luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nội
Hà nội - 2008
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng
đ−ợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ đã đ−ợc cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thế
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức – Phôi thai, các thầy, cô giáo Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, các thầy, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn PGS.TS Đỗ Đức Việt - người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn này
Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội, bạn bè, đồng nghiệp và gia
đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành chương trình học tập
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thế
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn iii
Mục lục: iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng viiiii
I Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
II Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
2.1 Tình hình nhập nội và nghiên cứu, phát triển giống bò sữa HF, Jersey ở Việt Nam 3
2.2 Tìm hiểu về máu 5
2.2.1 ý nghĩa sinh học và chức năng của máu 5
2.2.2 Sự tạo máu 7
2.2.3 Thành phần của máu 8
2.2.3.1 Huyết tương (dịch thể) 8
2.2.3.2 Thành phần hữu hình(hồng cầu, tiểu cầu và bạch cầu) 11
2.3 Tìm hiểu về bệnh viêm phổi trên bê HF và Jersey 19
2.3.2 Phân loại: 19
2.4 Một số tư liệu về bệnh phổi ở gia súc 21
2.4.1 Phân loại viêm phổi 21
2.4.2 Một số nguyên nhân gây viêm phổi trên gia súc 23
2.4.3 Cơ chế sinh bệnh 27
2.4.4 Triệu chứng lâm sàng 31
2.4.6 Phòng và trị bệnh viêm phổi 34
3.1 Địa điểm nghiên cứu 37
3.3 Nội dung nghiên cứu 37
3.4 Phương pháp nghiên cứu 37
Trang 53.4.2 Các chỉ tiêu hệ bạch cầu 42
3.4.3 Các chỉ tiêu sinh hóa máu 43
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu: 45
IV Kết quả và thảo luận 46
4.1 Tình hình phát triển đàn bê của Trung tâm .46
4.1.1 Cơ cấu của ủàn bò của Trung tâm qua các năm 46
4.1.2 Thức ăn, dinh dưỡng và biện pháp giải quyết 47
4.1.3 Tình hình dịch bệnh trên ủàn bò qua 4 năm gần ủây 47
4.2 Tình hình bệnh viêm phổi ở đàn bê của trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội .48
4.3 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh viêm phổi bê của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội .49
4.3.1 Triệu chứng lâm sàng 49
4.3.2 Bệnh tích ủại thể của bê bị viêm phổi 52
4.4 Một số chỉ tiêu huyết học 53
4.4.1 Một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của bê bị viêm phổi .53
4.4.2 Một số chỉ tiêu của hệ bạch cầu 56
4.4.3 Hướng nhân và thế máu 58
4.4.4 Kích thước tế bào máu 59
4.5 Một số chỉ tiêu sinh hoá máu 61
4.5.1 Hàm lượng protein tổng số trong huyết thanh 61
4.5.2 Tỷ lệ các tiểu phần Protein huyết thanh và chỉ số A/G 62
4.5.3 Hoạt ủộ enzym sGOT và sGPT trong huyết thanh 64
4.6 Các phác đồ điệu trị thử nghiệm bệnh viêm phổi của bê ở Trung tâm nghiê cứu bò và đồng cỏ Ba Vì 64
4.7 Kết quả điều trị bệnh và tiêm phòng vacxin cho đàn gia súc của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội 67
V Kết luận, tồn tại và đề nghị 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Tồn tại và đề nghị 70
Trang 6Tµi liÖu tham kh¶o 71
I Tài liệu tiếng Việt 71
II Tài liệu tiếng Anh 72
Trang 7Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
BC: B¹ch cÇu CS: Céng sù Hb: Hemoglobin HF: Holstein Friesian MD: MiÔn dÞch sGOT: Serum Glutamat – Oxalaxetat – Transaminaza sGPT: Serum Glutamat – Pyruvat – Transaminaza HST: HuyÕt s¾c tè
RSV: Respiratory syneytial
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 4.1 Số lượng bò của Trung tâm qua các năm ( 2005 – 2008)
Bảng 4.2 Tình hình dịch bệnh trên đàn bò của Trung tâm nghiên cứu bò và
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu về hệ hồng cầu ở bê dưới 6 tháng tuổi bị viêm phổi của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Bảng 4.6 Tốc độ lắng và thời gian đông máu ở bê dưới 6 tháng tuổi bị viêm phổi của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu về hệ bạch cầu ở bê dưới 6 tháng tuổi bị viêm phổi của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Bảng 4.8 Hướng nhân và thế máu ở bê dưới 6 tháng tuổi bị viêm phổi của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Bảng 4.9 Kích thước tế bào máu ở bê dưới 6 tháng tuổi bị viêm phổi của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Bảng 4.10 Protein tổng số và tỉ lệ tiểu phần protein huyết thanh ở bê dưới 6 tháng tuổi bị viêm phổi của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh ở bê dưới 6 tháng tuổi bị viêm phổi của Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trang 9I mở đầu
1.1 đặt vấn đề
Sữa là một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và được người dân ưa chuộng sử dụng hàng ngày như một thực phẩm không thể thiếu cho sức khoẻ hàng người Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, từ những năm 1962 –
1968, Việt Nam đt nhập 30 con bò sữa lang trắng đen Hà Lan gốc Trung Quốc nuôi ở nông trường Ba Vì, Mộc Châu (Tạp chí chăn nuôi số 6 – 2002 [11]) nhưng kết quả chưa cao Theo Nguyễn Văn Thưởng, 1980 [14] thì bò chết nhiều, chủ yếu là bệnh ký sinh trùng đường máu, bệnh viêm phổi, bệnh ở đường sinh dục, bê đẻ ra còi cọc chậm lớn Một trong những nguyên nhân được cho là bò sữa không phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm nói chung ở Việt Nam Từ đó chúng ta đt xác định được một số vùng chăn nuôi bò sữa nhập nội có nhiệt độ trung bình 210C, khí hậu ôn hoà phù hợp với đàn bò sữa gốc ôn đới như Mộc Châu – Sơn La, Đức Trọng – Lâm Đồng Năm 1969 được sự giúp đỡ của Chính phủ Cu Ba chúng ta nhập được 1000 bò thuần Holstein Friesian (HF) Hà Lan gốc
Cu Ba về nuôi thử nghiệm ở Mộc Châu – Sơn La Năm 1975 nhập 717 con, năm
1976 nhập 214 con bò HF nuuôi tại Đức Trọng – Lâm Đồng với mục đích nhân thuần và phục vụ cho công tác lai tạo giống, từ đó đến nay vẫn giữ được nguyên giống gốc thuần của chúng Năm 2001 tiếp tục nhập 1000 bò HF thuần từ Mỹ, tuy nhiên trong quá trình nuôi đt phát sinh nhiều khó khăn do không thử nghiệm nuôi thích nghi
Như vậy từ chỗ chúng ta phải nhập khẩu hoàn toàn sữa nguyên liệu, đến năm 2002 nước ta đt có 54.000 bò sữa, đáp ứng được 8-10% nhu cầu, tăng lên 100.000 con năm 2005, đáp ứng được 25% nhu cầu tiêu dùng
Đứng trước tình trạng đó Thủ tướng Chính phủ đt ra quyết định số 167/2001/QĐ - TTg về một số chính sách và biện pháp phát triển bò sữa của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 Mục tiêu của chương trình là nâng tổng số bò sữa của cả nước từ 100.000 con năm 2005 lên 200.000 con năm 2010 đáp ứng
được 40% nhu cầu tiêu dùng
Trang 10Nhằm thực hiện chương trình phát triển bò sữa của Thủ tướng Chính phủ, nhiều tỉnh, thành phố đt đẩy mạnh phong trào lai tạo và phát triển góp phần tăng nhanh số lượng đàn bò và tổng sản lượng sữa Đến nay số lượng bò sữa của cả nước hiện có hơn 100.000 con, trong đó 90% là bò lai tạo, 10% là bò nhập thuần chủng Sản lượng sữa đt đáp ứng được 25% nhu cầu tiêu dùng nội địa (Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y – Tập XII Số 1 – 2005[12])
Tuy nhiên thực tế chăn nuôi bò sữa ở nước ta trong thời gian qua cũng bộc
