng như bọ hung ựen (Alisonotum impressicolle), Bọ hung nâu (Holotrichia pruinosa), sâu ựục thân mắa, rệp xơ bông Nhóm tác giả ựã ựưa ra quy trình phòng trừ bọ hung, rệp bông xơ và một số sâu bệnh hại mắa có hiệu quả cho sản xuất, áp dụng trên diện rộng tại nhiều vùng có dịch
Sau vùng Thanh Hóa, một số vùng mắa khác cũng bắt ựầu xuất hiện dịch
bọ hung và xén tóc gây hại Năm 2005, bọ hung bắt ựầu phát sinh gây hại nặng ở
Trang 28một số vùng trồng mắa tỉnh Gia Lai (đinh Văn đức, 2005) [2] Theo số liệu thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật Gia Lai (2005) [29], diện tắch mắa ựã trồng ựến cuối tháng 7 năm 2005 khoảng gần 15 ngàn ha, chủ yếu là các giống mắa ROC Diện tắch mắa bị nhiễm bọ hung khoảng 1.833,6 ha, trong ựó khoảng 100
ha bị hại nặng, chủ yếu trên chân ựất mắa lưu gốc Mật ựộ sâu trung bình 1 - 2 con/gốc, cao 6 - 12 con/gốc Tỷ lệ cây bị hại trung bình 0,5 - 2%, cao 10 - 30%,
cá biệt 40 - 60%
Trong nhiều năm gắn bó với rừng, đặng Vũ Cẩn trong cuốn ỘSâu hại rừng
và cách phòng trừỢ [1] cho biết ngoài những loài côn trùng hại cây rừng khác thì
bọ hung cũng là một trong những loài gây hại ựáng kể Trong ựó tác giả ựã ựưa
ra 6 loài có vai trò gây hại ựối với cây rừng, ựặc biệt là bọ hung hại bạch ựàn
như: Holotrichia sauteri Mauser, Adoretus compressus và Maladera sp Ngoài
ra một số loài phá hại cả cây công nghiệp và cây ăn quả như loài: Lepidiota biuculata Fabricius, Anomala cupripes Hope và Xylotrupes gideon L
1.2.3.2 đặc ựiểm sinh học, quy luật phát sinh của bọ hung hại mắa
đã có một số kết quả nghiên cứu về ựặc ựiểm sinh học, sinh thái của các loài bọ hung hại mắa ở Việt Nam, như kết quả nghiên cứu của Nguyễn đức Khiêm (1996) [13] về loại bọ hung nâu hại mắa ở vùng mắa ựồi Thanh Hóa, hay kết quả nghiên cứu của đinh Văn đức (2005) [2], Phạm Thị Vượng và cs (2004; 2006) [36, 37] về loại bọ hung ựen hại mắa ở phắa Bắc,ẦNhìn chung các kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới ựối với từng loài bọ hung hại mắa
1.2.3.3 Các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ hung hại mắa
Do yêu cầu cấp bách của sản xuất, nên trong thời gian qua ựã có một số công trình nghiên cứu trong nước về biện pháp phòng trừ bọ hung và xén tóc hại
Trang 29mía Như biện pháp sử dụng chế phẩm tuyến trùng sinh học của Lại Phú Hoàng
và cs (2003) [9], Vũ Tứ Mỹ và cs (2004) [16],… Biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu vi sinh của Cao Anh ðương (2006) [5], Phạm Thị Thùy (2008) [24],… Biện pháp thủ công cơ giới kết hợp thuốc hóa học của Nguyễn ðức Khiêm (1996) [13], ðinh Văn ðức (2005) [2], Phạm Thị Vượng và cs (2005) [36],… Trong số các biện pháp nói trên, biện pháp sinh học tỏ ra có hiệu quả lâu dài và rõ rệt, song yêu cầu phải áp dụng rộng rãi liên tục và hiệu quả chỉ xuất hiện sau một thời gian dài áp dụng Các biện pháp khác như sử dụng thuốc hóa học, biện pháp thủ công ñang ñược nông dân áp dụng phổ biến ở các vùng dịch song hiệu quả phòng trừ ñôi khi không ñạt như mong muốn, chi phí cao nên khó áp dụng cho tất cả các vùng mía
