luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ TUYẾT
NGHIÊN CỨU CHUYỂN CƠ SỞ SẢN XUẤT NGÀNH NGHỀ
TỪ KHU DÂN CƯ ðẾN NƠI SẢN XUẤT TẬP TRUNG
Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số : 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG VĂN HIỂU
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñã ñược chỉ
rõ nguồn gốc./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 3ðặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc ñến TS Dương Văn Hiểu ñã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND thị xã Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, ñồng nghiệp và người thân
ñã ñộng viên, giúp ñỡ, tạo ñiều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện ñề tài nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 42 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN CƠ SỞ SẢN
XUẤT NGÀNH NGHỀ TỪ KHU DÂN CƯ ðẾN KHU SXTT 5
2.1 Cơ sở lý luận chuyển ngành nghề sản xuất phân tán trong khu
2.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển sản xuất ngành nghề phân tán trong
3 ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
4.1 Thực trạng chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong dân
cư ra sản xuất tập trung ở thị xã Từ Sơn 67
Trang 54.1.1 Tình hình cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong khu dân cư
4.1.2 Thực trạng chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong khu
4.1.3 Hiệu quả của chuyển ngành nghề sản xuất ra khu tập trung 88 4.1.4 Thực trạng các giải pháp kích thích chuyển ngành nghề phân tán
4.2 Giải pháp ñẩy mạnh chuyển ngành nghề sản xuất phân tán trong
4.2.1 Tăng cường quản lý nhà nước ñối với cụm công nghiệp 120 4.2.2 Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch ñất cho khu, cụm công nghiệp 122
Trang 6CN - XD Công nghiệp – Xây dựng
CNH-HðH Công nghiệp hoá – Hiện ñại hoá
CNSX Công nghiệp sản xuất
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Tình hình quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề ở Hà Nội, Hà
3.1 đặc ựiểm ựất ựai thị xã Từ Sơn (2001-2009) 51 3.2 Tình hình dân số - lao ựộng thị xã Từ Sơn (2001-2009) 53 3.3 Kết quả phát triển kinh tế thị xã Từ Sơn (2001-2009) 57
4.2 Quy mô diện tắch bình quân một cơ sở sản xuất trong dân cư 71 4.3 Ý kiến ựánh giá về những khó khăn, bất cập trong việc phát triển
4.4 Thực trạng về môi trường trong các làng nghề trong dân cư 78 4.5 Ý kiến ựánh giá của y bác sĩ trạm xá về tình hình một số bệnh liên
quan ựến ô nhiễm môi trường tại các làng nghề 80 4.6 Kết quả di chuyển các cơ sở sản xuất từ trong khu dân cư ra khu
4.7 Mức ựộ di chuyển của các cơ sở ựã di chuyển 87 4.8 Sự thay ựổi quy mô diện tắch sản xuất, kinh doanh của các
4.9 đánh giá về kết quả, hiệu quả sản xuất trước và sau khi chuyển
4.10 Gia tăng việc làm và thu nhập cho người lao ựộng sau khi chuyển
4.11 So sánh kết quả quan trắc các chỉ số môi trường trong khu dân cư
Trang 84.12 Mức ựầu tư cho máy móc, trang thiết bị công cụ và nhà xưởng,
4.18 Các ý kiến ựánh giá về yếu tố ảnh hưởng ựến quyết ựịnh chuyển 114 4.19 Lý do các cơ sở sản xuất không di chuyển toàn bộ ra khu SXTT 117 4.20 Các hoạt ựộng quản lý cần thiết và vai trò của các cấp chắnh quyền
4.21 Nhu cầu diện tắch mặt bằng tại khu SXTT ở Châu Khê và đông Kỵ 123 4.22 Nhu cầu vay vốn bình quân của một cơ sở sản xuất 126 4.23 Nhu cầu cơ sở hạ tầng tối thiểu tại các khu SXTT ựến năm 2015 127
Trang 91 đẶT VẤN đỀ
1.1 Tắnh cấp thiết của ựề tài
Từ khi Chắnh phủ ban hành Quyết ựịnh 132/2000/Qđ-TTg về ỘMột số chắnh sách phát triển ngành nghề nông thônỢ ngành nghề ở nông thôn tại các ựịa phương ựã có nhiều bước phát triển rõ rệt [17] Sự phát triển của các ngành nghề ựã góp phần thúc ựẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng và giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao ựộng Sản xuất ngành nghề ựã tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, tăng thêm kim ngạch xuất khẩu liên tục trong các năm Nhiều cơ sở và các hộ dân sản xuất ngành nghề ựã bước ựầu khẳng ựịnh ựược uy tắn chất lượng và thương hiệu hàng hóa của mình ựối với khách hàng trong nước và thế giới [12]
Khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công, các làng nghề truyền thống trong khu vực nông thôn, góp phần tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao ựộng dôi dư do ruộng ựất ngày càng ắt, ựồng thời cải thiện thu nhập và từng bước nâng cao ựời sống của nhân dân
Từ Sơn luôn là thị xã có tốc ựộ tăng trưởng kinh tế cao, giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Việc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở Từ Sơn ựã góp phần vào việc tạo ra công
ăn việc làm cho lực lượng lao ựộng Giải quyết việc làm cho lực lượng lao ựộng dôi dư do diện tắch sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, gia tăng thu nhập cho người lao ựộng trong và ngoài thị xã và bộ mặt của thị xã ựã ựược ựổi thay từng ngày [2] Bên cạnh những lợi thế do sản xuất ngành nghề mang lại, chúng ta không thể phủ nhận những tồn tại và hậu quả do làng nghề gây ra đó là sản xuất quy mô còn nhỏ lẻ, phân tán rải rác, thiếu cơ sở trưng
Trang 10bày, giới thiệu sản phẩm nên chưa tạo nên sức cạnh tranh trên thị trường do
ñó còn nhiều hạn chế trong việc tiêu thụ sản phẩm Thêm vào ñó là ngày càng
có nhiều cơ sở sản xuất dẫn ñến tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề càng nghiêm trọng Thực tế trong một số năm gần ñây, diễn biến môi trường nước, không khí và ñất tại các làng nghề xấu ñi rõ rệt, sự ña dạng hoá sinh học bị xâm phạm ñã ở mức báo ñộng Tình trạng này ñã ảnh hưởng rất lớn ñến sức khoẻ của người dân và ảnh hưởng ñến sự phát triển bền vững của các làng nghề
Trong những năm gần ñây, ñược sự quan tâm của Nhà nước và các cấp chính quyền, sản xuất của một số làng nghề Trên ñịa bàn thị xã Từ Sơn từ năm 2000 ñã ñược quy hoạch chuyển sản xuất phân tán trong khu dân cư ra khu sản xuất tập trung ðây là một trong những ñịa phương ñi ñầu trong việc chuyển sản xuất ngành nghề ra khu sản xuất tập trung dưới dạng cụm công nghiệp làng nghề trong cả nước ðến nay thị xã có 4200 doanh nghiệp và hộ
cá thể ñăng ký thuê ñất trong các khu, cụm công nghiệp và ñã có 832 cơ sở ñi vào hoạt ñộng sản xuất kinh doanh, trong tổng số 545 doanh nghiệp và hợp tác xã cùng 4.640 hộ ñăng ký sản xuất CN-TTCN trên ñịa bàn Từ thực tế trên cho thấy một thực trạng là:
- Số cơ sở ñược thuê ñất trong khu sản xuất tập trung (SXTT) chiếm rất
ít so với tổng số cơ sở hoạt ñộng trên ñịa bàn (10,24%), như vậy còn một lượng rất lớn các cơ sở không ñược thuê ñất, trong số này có nhất nhiều cơ sở mong muốn ñược vào các khu SXTT Thực tế là việc ñăng ký vào các khu SXTT không thể thực hiện ñược do quá tải
- Tuy nhiên, từ kết quả trên chúng ta thấy, chỉ có 60,64% cơ sở ñăng ký
ñi vào hoạt ñộng tại các khu SXTT, còn 39,36% cơ sở ñăng ký nhưng chưa chuyển vào
- Từ hai thực trạng trên có thể thấy một vấn ñề bất cập là một số cơ sở
Trang 11ñăng ký, ñược cấp ñất nhưng không vào sản xuất trong khi rất nhiều cơ sở có nhu cầu nhưng không còn ñược ñăng ký
- Mặt khác, có một bộ phận các cơ sở ñã ñăng ký, ñược cấp ñất trong khu sản xuất tập trung nhưng lại sử dụng diện tích ñất ñược cấp sai mục ñích
Vậy nguyên nhân bất cập trên là gì? Và cần những giải pháp gì ñể thúc ñẩy các cơ sở ñã ñăng ký như ñã nói ở trên vào khu SXTT?
Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi quyết ñịnh lựa chọn ñề tài: “Nghiên cứu chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề từ khu dân cư ñến nơi sản xuất tập trung ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng quá trình chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong dân cư ra sản xuất tập trung trên ñịa bàn thị xã Từ Sơn trong thời gian qua, ñề xuất một số giải pháp nhằm thúc ñẩy quá trình ñó
1.3 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 ðối tượng nghiên cứu
Các cơ sở sản xuất ở làng nghề mộc mỹ nghệ ðồng Kỵ và làng nghề
Trang 12sắt thép Châu Khê tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tìm hiểu tình hình chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong khu dân cư ra khu sản xuất tập trung của các hộ, doanh nghiệp, HTX làm ngành nghề trong một số làng nghề ở thị xã Từ Sơn Các yếu tố cản trở ñến chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong dân cư ra sản xuất tập trung
- Phạm vi không gian: ðề tài tập trung nghiên cứu 2 làng nghề: Làng nghề mộc mỹ nghệ ðồng Kỵ và làng nghề sắt thép Châu Khê trên ở thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh
- Về thời gian: ðề tài ñược thu thập số liệu từ năm 2000 ñến tháng 9 năm 2010
1.3.3 Giới hạn của ñề tài
Do thời gian triển khai ñề tài bị giới hạn nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu ngành nghề sản xuất sắt thép ở Châu Khê và ngành nghề mộc mỹ nghệ ở ðồng Kỵ
Trang 13
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN CƠ SỞ SẢN XUẤT NGÀNH NGHỀ TỪ KHU DÂN CƯ ðẾN KHU SXTT
2.1 Cơ sở lý luận chuyển ngành nghề sản xuất phân tán trong khu dân cư
ra khu sản xuất tập trung
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
a) Ngành nghề
Ngành nghề ở nước ta rất phong phú, ña dạng và ñã ñược hình thành
từ hàng trăm năm trước ñây
Ở Việt Nam trong chính cương của ðảng lao ñộng Việt Nam (1951), lần ñầu tiên nói ñến thuật ngữ công nghiệp, thủ công nghiệp Ban ñầu thuật ngữ này là công dụng, mặc dù các văn bản chính thức của Nhà nước chỉ dùng chung một thuật ngữ “thủ công nghiệp” nhưng ñều hiểu rằng nó bao hàm cả công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, nhiều ngành nghề trước ñây chủ yếu làm bằng tay, sử dụng các công cụ thô sơ Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật con người ñã biết sử dụng máy móc thiết bị vào nhiều khâu, công ñoạn trong sản xuất thủ công nghiệp, chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu ñề xuất ý kiến nên bỏ thuật ngữ “thủ công nghiệp” mà dùng thuật ngữ “tiểu công nghiệp” [25]
Có quan niệm cho rằng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là ngành sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào ñôi bàn tay khéo léo của con người, các sản phẩm thủ công ñược sản xuất theo tính chất phường hội, mang bản sắc truyền thống và có những bí quyết công nghệ riêng của từng nghề, từng vùng [29] Quan niệm này mang tính cổ ñiển Trong ñiều kiện ngày nay, do trình ñộ khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, trên thế giới ñã trải qua nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật; cơ khí hóa, ñiện khí hóa, quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa (CNH-HðH) Việc ñưa máy móc, thiết bị vào
Trang 14trong sản xuất TTCN là tất yếu, một số công ñoạn sản xuất ñược ñưa máy móc thiết bị vào thay cho lao ñộng thủ công ñể nâng cao năng suất lao ñộng, vì vậy những ngành sản xuất có tính chất như trên ñược gọi là sản xuất TTCN
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) cũng ñã
ñề nghị thay thế khái niệm nghề thủ công (handicraft) bằng khái niệm công nghiệp truyền thống (traditional industry) Như vậy ñã chứng tỏ rằng
ngành nghề TTCN cũng là mối quan tâm của nhiều tổ chức Phát triển ngành nghề TTCN là một hướng ñi cơ bản, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nghề thủ công là nơi gặp gỡ của nghệ thuật và kỹ thuật Từ ñiển bách khoa của nhà xuất bản Mac Milan Company ñã viết: “TTCN vừa là một cách thức sản xuất có tính chất công nghiệp, vừa là một dạng hoạt ñộng có tính chất mỹ thuật” Như vậy, ngành nghề TTCN còn là một trong những nơi lưu giữ và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc một cách ñầy ñủ và tinh tế nhất [8]
Sản xuất TTCN ñó là những ngành sản xuất bằng tay và bằng công cụ thô sơ hoặc cải tiến có từ lâu ñời gắn với các làng nghề hoặc các hộ làm nghề, tạo ra những mặt hàng tiêu dùng truyền thống và có kỹ xảo phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
b) Ngành nghề nông thôn
Theo các nhà khoa học và các chuyên gia của Bộ NN & PTNT trong quá trình nghiên cứu, khảo sát ngành nghề nông thôn theo quy mô toàn quốc năm 1997 ñã ñưa ra một khái niệm khá ñầy ñủ về ngành nghề nông thôn (NNNT) như sau: “NNNT là những hoạt ñộng kinh tế phi nông nghiệp bao gồm TTCN, các hoạt ñộng dịch vụ sản xuất và ñời sống, có quy mô vừa và nhỏ với các thành phần kinh tế như hộ gia ñình, hộ sản xuất (gọi chung là hộ), các tổ chức kinh tế HTX, DNTN, Công ty TNHH, (gọi chung là cơ sở sản xuất) Các tổ chức hộ và cơ sở này với mức ñộ khác nhau ñều gắn kết mật
Trang 15thiết với nông thôn và có sử dụng các nguồn lực của nông thôn (ñất ñai, lao ñộng, nguyên liệu và các nguồn lực khác) và có ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của nông thôn” [23]
Các thành phần kinh tế tham gia vào các ngành nghề nông thôn khác nhau tuỳ theo lợi thế so sánh của mỗi vùng và quy mô sản xuất của cơ sở
Căn cứ theo Quyết ñịnh số 132/2000/Qð TTg của Thủ tướng Chính phủ
ký ngày 24/11/2000 về một số chính sách phát triển ngành nghề nông thôn thì sản xuất TTCN ở nông thôn ñược quy ñịnh trong quyết ñịnh này bao gồm:
- Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản;
- Sản xuất vật liệu xây dựng, ñồ gỗ, mây tre ñan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông thôn
- Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn
Như vậy, các ngành nghề hiện có ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ñều thuộc các ngành nghề nông thôn
Thực tế, ngành nghề nông thôn ở Việt Nam thường ñược phát triển trong các thôn, làng xã và ñươc gọi là làng nghề Làng nghề ở nông thôn Việt Nam có bề dày lịch sử lâu ñời, nhưng nhìn chung thì quy mô sản xuất nhỏ, lao ñộng thủ công là chủ yếu và lực lượng lao ñộng trong làng nghề thường mang tính chất gia ñình, không ñược ñào tạo chính quy mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, “cha truyền con nối”
Như vậy, ngành nghề nông thôn luôn gắn với các làng nghề trong quá trình cùng tồn tại và phát triển Những vấn ñề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân ñều có thể ñược phản ánh trong mối quan hệ này
Ở ñây chia ra:
- Ngành nghề truyền thống: là những ngành nghề phi nông nghiệp phát
triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của
Trang 16người dân làm nghề, là ngành nghề truyền thống có từ thời Pháp thuộc, còn tồn tại ñến nay (nghĩa là từ khi hình thành ñến nay khoảng 100 năm trở lên), kể cả những nghề ñược cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện ñại ñể hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ những công nghệ truyền thống ðặc trưng cơ bản của mỗi ngành nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, ñồng thời có các nghệ nhân và ñội ngũ thợ lành nghề Các sản phẩm làm ra vừa
có tính hàng hoá, vừa có tính nghệ thuật và mang ñậm bản sắc dân tộc [15]
Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống ñược hỗ trợ bằng các quy trình công nghệ mới với những nguyên vật liệu mới Do vậy ngành nghề truyền thống cũng ñược nghiên cứu và mở rộng [6]
- Ngành nghề mới: là những ngành nghề phi nông nghiệp mới ñược