lộ khá nhiều bất cập Đó cũng là điều hiển nhiên, bởi lẽ chăn nuôi bò sữa là một nghề khá mới mẻ đối với người nông dân Việt Nam Mặt khác cơ sở hạ tầng yếu kém, điều kiện vệ sinh chưa đảm bảo, người chăn nuôi thiếu kiến thức trong việc chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý và khai thác sữa
Để đánh giá thực trạng đàn bò sữa mới nhập nội cũng như việc định ra phương hướng phát triển đàn bò sữa tại Trung tâm nghiên cứu bò - đồng cỏ ba Vì
và vùng phụ cận một cách có hiệu quả kinh tế cao hơn, chúng ta cần đánh giá khả năng thích nghi của chúng, trong đó Trung tâm đt gặp không ít khó khăn trong việc chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh viêm phổi
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu phòng chống dịch bệnh trên
đàn trâu bò được nhiều nhà chăn nuôi, thú y tiến hành Các tác giả trong nước có
Đỗ Văn Được (2003) [3] nghiên cứu về bệnh viêm phổi trên trâu; Đỗ Đức Việt (2006) [13] nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh lý, sinh hoá máu bò sữa HF nhập nội,…
Nghiên cứu ở nước ngoài có các tác giả như Hiramune T và cộng sự (1962) [17], Graham W.R (1963) [18], Blowey R W (1999) [15]
Bệnh viêm phổi là một bệnh khá phổ biến trên trâu bò, được gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau Mặc dù vậy, các nghiên cứu về bệnh viêm phổi trên trâu, bò ở Việt Nam lại chưa nhiều nhất là các tư liệu về bệnh viêm phổi trên
đàn bò sữa nhập nội đặc biệt là trên đàn bê
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm góp phần hạn chế những tác hại do bệnh viêm phổi gây ra, góp phần bổ sung những tư liệu về bệnh ở bò sữa nhập nội
Trang 11Chúng tôi thực hiện hiện đề tài nghiên cứu “ Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu của bê bị bệnh viêm phổi đang nuôi tại Trung tâm nghiên cứu bò và
đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội Biện pháp phòng trị bệnh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đưa ra những thống kê chính xác về bệnh viêm phổi trên đàn bê từ năm 2005 đến tháng 08/2008 ở Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ
Ba Vì
- Tìm hiểu một số chỉ tiêu lâm sàng về bệnh viêm phổi trên đàn bê
- Nghiên cứu sự biến đổi của một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá và hình thái máu trong bệnh viêm phổi bê
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi, từ đó đề xuất một
số biện pháp phòng trị bệnh đạt hiệu quả cao hơn trên đàn bê
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hy vọng góp thêm những tư liệu mới về bệnh viêm phổi cũng như góp phần chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh trên đàn bê sữa đang nuôi tại Việt Nam
II Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2.1 Tình hình nhập nội và nghiên cứu, phát triển giống bò sữa
HF, jersey ở Việt nam
Hiện trạng chăn nuôi bò sữa ở nước ta (từ năm 2002 – 2007)
Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Số lượng bò sữa 55,84 80,00 100,00 104,12 113,22 98,66
Trang 12(Số liệu của Viện chăn nuôi 2007)
Từ chỗ không có con bò sữa nào và nguồn sữa phải nhập khẩu toàn bộ
Đến tháng 8/2007 thì nước ta đt có tổng số đàn bò sữa là 98,66 nghìn con, với sản lượng sữa đạt là 234437,9 tấn, năng suất sữa bình quân đạt 3800kg/con/chu
kỳ 305 ngày ( đối với bò lai HF), 4500 kg/con/chu kỳ (đối với bò HF thuần)
Mục tiêu phấn đấu của ngành bò sữa nước ta là đến năm 2010 sản lượng sữa phải đáp ứng được 40% nhu cầu tiêu thụ của cả nước
Theo thống kê trong khoảng thời gian từ tháng 1/2002 đến tháng 12/2004 qua theo dõi trên đàn bò nhập nội và lai tạo giống HF và Jersey cho thấy:
Bò HF khối lượng sơ sinh đạt khoảng 39,63kg đối với bê đực và 34,7kg
đối với bê cái Sau khi nuôi từ 3, 6, 12 tháng thì trọng lượng bê đạt lần lượt là 101; 161 ; 272kg
Bò Jersey thì khối lượng sơ sinh đạt trung bình 1à 20,3kg Sau khi nuôi từ
3, 6 tháng thì trọng lượng đạt lần lựơt là 70; 118kg
Với bò Jersey thì lứa đầu là 25,11 tháng và trọng lượng bò đạt 294kg Còn bò HF thì lứa đầu là 25,77 tháng và trọng lượng đạt là 482,7kg Sản lượng sữa lứa một 1à 4273kg/chu kỳ Lứa hai là 5138kg Con cho cao nhất có thể đạt 6600kg/chu kỳ
Qua các số liệu nghiên cứu và thống kê cho thấy, đàn bò HF nuôi tại Trung tâm cho chất lượng sữa cao: tỷ lệ mỡ sữa 3,59%; đạm sữa 3,38%; đường sữa 4,5% Với bò Jersey thì tỷ lệ là: mỡ sữa 4,42%; đạm sữa 3,36%; đường sữa 4,7%
Trong thời gian đầu thì đàn bò mới nhập về khả năng thích nghi còn kém nên tỷ lệ đào thải khá cao Năm 2002 tỷ lệ loại thải ở đàn bò HF là 40%, Jersey
Trang 13là 23,3% Đến năm 2003 tỷ lệ này giảm với bò HF chỉ còn 12%, năm 2004 Jersey là 5,5% Và đến nay do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cùng với đó là quá trình lai tại giống đt giúp cho đàn bò nhập nội dần thích nghi với điều kiện khí hậu tại nơi đây
2.2 Tìm hiểu về máu
2.2.1 ý nghĩa sinh học và chức năng của máu
Máu là một chất lỏng màu đỏ, hơi nhớt, lưu thông trong hệ thống tim mạch, có tỷ trọng và độ pH ở các loài khác nhau
Loài Ngựa Bò đực Bò cái Dê Cừu Người
Tỷ trọng 1,060 1,060 1,043 1,062 1,042 1,01
Độ pH 7,40 7,25-7,45
7,25-7,45 7,49 7,49 7,37-7,40 (Tài liệu của bộ môn SLĐV - ĐHNNHN)
Máu là tổ chức liên kết đặc biệt gồm hai phần là huyết tương và các thành phần hữu hình Huyết tương gồm nước và các chất hòa tan, trong đó chủ yếu là các loại protein, ngoài ra còn có các chất điện giải, chất dinh dưỡng, enzyme, hormone, khí và các chất thải Thành phần hữu hình gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu
Máu là nguồn gốc của hầu hết các dịch thể trong cơ thể ở các loài khác nhau thì lượng máu cũng khác nhau, trung bình chiếm từ 5-9% trọng lượng cơ thể
Bò 9,8% ; Lợn 4,6% ; Chó 6,4%,
Tổng lượng máu trong cơ thể gồm 54% máu lưu thông trong hệ tuần hoàn, còn lại dự trữ ở lách, gan Hai loại máu thường xuyên chuyển hóa cho nhau
Máu là tấm gương phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của cơ thể
động vật, trong quá trình trao đổi chất, các tổ chức tiết ra nhiều dịch thể đi vào máu Vì vậy, xét nghiệm máu giúp chúng ta biết được sự hoạt động của tổ chức cơ quan thông qua nghiên cứu về máu Nhiều nhà khoa học xác định rõ nguồn
Trang 14gốc của từng loại gia súc và còn hy vọng dựa và những chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu để đánh giá sức khoẻ và đánh giá sự thích nghi của con vật
* Máu lưu thông trong hệ mạch và có những chức năng chính sau
- Vận chuyển hormon từ tuyến nội tiết đến tế bào đích
- Ngoài ra máu còn vận chuyển nhiệt ra khỏi mô bào đưa đến hệ thống mạch máu dưới da để thải nhiệt ra ngoài môi trường
+ Chức năng cân bằng nước và muối khoáng
- Máu tham gia điều hòa pH nội môi thông qua hệ thống đệm của nó
- Điều hòa lượng nước trong tế bào thông qua áp suất thẩm thấu máu (chịu
ảnh hưởng của các ion và protein hòa tan trong máu)
+ Chức năng điều hòa nhiệt: Máu còn tham gia điều hoà nhiệt nhờ sự vận chuyển nhiệt và khả năng làm nguội của lượng nước trong máu
+ Chức năng bảo vệ
- Máu có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng nhờ cơ chế thực bào
ẩm bào và cơ chế miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào
- Máu cũng có khả năng tham gia vào cơ chế tự cầm máu, tránh mất máu cho cơ thể khi bị tổn thương mạch máu có chảy máu
+ Chức năng thống nhất cơ thể và điều hòa hoạt động cơ thể