ðây là biện pháp có vai trò quan trọng và hiệu quả trong phòng trừ các loài sâu bệnh hại sống trong ñất, trong ñó có bọ hung Viện BVTV ñã khuyến cáo việc thu bắt trưởng thành bọ hung hại mía tại các tỉnh phía Bắc bằng bẫy ñèn trong thời gian trưởng thành ra rộ từ tháng 4 ñến tháng 6, sau những trận mưa rào lớn ñầu hè và thu bắt ấu trùng trong quá trình làm ñất trồng mới, cày xả 2 bên luống ñể bón phân, có tác dụng rõ rệt trong việc giảm mật ñộ quần thể bọ hung Kết quả này ñã ñược huyện Thạch Thành, Thanh Hoá triển khai phòng trừ
bọ hung ñen hại mía, trong các năm từ 2002 - 2006 tổng lượng bọ hung bắt ñược
là 3.000 kg cả trưởng thành và sâu non, nhờ ñó dịch bọ hung hại mía ñã ñược ñẩy lùi [35; 36]
Theo Hồ Khắc Tín (1982) [26], mỗi loài côn trùng có thể sinh sống thuận lợi trong những ñiều kiện ngoại cảnh nhất ñịnh, vì vậy việc vận dụng sáng tạo các kỹ thuật trong quá trình canh tác nhằm tạo ra môi trường sống không thuận lợi cho ñối tượng dịch hại cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng ðối với các sâu
Trang 30hại có giai ñoạn tồn tại trong ñất như bọ hung hại mía thì các kỹ thuật như luân canh cây trồng, làm ñất và vệ sinh ñồng ruộng mang lại hiệu quả ñáng kể
Việc nghiên cứu và ứng dụng biện pháp sinh học trong phòng chống dịch hại nông nghiệp là một trong những yêu cầu cấp bách của nền nông nghiệp sạch
và bền vững Nghiên cứu và sử dụng nấm trừ sâu hại ñã bắt ñầu từ năm 1990
Các nghiên cứu ñã phân lập và khả năng sử dụng các nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae ñể trừ một số sâu hại trong nông nghiệp
Trong những năm 2000 và 2001, chế phẩm nấm Metarhizium ñã ñược sử
dụng ñể phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa ở ñồng bằng sông Cửu Long, hiệu quả ñạt từ 55,5 - 97% sau 7 - 30 ngày xử lý, có những nơi hiệu quả kéo dài tới 5 tháng (Phạm Văn Lầm, 1995) [14]
Các nghiên cứu về chế phẩm sinh học trừ sâu hại ở Việt Nam chủ yếu tập
trung vào các ñối tượng vi khuẩn Bacillus thuringiensis, nấm côn trùng (Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae), vi rút côn trùng (NPV), tuyến
trùng côn trùng (Phạm Văn Lầm, 2002) [15]
Trong số bọ hung, xén tóc chết tự nhiên ngoài ñồng ruộng thì nguyên
nhân do vi sinh vật có phần cao hơn Dùng thuốc nấm Metarhizium có nồng ñộ
tốt Với các loài bọ hung, xén tóc Viện BVTV ñã tiến hành thử nghiệm nhiều
loại chế phẩm sinh học như nấm Metarhizium, tuyến trùng S glaseri hiệu quả
ñạt ñược là khá cao Hiện nay vẫn ñang tiến hành chuyển giao cho sản xuất [38]
Do sâu non bọ hung nằm trong ñất, rễ, gốc cây mía cho nên phương pháp
sử dụng thuốc hoá học và lựa chọn loại thuốc phù hợp là rất quan trọng
Trang 31Trần Huy Thọ và cs (2000, 2001) [20; 21] ựã thử nghiệm một số loại thuốc hóa học trừ bọ hung và kết luận hai loại thuốc là Vibasu 10H và Basudin
