1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh

83 615 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Tác giả Lê Thế Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS. Cù Hữu Phú
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 5,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NễNG NGHIỆP HÀ NỘI

-

Lấ THẾ HIỀN

Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi

kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản

Trang 2

Lêi cam ®oan

Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguôn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2010 Tác giả

Lê Thế Hiền

Trang 3

lêi c¶m ¬n

Tôi xin chân thành cảm ơn:

- PGS TS Cù Hữu Phú, người hướng dẫn khoa học trực tiếp ñã giúp

ñỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo ñiều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện

ñề tài và hoàn thành luận văn này

- PGS TS Nguyễn Hữu Nam, các thầy cô trong bộ môn Bệnh lý cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Thú y; khoa Sau ñại học – Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tận tình giúp ñỡ và tạo ñiều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

- Toàn bộ các cô, các anh, các chị trong Bộ môn Vi trùng – Viện Thú y Quốc gia và ñặc biệt là gia ñình,cơ quan nơi tôi công tác ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi nhất giúp ñỡ tôi trong quá trình thực hiện ñề tài

Hà Nội, ngày tháng năm 2010 Tác giả

Lê Thế Hiền

Trang 4

2.1 Tình hình nghiên cứu về hội chứng PRRS trên thế giới và Việt Nam 32.2 Một số hiểu biết cơ bản về PRRS và vi rút gây bệnh 62.3 Một số vi khuẩn gây bệnh kế phát trong hội chứng PRRS ở lợn 11

4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn P multocida, A pleuropneumoniae và

4.2 Kết quả kiểm tra các mẫu dương tính với PRRS đồng thời phân lập

được ít nhất 1 trong 3 loại vi khuẩn A pleuropneumoniae,

Trang 5

P multocida và S suis 424.3 Kết quả kiểm tra đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn

A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập đ−ợc 434.3.1 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn

4.4 Kết quả xác định serotyp của các chủng vi khuẩn

A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập đ−ợc 484.4.1 Kết quả xác định serotyp của các chủng vi khuẩn

A pleuropneumoniae và P multocida phân lập đ−ợc 484.4.2 Kết quả xác định serotyp của các chủng vi khuẩn S suis phân lập đ−ợc 514.5 Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn

A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập đ−ợc 524.5.1 Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng A pleuropneumoniae

Trang 6

4.7.2 C¸c gi¶i ph¸p phßng bÖnh viªm phæi ë lîn 60

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

DNA Deoxyribonucleic Acid

AGID Agargel Immuno Diffuse

A.pleuropneumoniae Actinobaccillus pleuroneumonica

EAV Arterivirus

BHI Brain Heart Infusion

CAMP Chiristie – Atkinson – Munch – Peterson

CFT Complement Fixation Test

EDTA Ethylene Diamine Tetra Acetic acid

ELISA Enzyme – linked Immunosorbant assay

H pleuropneumoniae Haemophilus pleuropneumoniae

IHA Indirect Haemagglutination test

LPS Lypopolysaccaride

LTA Lipoteibic acid

LDV Lactate dehydrogenase

MR Methyl red

NAD Nicotinamide Adenine Dinucleotide

PBS Phosphat buffur solution

PCR Polymerase Chain Reaction

P multocida: Pasteurella multocida

PRRS Porcine Reproductive and Respiratory Ryndrome Sta aureus: Staphylococcus aureus

S suis Streptococcus suis

TSA Tryptic Soy Agar

VP : Voges – Prokauer

Trang 8

DANH MụC BảNG BIểU

3.1 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định serotyp A, B, D của vi

3.2 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định các serotyp 1, 2, 7 và 9 của

4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và

4.2 Kết quả phân lập được 1 trong 3 vi khuẩn A pleuropneumoniae,

P multocida và S suis trong các mẫu dương tính với PRRS 42 4.3 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, kinh tế thị trường được mở rộng, đời sống của nhân dân ta ngày càng được nâng cao, đi kèm với đó là việc đáp ứng nhu cầu về thực phẩm càng được quan tâm Nhà nước đj có nhiều chính sách hỗ trợ và đầu tư cho chăn nuôi lợn, nhiều dự án đj giúp người nông dân vốn và kỹ thuật để tăng năng suất chăn nuôi, đàn lợn của chúng ta đj tăng lên một cách

rõ rệt cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ dịch bệnh xảy ra, gây ảnh hưởng

đến năng suất chăn nuôi, chất lượng thịt và thu nhập của người chăn nuôi

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (viết tắt là PRRS), hay còn

được gọi là bệnh Tai xanh nổ ra lần đầu tiên ở nước ta vào tháng 3 năm 2007 ở tỉnh Hải Dương, sau đó lây lan nhanh và đến nay đj xảy ra liên tiếp trên các

đàn lợn ở hầu khắp các địa phương trên cả nước, làm chết hoặc buộc phải tiêu hủy một số lượng lớn lợn, gây tổn thất rất nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn,gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cũng như các vấn đề an sinh xj hội cho các địa phương Chúng ta đj áp dụng nhiều biện pháp để khống chế nhằm hạn chế thiệt hại của bệnh gây ra Đến nay, bệnh đj và đang từng bước được khống chế nhưng các biện pháp đj sử dụng vẫn chưa cho kết quả như mong muốn Nguy cơ dịch tái bùng phát, lây lan ở tất cả các địa phương trong cả nước là rất cao

Một trong những nguyên nhân theo nhận định đj làm trầm trọng thêm tình hình dịch bệnh PRRS là do có những bệnh cộng phát hoặc kế phát xảy ra trên những đàn lợn bị nhiễm PRRS Trong số đó phải kể đến bệnh viêm phổi

kế phát ở lợn thường do các loại vi khuẩn như Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây ra Do

đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện về mối liên quan giữa bệnh viêm phổi

ở lợn do các vi khuẩn này gây ra với bệnh PRRS là rất cần thiết và là một yêu

Trang 10

cầu cấp bách, từ đó xác định được giải pháp phòng chống bệnh có hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi

Xuất phát từ tình hình thực tiễn, nhằm đáp ứng cơ sở khoa học cho việc phòng chống bệnh PRRS nói chung và bệnh viêm phổi ở lợn nói riêng, tạo tiền

đề cho ngành chăn nuôi lợn trong nước ngày càng đứng vững và phát triển, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:

“Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng

rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh" 1.2 ý nghĩa thực tế và khoa học của đề tài

- Đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn về phòng trị bệnh viêm phổi kế phát trong hội chứng PRRS cho lợn

- Xác lập cơ sở khoa học cho những nghiên cứu khác về hội chứng PRRS ở lợn của Việt Nam, góp phần trong công tác phòng trị bệnh của lợn nuôi tại các địa phương

1.3 Mục tiêu của đề tài

- Phân lập, xác định một số đặc tính quan trọng của các chủng vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây bệnh viêm phổi kế phát trong hội chứng PRRS ở lợn nuôi tại 3 tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Thái Nguyên

- Đề xuất giải pháp phòng trị bệnh viêm phổi kế phát thích hợp cho lợn tạicác địa phương

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây bệnh viêm phổi kế phát trong hội chứng PRRS ở lợn

- Lợn nghi mắc PRRS nuôi tại 3 tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Thái Nguyên

Trang 11

2 tổng quan tài liệu

2.1 Tình hình nghiên cứu về hội chứng PRRS trên thế giới và Việt Nam 2.1.1 Tình hình nghiên cứu về hội chứng PRRS trên thế giới

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tên tiếng Anh là Porcine Reproductive and Respiratory Syndrom, viết tắt là PRRS) là một bệnh mới do

vi rút gây ra ở lợn Bệnh được mô tả lần đầu tiên ở Hoa kỳ vào năm 1987 Sau

đó bệnh lần lượt xuất hiện ở Canada năm 1988, Đức năm 1990, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ và Anh năm 1991, Pháp năm 1992.Từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước và vùng ljnh thổ thuộc tất cả các châu lục trên thế giới đều có dịch PRRS lưu hành (trừ châu úc và Newzeland) Có thể khẳng định rằng PRRS là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2007)

Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh nên người ta

đặt nhiều tên gọi như: Bệnh bí hiểm ở lợn (Mistery Disease of Swine – MDS), Bệnh Tai xanh (Blue Ear Disease – BED), Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (Porcine Endemic Abortion and Respiratory Syndrome – PEARS),…

Năm 1991, Viện Thú y Lelystad (Hà Lan) đj phân lập thành công virut gây bệnh, sau đó là Mỹ và Đức Ngày nay, virut được gọi là Lelystad để ghi nhớ sự kiện nơi đầu tiên virut này được phân lập Tuy nhiên, PRRSV vẫn là tên gọi phổ biến

Năm 1992, tại Hội nghị quốc tế về hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đj thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS)

Hiện nay, dựa trên việc phân tích cấu trúc gen, người ta đj xác định

được virut gây hội chứng PRRS có 2 nhóm Nhóm I gồm các virut thuộc chủng châu Âu (tên gọi phổ thông là virut Lelystad) gồm 4 phân nhóm

Trang 12

(subtype) đj được xác định Nhóm II gồm các virut thuộc dòng Bắc Mỹ (tiêu biểu cho nhóm này là chủng virut VR-2332) Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virut thuộc hai chủng là khoảng 40%, do đó ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa hai chủng (Bùi Quang Anh và cs, 2008)

Những nghiên cứu gần đây ở Trung Quốc cho thấy, virut PRRS tồn tại dưới hai dạng: dạng cổ điển độc lực thấp và dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm và chết nhiều lợn

2.1.2 Tình hình nghiên cứu về hội chứng PRRS ở Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh PRRS ở lợn (hay còn được gọi là bệnh Tai xanh) đj

được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam năm 1997, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu đó có huyết thanh dương tính với PRRS Tuy nhiên, sự bùng phát thành dịch và gây tổn thất lớn đáng báo động cho ngành chăn nuôi lợn thực sự mới bắt đầu từ tháng 3/2007, do không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm Trong một vài năm gần đây, bệnh PRRS đj xuất hiện tại hầu khắp các tỉnh ở Việt Nam và gây ra tổn thất rất nặng nề cho người chăn nuôi lợn, nhưng đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đầy đủ về bệnh này tại Việt Nam được công bố

Qua nghiên cứu giải mj gen của virut tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy, các mẫu virut gây bệnh tai xanh tại Việt Nam có mức tương đồng về amino axít từ 99 - 99,7% so với chủng virut gây bệnh Tai xanh thể độc lực cao của Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin Điều này cho thấy chủng virut gây bệnh Tai xanh ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống Trung Quốc

Theo báo cáo của Cục Thú y quốc gia, kể từ tháng 3 năm 2007 đến nay, trên cả nước dịch tai xanh đj bùng phát thành nhiều đợt lớn:

- Đợt dịch thứ nhất diễn ra từ ngày 12/03/2007 đến 15/5/2007: Đây là lần

đầu tiên dịch PRRS bùng phát trên đàn lợn nước ta Bắt đầu tại Hải Dương sau đó

đj lây lan nhanh và phát triển mạnh ở 07 tỉnh đồng bằng Sông Hồng đó là Hải

Trang 13

Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Phòng

Số lợn mắc bệnh là 31.750 con, số lợn chết và xử lý là 7.296 con Sau hơn 1 tháng tích cực khống chế, dịch PRRS ở vùng này đj tạm thời được dập tắt

- Đợt dịch thứ hai diễn ra từ ngày 25/06/2007 đến 11/12/2007: Dịch bắt

đầu xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam, sau đó lây lan ra 14 tỉnh, thành phố là Cà Mau, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngji, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương Tổng số lợn ốm là 38.827 con, số đj chết và xử lý là 13.070 con Như vậy, trong năm 2007, dịch Tai xanh đj xuất hiện tại 19 tỉnh, thành phố Tổng số lợn mắc bệnh là 70.577 con, số chết và phải tiêu hủy là 20.366 con