- Máu mang các hormone, các loại khí O2, CO2 các chất điện giải khác
Ca++ , K+, Na+ để điều hòa hoạt động của nhóm tế bào, các cơ quan khác nhau trong cơ thể nhằm bảo đảm sự hoạt động đồng bộ của các cơ quan trong cơ thể
Trang 15- Bằng sự điều hòa hằng tính nội môi, máu tham gia vào điều hòa toàn bộ các chức phận cơ thể bằng cơ chế thần kinh và thần kinh-thể dịch
2.2.2 Sự tạo máu
Sự tạo máu là một quá trình phức tạp và được phân ra làm hai thời kỳ theo
sự phát triển của cơ thể
* Sự tạo máu ở thời kỳ phôi thai
ở thời kỳ này quá trình tạo máu lại diễn ra qua ba giai đoạn
(1) Giai đoạn sinh máu trung điệp:
ở bào thai trước hết máu được hình thành ở các tế bào túi rốn, về sau chúng xuất hiện trên bề mặt tổ chức trung điệp bên trong các bào thai Trong khu vực này các đảo máu không bao giờ phát triển đến quy mô lớn
(2) Giai đoạn tạo máu của gan và lách:
Sau khi sinh máu ở trung điệp, gan trở thành trung tâm tạo máu chính Các
tế bào này xuất phát từ một trung mô vạn năng chưa tiến hóa Những trung mô này phát triển giữa tế bào gan đồng thời lúc này cũng xuất hiện các bạch cầu và tiểu cầu Trong lách lúc đầu hồng cầu xuất hiện nhiều hơn bạch cầu nhưng trong thời gian ngắn (vào thời điểm hai tháng trước khi máu hình thành ở gan và mất
đi vào tháng thứ năm của bào thai), lách chủ yếu làm chức năng sinh sản ra các
tế bào thuộc dòng lympho (Lymphocyte)
(3) Giai đoạn tủy sinh máu:
Lúc đầu gan đảm nhận sinh hồng cầu còn tủy xương đảm nhận sinh bạch cầu, dần dần tủy xương đảm nhận cả hai chức năng vì thế chức năng tạo máu của gan giảm hẳn Khi các tế bào tủy xương tăng lên, thì các tế bào trung mô giảm đi
đến mức chỉ còn là một tổ chức đệm liên võng tồn tại suốt đời của cơ thể động vật gọi là hệ võng mạc nội mô và trong trường hợp cần thiết chúng vẫn có khả năng sinh máu
Trang 16Dòng bạch cầu có hạt được sinh ra trong tủy xương Dòng bạch cầu không hạt được sinh ra từ tổ chức bạch huyết như lách, hạch amidal, mảng payer, nên chúng còn có tên gọi 1à bạch huyết bào
* Sự tạo máu ở thời kỳ sau phôi thai
Khi hết giai đoạn bào thai, trở thành cơ thể sống độc lập, các mô trong cơ thể đt được biệt hóa để thực hiện những chức năng chuyên biệt, giúp cho cơ thể hoạt động nhịp nhàng và thống nhất Lúc này quá trình tạo máu thực hiện do tủy xương đóng vai trò chủ yếu, ngoài ra còn có sự tham gia của hệ thống võng mạc nội mô của cơ thể
2.2.3 Thành phần của máu
Máu gồm hai thành phần : thể hữu hình (huyết cầu) và huyết tương
Lấy máu chống đông rồi cho vào ống nghiệm và để lắng tự nhiên, ta thấy máu được chia làm hai phần rõ rệt: phần trên trong, màu vàng nhạt chiếm 55-60% thể tích đó là huyết tương Phần dưới đặc màu đỏ thẫm Chiếm 40-45% thể tích đó là các tế bào máu Trong các tế bào máu thì hồng cầu chiếm số lượng chủ yếu còn bạch cầu và tiểu cầu chiếm tỷ lệ thấp
Các thể hữu hình chiếm 43-45% tổng số máu gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, chỉ số này được gọi là hematocrit
Hồng cầu là thành phần chiếm chủ yếu trong thể hữu hình
Huyết tương chiếm 55-57% tổng số máu, bao gồm: nước, protein, các chất
điện giải, các hợp chất hữu cơ và vô cơ, các hormone, các vitamin, các chất trung gian hóa học, các sản phẩm chuyển hóa… huyết tương chứa toàn bộ những chất cần thiết cho cơ thể và toàn bộ các chất cần được thải ra ngoài Huyết tương bị lấy mất fibrinogen thì được gọi là huyết thanh
2.2.3.1 Huyết tương (dịch thể)
Huyết tương 1à phần lỏng của máu, dịch trong, hơi vàng, sau khi ăn có tương sữa, vị hơi mặn và có mùi đặc biệt của acid béo Trong thành phần huyết tương nước chiếm 90-92%, chất khô chiếm 8-10% Trong chất khô của huyết
Trang 17tương gồm các protein, lipid, glucid, muối khoáng, các hợp chất hữu cơ có chứa N2 không phải protein (đạm cặn), các enzym, hormone, vitamin
Trong sinh lý học thì tỷ số giữa albumin (A) và globulin (G) được coi 1à một hằng số Tỷ số này phản ánh tình trạng sức khỏe của con vật và là một chỉ tiêu đánh giá phẩm chất giống, dùng để chẩn đoán bệnh
- A/G có thể A tăng (sức sản xuất tăng) hoặc G giảm (chức năng miễn dịch giảm)
- A/G giảm có thể A giảm( suy dinh dưỡng, bệnh về gan, viêm thận) hoặc
G tăng (nhiễm khuẩn)
- Fibrinogen ( yếu tố số một của quá trình đông máu) do gan sản sinh ra chiếm từ 6-8% tăng lượng huyết tương, fibrinogen bị oxy hóa biến thành sợi huyết( fibrin) Hàm lượng fibrinogen trong huyết tương của các loại gia súc là không giống nhau
Bò: 60 mg %, Cừu và ngựa: 300-350mg%, Lợn: 300mg%
* Protein huyết tương có các chức năng sau
- Chức năng tạo áp suất keo của máu
Trang 18Thành phần quan trọng nhất của protein huyết tương là albumin, albumin
có chức năng chính 1à tạo nên áp suất thẩm thấu ở màng mao quản ( gọi là áp suất keo) nhờ các phân tử protein có khả năng giữ một lớp nước xung quanh phân tử, do đó giữ được nước lại trong mạch máu
Abumin là nguyên 1iệu xây dựng của tế bào Fibrinogen tham gia và quá trình đông máu α-globulin và β-globulin tham gia vận chuyển các chất lipid như acid béo, phosphatid, steroid còn γ globulin có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế miễn dịch bảo vệ cơ thể
- Chức năng vận chuyển
Các Protein thường là các chất thải cho nhiều chất hữu cơ và vô cơ: ví dụ như lipoprotein vận chuyển lipid, tiền albumin liên kết thyroxin (thyroxin binding prealbumin), globulin liên kết thyroxin (thyroxin binding )
- Chức năng bảo vệ
Một trong những thành phần quan trọng của huyết tương là các globulin miễn dịch (đó là các γ-globulin) gồm: IgG, IgA, IgM, IgD, IgE (do các tế bào lympho B sản sinh ra) Các globulin miễn dịch có tác dụng chống lại kháng nguyên lạ xâm nhập vào cơ thể Thông qua hệ thống miễn dịch, các globulin miễn dịch đt bảo vệ cho cơ thể
- Chức năng cầm máu
- Cung cấp protein cho toàn bộ cơ thể
+ Các hợp chất hữu cơ không phải protein
Ngoài thành phần protein, trong huyết tương còn có các hợp chất hữu cơ không phải protein
Các hợp chất hữu cơ không phải protein được chia thành hai loại: loại có chứa N2 và loại không có N2
Những hợp chất hữu cơ không phải là protein, có chứa nitơ: urê, acid amin
tự do, acid uric, creatin, creatinin, bilirubin, amoniac
Trang 19Các hợp chất hữu cơ không phải protein, không nitơ: glucose, 1ipid, cholesterol, phospholipid, acid lactic
Đa số các lipid huyết tương đều gắn với protein tạo nên lipoprotein, trong lipid gắn với α-globulin và β-globulin
Ngoài ra trong huyết tương còn có những chất có hàm lượng rất thấp nhưng có vai trò quan trọng đối với chức phận cơ thể như: các chất trung gian hóa học, các chất trung gian chuyển hóa, các hormone, các vitamin và các enzyme
+ Các thành phần vô cơ
Các chất vơ cơ thường ở dạng ion và được chia thành hai loại: anion và cation Các chất vơ cơ giữ vai trò chủ yếu trong điều hòa áp suất thẩm thấu, điều hòa pH máu và tham gia và các chức năng của tế bào
Các thành phần vô cơ còn tham gia vào cân bằng ion Cân bằng ion có vai trò quan trọng với chức phận của tế bào, với cân bằng acid-base máu
2.2.3.2 Thành phần hữu hình(hồng cầu, tiểu cầu và bạch cầu)
Lợi điểm của quá trình tiến hóa này giúp cho hồng cầu:
- Tăng diện tích bề mặt tiếp xúc làm tăng khả năng khuếch tán thêm 30% sơ với hồng cầu cùng thể tích mà có dạng hình cầu
- Làm cho hồng cầu trở lên cực kỳ mềm dẻo, có thể đi qua các mao quản mảnh, hẹp mà không gây tổn thương mao mạch cũng như bản thân hồng cầu