10H có hiệu lực trừ bọ hung cao nhất Basudin 10H trừ Anomala cupripes ựạt 94,6% ngoài ựồng ruộng sau 11 ngày xử lý, Vibasu 10H trừ Maladera sp ựạt
90,56% sau 12 ngày xử lý
Tóm lại: đã có một số tác giả và công trình nghiên cứu trong nước về bọ hung hại mắa Tuy nhiên phần lớn các kết quả nghiên cứu mới dừng lại ở việc ựánh giá mức ựộ tác hại, nghiên cứu một số ựặc ựiểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây hại mắa cơ bản của chúng, cũng như thử nghiệm bước ựầu một
số biện pháp phòng trừ, song phần lớn trong số chúng ựược thực hiện tại các tỉnh trồng mắa phắa Bắc, chưa có công trình nghiên cứu chắnh thức nào về biện pháp phòng trừ bọ hung hại mắa ựược tiến hành một cách toàn diện ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, ựặc biệt là ựối với loài bọ hung hại mắa tại tỉnh Gia Lai Mặc dù ựây là những kết quả nghiên cứu ắt ỏi nhưng rất có giá trị, có thể kế thừa
và làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
1.2.4 đặc ựiểm vùng Tây Nguyên và tình hình gây hại của bọ hung
1.2.4.1 đặc ựiểm vùng Tây Nguyên
Vùng Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh là: Kon Tum, Gia Lai, đăk Lăk, đăk
cả nước); dân số 4,66 triệu người (chiếm 5,3% dân số cả nước), mật ựộ dân số
các dân tộc thiểu số sinh sống, ựây là khu vực ựa dạng nhất về thành phần dân tộc, toàn vùng hiện có 46 dân tộc anh em, người Kinh chiếm 66,37%, ựồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 33,63% Giá trị sản xuất Nông - Lâm nghiệp vùng Tây Nguyên tăng 12% (cả nước 4,4%) đây là một trong những vùng kinh tế Nông nghiệp trọng ựiểm cả nước, là nơi sản xuất chủ yếu của các cây công
Trang 32nghiệp có giá trị xuất khẩu cao như cà phê, hồ tiêu, ca cao, mía Sau khi có chương trình một triệu tấn ñường ra ñời, tại vùng Tây Nguyên ñã có 5 nhà máy ñường mọc lên là: Nhà máy ñường Kon Tum, Buorbon Gia Lai (nay là nhà máy mía ñường Nhiệt ñiện Gia Lai), nhà máy ñường An Khê, nhà máy ñường 333 ðăk Lăk và nhà máy ñường ðăk Nông ðể cung cấp nguyên liệu cho 5 nhà máy ñường trong vùng nêu trên và một số nhà máy ñường ở các vùng kế cận như nhà máy ñường Bình ðịnh, Ninh Hòa, Cam Ranh, Tuy Hòa, khu công nghiệp Phú Yên, Phan Rang, Thuận Phước,… hoạt ñộng, diện tích trồng mía ở Tây Nguyên
ñã ñược mở rộng ñáng kể, tập trung chủ yếu ở Gia Lai, ðăk Lăk, Kon Tum với diện tích tăng từ 14.500 ha năm 1995 lên ñạt gần 30.800 ha năm 2006 Cùng với việc gia tăng nhanh chóng về diện tích, sản lượng mía của toàn vùng cũng ñược nâng lên ñáng kể từ 606.500 tấn mía năm 1995 lên ñạt 1.452.200 tấn mía năm
2006 Trong số các tỉnh Tây Nguyên, Gia Lai có diện tích trồng mía nguyên liệu rộng nhất với trên 17.600 ha, tiếp ñến là ðăk Lăk với 8.100 ha và Kon Tum là 2.700 ha tính ñến năm 2006 [18] ðến năm 2007 diện tích mía của các tỉnh Tây Nguyên vẫn tiếp tục tăng lên, cụ thể như sau: Gia Lai là 19.030 ha, tiếp ñến là ðăk Lăk với 9.352 ha và KonTum là 2.805 ha [19] Tại Gia Lai cây mía ñược coi là một trong số các cây trồng chủ lực của tỉnh ñem lại hiệu quả kinh tế cao, giải quyết ñược công ăn việc làm tại chỗ cho nhiều người lao ñộng ñịa phương, nhất là ñồng bào dân tộc nghèo sống ở các vùng ñất khô cằn