- Đợt dịch thứ ba diễn ra từ ngày 28/03/2008 đến 20/5/2008: Dịch xuất hiện ở nhiều xj thuộc 10 tỉnh miền Bắc Trung bộ như Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình và Thái Nguyên Tổng số lợn mắc bệnh là 271.439 con, số chết và phải tiêu hủy là 270.393 con

- Đợt dịch thứ tư diễn ra từ ngày 04/6/2008 đến ngày 22/8/2008: Trong đợt này, dịch bệnh xảy ra lẻ tẻ ở 128 xj trên 38 huyện thị của 17 tỉnh thành thuộc cả

ba miền Bắc, Trung, Nam nhưng với quy mô nhỏ hơn so với các đợt trước đó Số lợn ốm là 37.247 con, trong đó số lợn chết và tiêu huỷ là 29.383 con

Tính riêng trong năm 2010, theo kết quả điều tra từ tháng 4/2010 đến tháng 5/2010, cả nước có 15 tỉnh là Hải Dương, Thái Bình, Thái Nguyên, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình và Cao Bằng có dịch tai xanh xảy ra, với số lợn bị mắc bệnh tai xanh là 76.368 con và số lợn bị chết, tiêu hủy là 34.768 con

Như vậy tại Việt Nam, dịch PRRS có thể vẫn có những diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong cả nước

Trang 14

2.2 Một số hiểu biết cơ bản về PRRS và vi rút gây bệnh

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS) mang tính truyền nhiễm nguy hiểm đối với lợn Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng: Viêm đường hô hấp rất nặng, sốt, ho, thở khó, các rối loạn sinh sản ở lợn: sẩy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu

Nguyên nhân gây hội chứng PRRS ở lợn là một virut thuộc họ Arteriviridae, có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn RNA Các thành viên trong

họ Arteriviridae có cấu trúc và sự nhân lên giống với virut họ Coronaviridae

Sự khác biệt giữa hai họ virut này chính là bộ gen của Arteriviridae chỉ bằng 1/2 bộ gen của Coronaviridae và nét giống nhau đặc trưng của chúng là bản sao mj giống nhau đặc trưng của lớp Nidoviral Họ Arteriviridae chỉ có 1 giống duy nhất

* Sức đề kháng của virut:

PRRS Virut có thể tồn tại 1 năm trong nhiệt độ lạnh từ -200C đến -700C Trong điều kiện 40C, virut có thể sống 1 tháng PRRS Virut đề kháng kém với nhiệt độ cao: ở 370C chịu được 48 giờ, 560C bị giết sau 1 giờ (Nguyễn Bá Hiên

và cs, 2007), (Tô Long Thành, 2007)

Với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có PH axit, virut

dễ dàng bị tiêu diệt ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virut nhanh chóng

* Khả năng gây bệnh:

PRRS Virut chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh, đây có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007)

Về mặt độc lực, người ta thấy PRRS virut tồn tại dưới 2 dạng: Dạng

cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 – 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao: gây nhiễm và chết nhiều lợn

Trang 15

Người và các động vậy khác không mắc bệnh, tuy nhiên trong các loài thuỷ cầm chân màng, vịt trời (Mallard duck) lại mẫn cảm với virut PRRS Virut có thể nhân lên ở loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng rất khó khống chế (Albina, 1997)

* Cơ chế sinh bệnh và phương thức truyền lây:

Virut có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường; tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virut cũng là nguồn lây lan bệnh ở lợn nái mang thai, virut có thể từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn con nhiễm bệnh và lợn mang trùng có thể bài thải virut trong vòng 6 tháng

Bệnh có thể lây trực tiếp thông qua sự tiếp xúc giữa lợn ốm, lợn mang trùng với lợn khoẻ và có thể lây gián tiếp qua các nhân tố trung gian bị ô nhiễm virut

Virut rất thích nghi với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động

ở vùng phổi Sau khi xâm nhập, đích tấn công của virut là các đại thực bào

Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt virut, vì thế virut hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó Một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virut xâm nhiễm rất sớm

Cần phải thấy rằng, trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào

đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đáp ứng miễn dịch cả không đặc hiệu

và đặc hiệu, đây là loại tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu, mở đầu cho quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Khi tế bào đại thực bào bị virut phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm virut PRRS sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp

Trang 16

* Chẩn đoán:

Hội chứng PRRS có thể được chẩn đoán bằng hai phương pháp cơ bản

đó là chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm (đặc biệt là chẩn đoán huyết thanh học) Tuy nhiên, trên thực tế để đảm bảo độ chính xác cao, việc phối hợp cả hai phương pháp là cần thiết

Về chẩn đoán lâm sàng thường dựa vào hai nhóm triệu chứng đó là các triệu chứng về rối loạn hô hấp và rối loạn sinh sản:

- ở lợn nái tăng đột biến tỷ lệ sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, tỷ lệ lợn con sơ sinh chết cao, các hiện tượng này xảy ra trong khoảng từ 8-20% tổng

số lợn nái của cơ sở chăn nuôi;

- ở các nhóm lợn khác có hiện tượng đồng loạt bỏ ăn hoặc ăn ít, sốt cao

40 - 410C, khó thở, ban đỏ da, táo bón hoặc ỉa chảy, tốc độ lây lan nhanh, đặc biệt ở một số con lợn bệnh chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím

Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác cần phải lấy mẫu bệnh phẩm (máu lợn bệnh còn sống hoặc các tổ chức bệnh phẩm phổi, hạch, của lợn chết) để làm các xét nghiệm chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

- Dựa vào phương pháp miễn dịch đánh dấu bằng enzym (ELISA) hoặc phương pháp gián tiếp huỳnh quang kháng thể (IFAT) theo quy trình của OIE

- Phương pháp nhân gen PCR để phát hiện virut hoặc phương pháp phân lập virut gây bệnh trên các môi trường phôi gà hoặc các môi trường tế bào đặc biệt

Các phương pháp này cho độ chính xác cao (từ 92-95%) trong chẩn

đoán xác định hội chứng PRRS ở lợn (Bùi Quang Anh và cs, 2008)