hình thành do phát triển từ các ngành nghề truyền thống hoặc tiếp thu những nghề mới ñể ñáp ứng nhu cầu của xã hội phát sinh
Tóm lại, ngành nghề nông thôn ñã ra ñời và phát triển từ lâu, từ chỗ nghề tiểu thủ công ñược tự phát triển ở tựng hộ riêng lẻ, sau lan dần ra nhiều
hộ khác; từ từng cụm dân cư ñến hình thành làng nghề, xã nghề
* Vị trí của ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn
Việt Nam ñi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu và cho ñến nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với gần 70% dân số ở khu vực nông thôn và trên 60% lực lượng lao ñộng sống ở nông thôn Hơn nữa sự phân bố và sử dụng lao ñộng ở nông thôn nước ta hiện nay ñang làm gia tăng những nghịch lý, có ít nhất là ba nghịch lý lớn ñáng lo ngại là:
- Nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng cần phải ñược khai thác như: ñất trống, ñồi núi trọc vào khoảng 10 triệu ha, các nguồn nước từ các ao hồ vào khoảng 1,4 triệu ha
- Sự dư thừa và thiếu lao ñộng giả tạo trong nông thôn ñang là vấn ñề
Trang 17nổi cộm: dư thừa lao ñộng giản ñơn, thiếu lao ñộng ñược ñào tạo và có kỹ năng nghề nghiệp cao, nhất là cho các khu công nghiệp, chế biến xuất khẩu và các xí nghiệp công nghệ cao
- Một lực lượng lao ñộng ñáng kể ở nông thôn ñặc biệt là phụ nữ ñang phải làm việc rất vất vả và có nguy cơ thất nghiệp cao [29]
Trong những năm qua “ñất nước ta ñã vươn lên trở thành nước có nền nông nghiệp mạnh, thuộc nhóm nước ñứng hàng ñầu về xuất khẩu nông sản” Tuy vậy so với các nước trong khu vực và trên thế giới, năng suất, chất lượng
và sức cạnh tranh của hàng nông sản ở nước ta còn ở mức ñộ thấp
Tiểu thủ công nghiệp có vị trí quan trọng trong phát triển công nghiệp nông thôn, là tiền thân của ngành công nghiệp Phát triển TTCN nông thôn sẽ góp phần sử dụng lao ñộng tại chỗ, sử dụng nguyên liệu tại ñịa phương, sản xuất ra công cụ, sản phẩm phục vụ tiêu dùng tại ñịa phương và thực hiện xuất khẩu các mặt hàng truyền thống có giá trị, thu ngoại tệ về cho ñất nước
Với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, sự nghiệp CNH - HðH nền kinh tế nước ta và tiến tới nền kinh tế tri thức thì “việc khôi phục và phát triển các ngành nghề TTCN là một phương hướng CNH
ở Việt Nam”
- Phát triển ngành nghề TTCN nông thôn sẽ mang lại lợi ích to lớn cho ñất nước không chỉ ở chỗ tận dụng ñược nguyên liệu tại chỗ mà còn giải quyết việc làm tại chỗ cho lao ñộng nông thôn
- Góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, phân công lại lao ñộng và sử dụng hợp lý nguồn lao ñộng nông thôn
- Hiện nay, ở nước ta có một lực lượng lao ñộng dồi dào trong ñó tỷ trọng lao ñộng ở khu vực nông thôn chiếm phần lớn Nhưng một lực lượng không nhỏ lao ñộng nông thôn rơi vào tình trạng thiếu việc làm (bán thất nghiệp), không có việc làm Do ñó vấn ñề tạo việc làm cho lao ñộng ở khu
Trang 18vực nông thôn là vấn ñề bức xúc ở nước ta hiện nay
- Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn là một chủ trương ñúng nhằm thu hút lao ñộng nông thôn vào các hoạt ñộng ngành nghề, tạo việc làm mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trong công nghiệp và dịch vụ
- Theo kết quả ñiều tra ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn của
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thì ngành nghề TTCN ñã thu hút hàng triệu lao ñộng nông thôn, cho mức thu nhập cao và ổn ñịnh Vì vậy phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn là một hướng ñi ñúng trong quá trình phát triển
TTCN là một bộ phận của ngành công nghiệp, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Từ vị trí như vậy nên TTCN nông thôn có vai trò hết sức quan trọng ñối với phát triển nông thôn
Ngành nghề TTCN nông thôn phát triển sẽ là ñộng lực quan trọng cho sự nghiệp CNH - HðH nông nghiệp, nông thôn thúc ñẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao ñộng nông thôn Giải quyết việc làm cho lao ñộng nông nhàn và dư thừa ở nông thôn, tạo thu nhập thường xuyên và ổn ñịnh cho người lao ñộng [4]
Những ñóng góp của ngành nghề trong việc phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn trong những năm gần ñây ñã khẳng ñịnh vai trò của thực
tế kinh tế này, cụ thể như sau:
- Góp phần giải quyết việc làm, tạo ñiều kiện phân bổ lại và sử dụng hợp lý nguồn lao ñộng nông thôn
Trong những năm gần ñây phát triển ngành nghề nông thôn là một chủ trương ñúng ñắn và ñã thu hút nhiều lao ñộng tại ñịa bàn nông thôn vào các hoạt ñộng ngành nghề, tạo việc làm mới và mở ra nhiều nghề mới khác, nhiều dịch vụ có liên quan ðiều này ñặc biệt có ý nghĩa khi bình quân diện tích ñất
Trang 19nông nghiệp/ñầu người ở miền Bắc nước ta thấp và nhất là khi sản xuất nông nghiệp gặp quá nhiều rủi ro Do vậy, khi các ngành nghề nông thôn phát triển
ñã thu hút ñược lực lượng nhân công không chỉ ở ñịa phương mà cả ở các ñịa phương lân cận là một ñóng góp rất có ý nghĩa về mặt xã hội, nhất là không gây áp lực trong việc di dân khi người dân dần “ly nông”.[21]
Theo kết quả ñiều tra của các làng nghề ở Việt Nam, bình quân mỗi cơ
sở chuyên làm nghề ở các làng nghề tạo việc làm ổn ñịnh cho 27 lao ñộng thường xuyên và 8 - 10 lao ñộng thời vụ; Mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4 - 6 lao ñộng thường xuyên và 2 - 5 lao ñộng thời vụ ðối với nghề dệt, may, thêu, ren, mỗi cơ sở có thể thu hút từ 30 ñến 50 lao ñộng, cá biệt có những cơ sở ñến hàng trăm lao ñộng Một số làng nghề ở miền Bắc ñã thu hút ñược trên 60% số lao ñộng tham gia vào các hoạt ñộng sản xuất Riêng ñối với làng nghề như Bát Tràng, ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2.500 lao ñộng trong xã còn tạo việc làm thêm cho trên 5.000 lao ñộng từ các vùng lân cận
Mặt khác, khi các ngành nghề phát triển, kéo theo một số việc làm mới, thu hút lao ñộng vào các hoạt ñộng dịch vụ Ví dụ như tại làng nghề gốm, xuất hiện các hộ ñan sọt, dịch vụ vận chuyển, bốc xếp, Như vậy khắc phục ñược tính thời vụ cho lao ñộng lao ñộng làm nông nghiệp trên ñịa bàn, góp phàn phân bổ lực lượng lao ñộng hợp lý hơn trong nông thôn
- Tạo thu nhập cho người lao ñộng ñồng thời nâng cao năng suất lao ñộng xã hội
Theo số liệu thống kê của các ñịa phương, thu nhập của người dân có ngành nghề bao giờ cũng cao hơn thu nhập của những người làm thuần nông, mức cao hơn từ 2 - 6 lần tuỳ theo từng ñịa phương Ví dụ, tại Từ Sơn, bình quân 1 lao ñộng phi nông nghiệp làm việc tại các cơ sở sản xuất thu nhập bình quân/tháng là 3.000 nghìn ñồng/tháng, ở hộ kiêm nghề khoảng 1.400-2.600 nghìn ñồng/tháng, còn ñối với các lao ñộng thuần nông thì chỉ ở ngưỡng dưới
Trang 20800 nghìn ựồng/tháng [27] Vắ dụ ựối với làng nghề có thu nhập cao như Bát
Tràng, bình quân mức thu nhập của các hộ: thấp 20 - 30 triệu ựồng/tháng, hộ trung bình: 30-50 triệu ựồng/tháng và hộ có thu nhập cao là hàng trăm triệu ựồng/tháng
Khi thu nhập của các hộ ở mức khá thì mọi việc như các công tác xã hội ở ựịa phương ựó sẽ ựược triển khai rất tốt đồng thời cũng từ các ngành nghề, không chỉ ra tăng doanh thu tại mỗi ựịa phương mà còn có một số ngành nghề mang lại kim ngạch xuất khẩu Tất cả các yếu tố trên góp phần thay ựổi ựời sống của người dân và bộ mặt của ựịa phương cũng từn bước ựược thay ựổi
- Góp phần bảo lưu các giá trị văn hóa dân tộc
Giá trị của nghề truyền thống có thể nhìn nhận từ nhiều góc ựộ khác nhau, nhưng có hai ựiểm không thể bỏ qua, ựó là những giá trị công nghệ bắ truyền và những nét ựặc trưng trong bản sắc văn hóa dân tộc mà nghề truyền thống mang lại Chắnh vì vậy việc phát triển các ngành nghề và các làng nghề truyền thống chắnh là việc giữ gìn và phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc, ựồng thời giới thiệu cho bạn bè Quốc tế biết ựược những giá trị văn hóa truyền thống ựộc ựáo của dân tộc ta