Trang 20Hồng cầu có chức năng vận chuyển O2 đến các tổ chức, mang khí CO2 từ
tổ chức đến phổi để đào thải ra môi trường bên ngoài, chức năng này do huyết sắc tố đảm nhận Hồng cầu là tế bào được biệt hóa đến mức cao độ không có nhân, rất ít các bào quan, có hình dáng đặc biệt là hình đĩa lõm hai mặt, nó giúp cho phân tử huyết sắc tố dù ở bất cứ chỗ nào trong hồng cầu cũng có khoảng cách gần màng hồng cầu và tiếp xúc dễ với O2
Số lượng hồng cầu ở các loài cũng khác nhau:
Số lượng hồng cầu ở một số loài động vật (tríệu/mm3) máu
+ 40 % là vật chất khô (chủ yếu là Hb), ngoài ra còn có các men
Về cấu tạo, hồng cầu được bao bọc bởi một lớp màng 1ipoprotein có tính thấm chọn lọc, nó chỉ cho O2, CO2, H2O, glucose và các ion âm đi qua Trên màng hồng cầu có một số enzyme giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì tính bền vững, tính thẩm thấu của màng và sự trao đổi chất qua màng như Enzym gluco-6-photphataza, dehydrogenaza, glutation-reductaza…Do màng hồng cầu
có tính đàn hồi, nên hồng cầu có thể biến dạng sau đó trở lại hình dáng bình thường, do đó nó có thể qua các mao mạch nhỏ Khi áp suất thẩm thấu xung quanh thay đổi, hồng cầu cũng thay đổi kích thước Khi áp suất giảm, nước vào trong hồng cầu làm hồng cầu phình to ra Hồng cầu cũng gitn nở khi môi trường bên ngoài có tính acid Do vậy hồng cầu trong máu tĩnh mạch hơi to hơn hồng cầu trong máu động mạch
* Huyết sắc tố (Hemoglobin- Hb)
Trang 21Hemoglobin là thành phần chủ yếu của hồng cầu, chiếm 95% hàm lượng vật chất khô của hồng cầu Hb là loại protein phức tạp- cromoprotein, dễ tan trong nước, có khối lượng phân tử khoảng 7000 đvC
Cấu tạo của Hb gồm một phân tử globin( chiếm96%) kết hợp với 4 phân
tử Hem (chiếm 4%) Phân tử globin gồm 4 chuỗi polypeptide, trong đó có 2 chuỗi mỗi chuỗi gồm 141 acid amin và 2 chuỗi mỗi chuỗi gồm 146 acid amin Bốn chuỗi này sắp xếp đối xứng nhau, 4 phân tử Hem gắn trên lưng 4 chuỗi polypeptide Globin có tính chất đặc trưng loài, nên phân tử Hb mang tính chất
đặc trưng cho tính di truyền của giống
Phổi Mô bào
Trang 22+ (CO2 + H2O) H2CO3 + KHb KHCO3 + HHb
CO2 + H2O) H2CO3 + KhbO2 KHCO3+ HHbO2
Chính quá trình đệm này đt giữ cho độ pH của máu luôn duy trì ổn định, chủ yếu là nhờ tác dụng của NaHCO3, do l−ợng NaHCO3 trong máu nhiều gấp
20 lần so với l−ợng khí CO2 tạo ra vì thế quá trình đệm với acid mạnh hơn với kiềm Quá trình đệm đt giúp cho quá trình trao đổi chất trong máu vào cơ thể không bị rối loạn
Hàm l−ợng Hb trong máu các loại gia súc thay đổi tuỳ theo giống tuổi, tính biệt, trạng thái dinh d−ỡng…
Số l−ợng hồng cầu trong quá trình phản ánh chất l−ợng giống, sức sản xuất và sức sống của con vật, do đó việc xác định số l−ợng hồng cầu của gia súc
có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tình trạng sức khoẻ, chế độ dinh d−ỡng và sức chống chịu với điều kiện ngoại cảnh để từ đó đánh giá khả năng thích nghi của chúng với điều kiện khí hậu
Thời gian sống của hồng cầu: Loài nhai lại: 1-2 tháng
Trang 23hạt này có loại còn chia nhiều thùy nhiều đoạn, nhiều đốt như bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan
- Bạch cầu không hạt thì trong bào tương không có các hạt mà có thể thấy
được dưới kính hiển vi quang học do kích thước các hạt của chúng nhỏ và bắt màu phẩm nhuộm kém Có hai loại bạch cầu không hạt là bạch cầu lympho (lymphocyte) và bạch cầu đơn nhân (monocyte) Nhân của các bạch cầu không hạt này có hình tròn, hạt đỗ, móng ngựa
+ Sự sinh sản và đời sống của bạch cầu
- Bạch cầu có hạt và bạch cầu đơn nhân mono (monocyte)
Toàn bộ quá trình sinh sản và biệt hóa tạo nên các loại bạch cầu hạt và bạch cầu mono diễn ra trong tủy xương Chúng được dự trữ sẵn ở tủy xương, khi nào cơ thể cần đến chúng sẽ được đưa vào máu lưu thông
Bạch cầu hạt sau khi rời khỏi tủy xương thì lưu thông trong máu khoảng 4-8 giờ rồi xuyên mạch vào tổ chức, tồn tại thêm khoảng 4-5 ngày Khi bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể của mình, chẳng hạn chứng nhiễm trùng , thì
nó sẽ chết sớm hơn
Bạch cầu mono cũng có thời gian lưu thông trong máu ngắn, khoảng
10-20 giờ Sau đó sẽ xuyên mạch vào tổ chức Tại tổ chức chúng sẽ tăng kích thước
và trở thành đại thực bào tổ chức ở dạng này chúng có thể sống hàng tháng, thậm chí hàng năm
- Bạch cầu lympho (lymphocyte)
Quá trình biệt hóa các tế bào gốc lympho xuất phát từ tế bào gốc tại máu
đa năng trong tủy xương tạo ra tiền tế bào lympho T và tiền tế bào lympho B Các tiền tế bào lympho T đến tuyến ức để được huấn luyện tạo nên các lympho T trưởng thành Các tiền tế bào lympho B tiếp tục được huấn luyện ở tủy xương (các tháng giữa các kỳ thai nó được huấn luyện tại gan) để tạo nên các lympho B trưởng thành Sau khi huấn luyện, các lympho T và lympho B theo dòng tuần hoàn đến các tổ chức bạch huyết khắp cơ thể
Trang 24Từ các tổ chức bạch huyết, bạch cầu lympho vào hệ tuần hoàn liên tục theo dòng bạch huyết Sau vài giờ, chúng xuyên mạch vào tổ chức rồi vào dòng bạch huyết để trở về tổ chức bạch huyết hoặc vào máu lần nữa … Các bạch cầu lympho có thời gian sống hàng tuần, hàng tháng thậm chí hàng năm tùy thuộc vào nhu cầu của cơ thể
- Vận động: kiểu amíp (bằng chân giả) để đến các tổ chức cần nó
- Hoá ứng động: bạch cầu bị hấp dẫn đến tổ chức bị tổn thương khi có các hóa chất được giải phóng ra bởi tế bào tổn thương hoặc vi khuẩn và khi có các phức hợp miễn dịch
- Thực bào: bắt các vật 1ạ đưa vào trong bào tương rồi tiêu hóa Tuy nhiên không phải loại bạch cầu nào cũng có đầy đủ các đặc tính trên Bạch cầu hạt trung tính và đại thực bào thể hiện đầy đủ và mạnh mẽ các đặc tính này nhất
* Chức năng của bạch cầu hạt trung tính
Bạch cầu hạt trung tính là hàng rào của cơ thể có khả năng chống lại vi khuẩn sinh mủ Chúng vận động và thực bào rất tích cực
Bạch cầu trung tính có thể tiêu hóa, hủy hoại nhiều loại vi khuẩn, những thành phần nhỏ và fibrin Hầu hết các hạt bào tương của chúng là lysosome chứa enzyme thủy phân Các hạt khác chứa protein kháng khuẩn Ngoài ra, bạch cầu hạt trung tính còn chứa các chất oxy hóa mạnh có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn
Bạch cầu hạt trung tính là bạch cầu đầu tiên đến vị trí vi khuẩn xâm nhập với số lượng lớn Trong quá trình thực bào vi khuẩn, nhiều bạch cầu trung tính bị chết và tạo thành mủ tại vị trí bị tổn thương Mỗi bạch cầu này thực bào tối đa khoảng 5-20 vi khuẩn
Trang 25* Chức năng của bạch cầu hạt ưa kiềm
Bạch cầu hạt ưa kiềm rất giống một loại tế bào khác ở trong tổ chức bên ngoài mao mạch gọi là dưỡng bào (mast cell)
Bạch cầu hạt ưa kiềm và dưỡng bào có thể phóng thích heparin ngăn cản qua trình đông máu và thúc đẩy sự vận chuyển mỡ từ máu sau khi ăn nhiều chất béo
Các tế bào này đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng Do các kháng thể gây phản ứng dị ứng (loại IgE) có khuynh hướng đến gắn trên bề mặt dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm Khi có sự kết hợp giữa kháng thể này với dị ứng nguyên, dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm sẽ vỡ ra và giải phóng histamine, cũng như bradykinin, serotonin, chất phản ứng chậm của sốc phản vệ (slow-reacting substance of anaphylaxis), enzyme tiêu hóa protein…