* Phòng bệnh:

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu hội chứng PRRS ở lợn, do vậy việc phòng bệnh bằng vacxin và vệ sinh phòng bệnh hiện đang là hai phương pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi

Trang 17

- Phòng bệnh bằng vacxin:

Cũng như nhiều bệnh truyền nhiễm khác, đối với hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, việc phòng bệnh bằng vacxin là một trong những biện pháp quan trọng nhằm hạn chế dịch bệnh xảy ra Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc lựa chọn loại vacxin phù hợp và sử dụng đúng quy trình kỹ thuật là mấu chốt hàng đầu quyết định đến hiệu quả biện pháp phòng ngừa

Hiện nay trên thị trường, đj có một số loại vacxin phòng chống hội chứng PRRS của nhiều nhà sản xuất khác nhau và sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất

+ Vacxin BSL-PS 100: là vacxin PRRS nhược độc đông khô thế hệ mới

có nguồn gốc từ chủng JKL-100 thuộc dòng châu Mỹ Một liều chứa ít nhất

105.0TCID50 Có độ an toàn rất cao, vacxin an toàn dù chủng cao gấp 20 liều

Hiệu quả: Thực nghiệm chứng minh hiệu quả trên lợn con theo mẹ tỉ lệ

tử vong 0% so với lô đối chứng không sử dụng vacxin là 7% Trên lợn thịt tăng trọng thêm 15% so với lợn không tiêm phòng

Một tuần sau khi tiêm phòng, hàm lượng kháng thể trong máu đạt được mức bảo hộ và thời gian miễn dịch kéo dài 16 tuần

+ Vacxin BSK-PS100: Vacxin vô hoạt chứa chủng virut PRRS dòng châu Âu Một liều vacxin chứa ít nhất 107.5TCID50 Vacxin có độ an toàn rất cao, thử nghiệm đj chứng minh BSK-PS100 an toàn dù chủng cao gấp 10 liều Vacxin an toàn với vật mang thai

Hiệu quả: Thực nghiệm đj chứng minh trên lô heo nái có chủng vacxin,

tỷ lệ sống sót của heo sơ sinh cao hơn 6,4%, tỷ lệ heo sơ sinh chết thấp hơn 3,7%, tỷ lệ thai chết lưu và thai gỗ thấp hơn 3,6% và tỷ lệ heo con cai sữa cao hơn 9,1% so với lô heo nái không chủng vacxin

+ Vacxin Amervac-PRRS: Vacxin nhược độc dạng đông khô, chứa virut PRRS dòng châu Âu VP046BIS, mỗi liều chứa ít nhất 103.5TCID50

Hiệu quả: VP046BIS có khả năng bảo vệ tất cả các chủng châu Âu khác

Trang 18

và châu Mỹ Đây là chủng an toàn nhất trông các chủng châu Âu và hoàn toàn không gây hoàn nguyên độc lực

Hiện nay, Cục Thú y quốc gia Việt Nam đang tiến hành sử dụng thí

điểm vacxin chết phòng bệnh thể độc lực cao của Trung Quốc tại một số địa phương Nếu có kết quả tốt, vacxin này sẽ được nhập khẩu và sử dụng đại trà cho đàn lợn cả nước

- Phòng bệnh bằng vệ sinh:

Trong tình hình dịch bệnh như hiện nay, việc sử dụng vacxin phòng PRRS nhằm tạo miễn dịch chủ động cho lợn chống lại dịch bệnh này là một việc làm cần thiết và cấp bách Tuy nhiên, bên cạnh đó cần chú ý thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức phòng bệnh cho người chăn nuôi cũng như các biện pháp kiểm dịch nhằm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh bùng phát, lây lan, nhất là trong điều kiện hội nhập mạnh mẽ như hiện nay

Chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, thường xuyên quét dọn, tiêu độc chuồng trại bằng một số hoá chất như vôi bột, Iodine, chloramin B,… Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho lợn để nâng cao sức đề kháng cho lợn Đối với lợn mới mua về cần cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi

Tổ chức tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương để người dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ về mức độ nguy hiểm của dịch bệnh tai xanh và các biện pháp phòng chống dịch

đặc biệt cần phải khai báo khi lợn có biểu hiện của bệnh PRRS

Để chủ động phòng chống dịch, cần thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp phòng chống dịch như: phát hiện sớm, bao vây xử lý kịp thời các ổ dịch; công tác tuyên truyền thực hiện sâu rộng tới các ngành, các cấp và người dân tham gia chăn nuôi; đặc biệt có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp từ Trung ương tới các địa phương

Trang 19

2.3 Một số vi khuẩn gây bệnh kế phát trong hội chứng PRRS ở lợn

Trong bệnh tai xanh thì vai trò của vi khuẩn kế phát là một trong những nguyên nhân chính gây chết hàng loạt lợn tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay Do vi rút PRRS có khả năng gây suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho lợn Trong đó, phải

kể đến 3 loại vi khuẩn thường gây bệnh viêm phổi kế phát ở lợn như: A pleuropneumoniae, P multocida và S.suis

2.3.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi màng phổi do vi khuẩn gây ra ở lợn

Vi khuẩn A pleuropneumoniae là một tác nhân gây bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn Bệnh có phân bố rộng rji và ngày càng trở nên quan trọng

do việc chăn nuôi lợn ngày một phát triển

Vi khuẩn A pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, trước đây còn có tên là Haemophilus parahaemolyticus hay Haemophilus pleuropneumoniae đj được chứng minh là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn

Vi khuẩn A pleuropneumoniae là loại cầu trực khuẩn nhỏ, gram (-), kích thước 0,3-0,5 x 0,6-1,4 àm, không di động, không sinh nha bào và có hình thành giáp mô Dưới kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có lông hay còn gọi là pili có kích thước 0,5-2 x 60-450 nm

