luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THANH THUỶ
ðÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ðẤT ðAI VÙNG BÃI BỒI
VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý ñất ñai
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU THÀNH
Hµ Néi - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Kim Sơn; các Phòng thuộc huyện: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Thống kê; UBND các xã vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn; ðồn Biên phòng 104; các ñồng nghiệp tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình, các sở, ban ngành có liên quan ở tỉnh Ninh Bình ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia ñình và người thân thường xuyên tạo ñiều kiện, ñộng viên, giúp ñỡ trong quá trình thực hiện luận văn./
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Thủy
Trang 42.2 Quản lý, khai thác, phát triển và sử dụng ựất bãi bồi ven biển 4
4.1 Khái quát về ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan ựến
4.1.1 điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 43 4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 60 4.1.3 đánh giá khái quát về ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng
Trang 54.2 đánh giá thực trạng ựất bãi bồi Kim Sơn 66 4.2.1 Thực trạng sử dụng ựất vùng bãi bồi 66 4.2.2 Tác ựộng của khai thác ựất vùng bãi bồi ựến phát triển kinh tế -
4.3 đánh giá tiềm năng ựất ựai vùng bãi bồi Kim Sơn 80 4.3.1 đánh giá chất lượng ựất, nước vùng bãi bồi 80
4.3.3 Xác ựịnh yêu cầu sử dụng ựất của các loại hình sử dụng ựất 93
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.2 độ ựục bùn cát lơ lửng nước sông Hồng 30 2.3 Tổng lượng bùn cát lơ lửng trên sông Hồng, sông đà 30 2.4 Tốc ựộ bồi tụ theo diện tắch bãi bồi Kim Sơn 31 4.1 Một số chỉ tiêu về khắ hậu vùng bãi bồi Kim Sơn 46
4.5 Biến ựộng ựất vùng bãi bồi Kim Sơn thời kỳ 2000-2010 68 4.6 Biến ựộng ựất trồng lúa thời kỳ 2000 - 2010 69 4.7 Biến ựộng ựất trồng cói thời kỳ 2000 - 2010 71 4.8 Biến ựộng ựất nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 2000 - 2010 73 4.9 Hiện trạng các loại hình sử dụng ựất chắnh vùng bãi bồi 77 4.10 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng ựất vùng bãi bồi 78 4.11 Các chỉ tiêu, phân cấp các chỉ tiêu xác ựịnh ựơn vị ựất ựai 85
4.13 Hàm lượng muối tan trong ựất vùng bãi bồi Kim Sơn 86 4.14 Phân cấp ựộ phì vùng bãi bồi Kim Sơn 88 4.15 Thành phần cơ giới ựất vùng bãi bồi Kim Sơn 89 4.16 Chế ựộ tưới tiêu vùng bãi bồi Kim Sơn 89 4.17 Thống kê ựặc ựiểm các ựơn vị bản ựồ ựất ựai 91
4.19 Mức ựộ thắch hợp ựất ựai hiện tại vùng bãi bồi 96 4.20 Kết quả phân hạng thắch hợp ựất ựai tương lai 97 4.21 đề xuất sử dụng ựất nông nghiệp vùng bãi bồi 99
Trang 8DANH MỤC BIỂU ðỒ
2.3 Biểu ñồ tốc ñộ tiến ra biển trung bình theo thời gian 29
4.2 Biểu ñồ cơ cấu ñất vùng bãi bồi Kim Sơn 54 4.3 Biểu ñồ cơ cấu sử dụng ñất nông nghiệp 67
4.5 Khu nuôi tôm tập trung tại xã Kim Trung 74
Trang 9
1 MỞ đẦU
1.1 Tắnh cấp thiết của ựề tài
Bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn dài khoảng 18 km tắnh từ cửa sông đáy ở phắa đông của huyện ựến cửa sông Càn ở phắa Tây Nam đây là vùng bãi bồi có chiều rộng lớn nhất miền Bắc Việt Nam, lúc triều kiệt chiều rộng bãi bồi có nơi rộng 6 ọ 7 km Bãi bồi Kim Sơn là vùng ựất mở của huyện; do nằm trong vùng bờ biển ựược bồi tụ hàng năm với dòng sông đáy có lượng phù sa lớn và có hòn Nẹ chắn ở phắa ngoài làm cho mặt nước phắa trong tương ựối yên tĩnh, vì vậy vùng bãi bồi Kim Sơn có mức bồi tụ nhanh, trung bình hàng năm bãi bồi Kim Sơn lấn ra biển 80 ọ 100 m, ựộ cao trung bình là 6
ọ 8 cm Hàng năm có ắt nhất khoảng 20 triệu tấn phù sa ựược mang ra biển qua cửa đáy; ngoài ra có khoảng 5 triệu tấn phù sa từ sông Ninh Cơ ựổ ra góp phần vào việc hình thành bãi bồi Kim Sơn [16]
Bãi bồi có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kim Sơn và tỉnh Ninh Bình Từ những năm ựầu mới thành lập huyện (1829), diện tắch tự nhiên của huyện mới có 5.263 ha, ựến năm 2010 do quá trình quai
ựê, lấn biển mở rộng diện tắch, huyện Kim Sơn ựã có diện tắch 21.423,6 ha, gấp
4 lần diện tắch khi mới thành lập Cho ựến những năm gần ựây, bãi bồi sau khi quai ựê ngăn biển ựã ựược ựưa vào sử dụng ựể phát triển sản xuất nông nghiệp; thời gian ựầu khi ựất còn nhiễm mặn nông dân trồng cói, ựến khi ựộ mặn giảm
và trồng ựược lúa, nông dân trồng lúa chịu mặn, khi ựất ngọt hoá và việc tưới tiêu ựược giải quyết, nông dân trồng giống lúa có năng suất cao, trong ựiều kiện thâm canh nhiều xã ựã ựạt ựược năng suất lúa trên 10 tấn/ha/ năm
Tuy nhiên, trong những năm gần ựây, việc sản xuất trên ựất bãi bồi chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao, quá trình sản xuất còn tiềm ẩn nhiều nguy
cơ rủi ro gây mất ổn ựịnh, nhất là vấn ựề bảo vệ môi trường và khai thác sử
Trang 10dụng hợp lý ựất bãi bồi; trong khi ựó việc nghiên cứu tổng thể về tiềm năng ựất ựai vùng bãi bồi ven biển hầu như chưa ựược ựề cập, ựánh giá khách quan một cách ựầy ựủ, chắnh xác và khoa họcẦđể giúp cho các cơ quan chức năng của ựịa phương hoạch ựịnh các chắnh sách, xây dựng phương thức quản lý khai thác hợp lý, phát huy tiềm năng và thế mạnh của vùng bãi bồi ựể phát triển kinh tế - xã hội của ựịa phương; giúp cho người dân lựa chọn các giải pháp sử dụng ựất ựai ựược giao hiệu quả và bền vữngẦ thì việc nghiên cứu, ựánh giá hiện trạng tiềm năng vùng bãi bồi có vai trò hết sức quan trọng được sự phân công của Khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Ộđánh giá tiềm năng ựất ựai vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh BìnhỢ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- đánh giá tiềm năng ựất ựai vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn (bãi bồi Kim Sơn), tỉnh Ninh Bình
- đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý ựất vùng bãi bồi
1.3 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 đối tượng nghiên cứu
- điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và tình hình kinh tế - xã hội vùng bãi bồi
- đất vùng bãi bồi và tình hình sử dụng ựất tại vùng bãi bồi
Trang 112 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 đất bãi bồi ven biển
đất có mặt nước ven biển là ựất có mặt nước biển ngoài ựường mép nước (ựường mép nước biển triều kiệt trung bình trong nhiều năm), không thuộc ựịa giới hành chắnh của tỉnh ựang ựược sử dụng; bao gồm ựất mặt nước ven biển nuôi trồng thủy sản, ựất mặt nước ven biển có rừng, ựất mặt nước ven biển có mục ựắch khác [8]
Vùng biển ven bờ ựược tắnh từ bờ biển (ngấn nước khi thủy triều thấp nhất) ựến ựường nối liền các ựiểm cách bờ biển 24 hải lý và ựược phân thành hai tuyến: Tuyến bờ là vùng biển ựược tắnh từ bờ biển ựến ựường nối liền các ựiểm cách bờ biển 6 hải lý; tuyến lộng là vùng biển ựược tắnh từ ựường cách
bờ biển 6 hải lý ựến ựường nối các ựiểm cách bờ biển 24 hải lý [10]