- đóng góp vào ựa dạng hoá kinh tế nông thôn và thúc ựẩy quá trình
ựô thị hóa
đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọng của công nghiệp hoá nông thôn đa dạng hoá kinh tế nông thôn là biện pháp thúc ựẩy kinh tế hàng hoá ở nông thôn phát triển, tạo ra chuyển biến mới về chất, góp phần phát triển kinh tế xã hội nông thôn đồng thời quá trình ựa dạng hoá kinh tế nông thôn ựã kắch thắch sự ra ựời và phát triển các nghề dịch
vụ, thương mại, vận tải, thông tin liên lạc,
Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao ựổi hàng hoá Những trung tâm này ngày
Trang 21càng ñược mở rộng và phát triển, tạo nên một sự ñổi mới trong nông thôn Hơn nữa, nguồn tích luỹ của người dân trong làng nghề cao hơn, có ñiều kiện ñể ñầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng như ñường xá, nhà ở và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Dần dần ở ñây hình thành mộtcụm dân cư với lối sống ñô thị ngày một rõ nét Như vậy nông thôn ñược thay ñổi và từng bước ñược ñô thị hoá
Khi ñi sâu nghiên cứu vào ngành nghề ở các làng nghề truyền thống thì một ñiều không thể bỏ qua ñó là xem xét ñặc ñiểm làng nghề truyền thống ñể
từ ñó có cái nhìn sâu sắc hơn với những yếu tố tác ñộng trong việc di chuyển làng nghề
c) Ngành nghề sản xuất phân tán trong khu dân cư
Là việc sản xuất các ngành nghề ñược diễn ra tại các hộ gia ñình trong khu dân cư Tại ñây vừa sản xuất, vừa sinh hoạt ăn, ở trên cùng diện tích Các nguyên vật liệu ñầu vào, các sản phẩm dở dang và các sản phẩm ñã hoàn thiện
có thể có những lúc cùng tập trung trong diện tích của hộ gia ñình ñó Việc sản xuất trong dân cư với diện tích chặt hẹp nên khó khăn về mặt bằng diện tích cho việc mở rộng cơ sở, ñưa máy móc công nghệ hiện ñại vào sản xuất ðặc biệt trong quá trình phát triển và hội nhập, ngoài mặt bằng ñể sản xuất thì diện tích và không gian bán hàng, trưng bày giới thiệu sản phẩm là rất quan trọng Việc sản xuất rải rác, nhỏ lẻ trong dân sẽ làm hạn chế sự phát triển của ngành nghề
d)Ngành nghề sản xuất tập trung
Là việc sản xuất của nhiều hộ, hoặc cơ sở sản xuất ñược quy hoạch trong một khu vực cố ñịnh với quy hoạch tổng thể trên một diện tích lớn và ñược tách khởi khu dân cư Các cơ sở ñăng ký và ñược xét chuyển ra khu sản xuất tập trung ñược hoạt ñộng sản xuất kinh doanh thành một khu riêng biệt tách hẳn khu dân cư mà ñược gọi là cụm công nghiệp làng nghề Bao gồm các
cơ sở sản xuất là các doanh nghiệp, HTX và hộ sản xuất ñược tập trung thành một khu, và ñược quy hoạch khu sản xuất, khu bán hàng
ðối ngành nghề gỗ mỹ nghệ nơi sản suất ñược ñặt liền sau khu bán
Trang 22hàng dịch vụ thương mại, mặt trước của khu là nơi trưng bày và giới thiệu sản phẩm bày bán hàng, mặt sau là khu sản xuất Tạo ñiều kiện cho doanh nghiệp
có thể vừa bán hàng giới thiệu sản phẩm vừa tạo niềm tin cho khách hàng ñến ñặt mua sản phẩm của họ ñược thuận lợi Thêm vào ñó là việc tiết kiệm chi phí quản lý sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất, tạo ñiều kiện thuận lợi và giảm chi phí cho khâu vận chuyển hàng hóa
ðối với nghề sản xuất sắt thép nơi sản xuất ñược ñặt thành khu riêng biệt, khu bán hàng ñược quy hoạch một khu gần khu bán hàng,
Mỗi một ngành nghề sản xuất khi chuyển ra lại có một sự quy hoạch phù hợp với ñặc ñiểm của ngành
e) Cơ sở sản xuất ngành nghề
Cơ sở sản xuất là các ñơn vị có chức năng sản xuất bao gồm: Hộ sản xuất, hợp tác xã, các doanh nghiệp sản xuất Nó là khái niệm nhằm phân biệt với cơ sở kinh doanh
Tuy nhiên, ñối với các cơ sở sản xuất ngành nghề truyền thống ở Từ Sơn, các cơ sở sản xuất thường nhỏ, ngoài chức năng sản xuất các ñơn vị này còn kiêm luôn cả tiêu thụ sản phẩm nên trong ñề tài này khái niệm cơ sở sản xuất ñược hiểu theo nghĩa cơ sở sản xuất, kinh doanh
f) Chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong khu dân cư ra khu sản xuất tập trung
Là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ cơ sở sản xuất ñang thực hiện quá trình sản xuất, kinh doanh trong khu dân cư ñến khu sản xuất tập trung ñã ñược quy hoạch từ trước
Trong ñề tài này, việc chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề phân tán trong khu dân cư ra khu SXTT bao gồm việc chuyển toàn bộ cơ sở sản xuất, hoặc chuyển một hoặc phần lớn công ñoạn sản xuất ra khu SXTT như: Sản xuất tạo hình, công ñoạn phun sơn, công ñoạn bảo quản,…
Trang 232.1.2 ðặc ñiểm chuyển cơ sở sản xuất ngành nghề từ khu dân cư ñến nơi sản xuất tập trung
a) Ngành nghề nông thôn sản xuất gắn liền với nơi ở, tận dụng lao ñộng gia ñình
Ngành nghề nông thôn Việt Nam là giai ñoạn phát triển của các làng nghề Các làng nghề truyền thống Việt Nam ñã có từ hàng trăm năm nay, gắn liền với bản sắc văn hóa, dân tộc Các sản phẩm của làng nghề ñược sản xuất trực tiếp từ các hộ gia ñình Mỗi hộ thường có 2 - 3 lao ñộng chính, ngoài ra
có thêm lao ñộng phụ là người già hoặc trẻ chưa ñến tuổi lao ñộng Một số công việc trong quá trình sản xuất không nhất thiết ñòi hỏi lao ñộng chính, ví
dụ như ñánh giấy giáp của ñồ gỗ mỹ nghệ, ñan của ngành mây tre ñan, phơi bánh tráng của nghề chế biến sản phẩm, hoặc khâu ñóng gói sản phẩm, Các công việc ñó mang tính chất tận dụng lao ñộng phụ, hoặc làm vào lúc nông nhàn [1] Nguồn thu từ các ngành nghề nông thôn ñã góp phần xãa ñói, giảm nghèo, gia tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Trong nhiều năm qua, sản phẩm của nhiều ngành nghề nông thôn không chỉ ñáp ứng nhu cầu nội tiêu mà ñã có mặt trên nhiều thị trường ngoài nước Tuy nhiên, ngày nay, ñáp ứng yêu cầu hội nhập, tại một số làng nghề, quá trình sản xuất ñược chuyên môn hóa chặt chẽ, lao ñộng chuyên môn ñược lựa chọn
kỹ càng và khâu tổ chức sản xuất cũng cần ñược chuẩn hóa nên rất cần có sự quản l í tập trung trên quy mô lớn, khoa học mới ñạt hiệu quả kinh tế cao
b) Ngành nghề nông thôn sản xuất thường mang tính chất phường hội
Những ngành nghề nông thôn ñược hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ ñược truyền trong phạm vi từng làng Mỗi nghề bao giờ cũng có ông tổ của nghề ñược dân làng ghi công ơn và thờ phụng từ ñời này qua ñời khác Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, từng nhóm họ thành lập với nhau theo phường, hội, có ông trùm, có ông phó cả, cùng một số thợ phó nhỏ, cùng chuyên tâm với quy trình công nghệ nhất ñịnh “Sinh ư nghệ, tử ư nghệ”,
Trang 24“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu bằng nghề ñó thông qua việc sản xuất ra các sản phẩm thủ công
Thực tế cho thấy ban ñầu “làng nghề” là một tập hợp các hộ trong một không gian, vùng quê nông thôn, ở ñó cơ những hộ thuộc các dòng tộc nhất ñịnh sinh sống Trong cá làng nghề tồn tại ñan xen nhiều mối quan hệ kinh tế,
xã hội rất phong phú và phức tạp Dựa theo các tài liệu ñã công bố, chúng tôi hiểu rằng “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, ñược cấu thành bởi 2 yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian ñịa lí nhất ñịnh trong ñó bao gồm nhiều hộ gia ñình sinh sống bằng nghề thủ công là chính,
giữa họ có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế xã hội và văn hóa”
c) Nhu cầu về mặt bằng cho sản xuất ngành nghề
Ngành nghề sản xuất trong khu dân cư phát triển thì quy mô mặt bằng chỗ ở trở lên chặt hẹp không còn phù hợp Trước ñây, sản xuất ngành nghề phân tán trong khu dân cư, nhà nào có diện tích ñến ñâu thì sản xuất ñến ñó Việc sản suất nghành nghề tiểu thủ công nghiệp yêu cầu vừa phải có mặt bằng sản suất, kho hàng, và khu bán hàng Tuy nhiên hiện nay cùng với sự phát triển của làng nghề quy mô chặt hẹp trong khu dân cư từ 150-350 m2 bao gồm các khâu sản xuất kho bãi và bán hàng, lẫn sinh hoạt trong gia ñình Xét về nhu cầu sinh hoạt ta thấy với diện tích trên chỉ ñảm bảo cho sinh hoạt của gia ñình Thêm vào ñó việc sản xuất trong dân ñã gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn nên việc mở rộng sản xuất trong khu dân cư là không thể ñáp ứng với thực tiễn