A pleuropneumoniae là một vi khuẩn khó tính, khó nuôi cấy Chủ yếu sinh trưởng trong môi trường được bổ sung 5% huyết thanh ngựa và trong điều kiện có 5 - 10% CO2 Vi khuẩn không mọc trên môi trường thạch máu thông thường trừ khi thạch máu được bổ xung NAD và chúng mọc xung quanh các khuẩn lạc của tụ cầu là do Staphylococcus aureus trong quá trình phát triển trên thạch máu đj phá huỷ hồng cầu có trong máu và sản sinh ra chất NAD

Trong môi trường nuôi cấy, vi khuẩn đòi hỏi yếu tố V để phát triển, nó phát triển tốt trên môi trường thạch Chocolate nhưng vi khuẩn không mọc trên

Trang 20

môi trường Mac Conkey Vi khuẩn A pleuropneumoniae có khả năng lên men các loại đường: Xylose, Ribose, Glucose, Fructose, Maltose, Mannitol, và không lên men: Trehalose, Arabinose, Lactose, Raffinose,… Phản ứng sinh Indol, Catalaza, Ureaza, CAMP Test dương tính

A pleuropneumoniae có sức đề kháng kém Vi khuẩn chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên trong một thời gian ngắn Tuy nhiên khi được bảo vệ bởi chất nhầy hoặc các chất hữu cơ khác thì vi khuẩn có thể sống sót trong vài ngày Trong nước sạch ở nhiệt độ 4oC, vi khuẩn có thể sống được 30 ngày, nhiều giờ trong khí dung và có thể tồn tại được trong 4 ngày ở mô phổi và chất thải ở nhiệt độ phòng Nó bị diệt nhanh chóng ở nơi khô và các chất sát trùng

A pleuropneumoniae được chia thành 2 biotyp dựa trên nhu cầu sử dụng NAD của vi khuẩn (Pohl và cs, 1983) Biotyp 1 của vi khuẩn khi nuôi cấy trên môi trường nhân tạo phụ thuộc vào NAD, biotyp 2 không phụ thuộc vào NAD nhưng cần có các pyridine nucleotide đặc hiệu hoặc các chất tiền thân của pyridine nucleotide để tổng hợp NAD cần thiết cho sự phát triển của chúng Biotype 1 có độc lực cao hơn biotyp 2

Trong biotyp 1, có 12 serotyp được tìm thấy và được phân loại theo type huyết thanh từ 1 - 12 (riêng serotyp 5 được chia làm 5A và 5B) Trong biotype 2, serotyp 2, 4, 7 và 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên như biotyp 1 Gần đây biotyp 2 có serotyp 13, 14 được mô tả có kháng nguyên khác với biotype 1

* Cấu trúc kháng nguyên và yếu tố độc lực của vi khuẩn:

- Lớp vỏ vi khuẩn:

Vi khuẩn A pleuropneumoniae được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ

có bản chất là các polysaccharide Đây là thành phần quyết định độc lực của

vi khuẩn và gây hiệu ứng cho serotyp đặc hiệu (Ward and Inzawa, 1997) Lớp vỏ này không chỉ có ý nghĩa trong quá trình gây bệnh mà còn có ý nghĩa chẩn đoán và dịch tễ (Inzama, 1991) Sự khác nhau về độc lực liên quan

Trang 21

đến cấu trúc và những sản phẩm do vỏ và nội độc tố tạo nên (Dubreuil và cs, 2000) Quan sát dưới kính hiển vi điện tử thấy những chủng có độc lực thì có kích thước lớn hơn và có lớp vỏ bám dính hơn trong khi những chủng ít độc thì nhỏ hơn và chỉ có lớp vỏ mỏng (Steffens và cs, 1990; Inzana, 1991) Jacques và cs (1988), cũng xác định sự đa dạng trong cấu trúc vỏ khi phân tích lớp vỏ ở các serotyp 1 - 10 dưới kính hiển vi điện tử và cho thấy lớp vỏ dày khoảng 80 - 90mm đến 210 - 230mm tùy từng serotyp Chính điều này đj giải thích cho sự khác nhau về độc lực giữa các serotyp

Lớp vỏ giúp bảo vệ vi khuẩn khỏi sự đề kháng của động vật như hoạt

động thực bào và hoạt động bổ thể Những chủng có vỏ đề kháng với hoạt

động tiêu diệt của bổ thể đj được chứng minh Những thể đột biến không có

vỏ sẽ bị tiêu diệt ngay sau khi có mặt huyết thanh, trong khi những chủng có

vỏ thì không (Ward và Inzana, 1997)

- Độc tố của vi khuẩn:

Đa số các chủng A pleuropneumoniae đều tạo ra 1 hoặc nhiều hơn 1

độc tố phân hủy hồng cầu Phân tích những độc tố hồng cầu này quan sát thấy chúng là 1 protein hạt nhân của RTX (Repeat in Toxin), được tìm thấy ở hầu hết các vi khuẩn Gram (-) như E coli, B pertussin, M haemolytica ở A pleuropneumoniae, độc tố này gọi là độc tố Apx được xác định là Apx I, Apx

II, Apx III (Frey, 1995) và Apx IV (Cho và Chae, 2001b) Người ta xác định chắc chắn về vai trò của Apx trong quá trình gây bệnh của A pleuropneumoniae Mỗi độc tố này khác nhau do hoạt động phân giải hồng cầu gây độc tế bào (Frey và cs, 1995)

- Lipopolysaccarit:

Lipopolysaccarit (LPS) là thành phần chính của lớp màng ngoài vi khuẩn và được cho là nguyên nhân gây tổn thương mô Những tổn thương do LPS tinh chế không gây xuất huyết, không gây hoại tử khác với tổn thương

đặc trưng của viêm phổi - màng phổi Song LPS chắc chắn kết hợp với độc tố Apx làm tăng độc lực và làm tăng độc tính cho độc tố Apx

Trang 22

LPS có vai trò quan trọng trong sự bám dính của vi khuẩn lên tế bào biểu mô và lớp màng nhầy khí quản của lợn Bám dính là hoạt động ban đầu giúp cho sự xâm nhập của vi khuẩn và có thể là đặc tính gây bệnh, là nguyên nhân gây ra bệnh

* Bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra:

Bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm của lợn do A pleuropneumoniae gây ra đj xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam trong những năm gần đây, A pleuropneumoniae đj được phân lập và