Như vậy ựất bãi bồi ven biển khái quát như sau: đất bãi bồi ven biển là các khu vực ựất ựược hình thành do sự bồi tắch hoặc do hiện tượng biển thoái,
có vị trắ liền kề hoặc gần với ựất liền, ựược tắnh từ ựê biển ựến bờ biển (ựường
mép nước biển triều kiệt trung bình trong nhiều năm)
Theo Mai Sỹ Tuấn [45], ven biển là vùng sinh thái rất quan trọng, hết sức nhạy cảm và dễ bị biến ựổi Xét về mặt hình dạng và các quá trình bồi tụ,
có thể chia các vùng cửa sông thành 2 loại chắnh là:
- Vùng cửa sông châu thổ: Là những cửa sông dạng tam giác, cụ thể là cửa sông Hồng, và sông Cửu Long Vùng cửa sông châu thổ sông Hồng bao gồm các cửa sông như: Trà Lý, Ba Lạt, đáy, Càn và cửa sông MãẦ độ mặn trung bình vào mùa lũ tại các cửa sông nước hoàn toàn ngọt, vào mùa khô ựộ mặn trung bình tương ựối cao Vùng cửa sông thuộc châu thổ sông Cửu Long khá bằng phẳng, ựộ nghiêng thấp (1cm/km), có chế ựộ bán nhật triều, hệ thống kênh rạch rất phát triển Thể nền sình lầy mạnh, ựất bị nhiễm mặn và
Trang 12phèn khá rộng
- Vùng cửa sông hình phễu là những cửa sông tồn tại ở những nơi ñang
có sự lún chìm kiến tạo nhưng không ñược ñền bù, chịu ảnh hưởng của hoạt ñộng thuỷ triều mạnh Quá trình xâm thực của nước biển, sự bào mòn bờ và thung lũng sông làm cho lòng sông sâu hơn, cửa sông ngày một mở rộng như cái phễu loe ra biển như cửa sông Bạch ðằng, cửa Soài Rạp (ðồng Nai)
2.2 Quản lý, khai thác, phát triển và sử dụng ñất bãi bồi ven biển
2.2.1 Trên thế giới
2.2.1.1 Quan ñiểm khai thác, phát triển và quản lý vùng ven biển
Trong thời ñại ngày nay, hầu hết các nước có biển ñều nhận ñịnh vai trò của vùng ven bờ ñối với sự phát triển kinh tế - xã hội và những vấn ñề môi trường cấp bách
Vùng ven bờ biển là khoảng không gian chuyển tiếp giữa lục ñịa với biển Vùng ven bờ biển có bản chất khác hẳn với các vùng biển và lục ñịa lân cận Vùng bờ biển là một hệ thống cân bằng ñộng - hệ bờ biển Tại ñây luôn xẩy ra các quá trình tương tác biển - lục ñịa ðới ven bờ có chứa nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như: Hệ vùng cửa sông, ñầm phá, vũng, vịnh nhỏ, các bãi cát biển, ñất ngập nước, vùng ñất ven biển… Các hệ này có bản chất tự nhiên,
có giá trị tài nguyên, môi trường ñất khác nhau, do ñó ñòi hỏi phải có những phương thức tiếp cận, khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển và quản lý phù hợp
Theo tài liệu của Hội thảo khoa học: “Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường ñất ngập nước cửa sông ven biển” [38] do Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - ðại học Quốc gia Hà Nội tổ chức năm 1999 thì: nghiên cứu về các vùng ñất ven biển, các nhà khoa học trên thế giới tổng kết vùng ven biển có một số ñặc trưng quan trọng sau ñây:
- ða dạng các hệ sinh thái, phong phú nơi cư trú, giàu có các nguồn lợi tài nguyên Các ñặc trưng về ñịa lý, ñộng lực, thuỷ văn, môi trường…ở vùng
Trang 13ven bờ thường xuyên thay ựổi
- Là nơi lý tưởng cho mọi hoạt ựộng của con người, từ du lịch, vui chơi giải trắ, ựánh bắt hải sản trên biển ựến vận tải biển, phát triển khai thác dầu khắ, khoáng sản và an ninh quốc phòng
- Là nơi tập trung dân cư, các trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp
Xu thế ựô thị hoá và công nghiệp, thương mại hoá vùng ven bờ ngày càng phát triển mạnh mẽ
- Luôn nảy sinh và tồn tại sự cạnh tranh, tranh chấp giữa các su thế phát triển tự nhiên biển - lục ựịa, phát triển kinh tế - xã hội Luôn có mâu thuẫn quyền lợi trong quá trình khai thác và sử dụng, ựó là nguyên nhân và nguy cơ tiềm năng phá vỡ tắnh thống nhất các chức năng của hệ tài nguyên môi trường vùng ven bờ
đới ven bờ biển cung cấp mặt bằng, nguyên vật liệu, thực phẩm và bảo
vệ con người Hiện nay, bờ biển trở nên quan trọng trong phát triển công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi và bảo tồn Vùng ven bờ biển là nơi tập trung hầu hết các hoạt ựộng kinh tế, xã hội, quân sự, là bàn ựạp và cơ sở hậu cần cho các chương trình khai thác, phát triển các vùng biển và ựại dương Hơn 50% dân số (khoảng 3,2 tỷ người) trên trái ựất ựang sống tập trung dọc theo bờ biển, có nghĩa là một nửa dân số ựang sống tập trung trong một vùng có diện tắch chỉ chiếm 10% tổng diện tắch trái ựất (Hinrichsen, 1996) Ở Việt Nam có khoảng 25% dân số tập trung ở vùng ven bờ trên diện tắch khoảng 66 nghìn
km2 (chiếm khoảng 20% tổng diện tắch toàn quốc) Dự ựoán ựến năm 2025 có khoảng 75% dân số trên thế giới sẽ sống tập trung ở các vùng ven biển, chắnh
vì vậy, vùng ven bờ là nơi biểu hiện rõ nét, gay gắt các mâu thuẫn giữa khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, nguồn lợi và môi trường
đánh giá về nguồn tài nguyên biển các nhà nghiên cứu trên thế giới chỉ
ra rằng, nguồn lợi ở vùng ven bờ, ở biển và ựại dương không phải là vô tận,
Trang 14khả năng tự làm sạch của chúng là có giới hạn, do ñó phương thức tập trung khai thác triệt ñể các nguồn lợi phong phú, ña dạng của biển ñã không còn thích hợp nữa trong giai ñoạn hiện nay và tương lai mà phải thay ñổi, lấy tư tưởng chủ ñạo là khai thác, bảo vệ và phục hồi các nguồn lợi tài nguyên môi trường một cách bền vững Hiện trạng môi trường cũng như các biện pháp bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường ñối với ven bờ rất phức tạp và ña dạng Tính phức tạp và ña dạng này vốn là bản chất của các vấn ñề và ñược quy ñịnh bởi tính phức tạp và ña dạng của trình ñộ dân trí, văn hoá và phát triển kinh tế của từng khu vực Ngày nay khi nói ñến vấn ñề môi trường, người ta thường nghĩ ngay ñến các hiện tượng như cạn kiệt các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, nạn ô nhiễm nặng nề về môi trường sống, sự suy giảm tầng Ozon, mưa axit, sa mạc hoá, tai biến thiên nhiên và thiên tai ngày càng gay gắt, ña dạng sinh học ngày càng suy giảm…
Bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế là ước nguyện và mục tiêu của mỗi người dân Ngày nay, khi vấn ñề môi trường ñang trở nên cấp bách, nóng bỏng và khó giải quyết nhất trong quá trình phát triển thì nhu cầu thống nhất các tư tưởng chỉ ñạo nghiên cứu, ñánh giá hiện trạng môi trường và nhất quán
về quan ñiểm khoa học, kinh tế, xã hội trong việc ñề xuất các giải pháp quản
lý, ngăn ngừa và cải thiện môi trường là hết sức cần thiết
Vì những lý do trên ñây, quản lý tổng hợp vùng ven bờ ñược xem là cách tiếp cận hiệu quả, tích cực và hoàn thiện nhất Mặc dù có mâu thuẫn, nhưng sự kết hợp giữa mục ñích kinh tế và bảo vệ môi trường cần ñược xác ñịnh một cách nhất quán, cần coi ñó là nguyên tác cơ bản trong quá trình phát triển bền vững
Các biện pháp tổng hợp ñối với quản lý vùng ven bờ ñược biết ñến dưới nhiều tên gọi và chữ viết khác nhau, trong ñó gồm có: Quản lý tổng hợp vùng ven bờ (ICZM- Intergrated Coastal Zone Managemment); quản lý tổng hợp