1.2.4.2 Tình hình phát sinh gây hại của bọ hung hại mía ở Tây Nguyên
Cùng với việc tăng nhanh diện tích mía, thì các loài sâu bệnh hại mía cũng xuất hiện ngày càng nhiều và mức ñộ gây hại ngày càng gia tăng Sau khi gây hại nặng cho các vùng mía phía Bắc trong các năm từ 2001 - 2003, dịch bọ hung
và xén tóc hại mía ñã lây lan và gậy thiệt hại nặng cho nhiều vùng mía khác, trong ñó vùng Tây Nguyên ñược ñánh giá là thiệt hại nặng nhất Năm 2005, bọ
Trang 33hung bắt ñầu phát sinh gây hại nặng ở một số vùng trồng mía tỉnh Gia Lai (ðinh Văn ðức, 2005) [2] Theo số liệu thống kê của Chi cục bảo vệ thực vật Gia Lai (2005) [29], diện tích mía ñã trồng ñến cuối tháng 7 năm 2005 khoảng gần 15 ngàn ha, chủ yếu là các giống mía ROC Diện tích mía bị nhiễm bọ hung, xén tóc khoảng 1.833,6 ha, trong ñó khoảng 100 ha bị hại nặng, chủ yếu trên chân ñất mía lưu gốc Mật ñộ sâu trung bình 1 - 2 con/gốc, cao 6 - 12 con/gốc Tỷ lệ cây
bị hại trung bình 0,5 - 2%, nơi cao là 10 - 30%, và cá biệt 40 - 60%
Mặc dù ñã có một số tác giả và công trình trong nước quan tâm nghiên cứu song ñến nay dịch bọ hung, xén tóc hại mía vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm, mà còn có dấu hiệu lây lan rộng sang các vùng mía lân cận Nguyên nhân chủ yếu là do các nghiên cứu trong nước chủ yếu ñược tiến hành ở các vùng mía phía Bắc, có ñiều kiện khí hậu, canh tác rất khác biệt so với vùng Tây Nguyên Mặt khác các công trình ñó chưa ñi sâu nghiên cứu kỹ về thành phần, ñặc ñiểm sinh học, sinh thái, quy luật phát sinh gây hại, cùng như biện pháp phòng trừ có tính khả thi cao dễ áp dụng, thích hợp với vùng canh tác mía ở vùng Tây Nguyên nên chưa ñưa ra ñược biện pháp phòng trừ tổng hợp hiệu quả, bền vững, có tính thuyết phục cao ñể nông dân trồng mía áp dụng rộng rãi
CHƯƠNG 2 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU,
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ðỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
ðề tài nghiên cứu thành phần sâu và các loài bọ hung hại mía trên các ruộng mía có ñiều kiện canh tác khác nhau, các giống mía khác nhau, các ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của bọ hung hại mía tại TX An Khê, và huyện KBang tỉnh Gia Lai
Trang 342.2 ðỊA ðIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.2.1 ðịa ñiểm nghiên cứu
Tập trung tại vùng sản xuất mía trọng ñiểm của tỉnh Gia Lai ñang bị bọ hung gây hại nghiêm trọng trong thời gian qua ðiều tra bổ sung ñược tiến hành tại một số ñịa phương lân cận khác
2.2.1.1 Nơi thu mẫu và nghiên cứu thực ñịa
Việc ñiều tra nghiên cứu ngoài thực ñịa ñược tiến hành tại xã Thành An,
TX An Khê và xã ðăk Hlơ, huyện KBang, là vùng trồng mía nguyên liệu chủ lực của tỉnh Gia Lai, nơi có dịch bọ hung, xén tóc ñang gây hại nghiêm trọng ñến năng suất mía Việc ñiều tra ñược tiến hành trên các ruộng mía có ñiều kiện canh