được đánh giá là một vi khuẩn gây nên một bệnh hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trại lợn siêu nạc quy mô lớn

Tất cả các lứa tuổi lợn đều bị cảm nhiễm Trong trường hợp cấp tính của bệnh thì tỷ lệ chết thường cao Tỷ lệ chết cũng phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn và sự lưu hành bệnh trong môi trường Bệnh nặng hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn nếu nhiễm kế phát các bệnh khác như bệnh Aujeszky và hội chứng hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) (Pol và cộng sự, 1997)

- Triệu chứng lâm sàng:

Triệu chứng lâm sàng có nhiều mức phụ thuộc vào tuổi của gia súc, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh Biểu hiện lâm sàng của bệnh có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mjn tính

+ Thể quá cấp tính: Một hoặc nhiều lợn cai sữa cùng một chuồng hoặc khác chuồng bị ốm nặng, sốt tới 41,50C, đờ đẫn, không muốn ăn, nôn mửa và

ỉa chảy, con vật bị bệnh nằm trên nền chuồng, không có dấu hiệu thở rõ ràng, mạch đập tăng lên rất sớm và trụy tim mạch Da trên mũi, tai, chân và sau cùng là toàn bộ cơ thể trở nên tím tái ở giai đoạn cuối và chết

+ Thể cấp tính: Nhiều lợn ở 1 chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau cùng mắc bệnh Lợn sốt cao từ 40,5 - 410C, da đỏ, con vật mệt mỏi, không muốn dậy, không ăn uống Các dấu hiệu hô hấp nặng với khó thở, ho và đôi khi thở bằng mồm trở nên rõ Thường xuất hiện trụy tim mạch, với xung huyết

Trang 23

ở các đầu tứ chi Toàn thân suy sụp trong vòng 24 giờ đầu, bệnh diễn biến khác nhau ở từng con vật, phụ thuộc mức độ tổn thương phổi và thời điểm bắt

đầu điều trị

+ Thể bán cấp và mDn tính: xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính biến đi Không sốt hoặc sốt ít, xuất hiện ho tự phát hoặc thỉnh thoảng, với các cường độ khác nhau Có thể súc vật kém ăn, giảm tăng trọng, có thể xác định các gia súc bị ốm bằng dấu hiệu các con vật này không gắng sức được Khi di chuyển, chúng thường đi lùi lại phía sau và khi bị chặn lại chúng thường ít chống cự ở các đàn gia súc bị nhiễm mjn tính thường có nhiều súc vật bị nhiễm không biểu hiện rõ trên lâm sàng

Các dấu hiệu lâm sàng có thể trở lên rõ hơn bởi sự kết hợp với các yếu

tố gây nhiễm trùng đường hô hấp khác (Mycoplasma, Vi khuẩn, Virus) Các biến chứng như viêm khớp, viêm nội tâm mạc và áp xe ở các vị trí khác nhau

có thể xảy ra cùng với nhiễm trùng A pleuropneumoniae

- Bệnh tích:

Tổn thương bệnh lý đại thể chủ yếu ở đường hô hấp Đa số các trường hợp bị viêm phổi hai bên, với tổn thương ở các thùy đỉnh và thùy tim, cũng như ít nhất một phần các mỏm trên của thuỳ hoành và ở đó viêm phổi thường khu trú, ranh giới rõ

ở các trường hợp tử vong nhanh chóng, khí quản và các phế quản bị lấp

đầy bởi các chất tiết nhầy bọt nhuốm máu Có thể thấy một số tổn thương đại thể ở các trường hợp tối cấp tính, các vùng viêm phổi trở nên sẫm màu và chắc, với viêm màng phổi có ít tơ huyết hoặc không tơ huyết và mặt cắt thường mủn Viêm màng phổi tơ huyết thường rất rõ ở các gia súc chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh ít nhất 24 giờ sau khi nhiễm trùng và khoang màng phổi chứa dịch nhuốm máu

Khi tổn thương tiến triển lớn hơn, viêm màng phổi tơ huyết trên vùng phổi tổn thương trở nên xơ và có thể dính rất chặt màng phổi vào thành ngực

Trang 24

tới mức làm cho phổi dính vào thành ngực ngay cả khi mổ lợn chết lấy phổi ra phân tích Tổn thương sớm ở phổi là phổi trở nên đỏ tím hoặc đen đồng đều và sau đó trở nên sáng hơn và sau đó vẫn cứng ở những khu vực bị nặng nhất Các tổn thương kích cỡ co lại khi bệnh giảm, ở trường hợp mjn tính còn tồn tại các nốt kích thước khác nhau, phần lớn ở thuỳ tim Những nốt dạng apxe

được giới hạn bởi vỏ dày tổ chức liên kết và có lẽ kết hợp với khu vực viêm phổi tơ huyết Trong một số trường hợp khi tổn thương phổi được phục hồi thì chỉ còn lại một số ổ di chứng của viêm dính màng phổi tơ huyết Tỷ lệ lưu hành bệnh viêm màng phổi mjn tính cao ở lợn giết thịt có nghĩa là viêm phổi - màng phổi nhiều

Trong các giai đoạn đầu của bệnh, những biến đổi về tổ chức bệnh lý

được đặc trưng bởi sự hoại tử, xuất huyết, thâm nhiễm các tế bào bạch cầu trung tính, sự hoạt hoá đại thực bào và tiểu cầu, nghẽn mạch máu, phù rộng và tiết dịch gỉ viêm lẫn fibrin Sau phản ứng cấp tính đặc trưng là sự thâm nhiễm

đại thực bào, xơ hoá rõ quanh những vùng hoại tử và viêm màng phổi fibrin

- Chẩn đoán:

Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng kết hợp với các bệnh tích ở phổi và màng phổi cùng với sự nghiên cứu tổ chức học của các tổn thương

Vì tầm quan trọng của bệnh, nên cần xác định vi khuẩn học để khẳng

định chẩn đoán ở các động vật mới chết dễ dàng tìm thấy căn nguyên bệnh tại phế quản hoặc dịch tiết ở mũi và tổn thương phổi