* Chức năng bạch cầu mono-đại thực bào
Các bạch cầu mono chưa thực sự trưởng thành, khả năng tiêu diệt tác nhân gây nhiễm khuẩn kém Nhưng khi vào tổ chức, chúng trở thành đại thực bào với kích thước lớn hơn và nhiều lysosome trong bào tương, chúng có khả năng chống tác nhân nhiễm bệnh rất mtnh liệt Khả năng thực bào của chúng mạnh hơn bạch cầu có hạt trung tính nhiều, chúng có thể thực bào khoảng 100 vi khuẩn Đại thực bào con có thể thực bào các thành phần lớn hơn như hồng cầu chết Ngoài ra, chúng còn có lipaza giúp tiêu hóa các vi khuẩn có vỏ bọc 1ipid dày Sau khi thực bào, chúng có thể đẩy các sản phẩm ra và thường sống sót vài tháng
Các đại thực bào còn có chức năng trình diện kháng nguyên cho các tế bào
có thẩm quyền miễn dịch
* Chức năng của bạch cầu lympho (lâm ba cầu): Có 3 loại tế bào lympho là
- Tế bào diệt tự nhiên (natural killer)
Các tề bào NK hiện diện ở lách, hạch, tủy xương đỏ và máu Chúng thường tấn công các vi sinh vật gây bệnh
Lympho B
Bạch cầu lympho B bảo vệ cơ thể bằng đáp ứng miễn dịch dịch thể (qua trung gian kháng thể) Nó chống lại vi khuẩn và một số loại virus
Trang 26Khi có các vi khuẩn xuất hiện, lympho B nhận diện kháng nguyên tương ứng và được hoạt hóa Khi đó nó có khả năng phân bào và biệt hóa thành tương bào (plasmoxit) Các tương bào này sẽ sản xuất kháng thể chống lại vi khuẩn xâm nhập Kháng thể tiêu diệt các vi khuẩn hoặc bất hoạt độc tố của chúng
- Lympho T
Bạch cầu lympho T là tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào Lympho T có khả năng chống lại các tác nhân như virus, nấm, tế bào mảnh ghép, vài loại vi khuẩn Khi có các tác nhân đó xuất hiện trong cơ thể, các lympho T sẽ nhận diện kháng nguyên đặc hiệu với nó và được hoạt hóa Sau đó chúng trở nên lớn hơn, sinh sản tạo nên hàng ngàn lympho T có thể nhận diện kháng nguyên xâm nhập này
Một số 1ympho T trở thành lympho T ghi nhớ có khả năng khởi phát một
đáp ứng miễn dịch tương tự khi có cùng loại tác nhân gây bệnh (kháng nguyên) xâm nhập nhưng ở mức độ nhanh, mạnh hơn nhiều, gọi là đáp ứng miễn dịch lần hai (đáp ứng miễn dịch thứ cấp)
* Số lượng bạch cầu của một số loại vật nuôi:
Tiểu cầu là những tế bào nhỏ, hình cầu hoặc hình bầu dục, không có nhân
đường kính 2 - 4àm, số lượng 200000-400000/mm3 máu Số lượng tiểu cầu tăng khi chảy máu, khi bị dị ứng Tiểu cầu giảm trong bệnh thiếu máu ác tính, nhiễm phóng xạ, choáng
Trang 27Chức năng: tiểu cầu giải phóng tromboplastin để gây đông máu Tiểu cầu
có đặc tính dễ vỡ khi gặp vật thô ráp, khi tiểu cầu vỡ, giải phóng serotonin gây
co mạch để cầm máu Nhờ đó mà các vết thương nhanh chóng được cầm máu 2.3 TìM HIểU Về BệNH VIÊM PHổI TRÊN BÊ HF Và JERSEY
2.3.1 Nguyên nhân:
- Bệnh thường phát sinh khi điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi như: Thời tiết thay đổi đột ngột từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại, tiểu khí hậu chuồng nuôi: nền chuồng lạnh, gió lùa, nồng độ khí chuồng nuôi cao
- Các ký sinh trùng như: ấu trùng giun đũa di hành, giun phổi… hoặc kế phát từ bệnh ký sinh trùng đường máu
- Do thức ăn khô, dính bụi bẩn, nấm mốc (Mycopolysporafaeni, aspergil1us sp ) hoặc do bò hít phải ngoại vật vào phổi Khi bò mắc bệnh, có triệu chứng lâm sàng thường là ho, sốt, khó thở, ăn ít, giảm sữa…
- Do kế phát từ các bệnh nội khoa, bệnh truyền nhiễm
- Do chăm sóc nuôi dưỡng kém
2.3.2 Phân loại:
Dựa vào đặc điểm của quá trình phát triển viêm, phân viêm phổi ra làm 2 dạng chính sau: Viêm phổi thùy (pneumonia crouposa), Viêm phế quản phổi (Broncho pneumonia)
- Viêm phổi phế quản phổi (Viêm phổi đốm, viêm phổi cata-Broncho pneumonia catarha1is): Là quá trình viêm niêm mạc phế quản và từng thùy phổi riêng biệt Trong phế quản và phế nang chứa dịch viêm Quá trình viêm có tính giới hạn Đặc trưng là bệnh diễn biến chậm so với bệnh viêm phổi thùy
Triệu chứng: Sốt, chảy nước mũi, ho khan lúc đầu và đau, sau đó ho ướt Bệnh ở thể cấp tính, sau 7-15 ngày thì khỏi hoặc chuyển sang thể mtn tính Thường các triệu chứng này thể hiện không rõ, khi xét nghiệm máu thì bạch cầu trung tính non tăng, bạch cầu ái toan và đơn nhân giảm
Trang 28Khi mổ khám chúng ta thấy tổn thương đặc trưng là các thùy phụ, thùy tim, thùy đỉnh bị tổn thương nhiều nhất Đa số phổi bị viêm ở vùng rìa và thường hình thành những ổ viêm Cắt miếng phổi nhỏ bỏ và trong nước thấy miếng phổi này chìm xuống dưới đáy hoặc lơ lửng Vùng phổi bị viêm có màu xám hay xám
đỏ, ấn tay vào phổi từ các phế nang chảy ra dịch rỉ viêm
- Viêm phổi thùy: Đặc trưng của bệnh là viêm cấp tính, quá trình viêm xảy
ra trên thùy lớn của phổi và có xu hướng giới hạn khu vực viêm Bệnh xảy ra đột ngột, gia súc biểu hiện mệt mỏi, kém ăn, run rẩy, đầu cúi xuống đất Niêm mạc mắt, miệng của con bệnh đỏ sẫm, xung huyết Ho ít, ho ngắt qutng, khi ho thường đau Con vật sốt cao, lên đến 39.60C diễn ra trong vùng 5-7 ngày Tần số mạch tăng 60-901ần/phút Tần số hô hấp là 40-801ần/phút Dịch rỉ viêm chảy ra qua 2 lỗ mũi, lúc đầu lotng, về sau đặc và xanh hoặc có màu đỏ hay rỉ sắt
Dựa và đặc điểm và quá trình phát triển của bệnh mà ta chia bệnh qua 3 giai đoạn phát triển: Xung huyết, gan hóa và tiêu tan
Ngoài ra, còn có thể viêm phổi hoại thư và hóa mủ Các vi khuẩn hoại thư hoặc vi khuẩn sinh mủ tấn công gây thoái hóa, hoại tử, hình thành các ổ hoại tử hoặc ổ mủ Và nhiều trường hợp viêm phổi hóa mủ xảy ra do di căn
2.3.3 Phòng và điều trị bệnh viêm phổi
- Điều trị: Trong bệnh viêm phổi chúng ta thường sử dụng các biện pháp chống nhiễm khuẩn, trợ sức, trợ lực, các biện pháp chống thiếu dưỡng khí và
điều trị trúng độc do hậu quả của viêm Cùng với đó là loại bỏ các tác nhân gây
ảnh hưởng đến quá trình khỏi của bệnh
Để chống viêm chúng ta sử dụng kháng sinh như: Coslistin, penicilline, ampicilline, thiamulin…
Trợ sức, trợ lực: Cafein natribenzoat, ephedrine, dung dịch đường glucose, các thuốc long đờm và giảm đau
Loại bỏ các tác nhân gây bệnh: Nếu thời tiết lạnh thì chúng ta che chắn chuồng trại cho ấm, nếu là do khí thải chuồng nuôi thì ta loại bỏ chúng…
Trang 29Phòng bệnh: Đây là biện pháp hữu hiệu mà chúng ta có thể áp dụng để tránh bệnh viêm phổi xảy ra Và bao gồm các nội dung sau:
+ Cần có chế độ dinh dưỡng tốt và phù hợp, chăm sóc con vật hợp lý + Vệ sinh chuồng trại đảm bảo tốt, chuồng trại phải đảm bảo thoáng mùa
hè và ấm áp về mùa đông
+ Khi gặp bệnh xẩy ra phải nhanh chóng điều trị dứt khoát các bệnh truyền nhiễm, nội khoa, ký sinh trùng tránh để kế phát sang viêm phổi Bệnh viêm phổi thường là bệnh kế phát từ các bệnh khác, khi sức đề kháng của cơ thể
bị giảm sút và gặp điều kiện ngoại cảnh bất lợi bệnh sẽ phát Chính vì vậy chúng
ta phải tạo điều điện thuận lợi để con vật có sức đề kháng tốt, điều trị các bệnh
có liên quan và loại bỏ các tác nhân gây bệnh
2.4 Một số tư liệu về bệnh phổi ở gia súc
ở gia súc có tới 30-40% bệnh nội khoa là bệnh ở hệ hô hấp, trong đó chủ yếu là các bệnh viêm phổi (Hồ Văn Nam và CS, 1997) [7]
Bệnh viêm phổi là một bệnh rất phổ biến và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi như giảm số đầu gia súc do chết vì viêm phổi, chi phí tiền thuốc chữa bệnh tăng, chỉ số tiêu tốn thức ăn tăng lên và tốc độ tăng trọng giảm