Trang 15ven biển (ICM- Intergrated Coastal Managemment); quản lý tổng hợp vùng biển và ven biển (IMCAM- Intergrated Marine anh Coastal Area Managemment); quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICAM- Intergrated Coastal Area Managemment) Mặc dù có rất nhiều ựịnh nghĩa khác nhau về quản lý tổng hợp vùng ven bờ nhưng sự khác nhau giữa chúng là rất ắt Hầu hết các ựịnh nghĩa trên ựều thừa nhận rằng quản lý tổng hợp vùng ven bờ là một quy trình có tắnh liên tục, tắnh tiên phong trong việc thực hiện và có khả năng thắch nghi cao nhằm quản lý nguồn tài nguyên cho sự phát triển bền vững vùng ven
bờ Quản lý tổng hợp vùng ven bờ phải ựạt ựược mục tiêu của nó trong các ựiều kiện hạn chế về môi trường, kinh tế, xã hội và tự nhiên cũng như trong hạn chế của các hệ thống và thể chế về mặt pháp lý, tài chắnh và hành chắnh
Quản lý vùng ven bờ biển là quản lý mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, ựa mục tiêu, ựa chức năng, ựa ngành đó là mối quan hệ biện chứng: có sự hỗ trợ và xung ựột, mâu thuẫn Về bản chất, quản lý tổng hợp vùng ven bờ là nghệ thuật lồng ghép các kế hoạch phát triển và các chương trình bảo vệ môi trường, tài nguyên trong vùng Quản lý tổng hợp ựược thiết
kế ựể khắc phục phương pháp quản lý phân cấp tại vùng giáp ranh ựất - biển
và bảo ựảm sự phát triển hài hoà cho tất cả các ngành kinh tế và có thể chấp nhận ựược về mặt xã hội và chắnh trị Vấn ựề ựặt ra là phải sử dụng các chắnh sách, phương pháp và công cụ quản lý hợp lý, dung hoà ựược các mâu thuẩn
ựể phát triển bền vững Tư tưởng chủ ựạo của chương trình quản lý tổng hợp
là phải tìm các công cụ thực hiện ựiều khiển các quá trình trong hệ sinh thái kinh tế biển, nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt ựộng kinh
tế ựối với môi trường, tạo tiền ựề ựể thiết kế một nền kinh tế tối ưu theo những tiêu chuẩn sau:
- Sử dụng tối thiểu sức lao ựộng của xã hội trong quá trình khai thác và
sử dụng tài nguyên
Trang 16- Phân bố và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
- Bảo ựảm chất lượng môi trường ựể vùng ven bờ, vùng biển và ựại dương có ựiều kiện ựáp ứng hoàn toàn những nhu cầu ựời sống về vật chất ngay trong hiện tại và tương lai
2.2.1.2 Quản lý, sử dụng ựất có mặt nước, bãi bồi ven biển một số nước trên
thế giới
Theo kết quả sưu tầm, nghiên cứu và ựánh giá của Trung tâm điều tra Quy hoạch ựất ựai, Bộ Tài nguyên và Môi trường [42]:
Năm 1992, Hội nghị thượng ựỉnh về Môi trường và Phát triển tại Rio
de Janeiro (Braxin), 179 nước trên thế giới ựã luận bàn các chắnh sách về môi trường và phát triển của trái ựất Hội nghị ựã ựồng thuận thông qua Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình Nghị sự 21 về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21
Tại chương 17 về Bảo vệ và quản lý ựại dương ựã nêu rõ những bộ phận của môi trường biển như rạn san hô, rừng ngập mặn và cửa sông là thuộc trong số hệ sinh thái ựa dạng và năng suất nhất của trái ựất Chúng bảo
vệ cho bờ biển và góp phần tạo ra thực phẩm, năng lượng, phát triển du lịch
và kinh tế Ở nhiều nơi trên thế giới, các hệ sinh thái ựó lại ựang bị những sức
ép hoặc ựang bị những ựe dọa Các quốc gia phải bảo vệ các hệ sinh thái này bằng các phương pháp như kiểm soát và ngăn ngừa xói mòn ven bờ, bồi lắng ven biển nảy sinh do việc sử dụng ựấtẦ
Các biển đông Á bao gồm biển đông Trung Hoa, biển Hoàng Hải, Biển đông, biển Sulu-Celebes và biển In-ựô-nê-xi-a, là năm hệ sinh thái biển lớn có tầm quan trọng ựặc biệt về sinh thái và kinh tế ựối với khu vực
Khu vực ven các biển đông Á bao gồm 12 quốc gia, có tổng chiều dài
Trang 17ựường bờ là 234.000 km, ựa số các quốc gia ựều có ựường biển dài và vùng ven biển rộng lớn Dân số trong khu vực là 1,9 tỷ người, ựến năm 2015 con số này sẽ lên ựến 3 tỷ người, khoảng 77% sinh sống trong phạm vi 100 km tắnh
từ bờ biển
Khu vực này có tốc ựộ ựô thị hóa cao, dân số tăng nhanh, năm 1994 tỷ
lệ dân cư khu vực ựô thị là 34%, ước tắnh ựến năm 2025 lên ựến 54% Các khu ựịnh cư ven biển ựã phát triển nhanh thành các thành phố lớn và hiện ựược coi là vùng tập trung dân cư nhiều nhất trên thế giới
Phần lớn các hoạt ựộng kinh tế, không kể ựến nông nghiệp, ựều ựược tập trung ở các thành phố ven biển của khu vực
Các hoạt ựộng truyền thống dựa vào tài nguyên như ựánh bắt ven biển, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp và nông nghiệp luôn sát cánh với các hoạt ựộng công nghiệp, cảng, hàng hải và du lịch Tiềm năng về các cơ hội kinh tế ở các thành phố ven biển có một sức mạnh rất cuốn hút, thúc ựẩy việc di cư từ các vùng nông thôn có kinh tế trì trệ Những cư dân ven biển tương lai này sẽ có nhu cầu về việc làm, nhà ở, năng lượng, thức ăn, nước và các hàng hóa dịch vụ khác, cho thấy một thách thức ựáng kể về phát triển ựối với những vùng này
Tháng 12 năm 2003, tại đại hội khu vực biển đông Á, 12 quốc gia có biển trong khu vực như Cam-pu-chia, Bơ-ru-nây, In-ựô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Sing-ga-po, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ựã ký Tuyên bố Putrajaya về Hợp tác khu vực cho sự phát triển bền vững các biển đông Á và thông qua Chiến lược Phát triển bền vững các biển đông Á (SDS-SEA)
Chiến lược Phát triển bền vững các biển đông Á thể hiện mục tiêu ựã cam kết tại Hội nghị Johannesburg và ựưa ra khung hành ựộng cấp khu vực cho các quốc gia, các tổ chức, các doanh nghiệp có liên quan ựể tham chiếu, triển khai thực hiện theo phương thức tiếp cận tổng hợp, thống nhất; ựồng
Trang 18thời cam kết hành ựộng quản lý, khai thác sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng liên kết và lồng ghép giữa các vấn ựề xã hội, văn hóa, kinh tế và môi trường
Chiến lược Phát triển bền vững các biển đông Á ựưa ra một phương thức chiến lược trong quản lý và phát triển tài nguyên và ựới bờ theo cách bền vững, ựặc biệt quan tâm ựến sự khác biệt về mục ựắch sử dụng, nhận thức về giá trị, các ưu tiên mà chắnh phủ các quốc gia cũng như các bên liên quan khác giành cho tài nguyên ựó Dùng các phương thức tổng hợp ựể thực hiện các công ước quốc tế ựược hiệu quả hơn Chiến lược hướng vào bảo vệ tài nguyên và tăng cường sự liên kết và hiệp lực trong việc xây dựng năng lực và huy ựộng tất cả các bên liên quan kể cả các cơ quan chắnh phủ, các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ, các tổ chức tài chắnh, khu vực tư nhân, các tổ chức phi chắnh phủ, các nhà khoa học, các viện nghiên cứu, cộng ựồng và các thành viên khác trong xã hội ựể họ thấy ựược trách nhiệm xã hội của mình và tắch cực ựóng góp vào các chương trình phát triển bền vững Ở cấp ựịa phương, Chiến lược ựưa ra những ựịnh hướng và các phương thức cho chắnh quyền và các bên liên quan hành ựộng và giải quyết các vấn ựề về tài nguyên và môi trường ở ựịa phương có tầm quan trọng cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, xác ựịnh cũng như ựẩy mạnh các cơ hội ựầu tư môi trường và tạo ựiều kiện thuận lợi cho các phương án cung cấp tài chắnh bền vững
Trung Quốc
Trung Quốc là một nước nằm trong vùng đông Á có diện tắch tự nhiên