2.1.3 Tất yếu khách quan phải chuyển ngành nghề sản xuất phân tán trong khu dân cư ra khu tập trung
Việc chuyển ngành nghề sản xuất trong khu dân cư ra khu sản xuất tập trung ñược cụ thể như sau:
a) Nâng cao thu nhập cho hộ:
Trang 25Từ sản xuất quy mô nhỏ, phân tán trong các khu dân cư không có khả năng cung cấp các hợp ñồng sản phẩm với khối lượng lớn và khó thành lập các nhóm liên kết trong khâu thu mua nguyên liệu, bán sản phẩm, ñứng trước nhiều thách thức về chi phí trong quản lí, tổ chức sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ñòi hỏi các cơ sở sản xuất phải mở rộng sản xuất với mức cao nhất có thể nên từng ñối tượng họ ñã ñầu tư mặt bằng, máy móc thiết
bị, cải tiến công nghệ, .Có nghĩa là họ ñã chuyên sâu vào sản xuất ngành nghề của họ, nhiều hộ gia ñình bỏ sản xuất nông nghiệp ñể có ñiều kiện tập trung nhân lực và vốn liếng vào sản xuất ðồng thời họ cũng thấy ñược hầu hết các ngành nghề thủ công truyền thống có thể sử dụng các nguồn nguyên vật liệu dự trữ lâu ngày hoặc nguồn nguyên liêu cung cấp thường xuyên Công việc của các nghề thủ công có thể làm ñược trong nhà, ít ảnh hưởng của thời tiết Do ñó các hoạt ñộng ngành nghề có thể hoạt ñộng ñược suốt 4 mùa Như vậy các ngành nghề thủ công không những ít chịu ảnh hưởng của tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp mà còn hạn chế tính thời vụ
Với tất cả các yếu tố trên các ngành nghề thích hợp với việc thu hút người lao ñộng ñang còn dư thừa trong khu vực nông thôn, công việc làm thường xuyên, ổn ñịnh hơn so với sản xuất nông nghiệp nên thu nhập bình quân của thợ làng nghề thường cao hơn các vùng thuần nông
b) Ngành nghề sản xuất trong khu dân cư bị bó hẹp bởi mặt bằng sản xuất
Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu của các ngành nghề trong nông thôn thường có quy mô nhỏ, phân tán tại các hộ gia ñình, sử dụng lao ñộng gia ñình là chính Trong quá trình phát triển, các ngành nghề phát triển vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của quá trình sản xuất hàng hóa Sản xuất tại khu dân cư không ñáp ứng ñược về mặt diện tích nên ñòi hỏi phải chuyển sản xuất
ra khu vực sản xuất tập trung nhằm khắc phục về mặt bằng sản xuất và những tồn tại do chính sản xuất trong hộ gây ra ðặc biệt ñối với những mặt hàng
Trang 26ñược thị trường chấp nhận yêu cầu về mở rộng sản xuất do chính thị trường ñặt ra và có tác ñộng rất mạnh nên ñã thúc ñẩy quá trình chuyển sản xuất ngành nghề từ trong khu dân cư ra khu sản xuất tập trung
Yêu cầu về nguyên vật liệu của sản xuất và sản phẩm ñược tạo ra bao nhiêu chủ hộ tự lo thu gom và tiêu thụ sản phẩm Thường mỗi hộ có vài ba lao ñộng và có hộ thuê thêm lao ñộng nhưng số lượng không nhiều Vốn ñầu
tư bình quân trên 1 lao ñộng nhỏ ñược coi như một lợi thế khi phát triển nghề thủ công Dần dần do sản xuất phát triển, một số ngành nghề ñã mở rộng ñược thị trường cả trong nước và ngoài nước, ñiển hình như ñồ mộc mỹ nghệ ðồng
Kỵ, nghề làm sắt thép ở Châu Khê, nghề gốm ở Bát Tràng, Yêu cầu của các bạn hàng về số lượng hàng giao dịch ngày càng lớn nên các cơ sở sản xuất ñã tính ñến các phương án mở rộng diện tích sản xuất ðây là biện pháp giảm chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất Sản xuất trong khu dân cư, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu ñầu vào và chuyển sản phẩm ñầu ra bị gia tăng rất lớn, ngoài ra khó sản xuất ra khối lượng hàng ñáp ứng các khách hàng có nhu cầu cao về số lượng Do vậy, diện tích sản xuất manh mún trong khu dân cư dần không còn phù hợp và nhu cầu của các cơ sở sản xuất về diện tích mặt bằng ngày càng lớn Do ñó, các CCN ra ñời là một hướng ñi phù hợp và ñã từng bước ñáp ứng nhu cầu về mặt bằng sản xuất và khắc phục một số tồn tại do sản xuất trong khu dân cư gây ra
c) Tác hại, hậu quả của cơ sở sản xuất lẫn trong khu dân cư
Thực tế sản xuất ngành nghề phân tán ở nông thôn là ngành sản xuất sinh ra nhiều khói bụi, tiếng ồn, và nước thải, chất thải rắn,… gây tác ñộng xấu tới môi trường ñất, nước, không khí, tác ñộng xấu ñến môi trường sinh thái, cảnh quan, môi trường lao ñộng và ñặc biệt là sức khoẻ của cộng ñồng lại rất khó kiểm soát và khó quy hoạch Có thể nói rằng các hoạt ñộng sản xuất của các ngành nghề gây ra ô nhiễm môi trường mang ñậm nét của ngành
Trang 27nghề và loại hình sản phẩm Theo các kết quả quan trắc, trong thời gian gần ñây, mức ñộ ô nhiễm của các làng nghề không giảm mà có xu hướng ra tăng nên chất lượng môi trường tại hầu hết các khu vực sản xuất trong các làng nghề ñều không ñạt tiêu chuẩn, thậm chí cao hơn gấp nhiều lần cho phép [19]
Báo cáo mới nhất của Tổng cục Bảo vệ môi trường về ô nhiễm môi trường làng nghề cho thấy ñang có ba loại hình ô nhiễm và ñều ở mức trầm trọng, ñó là ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước (cả nước mặt và nước ngầm) và ô nhiễm ñất ñai bởi chất thải rắn Tình trạng này diễn ra hầu như ở tất cả các làng nghề: gốm sứ, vật liệu xây dựng, tái chế kim loại, nhựa, chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ
Kiểm tra mẫu không khí tại ngành nghề nung vôi ở Kiện Khê, Hà Nam, kết quả lượng bụi cao gấp tám lần mức cho phép Khí NO2 ở làng nghề gạch Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam cao gấp 1.500 lần mức cho phép Ở các làng nghề gốm sứ, gạch ngói Bình Dương, Thanh Hóa, Hưng Yên, Quảng Nam cũng ñều bụi bẩn gấp năm lần trở lên ðặc biệt, tại các làng nghề tái chế kim loại, ngoài các loại khí ô nhiễm do ñốt nhiên liệu thì hơi axit, kiềm, ôxít kim loại và khí nóng còn nguy hại gấp nhiều lần Làng nghề ñúc ñồng Phước Kiều
có hàm lượng bụi lên ñến 12mg/m3, gấp 40 lần tiêu chuẩn cho phép [9]
ðối với các ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm thì không khí bị ô nhiễm không chỉ vì sử dụng nhiên liệu mà còn có sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ trong nước thải, chất thải rắn Có lẽ không có làng nghề nào ñến nay còn có thể giữ ñược sự trong sạch môi trường nước
Tại làng nghề làm giấy Phong Khê, Bắc Ninh, ai vào cũng thấy những con mương, ñường cống rãnh ngày ñêm ồng ộc chảy với những thứ màu và mùi vô cùng khó tả Nguồn thải ñáng sợ này chảy thẳng xuống sông Ngũ Huyện Khê làm nguồn nước trên ñịa phận làng giấy ñều có chỉ số các chất ô nhiễm cao hơn tiêu chuẩn, ñộ màu tương ñối lớn, hàm lượng dầu mỡ vượt 2,1-5,6 lần [21]
Trang 28Theo khảo sát của Tổng cục Bảo vệ môi trường, làng nghề ngành dệt nhuộm xả nước thải nguy hại hơn cả Các loại hóa chất là xút, axit, thuốc tẩy giặt, các chất trợ ñã biến các nguồn nước xung quanh thành những dòng nước chết
Cho ñến nay chưa có nghiên cứu nào về ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới sức khỏe người dân làng nghề Nhưng thực tế ở các làng nghề có tình trạng ô nhiễm nặng, người dân thường có rất nhiều thứ bệnh, tuổi thọ thấp và
Ta thấy rằng cũng còn có nhiều doanh nghiệp và người dân, ñặc biệt là những người ở nơi khác ñến làm ñều chưa hiểu và quan tâm ñến việc cần xử
lý vấn ñề ô nhiễm, chưa thấy hết hậu quả các bệnh gây ra từ ô nhiễm,… vấn
ñề ONMT cần phải ñược giải quyết càng sớm càng tốt ñể cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trong vùng và giảm ảnh hưởng ñến sản xuất nông nghiệp Khi cùng thảo luận về vấn ñề này họ cũng nhận ra ñây là nguyên nhân ñưa ñến cần phải di chuyển sản xuất ngành nghề từ trong khu dân cư ra khu sản xuất tập trung và chỉ khi làm ñược việc này một cách triệt ñể thì áp dụng các biện pháp khắc phục ONMT trên quy mô rộng mới có thể cải thiện ñược tình trạng ô nhiễm hiện nay.[22]