Bệnh viêm phổi gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, tùy theo nguyên nhân gây viêm nhiễm, đường xâm nhập của mầm bệnh, đặc tính phản ứng của mô phổi và thời gian kéo dài của viêm mà nó có những đặc điểm bệnh lý khác nhau
2.4.1 Phân loại viêm phổi
Hiện nay, theo một số tác giả có những cách phân loại viêm phổi khác nhau Theo tác giả Cao Xuân Ngọc (1997) [8], căn cứ vào thành phần dịch rỉ viêm chứa trong lòng các phế nang, phế quản viêm người ta chia làm:
- Viêm phổi cata (Pneumonia catarrhalis): trong dịch rỉ viêm có nhiều dịch nhày, bạch cầu, mảnh vỡ tế bào… tạo điều kiện cho vi khuẩn gây viêm tại chỗ
Trang 30- Viêm phổi tơ huyết (Pneumonia fibrinosa): trong dịch rỉ viêm thấy nhiều tơ huyết thanh dịch, hồng cầu, bạch cầu, đôi khi cả tổ chức bào, liên bào vách phế quản, phế nang bong ra chứa đầy phế nang, phế quản, tiểu phế quản Trường hợp này hay gặp trong bệnh sốt vận chuyển (Shipping fever) của bò; trường hợp này hay tiến triển tạo nên quá trình nhục hóa ở phổi
- Viêm thanh dịch màng phổi (Pleuritis serosa), viêm phế quản thanh dịch (Bronchitis serosa): dịch rỉ viêm trong các thể viêm này nhiều albumin, tế bào long, bạch cầu Nó thường ở dạng cấp tính sau đó có thể chuyển sang dạng viêm tơ huyết hay viêm mủ
Ngoài ra, theo Nguyễn Hữu Nam (2005) [6] viêm phổi còn có các dạng: phế viêm mủ (Pneumonia purulenta), phế viêm hoại tử (Pneumonia necrotican), phế viêm hoại thư (Pneumonia gangraenosa)
Căn cứ vào phạm vi đầu tiên xảy ra và phương thức lan rộng của tổn thương, người ta chia làm 2 dạng:
- Viêm phế quản –phổi (Viêm phổi đốm–Broncho pneumonia catarrhalis)
Đây là quá trình viêm ở niêm mạc phế quản rồi lan sang các phế nang và từng thùy phổi riêng biệt Quá trình viêm trong bệnh viện phế quản – phổi bao giờ cũng có tính giới hạn (Niconxki V V., 1986) [9] Đặc trưng của bệnh viêm phế quản – phổi ở giai đoạn đầu là diễn biến chậm so với viêm phổi thuỳ, các triệu chứng viêm phế quản – phổi rất đa dạng và phụ thuộc vào rất nhiều nguyên nhân, khi phân loại các loại bệnh phổi phải chú ý đến quá trình diễn biến bệnh
và mức độ nhiễm bệnh của mô phổi
- Viêm phổi thùy (Pneumonia crouposa)
Đặc trưng của bệnh viêm phổi thuỳ ở gia súc là viêm cấp tính, tổn thương
đồng đều, lan rộng rất nhanh một phần hay cả thuỳ phổi, có khi cả bên phổi hoặc cả hai lá phổi Bệnh được gọi là viêm phổi tơ huyết hay viêm phổi màng giả Dựa vào đặc điểm của từng giai đoạn phát triển của viêm phổi, nhiều tác giả đt phân chia quá trình tiến triển của viêm phổi thuỳ thành 3 giai đoạn: giai đoạn xung
Trang 31huyết, giai đoạn gan hóa (gan hóa đỏ, gan hóa xám), giai đoạn tiêu tan (Hồ Văn Nam và CS, 1997 [7]; Graham W.R, 1963 [16]
Diễn biến của viêm phế quản – phổi rất phức tạp, phụ thuộc vào yếu tố gây bệnh, đường nhiễm bệnh, đặc điểm loài gia súc, thời gian diễn biến của bệnh
và các thể viêm khác nhau Viêm phế quản – phổi có thể gây nên hiện tượng tắc phế quản và xẹp phổi, mủ hóa, áp xe (abscesus) hoặc xơ hóa phổi
Diễn biến của phổi thuỳ thường theo chiều hướng nặng dần thêm, sự khôi phục hoàn toàn sau khi viêm phổi thuỳ là hiếm Sau khi mắc viêm phổi thuỳ thường dẫn tới tình trạng nhục hóa, hóa mủ hay hoại thư phổi (Hồ Văn Nam và
Theo Cao Xuân Ngọc (1997) [8], căn cứ vào thời gian tiến triển của viêm,
sự tổn thương của mô bào và thành phần của tế bào trong phản ứng viêm, người
ta chia viêm làm các thể: quá cấp tính, viêm á cấp tính, viêm cấp tính và viêm mạn tính
- Viêm cấp tính: xảy ra nhanh, kéo dài từ 24h đến 3 tuần lễ, có đủ triệu chứng điển hình của viêm, có hiện tượng xung huyết, dịch rỉ viêm và nhiều bạch cầu đa nhân trung tính
- Viêm mtn tính: xảy ra chậm, thời gian kéo dài từ 3 tuần lễ trở lên có khi hàng tháng, hàng năm Đặc biệt của loại viêm này là quá trình tăng sinh mô bào; chiếm ưu thế là các lymphô bào, tương bào và các đại thực bào
2.4.2 Một số nguyên nhân gây viêm phổi trên gia súc
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng viêm phổi là bệnh rất nhiều nguyên nhân
Trang 32hợp nhiều nguyên nhân khác nhau tạo nên tính chất phức tạp của viêm phổi Hầu hết các nghiên cứu đều cho biết bệnh viêm phổi trên gia súc thường do những nguyên nhân chính như do vi sinh vật, do ký sinh trùng, do yếu tố môi trường, do thức ăn và các yếu tố quản lý, chăm sóc
Nguyên nhân do vi sinh vật
Các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân tiên phát của bệnh viêm phổi là
do vi rút, nguyên nhân thứ phát là do vi khuẩn, vi khuẩn làm cho bệnh phát triển mạnh hơn (Niconxki V.V., 1986 [9]; Blowey R W., 1999 [15])
Khi bò bị bệnh viêm mũi – viêm khí quản truyền nhiễm (IBR – infectious bovine rhinotracheitis) do herpes vi rút, nếu nặng viêm lan xuống khí quản và chúng phổ biến bị nhiễm khuẩn kế phát gây nên viêm phổi (Archie Hunter, 2000) [2]
ở đường hô hấp gia súc khoẻ mạnh người ta có thể phân được các vi khuẩn như Pasteurella, staphyloccocus, streptococcus, mycoplasma, dịplococcus, E Coli Khi điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, sức đề kháng của gia súc giảm sút do stress (nhiệt độ, ẩm độ, mật độ đàn), do thiếu dinh dưỡng, nhiễm vi rút hay mắc một bệnh nào đó những vi khuẩn này phát triển mạnh và tăng độc lực gây bệnh cho gia súc (Archie Hunter, 2000 [2]; Blowey R.W., (1999) [15]; Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [4])
Blowey R W (1999) [15] cho rằng các nguyên nhân gây ra bệnh viêm phổi ở bò sữa và bê thường do vi rút RSV (Respiratory syneytial virus), PI3 (Para – influenza type ) gây bệnh phó cúm, IBR (Infectious bovine rhinotracheitis) gây bệnh viêm mũi và viêm khí quản truyền nhiễm, BVD (Infectious bovine rhinotracheitis) gây bệnh viêm mũi – viêm khí quản truyền nhiễm, BVD (Bovine viral diarrhoea) gây bệnh tiêu chảy do vi rút và corona vi rút Hay các vi khuẩn như Pasteurella multocida và Pasteurella haemolytica, Heamophillus sommus, Actinomyces Pyogenes Các mycoplasma như Mycoplasma dispar, Mycoplasma bovis, Acholepplasma laidlawii Vi khuẩn Pasteurell haemolytica gây ra bệnh phế viêm tơ huyết với tên sốt vận chuyển (Shipping) fever) ở bò, klepsiella
Trang 33pneumoniae nó là nguyên nhân gây bội nhiễm loại vi khuẩn (staphloccocus, streptococcus, Corynabacterium pyogenes) ở đường hô hấp, dẫn tới viêm phổi; với bò hay gặp ở các ổ áp xe, có mùi thối Actinomyces Pyogenes nó là nguyên nhân gây nên các ổ áp xe ở tổ chức phổi Khi phổi bị viêm hoá mủ, các vi khuẩn như Diplococus pneumonieae, Streptococcus pygenes thường có mặt tại ổ viêm; Diplococus pneumonieae hay gây bệnh cho gia súc non Ngoài ra, Listeria monocytogenes gây viêm phổi với bệnh tích phổi sưng tụ máu và xuất huyết, Mycobacterium tuberculosis bivinus gây bệnh lao ở bò
Một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho bò là bệnh do Mycoplasma mycoides gây nên bệnh viêm phổi – màng phổi ở bò (Contagionus Bovine pleuropneumonia - CBPP)
Nguyên nhân do yếu tố môi trường, khí hậu
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng môi trường không khí và khí hậu tác động rất lớn tới hoạt động hô hấp của sinh vật như yếu tố nhiệt độ, ẩm độ, gió Sự ô nhiễm môi trường không khí đt ảnh hưởng không nhỏ tới tính chất và mức độ bệnh phổi trên đàn gia súc (Blowey R.W, 1999 [15]) Yếu tố stress, nhất là ở những cơ sở chăn nuôi công nghiệp và ảnh hưởng của điều kiện đất đai, khí hậu của vùng có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi ở gia súc (Niconxki