là 9.597 nghìn km2, với 32.000 km ựường bờ biển Dân số 1.287,75 triệu người, trong ựó 24% dân số sống trong phạm vị 100 km từ bờ Trung Quốc coi phát triển kinh tế- xã hội là nền tảng của sự phát triển bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn ựược quan tâm lồng ghép và thực hiện ựồng thời với phát triển kinh tế- xã hội, vì vậy trong kế hoạch hàng năm hay dài hạn của
Trang 19Nhà nước Trung Quốc cũng như của ñịa phương ñều dành một phần hoặc một chương mục riêng về phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Kế hoạch phân vùng sử dụng biển ở Xiamen
Năm 1997, Chính quyền thành phố Xiamen ñã thông qua sơ ñồ phân vùng chức năng ñể lồng ghép vấn ñề bảo vệ các hệ sinh thái và các chức năng kinh tế, xã hội của vùng ñất và nước ñới bờ Mục tiêu chính của phân vùng chức năng là giảm xung ñột sử dụng ña mục ñích, tối ña hóa lợi ích xã hội trong vùng ñới bờ, bảo tồn ña dạng sinh học và ñảm bảo tăng trưởng bền vững cho vùng biển Xiamen Vùng biển Xiamen ñược phân loại theo ưu tiên
sử dụng, quan tâm ñến chức năng sử dụng trọng yếu nhất của vùng, các sử dụng tương thích có thể và các hoạt ñộng cần phải hạn chế trong khu vực
Vùng nước biển Xiamen chủ yếu ñược phân theo vùng cảng, vùng du lịch, vùng nuôi trồng thủy sản, vùng công nghiệp ñới bờ, vùng công trình biển, vùng khai thác mỏ, vùng bảo tồn thiên nhiên, vùng chức năng ñặc biệt
và vùng phục hồi ðể phù hợp với sơ ñồ phân vùng, pháp luật yêu cầu mọi hoạt ñộng phát triển các nguồn tài nguyên biển và ñới bờ của Xiamen phải nhất quán với sơ ñồ phân vùng chức năng
Một trong những ảnh hưởng tích cực sơ ñồ phân vùng chức năng là giảm thiểu xung ñột ña mục ñích nhờ xác ñịnh ñược các sử dụng tương thích cho phép ưu tiên ở các khu vực cụ thể
Trong biển Tây, sơ ñồ phân vùng chức năng ñã giải quyết ñược xung ñột giữa sử dụng các vùng nước ñể phát triển vận tải biển và cảng với bảo tồn
ña dạng sinh học cá heo trắng Trung Quốc Quy hoạch này ñã thiết kế khu bảo tồn chính 5.500 ha và thiết lập các quy ñịnh ñặc biệt ñể bảo vệ cá heo trắng Trung Quốc Ngành hàng hải ñược phép hoạt ñộng bên ngoài khu bảo
Trang 20vệ vì không cần thiết cấm hoàn toàn hoạt ựộng hàng hải trong biển Tây
Philippin
Philippin là một quốc gia nằm trong khu vực đông Nam châu Á, có vị trắ chiến lược trong giao lưu từ châu Á sang châu Úc, Philippin có diện tắch tự nhiên là 300 nghìn km2, có trên 7.000 ựảo lớn nhỏ ựược chia làm 3 quần ựảo với 18.000 km bờ biển Khu vực ven biển ở Philippin có 832 ựô thị trên tổng
số 1.541 ựô thị, chiếm 54%; Hầu hết những thành phố chắnh là ở ven biển Dân số Philippin là 79,94 triệu người, trong ựó trên 60% dân số sống ở khu vực ven biển
Vùng ven biển Philippin ựang ựứng trước sự ựe dọa lớn từ các hoạt ựộng của con người Hơn 75% bãi san hô ở Philippin bị thoái hóa do hoạt ựộng của con người Những khu rừng ngập mặn ựang suy giảm với tốc ựộ 2.000 ha/năm, hiện tại chỉ còn 120.000 ha so với 160.000 ha của 20 năm trước và 450.000 ha của ựầu thế kỷ Sự ựánh bắt thủy sản ựã giảm sút từ năm
1991 Hệ thống sinh thái ven biển và khả năng tự nhiên ựể sản xuất ựang bị khai thác quá mức là một vấn ựề nguy hại cho hệ sinh thái
Vùng bờ Philippin ựang chịu tác ựộng của các hoạt ựộng chủ yếu sau:
Sự gia tăng dân số và ựói nghèo: Philippin có trên 60% dân số sống tập
trung tại 832 thị trấn và 25 thành phố ven biển, 100% dân số sống trong phạm
vi 100 km từ bờ Trong những năm gần ựây dân số vùng ven biển gia tăng với tốc ựộ nhanh (2,4%/ năm) do sự di cư từ các vùng khác ựến và hàng loạt những hoạt ựộng tập trung phát triển diễn ra ở mảnh ựất ven biển ựang tạo nên sức ép lớn trong sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở vùng bờ
Sự gia tăng dân số nhanh kéo theo chất lượng của cuộc sống và môi trường giảm sút ảnh hưởng trực tiếp ựối với tầng lớp có thu nhập thấp sống ở vùng ven biển
Trang 21Phát triển nuôi trồng thủy sản: Ảnh hưởng lớn nhất có liên quan ñến
nuôi trồng thủy sản ở Philippin là sự chuyển ñổi các hệ sinh thái mà chủ yếu
là rừng ngập mặn thành các ñầm nuôi trồng thủy sản Tác ñộng này ñã thay thế 60% rừng ñước nguyên sinh của cả nước Một tác ñộng ñáng kể khác gây
ra bởi nuôi trồng thủy sản dẫn ñến rất nhiều loại ô nhiễm khác nhau là hệ thống các nông trại sử dụng phân bón, thức ăn và các chất hóa học; chúng có hại cho chất lượng nước vùng gần biển, ngư trường tự nhiên và sức khỏe của con người
Việc lấn biển ñể mở rộng quỹ ñất phát triển ñô thị: Vùng ven biển có nhiều vị trí thuận lợi ñang tạo sức hấp dẫn lớn ñối với nhiều dự án lấn biển ñể phát triển ñô thị, một số vùng khai hoang nổi tiếng và rộng lớn ở Philippin ñược ñịnh vị ở trung tâm ñô thị của Manila và Cebu Quá trình này dẫn ñến sự chuyển ñổi môi trường sống ven biển, của các vùng cửa sông, các bãi ñá nông, các bãi biển và các rừng ñước thành các mục ñích sử dụng khác Bên cạnh kết quả ñạt ñược của các dự án lấn biển là có thêm quỹ ñất ñể mở rộng
và phát triển ñô thị, song chúng cũng gây ra những tổn thất to lớn về môi trường sống ven biển như:
- Sự mất mát lâu dài của môi trường sống tự nhiên và chức năng sinh thái cũng như kinh tế của chúng;
- Giảm sút thường xuyên trong ñánh bắt cá;
- Sự ô nhiễm ñáng kể trong các dạng bùn lắng mà có thể trải rộng ra một diện tích lớn và kéo dài rất nhiều năm sau khi các công trình xây dựng ñược hoàn thành;
- Rủi ro tiềm tàng của sụt lún và lũ lụt
Khai khoáng và khai thác ñá: Khai khoáng và khai thác ñá ở vùng ven
biển của Philippin là những vấn ñề cần ñánh giá tác ñộng môi trường trong tất
cả các trường hợp Tuy nhiên, những hoạt ñộng này vẫn chưa ñược kiểm soát
Trang 22chặt chẽ, không có sự ñánh giá thích hợp ở rất nhiều vùng với tỷ lệ nhỏ và ñôi khi một số hoạt ñộng lớn Khai khoáng ở vùng cao ñang ñược chỉnh ñốn nhưng vẫn có những tác ñộng ñến vùng ven biển, như việc ñổ những chất thừa của quá trình khai khoáng ở ñảo Marinduque ñã phủ kín nhiều km2những ñám rong biển và ñã làm ô nhiễm nước dọc theo bờ biển
Phát triển du lịch: Các hoạt ñộng có liên quan ñến du lịch ở ven biển
ñang trở nên phổ biến ở Philippin Những vùng ven biển và những nguồn tài nguyên của chúng là một trong những ñiều cơ bản cho du lịch Mọi người ñến các bãi biển ñể bơi lội, lặn hay tham gia các hoạt ñộng khác ngày càng tăng; kết quả là một số lượng lớn các ngành phát triển ăn theo ngành du lịch bao gồm nhà nghỉ, ñường xá, bơi thuyền và lặn ngày càng phát triển trong những năm gần ñây Sự thiếu quy hoạch trong rất nhiều lĩnh vực của du lịch là một yếu tố chính ñang gây ra rất nhiều vấn ñề bức xúc; mặc dù có sự quan tâm của các nhà tổ chức du lịch ñể duy trì chất lượng môi trường nhằm thu hút tất cả khách du lịch ñến, nhưng cũng có rất nhiều vấn ñề chưa ñược kiểm soát, tác ñộng xấu ñến tài nguyên và môi trường ven biển
Bảo tồn ña dạng sinh học: Với 430 loài san hô, hơn 2.000 loài cá, 14 loài rong biển, hàng trăm loài tảo biển và hàng nghìn loài sinh vật biển không xương sống khác, Philippin là một trong những nước giàu có nhất trên thế giới về ña dạng nhiệt ñới biển Sự giàu có về ña dạng sinh học là một trong những nhân tố ngăn chặn những tác ñộng của việc khai thác cạn kiệt nguồn thủy sản Một số hoạt ñộng của con người ñang làm suy giảm ña dạng sinh học vùng ven biển Philippin gồm:
- Sử dụng xyanua ñể bắt cá làm tăng nhanh sự phá hủy môi trường sống cộng với khai thác cạn kiệt các loài có giá trị;
- Việc quản lý kém các môi trường sống hỗ trợ ña dạng sinh thái biển ở những vùng nước nông
Trang 23- Khai thác cạn kiệt và thu thập quá mức các sinh vật có giá trị làm cho
hệ sinh thái thay ñổi và hạ thấp tính ña dạng sinh học
Khai thác cạn kiệt, mất môi trường sống và các hoạt ñộng thương mại quốc tế trong các sản phẩm chế tác từ san hô ñã dẫn ñến phá hủy và tiêu diệt những sinh vật thu ñược, thường là môi trường sống của chúng
Sử dụng ñất bãi bồi và vấn ñề phát triển: Tất cả những vùng ven biển của Philippin ñang ñược mở rộng nhanh chóng kể từ khi con người có nhu cầu sống và làm việc gần biển Kết quả là các bãi biển và bãi bồi ven biển ñã
và ñang ñược sử dụng cho phát triển công nghiệp, xây dựng, bến cảng, giải trí, khu dân cư và rất nhiều mục ñích sử dụng khác Thiếu các quy ñịnh trong phát triển vùng bãi bồi ñã gây ra một số vấn ñề sau:
Tác ñộng tiêu cực ñến hệ thống bãi bồi ven biển, trong ñó có cả san hô
và các ñám rong biển;
Gia tăng sự ô nhiễm trong nước của vùng gần biển;
Xói mòn bãi cát (thông thường là kết quả của việc xây dựng những công trình gần biển hoặc trên các bãi biển)
ðể duy trì, cải thiện ñược lợi ích và cuối cùng là gia tăng lợi nhuận mà con người lấy từ tài nguyên vùng ven biển, từ năm 1984 Philippin ñã triển khai các chương trình, dự án quan trọng về quản lý vùng bờ biển như Dự án vùng trung tâm Visayas (CVRP), chương trình phát triển và bảo tồn biển (MCDP), chương trình quản lý vùng ven biển vịnh Lingayen (LGCAMP), chương trình khu vực nghề cá (FSP)
Như vậy, kinh nghiệm quản lý vùng bờ biển của một số nước trong khu vực, ñặc biệt kết quả thực tế tại một số vùng bờ ở Trung Quốc và Philippin cho thấy, ñể quản lý bền vững vùng bờ cần ñồng bộ các vấn ñề và nội dung sau:
- Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền các cấp, các cơ quan nghiên cứu khoa học và cộng ñồng dân cư ven biển;
Trang 24- Triển khai xây dựng chiến lược quản lý vùng bờ; quy hoạch phân vùng các khu chức năng vùng bờ biển;
- Xây dựng khung chính sách ñầy ñủ cho quản lý vùng bờ biển, trong
ñó phải thiết lập quy trình quản lý vùng bờ biển, trong từng giai ñoạn xác ñịnh
cụ thể các nội dung, các hoạt ñộng cụ thể và vai trò của các cấp chính quyền, các cơ quan nghiên cứu khoa hoc, cộng ñồng dân cư
2.2.2 Ở Việt Nam
Cũng như các vùng khác trên thế giới, các vấn ñề tài nguyên môi trường vùng ven bờ Việt Nam ñang ñược tập trung xem xét ở hai khía cạnh: Thứ nhất là sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên; thứ hai nạn ô nhiễm môi trường sống Hai vấn ñề này có liên quan với nhau rất chặt chẽ Sự khai thác và sử dụng bừa bãi các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên ñã làm chúng cạn kiệt và ñó cũng là nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường Các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên ở ñới ven biển ñang ñược kiểm kê là: Quỹ ñất, các bãi tắm, các ñảo, nguồn lợi dầu khí, nguồn lợi khoáng sản, nguồn lợi sinh vật, các
hệ sinh thái ñặc thù như san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn, hệ sinh thái ven biển
và các giá trị sinh thái thẩm mỹ… Tất cả các nguồn lợi ñó ñang chịu sức ép
do các hoạt ñộng phát triển kinh tế, ñặc biệt là sự khai thác quá mức quỹ ñất dọc bờ biển, sự khai thác bừa bãi, thiếu quy hoạch các bãi tắm, các hệ sinh thái san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn (Việt Nam ñã mất 80% diện tích rừng ngập mặn trong mấy chục năm gần ñây), các hệ sinh thái ñảo, cửa sông, sự ñánh bắt quá mức bằng các công cụ có tỉnh huỷ diệt ñối với nguồn lợi sinh vật biển, sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản thiếu quy hoạch, quá trình xói lở bờ biển, bồi lấp cửa sông…là những vấn ñề gay cấn ở vùng biển ven bờ
Mặc dù vậy, quản lý tổng hợp ñới bờ là khái niệm còn khá mới mẻ ñối với Việt Nam, theo Nguyễn Tác An: “Quản lý tổng hợp ñới ven bờ là một quá trình liên tục, năng ñộng, nhờ nó có thể ñưa ra các quyết ñịnh cho việc sử
Trang 25dụng, phát triển và bảo vệ bền vững các vùng nước, nguồn lợi biển và ven bờ Quản lý tổng hợp có nhiều mục ñích, nó phân tích và ñưa ra các gợi ý cho sự phát triển, giải quyết tranh chấp sử dụng, tạo ra mối tương quan giữa các quá trình tự nhiên và các hoạt ñộng của con người Nó thức ñẩy mối liên kết và làm hài hoà các hoạt ñộng ñơn lẻ tại vùng biển và vùng ven bờ Quản lý tổng hợp cần ñược triển khai ñể chống lại sự suy giảm nghiêm trọng các nguồn lợi biển và ven bờ; ngăn ngừa các khả năng ô nhiễm gây nguy hại cho sức khoẻ cộng ñồng hoặc các ngành công nghiệp dưới nước như ñánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, du lịch; tăng lợi nhuận kinh tế từ việc sử dụng, khai thác các khu vực biển và ven bờ mà trước ñây chưa ñược khai thác như dầu mỏ, khoáng sản, nuôi trồng thuỷ sản…”[2]
Với quản lý tổng hợp, những người dân sống trong khu vực ñược triển khai sẽ ñược hưởng nhiều lợi ích khác nhau, tuỳ theo ñịa bàn, khu vực cu trú; ñầu tư cho quản lý tổng hợp là ñầu tư cho cộng ñồng, cộng ñồng phải ñược hưởng lợi, chính từ ñó cộng ñồng sẽ có trách nhiệm bảo vệ nguồn lợi ñể phát triển lâu dài
Việc xác lập những nguyên tắc bảo vệ vùng ven bờ biển là rất công phu
và khó khăn, nhưng việc thực hiện ñược những nguyên tắc còn gian nan hơn Nhiều hành vi có hại cho tài nguyên và môi trường ven bờ ñã tồn tại rất lâu,
ñể thay ñổi, bên cạnh những khung pháp lý, cần có kế hoạch tuyên truyền vận ñộng lâu dài
2.3 ðất bãi bồi ven biển Kim Sơn
2.3.1 Quá trình thành tạo và phát triển
2.3.1.1 Lịch sử phát triển ñịa chất ñệ tứ
Theo tài liệu chuyên khảo của Viện ðịa lý [39], lịch sử phát triển ñịa chất khu vực bãi bồi Kim Sơn qua các thời kỳ như sau:
* Thời kỳ Pleistocen sớm (Q11):
Trang 26Bãi bồi Kim Sơn nằm trong ñới nâng tân kiến tạo của cánh tây nam ñồng bằng Bắc bộ Trong cả thời kỳ Pleistocen sớm, cánh tây nam ñồng bằng Bắc bộ cũng như vùng bãi bồi Kim Sơn chịu sự vận ñộng nâng tân kiến tạo nên trong vùng vắng mặt các thành tạo Pleistocen dưới ðịa hình ñược nâng lên và trải qua quá trình xâm thực bóc mòn mạnh mẽ
* Thời kỳ Pleistocen giữa - muộn phần sớm (Q12-3.1):
Trong giai ñoạn ñầu Pleistocen giữa, hoạt ñộng nâng tân kiến tạo trong vùng ñã giảm ñáng kể Giai ñoạn này ñược ñánh dấu bởi tập trầm tích nguồn gốc sông gồm sạn cát hạt thô, chuyển lên cát bột, bột sét của hệ tầng Hà Nội Các thành tạo aluvi ñã lấp ñầy các hố trũng và có tính phân nhịp mịn dần từ dưới lên ðây là thời kỳ biển thoái, ñường bờ nằm ở ngoài thềm lục ñịa
Vào cuối Pleistocen giữa, ñầu Pleistocen muộn (Q13) biển tiến vào ñồng bằng Bắc bộ Khu vực bãi bồi Kim Sơn trở thành nơi tranh chấp giữa sông và biển Kết quả là một tập trầm tích sông- biển với thành phần chủ yếu