d) Khu sản xuất tập trung giúp hạn chế tác hại do cơ sở sản xuất trong khu dân cư gây ra
* Khu sản xuất tập trung xử lý chất thải giảm thiểu ô nhiễm
Khi sản xuất ngành nghề ñược tổ chức tập trung tại các khu SXTT thì khi ñó mới có ñầu tư về cơ sở hạ tầng, tổ chức quản lí trên phạm vi rộng Do
Trang 29vậy ñi ñôi với chuyển ngành nghề sản xuất ra khu tập trung vấn ñề quan tâm phải thực hiện là xây dựng khu xử lý chất thải rắn và khu xử lý nước thải Việc quy hoạch nhà máy hoặc khu xử lý chất thải phải dựa trên cơ sở tính toán khoảng cách giữa cụm, khu dân cư và các cụm lân cận Khoảng cách giữa cụm công nghiệp (CCN) và nhà máy xử lý không quá xa ñể ñảm bảo giảm bớt chi phí vận chuyển xong không ñược gần khu dân cư ñểm ñảm bảo môi trường vệ sinh Nên tận dụng khoảng cách giữa các CCN khác liền kề ñể xây dựng nhà máy xử lý chất thải một các hợp lý trên cơ sở lượng hóa ñược lượng chất thải của cả cụm hoặc các cụm lân cận trong ngày, từ ñó thiết kế quy mô, xây dựng nhà máy ñảm bảo công suất hoạt ñộng trong hiện tại và tính toán khả năng trong tương lai Làm tốt ñược các việc này thì mới xử l í giảm thiểu ñược ô nhiễm môi trường do sản xuất của các ngành nghề gây ra
* Thực hiện các giải pháp giảm thiểu triệt ñể ô nhiễm môi trường
Trên thực tế, chưa có tiến bộ và thay ñổi ñáng kể trong giải quyết ô nhiễm môi trường ở các làng nghề khi thành lập CCNLN, bởi vì: một mặt, người lao ñộng, cơ sở sản xuất, kinh doanh ở các làng nghề chưa nhận thức ñầy ñủ tác hại của ô nhiễm môi trường trong phát triển sản xuất các làng nghề tới chất lượng ñời sống dân cư, mặt khác; thiếu kinh phí và về mặt pháp lý, thiếu cơ chế quản lý Nhà nước ñể giảm thiểu ô nhiễm môi trường do phát triển các làng nghề gây ra [11]
ðể giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề và các CCNLN cần
có giải pháp ñồng bộ về: Quy hoạch, lựa chọn công nghệ sản xuất và xử lý môi trường cũng như chính sách có trọng tâm, trọng ñiểm ñể ñảm bảo tài chính cho bảo vệ môi trường
- Về quy hoạch: thành lập và phát triển các CCNLN ñể tách khu vực sản xuất ra khỏi khu vực dân cư ñể tạo ñiều kiện mở rộng, phát triển sản xuất Trong mỗi CCNLN, cần giành một diện tích ñất ñai nhất ñịnh trồng cây xanh
Trang 30- Về công nghệ sản xuất: cần thay ñổi và ñổi mới công nghệ sản xuất theo hướng áp dụng công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường, ví dụ áp dụng: lò gas thay lò hộp trong các làng và các cụm công nghiệp sản xuất gốm sứ
- Về xử lý ô nhiễm: tại các CCNLN có thể thành lập các xí nghiệp xử
lý chất thải và áp dụng các phương tiện xử lý chất thải Cần có các giải pháp
ñể nâng cao ý thức và trách nihệm của mỗi người dân nói chung và người lao ñộng nói riêng ñối với bảo vệ môi trường ðối với mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh, ñể giảm thiểu ô nhiễm môi trường cần có giải pháp xử lý tập trung phế thải ở CCNLN Nguồn kinh phí ñể xử lý phế thải có thể dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước một phần, phần còn lại huy ñộng sự ñóng góp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong cụm
2.1.4 Nội dung chuyển ngành nghề sản xuất phân tán ra khu SXTT
Từ những vấn ñề trên có thể thấy, việc các cơ sở sản xuất phân tán trong khu dân cư ñang gây ra những vấn ñề về môi trường rất lớn Tình trạng
ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra ở một vài nơi mà hầu hết các làng nghề trong cả nước, từ ñó ảnh hưởng nghiêm trọng ñến sức khỏe người dân Việc chuyển các cơ sở sản xuất phân tán trong khu dân cư ra khu SXTT là một hệ quả tất yếu, và thực tế ñã chứng minh ñây là một giải pháp hữu hiệu giảm tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, bên cạnh ñó còn giúp các cơ sở
mở rộng quy mô sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế, xã hội Tuy nhiên, do tập quán sản xuất lâu ñời, cũng như những yếu tố khách quan, chủ quan mang lại
mà không thể chuyển toàn bộ các cơ sở sản xuất phân tán trong khu dân cư tới khu SXTT mà việc chuyển cần xem xét ñối tượng, cũng như xem xét khâu nào, mắt xích nào trong dây chuyển sản xuất cần phải ưu tiên chuyển ra trước
Trang 31a) ðối tượng di chuyển
Theo chủ trương của ñịa phương, ñối tượng di chuyển là toàn bộ các cơ
sở sản xuất có nhu cầu Ở ñây có thể là các HTX, các công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn, các hộ gia ñình, có nhu cầu thuê diện tích mặt bằng trong CCN ñể tổ chức sản xuất, kinh doanh Dựa vào mặt bằng của từng cơ sở sẵn có trong khu dân cư, khả năng và nhu cầu của từng cơ sở nhằm xem xét tiêu chí ñánh giá ñược chuyển ra và mức ñộ chuyển ra
b) Nội dung di chuyển:
Căn vào quỹ ñất và quy hoạch tổng thể, sau khi xét việc các hộ, các cơ
sở sản xuất Ban quản l ý khu công nghiệm hoặc CCN, các cơ sở sản xuất nhận diện tích của mình sau ñó tiến hành xây dựng và bố trí xắp ñặt sao cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất Tùy theo từng ngành nghề mà có sự xây dựng, bố trí sắp xếp cụ thể khác nhau Chẳng hạn với ngành nghề sản xuất sắt thép sẽ cần nhiều diện tích mặt bằng cho sản xuất, bố trì hệ thống khung lặp ñặt các máy tời phục vụ di chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm, lò nung, và cần cả diện tích mặt bằng ñể tập hợp sản phẩm không cần xây dựng nhiều; Với nghề mộc, nên bố trí khu vực sản xuất và khu trưng bầy sản phẩm tách biệt sẽ tránh ñược bụi và hạn chế ñược cả “mất bí quyết” hoặc ñôi khi tận dụng diện tích trưng bày làm các công việc như hoàn thiện sản phẩm Do vậy theo quy ñịnh, Ban quản lý CCN yêu cầu các cơ sở di chuyển những hạng mục phục vụ sản xuất và kinh doanh sản phẩm ñã ñăng ký
c) Phân loại sự di chuyển:
Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay ở hầu hết các khu sản xuất tập trung trong ñịa bàn trong và ngoài tỉnh cho thấy Phân loại di chuyển có 3 loại chính sau:
Thứ nhất, loại chuyển toàn bộ nghề
Loại này ở khu sản xuất tập trung ñược các cơ sở chuyển toàn bộ các
Trang 32phần công việc ra khu sản sất tập trung Bao gồm diện tích nhà xưởng, kho bãi, bán hàng ñều ñược các cơ sở sử dụng ñúng mục ñích sản xuất, kinh doanh của ngành nghề Các cơ sở sau khi chuyển toàn bộ các công ñoạn ra khu sản xuất tập trung sẽ giúp cải thiện tốt hơn tình hình sinh hoạt gia ñình trong khu dân cư sinh sống, giảm tiếng ồn, bụi bậm và không khi trong gia ñình ðối với loại di chuyển này ta thấy rõ nhất và nhiều nhất ở các ngành nghề sản suất sắt thép, các ngành nghề mang tính công nghệ hiện ñại, sử dụng máy móc là chính Loại hình này ta thường gặp ở các cơ sở sản xuất lớn có diện tích trong khu tập trung tương ñối rộng ñảm bảo cho việc sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh
Thứ hai, loại chuyển phần nhiều
Loại này là ở khu sản xuất tập trung ñược các cơ sở chuyển một số các công ñoạn của việc sản xuất, một số công ñoạn vẫn ñược sản xuất ngay trong khu dân cư sinh sống Tình trạng ô nhiễm trong khu dân cư vẫn tồn tại như tiếng ồn, bụi bậm, nguồn nước, không khí Tại khu sản xuất tập trung vẫn diễn ra một số công ñoạn hoàn thiện và ñặc biệt là khâu quảng cáo và tiêu thụ sản phẩm ðối với loại di chuyển này ta thấy hay gặp ở các ngành nghề mang tính kỹ nghệ cao, chủ yếu là sử dụng lao ñộng tay chân Lý do các cơ sở chưa chuyển hết nghề ra cũng có rất nhiều nguyên nhân; ñó là bí quyết công nghệ làng nghề, thêm vào ñó là tận dụng ñược lao ñộng nhàn rỗi trong gia ñình Loại hình này ta gặp thấy chủ yếu ở các cơ sở sản xuất có quy mộ vừa và nhỏ
Thứ ba, loại chuyển ít
Loại này là ở trong khu dân cư vẫn diễn ra hầu hết các hoạt ñộng sản xuất từ khâu bắt ñầu ñến khâu kết thúc hoàn thành sản phẩm, loại hình này là việc người dân vẫn tận dụng toàn bộ diện tích ở trong khu dân cư, hiện tượng
ô nhiễm nặng nề tiếp tục gia ñình và cộng ñồng phải gánh chịu Mặc dù các