V V., 1986) [9]
Bệnh viêm phổi xảy ra ở bò nuôi tập trung cũng như nuôi gia đình ở hầu hết các nước trên thế giới Bệnh thường phát sinh khi thời tiết thay đổi từ ấm sang lạnh Bê non dưới 1 năm tuổi mắc bệnh với tỉ lệ cao và nặng hơn ở bò trưởng thành (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2002) [4]
Blowey R.W (1999) [15] cho rằng yếu tố stress như nhiệt độ tăng đột ngột hay sự thay đổi của môi trường cùng với sự nhiễm trùng là nguyên nhân gây viêm phổi Bệnh sốt vận chuyển (Shipping fever) do Pasteurella haemolytica gây ra sau quá trình vận chuyển thời gian dài
Nguyên nhân do yếu tố thức ăn
Trang 34Gia súc hít nhầm ngoại vật vào phổi, ăn phải một số chất độc, một số cây
cỏ độc hay các chất độc được sản sinh trong thức ăn, kích thích của hơi độc thường dẫn đến viêm kẽ phổi không đặc hiệu
Các nguyên nhân xuất phát từ nội tại cơ thể gia súc
Nhiều tác giả đt cho rằng ở các lứa tuổi khác nhau gia súc cũng có khả năng mắc bệnh viêm phổi khác nhau Theo Nicoxki V.V (1986) [9], dịch viêm phổi mẫn cảm với lợn con, nhất là lợn con từ 3 – 4 ngày tuổi Bê non dưới 1 năm tuổi mắc bệnh với tỉ lệ cao và nặng hơn bò trưởng thành (Phạm Sĩ Lăng và Phan
Địch Lân, 2002) [4] Theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Được (2003) [3] nghé, trâu già rất dễ bị cảm lạnh và dẫn đến viêm phổi, nhất là với bò sữa cao sản sau khi đẻ 3-5 ngày và bê sơ sinh từ 1-3 tháng tuổi do sức đề kháng giảm, cơ thể
bị nhiễm lạnh đột ngột
Cơ thể là một khối thống nhất, khi một cơ quan, bộ phận bị ảnh hưởng sẽ kéo theo sự ảnh hưởng tới một số cơ quan bộ phận khác trong cơ thể Theo Hồ Văn Nam (1997) [7], bệnh phế quản – phế viêm là do kế phát từ cúm, viêm màng mũi thối loét, giun đũa, bệnh tim, ứ huyết ở phổi gây ra
Nguyên nhân do quản lí, chăm sóc
Các yếu tố này có thể do xây dựng chuồng trại chưa phù hợp với đặc điểm sinh lý của gia súc, phân lô, chia đàn chưa hợp lý, chăm sóc và nuôi dưỡng không đúng phương pháp, bệnh phát sinh do vận chuyển gia súc, vệ sinh thú y,
xử lý chất thải không tốt dẫn đến ô nhiễm tiểu khí hậu chuồng nuôi gây ra viêm phổi
Nhiều tác giả nhấn mạnh tiểu khí hậu chuồng nuôi, nền lạnh, độ ẩm cao, gió lùa là nguyên nhân gây bệnh ở cơ quan hô hấp (Blowey R W 1999) [15] cho rằng chỗ nằm và sàn chuồng của bê, bò bị ẩm ướt, nhiều phân, nước tiểu dẫn
đến tăng nồng độ NH3, H2 S, CH4 kích thích niêm mạc hô hấp, hoạt động của lông rung đường hô hấp bị ảnh hưởng dẫn tới viêm phổi Niconxki V.V (1986) [9] cho biết các yếu tố như chuồng ẩm thấp, lạnh lẽo, ngột ngạt, gió lùa, không
có rác độn chuồng, ăn uống kém, chật chội và các yếu tố khác làm tăng độ mẫn
Trang 35cảm của cơ thể đối với bệnh làm cho bệnh lây lan tăng độc lực của mycoplasma với lợn
Do chuồng không được che chắn kín dễ gây gió lùa, bê, nghé lạnh dẫn đến viêm phổi (Phạm Sĩ Lăng, Phan Địch Lân, 2002 [4])
Bệnh do Pasteurella haemolytica týp A,T hay gặp trong các trường hợp do
bò bị stress như vận chuyển xa, nóng, gia súc làm việc quá sức, nhốt đông gây nên bệnh ở bò từ 6 tháng đến 2 năm tuổi và phổ biến ở thể viêm phổi (Archie Hunter, 2001 [2])
Ngoài ra, một số bệnh không được tiêm phòng như viêm phổi – màng phổi, bệnh tụ huyết trùng hay các bệnh do vi rút gây bệnh đường hô hấp có thể gây nên các bệnh viêm phổi
Nguyên nhân do kí sinh trùng
Các ký sinh trùng như ấu trùng giun đũa, giun phổi thường vào cơ thể qua
đường tiêu hóa ăn, uống, xâm nhập vào máu rồi di hành lên phổi súc vật Nó là nguyên nhân cơ giới tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn thứ phát (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2002) [4]
Giun Dictyocanlus viviparus sống ở đường hô hấp như khí quản, phế quản bê, bò ở phổi trứng của chúng qua đờm dti khi ho, sau đó vào đường tiêu hóa khi bê, bò nuốt xuống và ra phân thải ra môi trường, nở thành ấu trùng sau
đó ấu trùng theo thức ăn (rơm, cỏ…) vào đường tiêu hóa, ấu trùng di hành từ ruột lên phổi gây viêm (Blowey R.W., 1999) [15]; Archie Hunter, 2001 [2])
ấu trùng giun đũa Toxocara vtulorum gây ra chủ yếu ở bê nghé dưới 6 tháng tuổi, trong quá trình di hành lên phổi cũng gây tổn thương và viêm phổi (Đỗ Văn Được, 2003) [3]
2.4.3 Cơ chế sinh bệnh
Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, mỗi cá thể có những đáp ứng khác nhau với tác nhân gây hại Sự đáp ứng đó có thể diễn ra mạnh lúc liệt, lúc thầm lặng Quá trình đáp ứng đó có những biểu hiện chung thường lộ ra ngoài là quá trình
Trang 36viêm mà cơ chế bệnh sinh có những đặc thù chung và riêng tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh, đường truyền lây, vị trí viêm và phản ứng của mỗi cơ thể Phản ứng viêm thể hiện qua hiện qua 3 hiện tượng cơ bản đồng thời liên quan chặt chẽ với nhau gồm: rối loạn tuần hoàn, rối loạn chuyển hóa, biến chất và tăng sinh mô bào
Các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân tiên phát của bệnh viêm phổi là
do vi rút, nguyên nhân thứ phát là do vi khuẩn; vi khuẩn làm cho bệnh phát triển mạnh hơn (Niconxki V.V., 1986 [9]; Blowey R.W., 1999 [15])
Dưới tác động của các yếu tố như vi sinh vật như vi rút cúm, mycoplasma, tác động vào niêm mạc đường hô hấp; các loại khí NO2, H2S, CH4, NH3 với nồng
độ cao tác động vào tế bào biểu mô phế quản, khí quản làm ảnh hưởng tới hoạt
động của lông rung trong việc đẩy các dị vật ra khỏi lòng đường hô hấp của gia súc Mặt khác, do tác động bất lợi của các yếu tố như nhiệt độ, ẩm độ không thích hợp Khi đó hoạt động của lông rung cũng như chức năng bảo vệ của biểu mô đường hô hấp giảm đt dẫn đến sự xâm nhập của các vi khuẩn như pasteurella, staphyloccocus…, gây ra phản ứng viêm (Blowey R W., 1999) [15]
Theo Blowey R W (1999) [15], ẩm độ thấp (khô), nhiệt độ dao động lớn hay thời tiết lạnh quá làm giảm hiệu quả của hệ thống tiết dịch nhày trong việc bảo vệ đường hô hấp trước sự xâm nhập của các yếu tố gây bệnh
Trong các trường hợp khi thời tiết có sương mù, ẩm độ không khí cao cộng với thời tiết lạnh hay nhịêt độ thấp, ẩm độ thấp chuyển sang nóng ẩm, ẩm
độ cao là những yếu tố làm tăng sự nhiễm trùng vào phổi (Blowey R.W., 1999) [15]
Pasteurella haemolytica tyb A1 tồn tại tự nhiên trong mũi, hầu Nó tăng sinh số lượng lớn khi bị stress (vận chuyển, thời tiết thay đổi, nhiễm bệnh do vi rút) làm tăng nhanh mật độ vi khuẩn ở mô phổi ở đó nó tạo ra một loại độc tố hại bạch cầu, làm mất tác dụng của bạch cầu (Macrophages và Polymorphonuclear neutrophils) làm cho bạch cầu suy yếu và giết chết bạch cầu Khi bạch cầu bị chết nó giải phóng ra các enzym bổ sung vào việc tạo ra fibrin
Trang 37mủ và các vùng hoại tử tạo nên bệnh tích đặc trưng của bệnh sốt do vận chuyển Quá trình viêm khi bị tác động bởi nguyên nhân vi sinh vật sau khi vượt qua hàng rào ngoại vi thì vi sinh vật gặp sự đề kháng dịch thể và tế bào tạo ra quá trình viêm không đặc hiệu xảy ra với sự tham gia của các thành phần như bổ thể (C3a, C4a, C3f), Inteferon - α từ bạch cầu tiết ra, các chất gây hóa ứng động bạch cầu IL-1, 6, 8…, và các hoạt động tế bào đặc biệt là các tế bào trung tính
đến ổ viêm có tác dụng thực bào rất mạnh Ngoài ra, tham gia vào đáp ứng của viêm còn có các tế bào NK (natural kill), lymphô T, lymphô B Bổ thể có tác dụng gitn mạch, hóa ứng động bạch cầu gây tăng bạch cầu đa nhân tung tính