tác khác nhau, các giống mía khác nhau, tuổi mía và các vùng sinh thái khác nhau
2.2.1.2 Nơi phân tích mẫu và thực nghiệm
- Các nội dung nghiên cứu về hình thái, làm tiêu bản, thí nghiệm nuôi sinh học, thử nghiệm phòng trừ ñược tiến hành tại phòng thí nghiệm của bộ môn Côn trùng, Viện Bảo Vệ Thực Vật
- Mẫu thu thập, một số ñược gửi giám ñịnh tại Viện ðộng vật học Bắc Kinh, Trung Quốc
- Biện pháp phòng trừ bọ hung ñược tiến hành cả trong nhà lưới tại Viện Bảo vệ thực vật và ngoài ñồng tại ruộng mía của nông dân thuộc xã Thành An,
TX An Khê, Gia Lai
- Thu thập tài liệu liên quan tại Viện Bảo vệ thực vật, Trường ðại học Nông nghiệp I, Thư viện quốc gia Việt Nam, thông tin trên mạng
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Học viên ñã tham gia thực hiện ñề tài cũng với nhóm Nghiên cứu Sâu hại Cây công nghiệp của Bộ môn Côn trùng, Viện Bảo vệ thực vật từ tháng 12 năm
2008 ñến tháng 12 năm 2009
Trang 35Bọ hung có vòng ñời dài, thường thì 1 năm, có loài có vòng ñời dài tới 2 năm, nhóm ñề tài của Bộ môn Côn Trùng, Viện BVTV ñã và ñang tiến hành theo dõi sinh học, sinh thái của bọ hung hại mía ở các vùng trồng mía trọng ñiểm Vì vậy một vài kết quả của Luận án không chỉ là kết quả thực hiện riêng của học viên trong
12 tháng, mà một số số liệu liên quan ñến ñặc ñiểm sinh học, hình thái là kết quả của nhóm nghiên cứu thu ñược trong quá trình thực hiện ñề tài Cả nhóm nghiên
án (Phụ lục 4)
2.3 DỤNG CỤ VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Các giống mía ñược trồng trong sản xuất vùng nghiên cứu
- Các loài bọ hung hại mía tại vùng nghiên cứu
- Túi nilông, chổi lông, lọ thủy tinh, hộp nhựa, ống tuýp, kim mũi nhọn, panh
- Xô nhựa, lọ nhựa trồng cây, lồng lưới nuôi sâu, các giống mía nuôi sâu
- Tủ sấy, kính lúp, kính lúp soi nổi, buồng sinh thái
- Các loại bẫy ñèn
Cobitox 5G, Diazan 10H, Rambo 0,3G, Vimetarhizimm 95DP và Biobauve 5DP
- Dụng cụ thử thuốc: Ống Pipet, ống ñong, xilanh, bình bơm tay
2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.4.1 ðiều tra thực trạng tình hình sản xuất mía ở vùng nghiên cứu
2.4.2 ðiều tra thu thập thành phần sâu hại mía, xác ñịnh loài bọ hung gây hại có vai trò quan trọng trong sản xuất vùng nghiên cứu
2.4.3 Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của bọ hung nâu
(Holotrichia sp.) có vai trò gây hại quan trọng làm cơ sở nghiên cứu và ñề xuất
biện pháp phòng trừ
Trang 362.4.4 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bọ hung nâu bằng chế phẩm sinh học và thuốc hoá học
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.5.1 ðiều tra thực trạng tình hình sản xuất mía tại vùng có dịch bọ hung gây hại
ðiều tra tình hình sản xuất và mức ñộ thiệt hại theo phương pháp ñiều tra nhanh có sự tham gia của người dân (PRA), thu thập số liệu, báo cáo từ các ñịa phương kết hợp với ñiều tra bổ sung trực tiếp ở vùng nghiên cứu Tổng hợp số
liệu ñánh giá chung về sản xuất và tổng thể thiệt hại do dịch bọ hung hại mía gây ra