hộ ñược chuyển ra khu tập trung tuy nhiên việc chuyển ra không ñúng theo
Trang 33mục ựắch quy hoạch của các cấp Ngược lại diện tắch ngoài khu sản xuất tập trung lại là khu dân cư sinh sống của hộ Có chăng ngoài khu tập trung là nơi
ựể một số sản phẩm mang ra ựể làm kho bày bán Hiện tượng trên ta thấy rõ nét ở làng nghề gỗ mỹ nghệ Các cơ sở này ựa phần là các cơ sở có ý thức chấp hành chưa cao, quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu tận dụng lao ựộng gia ựình hoặc một số có diện tắch trong khu dân cư tương ựối hoặc một số cơ sở chủ yếu hoạt ựộng ở lĩnh vực thương mại
Từ sự phân loại trên cho thấy, thực tế hiện nay ở thị xã Từ Sơn việc chuyển các cơ sở sản xuất phân tán trong dân cư ra khu sản xuất tập trung còn gặp nhiều khó khăn do diện tắch quy hoạch không ựủ, một số cơ sở không ựủ kinh phắ ựể tiến hành chuyển toàn bộ cơ sở, nên trong quy hoạch chuyển các
cở sở sản xuất ra khu SXTT Từ Sơn ựã xác ựịnh việc chuyển sẽ tiến hành theo thứ tự ưu tiên những cơ sở sản xuất gây ô nhiệm lớn, những khâu sản xuất gây ô nhiễm nhiều sẽ chuyển ra trước Từ ưu tiên trên, trong quy hoạch cụ thể cho từng làng nghề ựã xác ựịnh:
- đối với làng nghề sản xuất thép Châu Khê: sẽ tiến hành chuyển toàn
bộ các cơ sở sản xuất ra khu SXTT
- đối với làng nghề sản xuất gỗ mỹ nghệ đông Kỵ: Tiến hành chuyển từng khâu ra khu SXTT, một số khâu có thể sản xuất bên trong khu dân cư
Với việc xác ựịnh ưu tiên trên, trong những năm qua thị xã Từ Sơn ựã
có những hướng dẫn, chỉ ựạo chuyển các cơ sở sản xuất tới khu SXTT, nhưng
do nhiều nhân tố ảnh hưởng mà thực tế việc chuyển các cơ sở sản xuất phân tán trong khu dân cư ra khu SXTT vẫn tồn tại nhiều bất cập
2.1.5 Nhân tố ảnh hưởng ựến chuyển ngành nghề sản xuất phân tán ra khu sản xuất tập trung
a) Quy hoạch ựất ựai cho khu sản xuất tập trung
Nền kinh tế nước ta ựang trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới
Trang 34Khi chúng ta vào WTO thì trình ñộ hội nhập sẽ có bước phát triển mới ðiều
ñó ñòi hỏi các cụm công nghiệp làng nghề phải phát triển, ñổi mới và nâng cao ñược trình ñộ sản xuất, kinh doanh hơn hiện nay
Nhìn tổng thể, thực hiện các chủ trương của ðảng, sự ñiều hành của Chính phủ, các khu sản xuất tập trung ñược gọi là cụm công nghiệp làng nghề (CCNLN) ñược hình thành phát triển trên cơ sở quy hoạch của ñịa phương Các quy hoạch phát triển CNNLN nhìn chung còn một số tồn tại, hạn chế như [11]
- Chưa gắn quy hoạch phát triển cụm công nghiệp làng nghề với chiến lược quy hoạch dài hạn phát triển ngành nghề
- Chưa kết hợp tốt quy hoạch phát triển cụm công nghiệp làng nghề với quy hoạch phát triển khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp vừa và nhỏ trên ñịa bàn tỉnh
- Chưa tính toán ñầy ñủ nhu cầu, nên một số CCNLN vừa mới xây dựng xong ñã xin bổ sung thêm diện tích
Vì vậy, phải coi trọng công tác quy hoạch phát triển của CCNLN, khâu này phải ñi trước và nó ảnh hưởng quyết ñịnh ñến sự phát triển lâu dài của cụm Nhận thức tư tưởng cần quán triệt trong quy hoạch là: phải tính toán mục tiêu và hiệu quả của thành lập CCNLN Mục tiêu của thành lập CCNLN
là phát huy tối ña nội lực, sử dụng tốt lợi thế so sánh và lợi thế nhờ quy mô gắn chặt với giải quyết vấn ñề bảo vệ môi trường và phát triển sản xuất kinh doanh, trong ñó cần nhấn mạnh trước hết ñến môi trường
Những ngành nào, sản phẩm nào nếu sản xuất phân tán ở làng nghề cũ làm môi trường bị ảnh hưởng thì kiên quyết thành lập CCNLN ñể tách khu vực sản xuất ra khỏi khu dân cư Cần tránh tình trạng biến CCNLN thành một khu dân cư mới và nhân rộng ô nhiễm môi trường ra khu vực mới
Quy hoạch phát triển CCNLN cần chú ý gắn với: i) Quy hoạch phát triển ngành nghề trong chiến lược lâu dài; ii) Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
Trang 35của ñịa phương; iii) Quy hoạch sử dụng tối ưu ñất ñai của tỉnh; iiii) Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp vừa và nhỏ trên ñịa bàn tỉnh gắn với dự báo xu hướng phát triển trong tương lai
Chuyển sản xuất ngành nghề ra khu sản xuất tập trung tách khỏi khu dân
cư là một chủ trương ñúng nhằmcải thiện ñời sống trong khu dân cư, mở rộng quy mô sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nhưng việc
phát triển gành nghề TTCN không thể áp dụng một cách dập khuân, máy móc
và tùy tiện ở mọi nơi mà cần phải có ñịnh hướng ñúng, có lộ trình và bước ñi phù hợp, quy hoạch cho từng vùng, từng ñịa phương, bởi mỗi một ngành nghề
cú một ñặc thù riêng, mỗi một ñịa phương cú một ñiều kiện về quỹ ñất khác nhau Do ñó việc hoạch ñịnh các khu vực ñể bố trí các khu sản xuất tập trung phải tính ñến sự phù hợp của hiện tại và tương lai sau này không chỉ ở ñịa phương ñó mà còn tính ñến có ảnh hưởng ñến các công trình nào của Quốc gia hay không, nếu không sẽ gây ra hết sức tốn kém không chỉ của Nhà nước
mà của cả dân ñồng thời sẽ mất rất nhiều thời gian ñể khắc phục những bất cặp này.[3]
Mục ñích chuyển ra khu sản xuất tập trung là việc di chuyển các cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư sinh sống vì vậy việc quy hoạch ñất ñai phải tính toán ñến cự ly và khoảng cách giữa khu dân cư và khu sản xuất tập trung ñảm bảo tối thiểu ảnh hưởng về môi trường ñất, nước, không khí ñến khu dân cư
ðất ñai là vấn ñề hết sức nhạy cảm trong thời kỳ kinh tế thị trường, ñất chặt người ñông Chính vì vậy việc quy hoạch ñất ñai ñi liền với kế hoạch chi trả tiền bồi thường ñất cho người có ñất thuộc diện quy hoạch Giá cả ñền bù phải ñảm bảo tối thiểu theo ñúng quy ñịnh của Nhà nước và sự thỏa thuận của dân Thực tế cho thấy trong thời gian qua ñối với các dự án khu công nghiệp mang tầm quản lý của cấp quốc gia việc thu hồi ñất khá thuận lợi, tuy nhiên một số ñịa phương gặp không ít khó khăn tuy nhiên công tác giải phóng mặt
Trang 36bằng của khu công nghiệp ñược các cấp, các ngành làm mạnh và quyết liệt có những nơi cưỡng chế và cuối cùng cũng ñạt ñược mục ñích
Tuy nhiên ñất trong cụm công nghiệp làng nghề lại có những ñặc ñiểm khác rõ nét so với ñất trong khu công nghiệp chế suất bởi; Nhu cầu về ñất của chính những người dân trong diện mất ñất về mặt bằng sản xuất kinh doanh là rất lớn, họ là những hộ dân có vốn, có trình ñộ và hiểu biết về kinh tế, kinh doanh thương mại Nên số tiền ñền bù của dự án chi trả không ñáng là bao nhiêu so với tiền lực kinh tế của họ nếu ñó là giá ñất do Nhà nước ấn ñịnh theo giá ñất hiện hành Chính vì vậy hiện tượng hiện nay phổ biến là tình trạng thu hồi ñất gặp khó găn trong khâu thỏa thuận giá ñất với người dân có ñất trong cụm Hiện tượng cưỡng chế là hãn hữu, vấn ñề phổ biến hiện nay Nếu ñất do Nhà nước ñứng lên giải phóng rất khó khăn, kéo dài trong nhiều năm không giải quyết Thực tế cho thấy hiện nay, nhiều ñịa phương ñã kêu gọi chủ ñầu tư và các công ty ngoài quốc doanh bên ngoài vào làm chủ ñầu tư quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thấy rằng mức giá thỏa thuận giữa các chủ ñầu tư và các hộ mất ñất có thể cao gấp 2-3 lần so với giá của Nhà nước Chính vì vậy công tác giải phóng mặt bằng phải ñi liền với quy hoạch ñất ñai
Việc quy hoạch phải thực hiện dựa trên cơ sở ñánh giá nhu cầu thực sự cần thiết về mặt bằng sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất, từ ñó việc quy hoạch phải ñảm bảo theo tính chất của từng ngành nghề sản xuất khác nhau: ví dụ ñối với nghề sản xuất sắt thép cần có diện tích nhà xưởng ñể sản xuất lớn nhất, kho và bến bãi thứ hai tiếp ñến là diện tích bán hàng Tuy nhiên ñối với mỗi cơ sở lại có nhu cầu khác nhau; như ñối với các cơ sở có quy mô lớn dưới dạng công ty, doanh nghiệp tư nhân là những cơ sở có vốn lớn, quy
mô sản suất rộng và có khả năng mở rộng thị trường cao nên loại hình tổ chức này cần có quy hoạch diện tích tương ñối ñảm bảo Với loại hình tổ chức dưới dạng hộ cá thể việc sản xuất nhỏ, thị trường hẹp nên nhu diện tích ñất không