đến ổ viêm Bạch cầu trung tính tiết lyzozym phá vách vi khuẩn, BPI (Bacteria permeabitily increasing proteine) làm thủng màng vi khuẩn và factoferrin có tác
động phong bế men vi khuẩn
Quá trình viêm đặc hiệu xảy ra với sự tham gia của các kháng thể dịch thể
có tác dụng trung hòa vi rút, vi khuẩn hay kí sinh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực bào Đến nay, người ta thấy bạch cầu toan tính và tiểu cầu cũng diệt được ký sinh trùng thông qua các receptor bề mặt Ngoài ra, qua MD tế bào nó thông qua lymphô T độc (Tc) nó có tác dụng tiêu diệt các vi sinh phát triển bên trong tế bào như các vi rút, một số vi khuẩn (trực khuẩn lao, salmonella), một số kí sinh trùng
Các tác động của phản ứng viêm làm cho vách phế quản và phế nang xung huyết, sau đó tiết ra các dịch viêm đọng lại ở các phế quản nhỏ và phế nang (Hồ Văn Nam và CS, 1997) [7] Dịch rỉ viêm hình thành có thể là do viêm cata hay viêm cata có mủ
Quá trình viêm phát triển lan dần tới các khu xa hơn ở phổi Khi thở và khi
ho chất tiết nhiễm khuẩn thấm vào những phế quản lớn hơn và lan sang các phần phổi khác rồi tạo thành những ổ mới, tức là quá trình trên lan tràn diễn ra theo hệ thống phế quản Ban đầu các ổ nhỏ được hình thành rồi dồn lại thành những ổ viêm lớn hơn Các chất tiết trong xoang phế quản là điều kiện cần thiết để vi khuẩn phát triển (Niconxki V V., 1986) [9]
Trang 38Trong thời gian dịch rỉ viêm lan truyền thì cơ thể không sốt nhưng khi dịch viêm đọng lại gây viêm thì cơ thể lại sốt Như vậy, do hiện tượng viêm lan từng tiểu thuỳ làm cho gia súc sốt theo hình sin (Hồ Văn Nam, 1997) [7] Tuỳ theo quá trình viêm ở thuỳ phổi hay vách phế quản, phế nang hay màng phổi mà viêm phổi có những tên gọi và đặc điểm bệnh lí khác nhau Trong bệnh thuỳ phế viêm, quá trình viêm lan rộng và nhanh trên các thuỳ lớn của phổi với tiến triển qua 3 giai đoạn khác nhau: giai đoạn xung huyết, giai đoạn gan hóa và giai đoạn tiêu tan
Khi mắc viêm phổi do mycoplasma, mầm bệnh sản sinh ở khoảng giữa các
tế bào, sự xâm nhập của các tế bào lymphô vào khu vực này làm cho túi phế nang dày lên và xuất hiện phản ứng viêm quanh phế nang Sự tăng sinh mầm bệnh làm cho các tế bào biểu mô chết, rụng ra và rơi vào các phế quan tận và các túi phế nang gây tắc, Do vậy, xuất hiện các đám phổi xẹp và khí thũng phổi Do các túi khí và cuống phổi nhỏ bị nhét đầy các biểu mô tróc ra Do kích thích của mầm bệnh mà sinh ho sâu, ho khan, thân nhiệt sốt lên 400C – 420C Trong đại bộ phận các trường hợp các ổ viêm khi xét nghiệm do mycoplasma không phân lập
được vi khuẩn chứng tỏ chúng đóng vai trò thứ phát trong quá trình phát triển bệnh lí (Niconxki V.V, 1986) [9]
ở lớp dưới niêm mạc phế quản lớn và nhỏ xảy ra các quy trình viêm lớn
và thoái hóa Ranh giới các phế nang mờ dần, lòng các phế quản chứa đầy các chất huỷ hoại Do dịch thẩm xuất chứa đầy túi khí do vậy trao đổi khí bị trở ngại, hiện tượng gitn phế nang làm giảm tính đàn hồi của phổi, sự thiếu ôxi tiến triển
và vật nuôi điều hòa sự thiếu này bằng cách thở gấp Trạng thái lâm sàng được
đặc trưng là thở và kéo dài, rít từng tí một và thở ra tương đối gấp Quá trình viêm kéo dài diện tích hô hấp giảm do vậy tim phải làm việc nhiều hơn, tim phải phình to dẫn đến suy tim, theo Hồ Văn Nam và CS, (1997) [7]
Do sốt cao làm cho quá trình phân huỷ protein, lipit, gluxit tăng Mặt khác
do quá trình viêm sẽ tích tụ các nội độc tố, ngoại độc tố vi khuẩn cũng như các sản phảm phân huỷ tế bào, các chất này chúng vào máu, tràn ngập khắp cơ thể
Trang 39gây ra sự tổn thương các cơ quan và hệ thống khác nhất là cơ quan giải độc như gan (Tạ Thị Vịnh, 1991) [14]
Khi phổi bị viêm nặng có thể bị hoại thư hay hóa mủ Khi bị viêm hoại thư thì ranh giới giữa vùng lành và vùng bệnh không rõ ràng và ở đó có sự phân huỷ protein Do vậy trên lâm sàng thấy gia súc thở có mùi rất thối Khi bị viêm hóa
mủ thì tạo thành các ổ mủ giữa vùng lành và bệnh rõ ràng Các ổ mủ này là nguyên nhân gây nên triệu chứng sốt không theo quy luật khi vi khuẩn từ ổ mủ này vào máu và gây ra một ổ mủ khác ở phổi (Hồ Văn Nam và CS, 1997) [7]
2.4.4 Triệu chứng lâm sàng
ở mỗi một thể viêm phổi khác nhau có một biểu hiện triệu chứng trên con vật một khác Song hầu hết các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng khi gia súc mắc bệnh viêm phổi sẽ có một số triệu chứng chính như sốt, ho, chảy nước mũi, niêm mạc tím tái, khó thở, âm phổi bệnh lý
Chảy nước mũi
Chảy nước mũi có thể cho biết bệnh đường hô hấp đang diễn ra có liên quan tới phổi cũng như đường hô hấp trên (Archie Hunter, 2000) [2] Các bệnh của trâu bò có đặc điểm chảy nước mũi như bệnh viêm da do Besnoitia, tụ huyết trùng, viêm mũi – viêm khí quản truyền nhiễm, loét da quăn tai, bệnh dịch nhầy, lao, sốt do vận chuyển, dịch tả trâu bò
Theo Hồ Văn Nam (1997) [7], trong bệnh phế quản phế viêm nước mũi ít
và đặc có màu xanh thường dính vào hai bên lỗ mũi Nếu viêm phổi hoại thư thì nước mũi ít, màu đỏ hay màu gỉ sắt
Bò thường chảy nước mắt, nước mũi liên tục Nếu bị nặng sẽ xuất hiện chảy mủ từ mũi con vật (Phạm sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2002) [4]
Sốt
Sốt là hiện tượng tăng thân nhiệt xảy ra trong rất nhiều bệnh khác nhau Tuy nhiên khi gia súc mắc viêm phổi nó giúp cho công tác chẩn đoán chính xác hơn mức độ của viêm
Trang 40Theo Đỗ Văn Được (2003) [3], trâu viêm phổi thường sốt Nhiệt độ cơ thể trâu viêm phổi nhẹ tăng 0,790C, trâu viêm phổi nặng tăng trung bình 1,690C; cá biệt có con sốt trên 30C
Theo Blowey R W (1999) [15], trong giai đoạn sớm của viêm, bò có thể ngừng ăn và tăng nhiệt độ tới 40,5 – 420C Trong trường hợp viêm điển hình của
bò mắc bệnh viêm phổi – màng phổi truyền nhiễm, nhiệt độ của bò tăng đột ngột Trường hợp gia súc mắc Mycoplasma mycoides dạng ẩn tích, khi dưới tác
động của các yếu tố stress, nó có thể phát triển thành dạng viêm điển hình
Theo Hồ Văn Nam và CS (1997) [7], trong bệnh phế quản – phế viêm gia súc sốt cao (tăng hơn bình thường từ 1 – 20C) và sốt lên xuống theo hình sin, trong bệnh viêm phổi thùy đột nhiên gia súc sốt 41 – 420C, sốt kéo dài liên miên
từ 6-9 ngày sau đó nhiệt độ hạ dần, còn trong viêm phổi hoại thư hóa mủ gia súc sốt 40 – 410C sốt lên xuống không đều
Triệu chứng ho
Theo Archie Hunter (2000) [2], triệu chứng lâm sàng khi viêm đường hô hấp rõ nhất là ho Ho là do ngứa màng bên trong khí quản và đường hô hấp dưới (phế quản) phân nhánh từ khí quản vào phổi Đó là phản xạ tự phát nhằm loại bỏ vật lạ ra khỏi đường hô hấp Ho liên tục là dấu hiệu khí quản, phế quản bị bệnh
ở bê, bò khi mắc bệnh viêm phổi, thường nghe thấy gia súc ho nhiều, tuy nhiên một số trường hợp xảy ra viêm đột ngột, bê, bò có thể chết khi chưa nhận
ra dấu hiệu nào của ho (Blowey R W., 1999) [15]
Gia súc ban đầu có thể ho khan và ngắn, có cảm giác đau Sau tiếng ho ướt
và kéo dài, thường gặp ở bệnh viêm phế quản phổi Gia súc ho ít, ngắn khi ho gia súc có cảm giác đau gặp ở bệnh việm phổi thuỳ (Hồ Văn Nam và CS, 1997) [7]
Khi bò mắc Pasteurella haemolytica có những dấu hiệu điển hình là nhiệt
độ cao, thở hổn hển và rất mệt mỏi (say, ốm) với những tiếng ho nhỏ (Blowey R W., 1999) [15]
Triệu chứng khó thở