Việc khẳng định là A.pleuropneumoniae có thể có nhiều cách: bằng kháng thể huỳnh quang, bằng Peroxidase miễn dịch, bằng đồng ngưng kết tìm kháng nguyên đặc hiệu cho serotype ở chiết xuất tổ chức phổi, sử dụng ngưng kết latex hoặc ELISA Có thể dùng kỹ thuật PCR hoặc test huyết thanh với kháng thể hấp thụ hoặc kháng thể đơn dòng để xác định vi khuẩn phân lập được có phải là A pleuropneumoniae không Có thể xác định tới các serotyp bằng cách sử dụng kỹ thuật PCR cho các gen hoạt hoá câú trúc của độc tố hoặc có thể sử dụng kháng

Trang 25

thể đơn dòng với từng serotyp Có thể xác định serotyp khi cho ngưng kết vi khuẩn nuôi cấy trên môi trường giàu dinh dưỡng với huyết thanh hoặc bằng phản ứng đồng ngưng kết Trong một số trường hợp dùng phương pháp khuếch tán trên thạch và phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp

- Điều trị:

A pleuropneumoniae trên ống nghiệm rất nhạy cảm với Penicilline, Ampiciline, Cephalosporin, Chloramphenicol, Tetracycline, Colistin, Sulfonamide, Cotrimoxazole (Trimethoprim + Sulfamethoxazole) và Gentamycine với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC: ) thấp Vi khuẩn này có MIC cao với Streptromycine, Kanamycine, Spectinomycin, Spiramycine và Lincomycine (Nicolet và Schifferli, 1982; Gilbride và Rosendal, 1984; Nadeau và cộng sự, 1988; Inoue và cộng sự 1984)

Prescott và Baggot (1993) đj thông báo về tính mẫn cảm của vi khuẩn này với các thuốc kháng sinh Sự xuất hiện hiện tượng kháng thuốc với Ampicillin; Streptromycin, Sulfonamides, Tetracyclines và Chloramphenicol

là vấn đề đáng lo ngại, thường gặp ở các serotyp 1, 3, 5 và 7 (Gilbride và Rosendal, 1984), nhưng hiếm gặp ở các serotype khác, nhất là serotyp 2 (Nicolet và Schifferli, 1982; Inoue và cộng sự, 1984)

Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn A pleuropneumoniae truyền theo Plasmid Kháng sinh được chọn lựa phải là kháng sinh có sự kháng kháng sinh thấp nhất và có đặc tính diệt khuẩn được tốt nhất Do vậy, các kháng sinh nhóm Betalactamin A (chủ yếu Cephalosporin), Chloramphenicol, Cotrimoxazole và với một mức độ nhất định nào đó, Tetracycline được coi là

có tác dụng nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn suất Quinolone (Enrofloxacine) hoặc Cephalosporin bán tổng hợp Ceftiofur sodium đj được chứng minh trên thực nghiệm rất có kết quả

Người ta đj thu được những kết quả tốt trên thực nghiệm khi dùng Tiamulin và hỗn hợp Lincomycine và Spectinomycine (Moore và cộng sự,

Trang 26

1996) đj dùng Tilmicosin cho vào thức ăn Do đó cần làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị kháng sinh

Điều trị kháng sinh chỉ có hiệu quả ở giai đoạn đầu của bệnh và phải dùng liều cao ngay từ đầu Để đảm bảo có nồng độ thuốc có hiệu quả ổn định trong máu có thể cần tiêm nhiều lần, tùy theo đặc tính mẫn cảm của thuốc sử dụng Sự thành công của việc điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu hiệu lâm sàng của bệnh và can thiệp điều trị sớm

được dùng kéo dài và cần thường xuyên theo dõi sự mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh Chỉ sử dụng kháng sinh cho lợn mới vào chuồng khi chúng được chuyển đến từ các đàn lợn không bị nhiễm khuẩn để tránh đưa vào các serotyp mới hoặc kháng kháng sinh mới

ở các đàn bị nhiễm khuẩn mjn tính, cần tiêm chủng các con lợn mới mua có chẩn đoán huyết thanh âm tính trước khi cho vào đàn Đj có nhiều loại vacxin được sản xuất cho bệnh này gồm 2 nhóm chính: Các vi khuẩn đj chết (vacxin vô hoạt) và các vacxin với một số thành phần cấu tạo của vi khuẩn Vacxin vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo serotyp có thể có miễn dịch với các serotyp khác có phản ứng chéo

Song song với đó phải tiến hành các biện pháp khử trùng Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều chất tiệt trùng thông thường

Trang 27

2.3.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh do vi khuẩn gây ra ở lợn

Vi khuẩn P multocida gây bệnh cho nhiều loài động vật, mỗi một serotyp lại gây ra 1 thể bệnh khác nhau, trong đó có bệnh Tụ huyết trùng (bại huyết xuất huyết) ở lợn do P multocida serotyp A và B gây ra P multocida thường gặp 5 serotyp A, B, C, D, E trong đó thường gặp ở lợn là serotyp A, B, D

P.multocida nằm trong bộ Eubacteriales, thuộc họ Pasteurellaceae, giống Pasteurella và thuộc loài P multocida Tất cả các loài Pasteurella gây bệnh cho gia súc, gia cầm đều thuộc một giống duy nhất, có các đặc tính cơ bản giống nhau về mặt hình thái, nuôi cấy, chỉ khác nhau ở tính thích nghi gây bệnh ở các loài vật chủ (Nguyễn Như Thanh)

P multocida là loại cầu trực khuẩn nhỏ, hình trứng hoặc bầu dục, hai

được bổ sung huyết thanh hay máu vi khuẩn phát triển tốt

P multocida có khả năng lên men đường Glucose, Saccharose, Mannit, Sozbit, Xylose Không lên men đường Lactose, Maltose, Arabinose, Rammo, Salixin, Dunxid, Adonit Các phản ứng Indol, Catalase, Oxidase, H2S dương tính; VP, MR , Urearse âm tính, không làm tan chảy gellatin