là bột cát, bột sét ñược tích tụ Tập hợp bào tử phấn và vi cổ sinh chứng tỏ khí hậu trong thời kỳ này có ñặc ñiểm xen kẽ của khí hậu nhiệt ñới khô nóng và nhiệt ñới ẩm Vào cuối thời kỳ này, biển lùi ra xa, bề mặt ñồng bằng bị bóc mòn, phong hoá
* Thời kỳ Pleistocen muộn- phần muộn (Q13.2):
Vào ñầu thời kỳ cuối Pleistocen muộn do hậu quả băng tan toàn cầu, nước biển lại dâng lên Các thành tạo hỗn hợp sông- biển ñược tích tụ phủ trên bề mặt bóc mòn của các thành tạo hệ tầng Hà Nội (Q12-3a hn) Trong thời
gian Pleistocen muộn, khi biển tiến Vĩnh Phúc ñạt cực ñại thì vùng bãi bồi Kim Sơn tồn tại chế ñộ vũng vịnh, dấu ấn ñể lại là tập trầm tích biển chứa phong phú hoá ñá Foraminifera Tập trầm tích biển này có ñộ hạt khá mịn gồm bột sét, bột pha cát mịn
Trang 27Vào khoảng 30.000 ọ 20.000 năm cách ngày nay, biển lại rút khỏi vùng ựồng bằng Bắc bộ Mực biển hạ thấp xuống -100; -120m so với mực biển hiện tại Bề mặt ựồng bằng Pleistocen muộn bị phơi ra trên lục ựịa Quá trình bóc mòn và phong hoá xảy ra làm cho phần trên cùng của tầng sét bột hệ tầng Vĩnh Phúc có màu sắc loang lổ - minh chứng cho thời gian trầm tắch nổi lên trên mặt nước, bị phong hoá hoá học mạnh mẽ
* Thời kỳ Holocen sớm - giữa (Q21-2):
Vào cuối Pleistocen muộn (cách ngày nay 13.000 năm), ựợt biển tiến Flandrian bắt ựầu tiến vào ựồng bằng Bắc Bộ Vào khoảng 8.000 ọ 7.000 năm cách ngày nay, ựường bờ biển ựã tiến ựến vị trắ ựường bờ hiện tại Vùng ven biển hình thành lớp bùn sét chứa than bùn cơ sở (basal peat) Biển tiếp tục tiến vào ựồng bằng làm ngập chìm toàn bộ ựồng bằng Bắc Bộ Vào khoảng 7.000 ọ 6.000 năm cách ngày nay ựường bờ biển tiến về phắa Hà Nội tới vùng đan Phượng- Hà Tây, Phả Lại
Trong giai ựoạn này, tốc ựộ lún chìm của ựồng bằng Bắc Bộ và tốc ựộ dâng của mực nước biển vượt xa tốc ựộ lắng ựọng trầm tắch, hình thành nên lớp trầm tắch vũng vịnh- estuary với sự có mặt của sét bột, bột sét màu xám xanh thuộc hệ tầng Hải Hưng phổ biến khá rộng rãi
Vào cuối Holocen sớm- ựầu Holocen giữa (từ 6.000 năm cách ngày nay), tốc ựộ lắng ựọng trầm tắch bắt ựầu cân bằng và vượt tốc ựộ lún chìm và tốc ựộ dâng mực nước biển Vào thời ựiểm này, mực biển ựạt mức cao nhất +5 ọ +6m trên 0 hải ựồ (0 Hđ) Sau ựó nước biển bắt ựầu rút xuống theo hình sin với nguyên lý con lắc ựơn tắt dần Các vật liệu ựược tắch tụ ở các vùng cửa sông hình thành nên tập trầm tắch châu thổ có xu hướng vươn dài ra phắa biển đường bờ biển lùi dần ra phắa biển đông Bề mặt ựồng bằng Bắc bộ dần dần nổi cao lên mặt nước biển đương nhiên vùng bãi bồi Kim Sơn trong cuối giai ựoạn này vẫn còn nằm hoàn toàn trong chế ựộ biển
Trang 28* Thời kỳ Holocen muộn (Q23):
Vào ựầu Holocen muộn khoảng 3.000 năm cách ngày nay (Bp) ựường
bờ biển ựã lùi dần ựến quá Thành phố Ninh Bình ngày nay và ngày càng tiến ra phắa biển Trong thời gian từ 3.000 năm Bp ựến khoảng 1.500 năm Bp ở bãi bồi Kim Sơn vẫn tồn tại chế ựộ vũng vịnh Cách ựây vào khoảng 1.000 năm (thế kỷ IX- thế kỷ X) ựường bờ ựã bị ựẩy lùi ra ựến vùng Phát Diệm, Kim Sơn Với tốc ựộ tiến ra biển gần 100m/năm, vùng bãi bồi Kim Sơn ựược hình thành khá nhanh chóng
Nguồn vật liệu ựược sông đáy ựưa ra và từ cửa Ba Lạt ựưa xuống ựã làm cho tốc ựộ tiến ra phắa biển của vùng bãi bồi Kim Sơn ngày càng nhanh Quá trình tương tác sông biển bị thay ựổi ựáng kể khi các công trình xây dựng lớn (hồ chứa nước, ựập thuỷ ựiện ) ựược xây dựng trên vùng thượng lưu các con sông làm thay ựổi chế ựộ thuỷ văn và dòng bùn cát ở phắa hạ lưu Các hoạt ựộng chuyển ựộng tân kiến tạo và chuyển ựộng hiện ựại cùng với dao ựộng mực nước biển cũng góp phần làm thay ựổi bức tranh bồi tụ, xói lở trên toàn dải ựường bờ châu thổ Sông Hồng
2.3.1.2 Sự hình thành và phát triển cồn cát cửa sông ven biển vùng cửa sông
đáy, sông Càn
Quá trình hình thành và phát triển bãi bồi Kim Sơn gắn liền với quá trình thành tạo và phát triển các cồn cát, bar (cồn cát ngầm) chắn cửa sông đáy tương tự quy luật thành tạo và phát triển các bar cát cửa sông của một số cửa sông lớn có bãi triều rộng trên thế giới Quá trình hình thành và phát triển bãi bồi Kim Sơn gắn liền với quá trình dịch chuyển chung của châu thổ sông Hồng Trong quá trình dịch chuyển của các thuỳ châu thổ sông Hồng thì thuỳ Kim Sơn có tốc ựộ dịch chuyển tương ựối lớn, với tốc ựộ lấn ra biển trung bình xấp xỉ 100m/năm
Bãi bồi Kim Sơn ựược phát triển trong ựiều kiện cửa sông có ựáy nông,
Trang 29lực ma sát ñáy lớn, xếp vào loại cửa sông có lực cản mạnh (inertia river mouth) Chính do sức cản mạnh (ñáy nông) mà hình thành các bar cát chắn cửa hình tam giác Các bar chắn cửa này ñã tạo ñiều kiện cho quá trình lắng ñọng các vật liệu mịn sau bar Dần dần, vùng sau bar ñược lấp ñầy bởi vật liệu tương ñối mịn (sét bột, bột sét pha cát mịn) Một khi ñáy cửa sông bị lấp ñầy thì dòng sông sẽ chuyển hướng tìm cửa mới bằng cách xẻ thẳng bar cát cửa sông trong mùa lũ lớn hay phân nhánh chảy theo hai hướng khác nhau tạo cửa sông mới Tại mỗi vùng cửa sông mới lại hình thành các bar cát chắn mới và lịch sử lại tiếp diễn Cứ như vậy, vùng bãi bồi cứ liên tục tiến ra phía biển với cơ chế dịch chuyển từng bước một
Trong vùng nghiên cứu, lượng bùn cát vận chuyển theo con triều có kích thước hạt lớn hơn so với bùn cát mà chính dòng sông ñưa ra Chuyển ñộng hai hướng tại vùng cửa sông có triều có tốc ñộ dòng lớn cả ở trên mặt và
cả ở dưới ñáy Theo số liệu tính toán của một số các nhà nghiên cứu, hàng năm sông Hồng vận chuyển ra phía biển khoảng 114,363 triệu tấn bùn cát [13] Số bùn cát này ñược phân bố như sau:
+ 9,657 triệu tấn ñược vận chuyển ra khỏi vùng cửa sông ven biển + 71,736 triệu tấn/năm lắng ñọng trong quá trình thành tạo và phát triển bãi cửa sông
+ 40,633 triệu tấn/năm lắng ñọng ở các nhánh cửa sông
Từ các số liệu trên cho thấy, lượng bùn cát tham gia vào quá trình thành tạo và phát triển cồn, bãi ở vùng cửa sông ven biển chỉ chiếm khoảng 63% tổng lượng bùn cát vận chuyển bởi nước sông ðồng thời các tài liệu nghiên cứu ven biển cũng chỉ ra rằng, không phải tất cả lượng bùn cát sông ñều ñược ñưa ra lắng ñọng lại ở vùng ven biển mà có ñến 9% lượng bùn cát này ñược ñưa ñi rất xa ñến tận vùng miền Trung cách xa cửa sông Hồng chừng 300km Qua số liệu nghiên cứu của Nguyễn Văn Cư và cộng sự [13]
Trang 30thấy rằng, hàng năm có ắt nhất 25 ọ 30 triệu tấn phù sa ựược mang ựến vùng cửa đáy qua sông Ninh Cơ và sông đáy, chưa kể vật liệu ựược các dòng hải lưu, dòng triều mang ựến từ vùng Hải Hậu, Giao Thuỷ (Nam định)
Theo các số liệu quan trắc, tốc ựộ dòng chảy ở những cửa sông này có khi ựạt ựến 1,8m/s Với tốc ựộ như vậy, dòng chảy làm cho vùng ngưỡng dưới của cửa sông có lòng sông ựược mở rộng và ựộ sâu ựáy luôn giữ ở thế ổn ựịnh, mặc dù lượng phù sa bồi trong mùa mưa khá lớn Mùa khô, ngoài dòng chảy sông, dòng do gió mùa đông Bắc kết hợp với dòng triều ựã tạo nên dòng tổng hợp có tốc ựộ khoảng 1,2 ọ 1,5m/s Dòng chảy với tốc ựộ lớn như vậy ựã làm cho lòng sông bị xói sâu, thành dốc trơ lớp sét dưới ựáy