2.5.2 ðiều tra thu thập thành phần sâu hại mía, xác ñịnh loài bọ hung gây hại có vai trò quan trọng trong sản xuất vùng nghiên cứu
2.5.2.1 ðiều tra thu thập thành phần sâu hại mía
ðiều tra 10 - 15 ngày 1 lần, ñiều tra tự do không cố ñịnh ñiểm Tiến hành
thu thập toàn bộ mẫu vật sâu hại, bọ hung hại mía bắt gặp trong quá trình ñiều tra
Bọ hung trưởng thành: Dùng bẫy ñèn ñể thu hút bọ hung trưởng thành hoặc ñào bắt thủ công, sau ñó ñựng vào hộp và ñem về phòng thí nghiệm, giết chết trưởng thành bằng lọ ñộc (KCN) Dùng kim cắm mẫu thu ñược trên giá, ñưa
thực vật ñể phân loại, giám ñịnh
Một số mẫu trưởng thành không cắm khô mà ñem ngâm trong dung dịch
phân loại
Riêng ñối với mẫu vật là sâu non bắt ngoài ñồng ñem về nuôi trong ñiều kiện phòng thí nghiệm với loài có vòng ñời ngắn, bọ hung có vòng ñời dài từ 6 tháng trở lên nuôi trong ñiều kiện nhà lưới ñến khi hoá trưởng thành ñể phân loại
Trang 37ðối với mẫu vật bị ký sinh chúng tôi cho vào ống nghiệm sạch theo dõi tiếp tới khi trưởng thành xuất hiện
Thu mẫu, làm mẫu và giám ñịnh ñược tiến hành tại phòng Côn trùng Viện Bảo vệ thực vật, một số mẫu ñược gửi ñi nước ngoài ñể ñịnh loại
2.5.2.2 ðiều tra tỷ lệ thiệt hại do bọ hung gây ra
+ Chọn ruộng có tính chất ñất khác nhau, giống khác nhau, tuổi mía khác nhau mỗi chỉ tiêu chọn 2 - 3 ruộng mía Mỗi ruộng có diện tích từ 1 - 2 ha, ñiều tra 5 ñiểm chéo góc, mỗi ñiểm 50 cây dọc theo luống, ñếm tổng số cây hại Tỉ lệ hại ñược xác ñịnh theo công thức:
Từ ñó xác ñịnh tỉ lệ hại của bọ hung trên loại ñất, giống và tuổi mía khác nhau Xác ñịnh các loài bọ hung gây hại phổ biến và những loài có vai trò quan trọng
2.5.2.3 ðiều tra diễn biến mật ñộ quần thể bọ hung hại mía
- Chọn ñiểm ñiều tra tại 1 vùng sinh thái ñiển hình, chọn 3 ruộng ñiều tra, mỗi ruộng ñiều tra có diện tích 1 - 2 ha ðiều tra ñịnh kỳ 10 - 15 ngày tùy theo giai ñoạn sinh trưởng phát triển của cây
ñất ở cả 2 phía của gốc, sâu 15 - 20 cm thu thập toàn bộ số bọ hung ở từng pha phát dục Ghi nhận tổng số sâu, số sâu ở từng pha phát dục
- Sử dụng bẫy ñèn ñể theo dõi sự phát sinh của bọ hung trưởng thành: Mỗi vùng sinh thái ñiển hình bố trí một bẫy ñèn với kích thước, chiều cao theo tiêu chuẩn của Cục Bảo vệ thực vật ñưa ra Thời gian bẫy ñèn: 3 - 4 tháng trong khoảng thời gian trưởng thành bay ra (khi bắt ñầu có mưa) Thời gian theo dõi bẫy ñèn từ 18h - 24h Thu toàn bộ mẫu vào sáng sớm, ñếm tổng số bọ hung trưởng thành vào ñèn
Trang 382.5.3 Nghiên cứu các ñặc ñiểm hình thái, sinh học của bọ hung nâu hại mía
2.5.3.1 ðặc ñiểm hình thái
Hình thái của trưởng thành và AT ñược mô tả dựa trên những ñặc ñiểm thích nghi và những ñặc ñiểm có giá trị ñịnh loại
Hình thái phần ñầu và các phần phụ ñầu: ðặc ñiểm của hộp sọ, anten, cơ quan miệng
Hình thái của phần ngực và các phần phụ ngực: Tấm lưng của các ñốt ngực, tấm bụng của các ñốt ngực, gốc háng, hình thái của từng ñôi chân, hình thái của cánh cứng