Trang 37cao Chính vì vậy, khi quy hoạch ta cần phải xét duyệt các cơ sở tương ñối chính xác về nhu cầu ñất của từng loại tổ chức mà có phương án chia ñất cho phù hợp, tránh tình trạng sau khi chuyển ra khu sản xuất tập trung diện tích quá rộng khả năng vốn, tài chính hạn hẹp không phát triển sản xuất mà nhượng lại tài sản cho các cơ sở khác hoặc ñất ñược sử dụng làm ñất dân cư không ñúng mục ñích quy hoạch của cụm
b) Vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh và sự di chuyển sản xuất
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ñã ra ñời và phát triển, các cơ sở sản xuất rất cần vốn, do ñó phường, họ ra ñời ñể tập trung vốn Sản phẩm của các ngành nghề cần phải trao ñổi nên hình thành các chợ làng, giao lưu kinh tế ñòi hỏi quy ñịnh, an ninh trật tự, phú quý sinh lễ nghĩa, từ ñó xuất hiện nhu cầu tôn vinh tổ nghề, lập nhà thờ tổ, thực hành các hình thức sinh hoạt tập thể như: giỗ tổ, thi tài, nhân những cuộc này bàn về những vấn ñề cấp bách của làng nghề như hợp tác sản xuất, cải tiến kỹ thuật, mẫu mã sản phẩm, tìm thị trường tiêu thụ, huy ñộng vốn vào sản xuất, mỏ rộng sản xuất, liên kết trong
tiêu thụ sản phẩm
Xác ñịnh nhu cầu vốn ñầu tư cho phát triển TTCN nông thôn là hết sức cần thiết, tuy nhiên có thể nhận thấy rằng: vốn ñầu tư cho phát triển TTCN nông thôn còn thiếu, ñầu tư nhỏ giọt, cá biệt lại có những ñơn vị vốn ñầu tư tương ñối lớn (hàng chục tỷ ñồng) chủ yếu là ở các doanh nghiệp, các công ty ðây là những cơ sở có nhu cầu trang bị mới thiết bị và mở rộng quy mô sản xuất
Quan hệ tính dụng tại các ngành nghề ñược thể hiện ở mức ñộ vay vốn của các cơ sở sản xuất Nhìn chung thì tỷ lệ ñược vay vốn của các cơ sở sản xuất ngành nghề còn ít Mức vay ở các cơ sở sản xuất của quốc doanh thường cao hơn ở các cơ sở tư nhân và các hộ gia ñình
Còn khi các cơ sở di chuyển, vốn ñòi hỏi phục vụ cho việc xây dựng và
mở rộng tại các CCN ñầu tư lớn hơn nhiều Những cơ sở chưa chủ ñộng ñược
Trang 38vốn thường tiến hành triển khai xây dựng chậm, không ñảm bảo tiến ñộ của
dự án
Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, giá cả của các nguyên vật liệu ñầu vào, giá nhân công cũng luôn là những yếu tố có quan hệ chặt chẽ với ñồng vốn Những cơ sở có năng lực về tài chính họ luôn chủ ñộng về nguyên liệu ñầu vaò và có lượng dự trữ lớn, còn các cơ sở nhỏ thường cần nguyên liệu ñến ñâu thì mua ñến ñó, ñôi khi phải chấp nhận giá nguyên liệu vào cao do gia tăng trong khâu vận chuyển hoặc số lượng nhỏ
Thực tế trong một số năm gần ñây Nhà nước cũng ñã chú trọng tạo ñiều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ có những ưu tiên trong vay vốn ñể ñầu tư sản xuất Tuy nhiên trong thực tế tại các ñịa phương thì các ngân hàng triển khai các hoạt ñộng này còn rất nhiều thủ tục khiến các cơ sở sản xuất gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn, hoặc có ñược vay cũng là những con số còn giới hạn nên các cơ sở sản xuất rất bức xúc về vấn ñề này
c) Trình ñộ công nghệ áp dụng
Ngày nay, trình ñộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ñã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ñối với các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết ñịnh tới năng xuất lao ñộng, chất lượng, thẩm mỹ và giá thành sản phẩm, sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá trên thị trường, và cuối cùng
là sự quyết ñịnh tới sự tồn tại hay suy vong của một cơ sở sản xuất hay ngành nghề TTCN nông thôn Phần lớn sản xuất TTCN vẫn sử dụng lao ñộng thủ công, công nghệ cổ truyền là chủ yếu dựa vào kinh nghiệm ñược truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác Chính vì vậy mà năng suất lao ñộng thấp, chủng loại không phong phú, hình thức và kiểu dáng ít ñược cải tiến, giá thành cao, hạn chế ñến khả năng cạnh tranh của sản phẩm ðể ña dạng hoá sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề TTCN nông thôn cần
Trang 39phải nâng cao trình ñộ tay nghề cho người lao ñộng, ñổi mới trang thiết bị, cải tiến và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
d) Hạ tầng cơ sở khu sản xuất tập trung
Cơ sở hạ tầng là nhân tố quan trong có tác dụng tạo ñiều kiện thuận lợi
và thúc ñẩy sản xuất phát triển Giao thông vận tải là yếu tố rất quan trọng trong việc vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất ñến nơi tiêu thụ, vận chuyển các ñầu vào cho quá trình sản xuất do vậy khi hệ thống ñường xá và các phương tiện giao thông vận tải phát triển sẽ bảo ñảm cho quá trình lưu thông hàng hoá ñược thông suốt, kịp thời Về ñiện, nó ảnh hưởng trực tiếp ñến việc ñưa máy móc, công nghệ hiện ñại vào sản xuất làm tăng năng suất lao ñộng trong sản xuất TTCN Ngoài ra, ñối với một số ngành nghề như sản xuất sắt thép còn ñòi hỏi hệ thống ñường nước dẫn vào và xả ra Nước xả ra có nhiệt
ñộ cao nên làm sao bố trí ñược hệ thống chung cho cả CCN là cần thiết ðồng thời là khu vực sản xuất và kinh doanh nên các hậ tầng giúp cho việc giao dịch thuận lợi hơn như ñiện thoại, mạng lưới các cơ sở ngân hàng
e) Chính sách liên quan ñến việc di chuyển
Tạo ñiều kiện cho việc chuyển sản xuất phân tán trong khu dân cư ra khu sản xuất tập trung ở các ngành nghề nông thôn cần có những chính sách hết sức cụ thể
ðối với việc thu hồi ñất: Cần có những chớnh sách ñền bù thỏa ñáng cho các hộ dân trong diện bị thu hồi Tuyên truyền vận ñộng nhân dân trong việc chuyển ra khu sản xuất tập trung ñể người dân thấy ñược tác dụng, lợi ích cho bản thân, gia ñình và cộng ñồng về các mặt kinh tế xã hội môi trường
Nhà nước phải tạo ra hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi; Chính sách miễn giảm thuế ñất, thuế thu nhập doanh nghiệp cho các
cơ sở hoạt ñộng trong khu sản xuất tập trung trong thời gian ñầu Hệ thống chính sách phải ñồng bộ và phù hợp với thực trạng của nền kinh tế trong từng
Trang 40thời kỳ và là ñộng lực thúc ñẩy, kích thích ngành nghề TTCN nông thôn phát triển, góp phần khai thác một cách tốt nhất các tiềm năng của ñịa phương, bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc
f)Công tác quản lý sau khi chuyển ra khu sản xuất tập trung
- Tổ chức bộ máy quản lý ñối với CCNLN
Các vấn ñề sau khi các cơ sở chuyển ra ñó là việc ñánh giá tình hình hoạt ñộng, cần phải có các chế tài phù hợp cho các cơ sở chuyển ra không ñúng mục ñích theo quy hoạch
Thêm vào ñó là vấn ñề quản lý về môi trường ở khu sản xuất tập trung,
và quản lý về hành lang diện tích, tránh tình trạng lấn chiếm ñất công cộng
ðể quản lý CCNLN hiệu quả cao vấn ñề mấu chốt là phân ñịnh rõ chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý nội bộ cụm
Bộ máy chính quyền các cấp (tỉnh, huyện, xã) với cơ quan giúp việc là các sở, ban, ngành của tỉnh và các phòng, ban của huyện, là cơ quan quản lý Nhà nước ñối với các CCNLN Nhà nước chịu trách nhiệm về ñịnh hướng xây dựng và chỉ ñạo thực hiện quy hoạch, ban hành, chỉ ñạo và kiểm tra thực hiện các quy ñịnh, có tính pháp quy về xây dựng và phát triển CCNLN
Ban Quản lý dự án CCNLN ở các huyện là ban chuyên môn do chính quyền cấp tỉnh hoặc huyện tổ chức ra ñể lo việc: ñầu tư, triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở và ñưa CCNLN vào hoạt ñộng
Ban ðiều hành hoạt ñộng CCNLN (thực chất là ban quản lý nội bộ cụm) là một tổ chức do CCNLN thành lập sau khi công tác xây dựng kết cấu
hạ tầng kỹ thuật của cụm về cơ bản hoàn thành Ban này hoạt ñộng như một ñơn vị giám sát và cấp giấy chứng nhận về ñảm bảo môi trường sinh thái cho quy trình sản xuất, kinh doanh và thực hiện theo cơ chế ñơn vị sự nghiệp có thu, hoặc một ñơn vị thực hiện hạch toán kinh tế
- Kiện toàn thể chế cho phát triển và quản lý các CCNLN