Nhìn chung, tốc ựộ dòng sông bị giảm dần từ ngưỡng dưới cửa sông ra biển Vào khoảng 5 ọ 8km tắnh từ cửa sông ra phắa biển, tốc ựộ dòng sông rất nhỏ, có thể xem như hoàn toàn bị triệt tiêu Trong ựiều kiện như vậy, do tốc
ựộ bị giảm nhanh, trầm tắch lắng ựọng dần bùn cát và tạo nên các cồn cát ngầm chắn trước cưả sông và các bãi bồi hai bên cửa sông
Bãi bồi Kim Sơn có ựặc ựiểm là ở phắa tây nam có sông Càn ựổ ra biển cũng mang theo một lượng trầm tắch và bồi tụ ở cửa sông, cho nên bãi bồi Kim Sơn có tốc ựộ nâng cao trình và lấn ra biển nhanh, do vậy bãi bồi Kim Sơn thường không bị chia cắt Ở cửa đáy bar chắn cửa sông có dạng hình tam giác, phân bố ở cách bờ khoảng 5 ọ 8km Cùng với sự hình thành bar chắn và bãi bồi hai bên cửa sông là sự hình thành các lạch triều có hướng song song hoặc hơi xiên góc so với ựường bờ biển đây là giai ựoạn ựầu tiên của chu trình phát triển kéo dài cửa sông
Giai ựoạn tiếp theo là bar chắn cửa sông ựược phát triển mở rộng và nhô cao dần lên khỏi mặt nước Dòng chảy sông bị chặn, cho nên buộc phải phân nhánh về 2 phắa cửa sông Tuỳ theo thời gian và ựiều kiện ngoại sinh mà một trong các nhánh trở thành nhánh chắnh đây là giai ựoạn cửa sông phân
Trang 31nhánh Các nhánh này phát triển kéo dài ra cùng với sự lớn dần của các bãi bên và bãi chắn đồng thời sức cản ựộng năng của các lạch cũng ngày một tăng dần lên làm giảm khả năng thoát lũ (trong mùa mưa) và xâm nhập mặn (trong mùa kiệt) ở vùng cửa sông
Bão là hiện tượng cực ựoan của khắ hậu ở vùng ven biển có cửa sông ở vùng Bắc Bộ Việt Nam Những trận lũ kết hợp với bão và triều cường có sức công phá lớn ựã chọc thủng bãi chắn phắa trước cửa sông và dòng chảy sông băng thẳng ra biển Bar chắn ựược bồi cao thêm ở phắa ựuôi bãi Cơ chế ựó làm cho các bãi bồi hai bên cửa sông ựược bồi cao và mở rộng thêm, các lạch ngang thu hẹp và nông dần, tạo thành một vùng ựất và ựường bờ biển mới
Kết quả ựo ựạc nhiều năm, từ 1939 cho ựến nay cho thấy, chu kỳ phát triển bar và kéo dài cửa sông vùng sông Hồng và sông đáy là khoảng 35 ọ 40 năm Các thời kỳ thành tạo và phát triển bãi chắn cửa sông trùng với thời kỳ nhiều nước và ắt nước của sông Hồng
Bản chất của quá trình thành tạo và phát triển bãi bồi Kim Sơn cũng phản ánh những nét ựặc trưng nhất của các bãi bồi của ựồng bằng châu thổ Sông Hồng Trước hết ựó là sự phát triển của ựất liền ra phắa biển dưới sự tương tác ựan xen của ựộng lực dòng chảy sông và ựộng lực biển ven bờ Do bãi bồi ựược bồi ựắp cùng một lúc bởi lượng phù sa lớn do hai sông: sông đáy và sông Càn nằm không cách xa nhau (trên 10km) ựều có hướng á kinh tuyến Mặt khác, quá trình hình thành bãi bồi xảy ra trên bình ựồ kiến trúc hạ lún (0,05 ọ 0,06mm/năm) với tốc ựộ bồi tụ thẳng ựứng từ 1 ọ 7cm/năm (thậm chắ ựến 12cm/năm) [29] Những ựặc ựiểm nêu trên là ựiều kiện thuận lợi cho bãi bồi Kim Sơn có tốc ựộ lấn biển thuộc loại lớn nhất ở ven biển châu thổ sông Hồng
Một số nhà nghiên cứu cho rằng tốc ựộ lấn ra biển của các ựường bờ là tốc ựộ ựặc trưng mà không phải là giá trị trung bình cộng của tốc ựộ lớn nhất
và nhỏ nhất Giá trị ựặc trưng của các bãi bồi cửa sông thuộc châu thổ sông
Trang 32Hồng trong ựó có sông đáy là khoảng 25m/năm Tuy nhiên, một số tài liệu khác lại cho rằng tốc ựộ lấn biển trung bình mỗi năm của sông Hồng và sông đáy lấn ra biển là 50 ọ 100m, thậm chắ 80 ọ 120m [13]
2.3.1.3 Tác ựộng của con người ựến xu hướng phát triển bãi bồi
Một tác nhân khác giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bãi bồi Kim Sơn là hoạt ựộng ựắp ựê lấn biển của con người Quá trình quai ựê lấn biển bãi bồi và vùng phụ cận Kim Sơn bắt ựầu từ thế kỷ XV, khi ựê Hồng đức bắt ựầu ựược tiến hành xây dựng (1471) Công việc chinh phục bãi bồi
mở mang bờ cõi của nhân dân huyện Kim Sơn và vùng phụ cận thể hiện qua 9 lần quai ựê lấn biển, từ ựê Hồng đức (1471) ựến ựê BM3 (2001)
1- đê Hồng đức là lần quai ựê ựầu tiên vào năm 1471, chạy từ bắc Yên
Mô ựến Phụng Công Vào thời kỳ này, trục ựê gần như là ựường thẳng chạy theo hướng ựông bắc - tây nam Sau hơn 500 năm con ựê này ựã nằm sâu trong ựất liền khoảng 25km
2- đê đường Quan ựược xây dựng vào năm 1828, hướng trục ựê ngả hơn về ựông song vẫn theo hướng chủ ựạo ựông bắc - tây nam Hệ thống ựê bắt ựầu từ Thần Phù - điền Hộ Khoảng cách giữa ựê Hồng đức và đường Quan là 8km, ựánh dấu thời gian 357 năm tiến ra biển của ựường bờ
3- đê đường 10 xây dựng vào năm 1899, gần như song song với hệ thống ựê đường Quan
4- đê Hoành Trực ựược xây dựng năm 1927 Do hoạt ựộng uốn khúc
và kéo dài của sông đáy và sông Càn, chiều ngang bãi bồi bị thu hẹp ựáng kể Hướng trục ựê ựã thay ựổi chuyển về ựông - ựông bắc và tây - tây nam, dài khoảng 5km
5- đê Tùng Thiện ựược khởi công năm 1933, không theo trục thẳng mà
có uốn theo hướng chủ ựạo gần như ựông - tây, dài khoảng 7km
Trang 33Hình 2.1 Sơ ựồ hiện trạng ựê biển
6- đê Cồn Thoi xây dựng vào năm 1945 nhằm bao quanh khu vực bãi bồi phát triển ở cửa sông đáy có ựỉnh cung lồi hướng về phắa tây nam, dài khoảng 4km
7- đê BM1 tiến hành ựắp từ năm 1959 Hệ thống ựê này có hướng tây bắc- ựông nam phù hợp với ựường bờ biển lúc bấy giờ đê BM1 dài khoảng 8km
8- đê BM2 ựược xây dựng sau ựê BM1 là 21 năm và hoàn thành vào năm 1982 Chiều dài ựê BM2 khoảng 14km
Trang 349- đê BM3 ựược khởi công từ năm 1999 và hiện ựang ựược tiếp tục xây dựng (ựang tiến hành hàn khẩu khoảng 4,7km) đê có chiều dài theo thiết
kế là 15,7 km
Qua sơ ựồ Hình 2.1 thấy rằng lần quai ựê lấn biển thứ hai cách lần thứ 1
là 357 năm, giữa lần 3 và lần 2 là 71 năm, giữa lần 4 và lần 3 là 28 năm còn những lần quai ựê lấn biển sau chỉ cách nhau 15 ọ 20 năm Một nguyên nhân khác nữa là tốc ựộ dịch chuyển vùng Kim Sơn gắn liền với nguồn cung cấp vật liệu, nhất là gắn liền với sự dịch chuyển của lòng sông đáy và sông Càn
Có thể nhận xét rằng, lịch sử huyện Kim Sơn là lịch sử của một quá trình quai ựê lấn biển và cải tạo ựất bồi Trong 181 năm tắnh từ khi huyện Kim Sơn ựược thành lập, mảnh ựất bãi bồi ựã chứng kiến 7 lần quai ựê lấn biển Nhờ ựó,
mà diện tắch huyện ngày nay ựã gấp 4 lần so với khi huyện mới thành lập
Hình 2.2 Hàn khẩu ựê Bình Minh 3
Xét từ góc ựộ khoa học, công cuộc quai ựê lấn biển là một sự can thiệp cần thiết và hợp lý của con người nhằm chấm dứt quá trình bồi tụ tự nhiên do
Trang 35sông biển khi nó ñạt ñến các giới hạn nhất ñịnh (ñộ cao, ñặc ñiểm cơ lý, trầm tích tầng mặt, bề rộng của bãi bồi ñến mực nước biển bình thường v.v ) Quai
ñê lấn biển hợp lý một mặt thúc ñẩy quá trình phát triển của ñất liền ra phía biển, mặt khác mở rộng diện tích ñất canh tác và ñất dân cư Quai ñê lấn biển không phù hợp các ñiều kiện tự nhiên có thể gây ra một số trường hợp tiêu cực: hình thành các ñịa hình trũng thấp trong ñê quai, ñộ ổn ñịnh của ñê không ñảm bảo khả năng ñề kháng ñối với các tai biến do dòng biển và bão lũ gây ra