Hình thái của phần bụng (số ñốt bụng nhìn thấy của mặt bụng, lỗ thở, hình thái của các ñốt cuối) và cơ quan giao phối ñực, cái
Những ñặc ñiểm phân biệt giữa con ñực và con cái của loài
chung, màu sắc, kích thước
Hình thái phần ñầu và các phần phụ ñầu: ðặc ñiểm của hộp sọ, anten, cơ quan miệng (môi trên, hàm trên, hàm dưới, môi dưới)
Hình thái của phần ngực và các phần phụ ngực: Tấm lưng của các ñốt ngực, tấm bụng của các ñốt ngực, hình thái của từng ñôi chân, hình thái của phần bụng (số ñốt, hình thái của các ñốt cuối)
- Quan sát, mô tả các ñặc ñiểm hình thái của từng pha bằng kính lúp soi nổi
Phương pháp làm tiêu bản cố ñịnh theo phương pháp chuẩn của Viện Bảo
vệ thực vật và của G.Bachelier, 1978
2.5.3.2 ðặc ñiểm sinh học
- Tiến hành bắt bọ hung các pha ngoài tự nhiên, ñưa về nhà lưới của Viện bảo vệ thực vật nuôi bằng mía và mùn hữu cơ
Trang 39- Với trưởng thành: Ghép ñôi trong lồng lưới kích thước (1m x 1m x 2,5m) có trồng mía tương tự như ngoài tự nhiên Theo dõi thời gian ñẻ trứng và thời gian sống Xác ñịnh số lượng trứng ñẻ, thời gian ñẻ trứng Thu trứng ñưa vào hộp nhựa bên trong có chứa mùn ẩm ñể tiến hành xác ñịnh thời gian trứng
nở và tiếp tục chuyển sang các loại thức ăn tự nhiên khác ñể xác ñịnh thời gian các pha tiếp theo
- Với AT: Nuôi trong các vại sành có ñường kính 30 cm, cao 50 cm Mỗi công thức bố trí 3 lần nhắc lại, với tổng số từ 30 AT trở lên Thức ăn cho AT là mùn mía, cây mía non, gốc mía tuỳ từng giai ñoạn phát dục của AT
Theo dõi xác ñịnh thời gian các pha, vòng ñời
- Quan sát theo dõi các yêu cầu về sinh thái (nhiệt ñộ, ñộ ẩm, ánh sáng, ñến sự phát dục của chúng)
2.5.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bọ hung nâu
2.5.4.1 Phòng trừ bằng biện pháp thủ công
- Phương pháp bẫy ñèn: Bẫy ñèn ñặt trong 3 - 4 tháng từ khi bắt ñầu có mưa giông ñầu mùa, trùng với thời kỳ bay ra của trưởng thành Bẫy ñèn thiết kế theo như hình phụ lục 3
- Phương pháp bắt AT: Giai ñoạn chuẩn bị ñất trồng mới, hoặc cầy sả hai bên luống ñể bón phân, thu bắt AT
2.5.4.2 Thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nghiên cứu
Thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ñể phòng trừ bọ hung trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả thuốc hoá và sinh học, cụ thể như sau:
- Thuốc Vimetarhizimm 95DP và thuốc Biobauve 5DP: Là chế phẩm sinh
Beauveria basiana Btt 5% w/w, gây bệnh cho côn trùng do Trung tâm Nghiên cứu
Trang 40Sản xuất Các chế phẩm sinh học thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cung cấp
- Các loại thuốc Vibasu 10H, Fudan 3G, Cobitox 5G, Diazan 10H, Rambo 0,3G là các loại thuốc trừ sâu hóa học dạng hạt có phổ tác ñộng rộng và ñang ñược sử dụng rộng rãi ngoài sản xuất
2.5.4.3 Phòng trừ bọ hung bằng thuốc bảo vệ thực vật trong nhà lưới
- Thí nghiệm trong nhà lưới gồm 8 công thức, mỗi công thức 3 lần nhắc lại Liều lượng sử dụng như sau:
Bảng 2.1 Các loại thuốc hóa học và sinh học trong thí nghiệm phòng trừ
bọ hung trong nhà lưới