Nhìn nhận lại quá trình quai ñê lấn biển ở bãi bồi Kim Sơn là những can thiệp tích cực của con người phục vụ ñược cả lợi ích dân sinh và sự phát triển ổn ñịnh của bãi bồi
Bên cạnh mặt tích cực như quai ñê lấn biển, một số hoạt ñộng khác của con người ñã và ñang làm phát sinh những hiện tượng bất lợi ñối với quá trình phát triển tự nhiên của bãi bồi, trong ñó ảnh hưởng lớn nhất là sự huỷ hoại rừng ngập mặn Với các lý do cả chủ quan lẫn khách quan, hoạt ñộng của con người trong khai thác rừng ngập mặn, ñào ñắp ñầm ao nuôi thuỷ sản, ñánh bắt hải sản v.v ñã làm chất lượng và diện tích rừng ngập mặn bãi bồi bị giảm ñi rõ rệt trong vài năm trở lại ñây ðây chính là những nguyên nhân góp phần tạo nên sự thiếu hụt phù sa bồi ñắp lên bề mặt bãi bồi, tạo nên các khu vực ñất trũng ở Tây Nam bãi bồi ngoài ñê BM3, quá trình bào mòn bãi do thuỷ triều hoặc các sự cố xói lở cục bộ ở vùng cửa sông ven biển rìa Tây Nam khu vực sát cửa Càn ðồng thời chính những hoạt ñộng này của con người còn gây những tác ñộng làm suy giảm nặng nề chất lượng môi trường bãi bồi
2.3.2 Xu thế biến ñộng bãi bồi
2.3.2.1 Tốc ñộ dịch chuyển ñường bờ
Tốc ñộ dịch chuyển ñường bờ biển vùng bãi bồi Kim Sơn ñược tính dựa trên quá trình ñắp ñê lấn biển với giả thiết rằng các ñê ñược ñắp trên cùng một mức ñộ cao của bãi bồi
Trang 36Các hệ thống ñê trước 1933 ñều nằm ngoài khu vực nghiên cứu, do vậy
ở ñây chúng tôi chỉ tính tốc ñộ dịch chuyển ñường bờ của vùng nghiên cứu là phạm vi bãi bồi Kim Sơn từ năm 1933 tới năm 2001
Theo sơ ñồ Hình 2.1 và Bảng 2.1, tốc ñộ dịch chuyển ñường bờ từ 156 m/năm trong thời gian từ 1933 ñến 1960 giảm xuống còn 147m/năm vào những năm 60 - 80 và giảm xuống 118m/năm vào cuối thế kỷ XX Theo những tính toán của một số nhà nghiên cứu thì tốc ñộ trung bình lấn biển vùng bãi bồi Kim Sơn vào khoảng xấp xỉ 100m/năm [11] ðường bờ hiện nay
có xu thế dịch chuyển về phía nam - tây nam
Bảng 2.1 Tốc ñộ lấn biển vùng bãi bồi Kim Sơn
Thời gian Số năm Chiều dài lấn biển
và nhiều người khác ñều cho kết quả là tốc ñộ lấn ra biển vùng bãi bồi Kim Sơn trong những năm 70 - 80 là xấp xỉ 100m/năm Thực tế cho thấy tốc ñộ lấn biển trung bình của khu vực bãi bồi Kim Sơn hàng năm không thấp hơn
70 ÷ 80m/năm
Trang 373,52
73 16,4 28
1471- 1899
1826- 1927
1899- 1945
1927- 1959
1945- 1980
1959- 1995
1980-Số năm
Tốc ñộ tiến ra biển trung bình (m/năm)
Hình 2.3 Biểu ñồ tốc ñộ tiến ra biển trung bình theo thời gian
Trên toàn bãi bồi tốc ñộ tiến ra biển không ñồng ñều Tốc ñộ lớn nhất quan sát thấy tại vùng giữa ñoạn ñường BM7 và BM8 (ñỉnh của bãi) Tại khu vực này tốc ñộ tiến ra biển trung bình là 110 ÷ 120m/năm, còn các ñoạn khác tiến ra biển với tốc ñộ trung bình 35 ÷ 50 m/năm [21]
Tuy nhiên, tốc ñộ lấn biển của bãi bồi Kim Sơn sau khi hồ Hoà Bình ñi vào hoạt ñộng từ năm 1988 ñến nay chắc chắn giảm ñi do phần lớn vật liệu bùn cát bị giữ lại tại hồ chứa Một trong những nguyên nhân làm giảm tốc ñộ dịch chuyển ñường bờ là vì bãi bồi ñược mở rộng về chiều ngang do hai cửa sông dịch chuyển sang hai bên Trong tương lai gần, tốc ñộ dịch chuyển của ñường bờ sẽ còn tiếp tục giảm vì lượng bùn cát bị giữ lại tại hồ Hoà Bình và
hồ thuỷ ñiện Sơn La sẽ khá lớn (bảng 2.2, bảng 2.3)
Trang 38Bảng 2.2 độ ựục bùn cát lơ lửng nước sông Hồng
Bảng 2.3 Tổng lượng bùn cát lơ lửng trên sông Hồng, sông đà
đơn vị tắnh: Triệu tấn/năm
Trạm Sông Thời kỳ 1958 - 1985 Thời kì 1986 - 1997
Số liệu thống kê trên cho thấy trong tương lai khi ựập thuỷ ựiện Sơn La hoàn thành thì tổng lượng bùn cát ựưa xuống hạ lưu sẽ còn giảm mạnh nữa điều này sẽ làm cho tiến trình tiến ra biển trong tương lai gần của dải ven biển châu thổ sông Hồng nói chung và vùng bãi bồi Kim Sơn nói riêng sẽ giảm mạnh, không còn là 70 ọ 80m/năm như hiện nay mà sẽ chỉ còn 40 ọ 50m/năm, thậm chắ có khả năng một số ựoạn sẽ bị xói lở do thiếu hụt trầm tắch
Trang 392.3.2.2 Tốc ựộ bồi tụ theo diện tắch
Tốc ựộ bồi tụ theo diện tắch ựược ựánh giá gián tiếp qua diện tắch bồi
tụ hàng năm
Theo các số liệu thống kê và tắnh toán [21], [30] thì bãi bồi Kim Sơn từ năm 1945 ựến năm 1960 tăng lên 1.100 ha, trung bình 68,75 ha/năm Từ năm
1961 ựến 1980 diện tắch tăng thêm 1.932 ha, trung bình 96,6 ha/năm Từ năm
1981 - 2001 diện tắch tăng thêm 1.890 ha, trung bình 90 ha/năm Từ năm
2002 - 2010 tăng thêm 580 ha, trung bình 72,5 ha/năm (bảng 2.4)
Bảng 2.4 Tốc ựộ bồi tụ theo diện tắch bãi bồi Kim Sơn
Thời gian Số năm Tổng diện tắch tăng
1980 tốc ựộ bồi tụ theo diện tắch giảm xuống do lượng bùn cát ựược giữ lại ở
hồ Hoà Bình khá lớn (gần 50%) nên tốc ựộ bồi tụ vùng bãi bồi Kim Sơn giảm theo cả về diện tắch lẫn tốc ựộ bồi tụ
Kết quả phân tắch ảnh vệ tinh qua các thời kỳ 1992, 1995 và 2001 [21] cho thấy xu thế phát triển của bãi bồi Kim Sơn như sau: dòng sông đáy sẽ phân nhánh mạnh ở vùng cửa sông Trước cửa sông đáy hiện ựã hình thành một bar cát chắn cửa Bar này hiện ựang nổi dần trên mặt nước Trong tương
Trang 40lai gần bar chắn cửa này sẽ phân ựôi dòng chảy sông đáy, phần sau bar sẽ bị bồi lấp Tại mỗi cửa mới sẽ lại hình thành các bar cát chắn mới, cứ tiếp tục như vậy, dưới tác ựộng của dòng triều và dòng ven bờ theo hướng bắc - nam thì bãi bồi Kim Sơn sẽ tiến ra biển theo hướng nam tây nam
Có ý kiến cho rằng, ựến nay những vùng ựất ven biển thuận lợi cho việc lấn biển ựều ựã ựược quai ựê cả, phần còn lại chưa ựủ cơ sở tự nhiên ựảm bảo cho việc lấn biển, nhất là cơ sở về bồi tắch (Nguyễn đức Khá, 1998) Thực tế cho thấy, hàng năm bãi bồi vẫn lấn ra biển và quá trình quai ựê lấn biển sau những chu kỳ hợp lý vẫn ựược tiến hành với hiệu quả kinh tế - xã hội ựáng kể
2.3.2.3 Tốc ựộ bồi tụ theo chiều thẳng ựứng
Nguyễn Kiêm Sơn và cộng sự [29] ựã ựánh giá tốc ựộ bồi tụ, bào mòn thẳng ựứng của bãi bồi Kim Sơn qua hải ựồ 1939, lục ựồ 1941 của Pháp, số liệu của đoàn 500 - Bộ Quốc phòng và số liệu ựo ựạc của chắnh các tác giả Kết quả tắnh toán cho thấy tốc ựộ bồi tụ thẳng ựứng không ựồng nhất trên toàn vùng: Tốc ựộ bồi tụ lớn nhất là 12 ọ 21cm/năm (1982 - 1989) ở vùng rìa ựông của bãi (phắa ngoài ựường BM7 - BM8, Kim đông) nhưng chỉ ựạt 1 ọ 3cm tại phắa trên lạch Cô Bảy Ở phắa tây của bãi bồi tốc ựộ bồi tụ thấp hơn ở phắa ựông, chỉ ựạt 1 ọ 2cm/năm ở phắa bắc cống CT1, tăng lên 5 ọ 7cm/năm tại lạch Tàu Bay (Kim Hải) Các khu vực khác có tốc ựộ chỉ ựạt 0,5 ọ 1cm/năm ở phần bãi thấp dưới MBTB (1939 - 1941) Cũng theo các tác giả trên thì tốc ựộ bồi tụ không ựồng ựều theo ựộ sâu mực nước Tại mặt cắt vuông góc với chân ựê BM2 tại cuối ựường BM7 cho thấy tốc ựộ bồi tụ thẳng ựứng ựạt 1,5 ọ 4cm/năm khi bãi ở mức dưới 0m hải ựồ, giảm xuống 1cm/năm ở phần thấp bãi triều thấp, tăng lên 3 ọ 4cm/năm khi ựạt mức trên dưới MBTB và 5 ọ 20cm/năm
từ mực MBTB ựến mực triều cao xắch vĩ và giảm xuống còn 1 ọ 3cm/năm khi nổi quá mực triều cao xắch vĩ
Kết quả giải ựoán ảnh vệ tinh 1992 - 2001 [21] về biến ựộng ựường bờ