P multocida dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời và các chất sát trùng thông thường: Vi khuẩn bị diệt sau khi đun ở 580C/20 phút, 800C/10 phút, 1000C trong vài giây ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp diệt vi khuẩn trong canh trùng sau 1 ngày Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng: Axit phenic 5% diệt vi khuẩn trong 1 phút, nước vôi 1% trong 3-5 phút Vi khuẩn sống khá lâu và sinh sản trong đất ẩm có nhiều nitrat và

Trang 28

thiếu ánh sáng Trong tổ chức của cơ thể động vật bị thối nát vi khuẩn sống

được 1-3 tháng Trong chuồng nuôi súc vật, trên đồng cỏ, trong đất vi khuẩn

Kháng nguyên K có hai thành phần α và β, chúng được cấu tạo từ protein và polysaccarit, ngoài ra còn một số ít các Lipopolysaccarit (LPS) Kháng nguyên K của vi khuẩn P multocida còn có khả năng gắn với thụ thể của tế bào hồng cầu Một số chủng P multocida serotyp D có sinh ra một yếu tố được gọi là độc tố gây hoại tử da (Dermonecrotic Toxin - DNT) DNT của P multocida type D có liên quan đến bệnh viêm teo mũi ở lợn

Kháng nguyên thân O chỉ được bộc lộ khi kháng nguyên K được tách ra Kháng nguyên O là một phức hợp protein - lipid - polysaccarit, nó có 16 yếu tố

ký hiệu từ 1- 16 (Theo phân loại của Heddleston, 1972)

Vi khuẩn P multocida có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hoá hoặc qua da có vết thương Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường một tỷ lệ nhất định lợn khoẻ mạnh có vi khuẩn P multocida ký sinh ở niêm mạc phần phía trên của bộ máy hô hấp Giữa cơ thể và mầm bệnh ở trạng thái cân bằng động Khi điều kiện ngoại cảnh bất lợi hay sự xuất hiện đồng thời của các bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus, vi khuẩn khác, làm trạng thái cân bằng trên bị phá vỡ, nhân cơ hội này, do sức đề kháng của cơ thể giảm sút làm mầm bệnh trỗi dậy, tăng lên về số lượng, độc lực và gây bệnh

Trang 29

Vi khuẩn P multocida có thể là nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ phát gây ra thể bệnh viêm phổi ở lợn, bệnh có thể gây chết lợn hoặc làm giảm khả năng tăng trọng của lợn do vậy gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi

Bệnh do P multocida gây ra nguyên phát được gọi là bệnh tụ huyết trùng, nhưng trong đa số các trường hợp vi khuẩn thường kết hợp với các vi khuẩn

đường hô hấp khác như: A pleuropneumoniae, Streptococcus sp, B bronchiseptica, Haemophilus parasuis,… gây nên hội chứng bệnh đường hô hấp

Bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra đj được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu trong nhiều năm

Tại Triều Tiên, trong 80 chủng P multocida phân lập từ 450 phổi lợn bệnh có 96,3% thuộc type A; 3,9% thuộc type D (Ahn và Kim, 1994)

Tại Nhật trong số 116 mẫu P multocida phân lập từ phổi lợn có bệnh tích nhục hóa, áp xe phổi và viêm màng phổi có 81,9% thuộc type A; 18,1% thuộc type D (Theo Iwanmatsu và Sawada,1988)

ở nước ta P multocida cũng được thông báo là tác nhân gây bệnh quan trọng ở lợn và được quan tâm nghiên cứu

Nguyễn Ngọc Nhiên năm 1996 khi nghiên cứu 72 phổi lợn có bệnh tích bị nhục hóa, áp xe và viêm màng phổi cho biết: tỷ lệ nhiễm P multocida là 37,5%,

tỷ lệ nhiễm S suis là: 30,5% và đj nghiên cứu chế tạo thành công vaccine toàn khuẩn chết có bổ trợ keo phèn 20% phòng hội chứng ho thở truyền nhiễm của lợn được chế tạo từ 9 chủng thuộc 3 giống gây bệnh đường hô hấp

Khi tiến hành xác định nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp của lợn nuôi tại một số tỉnh phía Bắc, Cù Hữu Phú và cs cho biết: với tổng số 53 mẫu phổi và hạch phổi đj phân lập được 8 chủng Streptococcus chiếm tỷ

lệ 15,09%, không phân lập được P multocida Từ 542 mẫu dịch ngoáy mũi đj phân lập được 48 chủng Pasteurella (8,86%) và 36 chủng Streptococcus (6,64%)

Trang 30

Theo De Alwis, 1992 hai hội chứng chủ yếu thường gặp do P multocida là viêm teo mũi và viêm phổi

Bệnh viêm phổi do P multocida gây ra xuất hiện rộng khắp thế giới, nhưng bệnh hay xảy ra và gây thiệt hại ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới như: ấn Độ, Pakistan, Iran, Thái Lan, Philippin, Indonexia, Triều tiên, Lào và Việt Nam, ở tất cả các điều kiện khí hậu và điều kiện chăn nuôi Vì vi khuẩn

P multocida thường cư trú ở đường hô hấp trên của lợn khoẻ mạnh do vậy rất khó tiêu diệt Vi khuẩn P multocida gây bệnh thường kết hợp với các tác nhân khác như Mycoplasma hyopneumoniae, A pleuropneumoniae, làm cho quá trình viêm phổi càng nặng thêm

* Bệnh viêm phổi do vi khuẩn P multocida gây ra ở lợn:

- Triệu chứng: Triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm phổi do P multocida gây ra rất khác nhau tùy thuộc vào từng chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể:

+ Thể cấp tính: Thể này thông thường do hầu hết các chủng P multocida thuộc serotype B gây ra Những con vật mắc bệnh thường có biểu hiện khó thở, hóp bụng vào để thở, gõ vào bụng có âm đục “bịch, bịch”, sốt cao nhiệt độ lên tới 41- 420C, tỷ lệ chết cao (5-40%) ở những con vật chết và hấp hối có thể thấy những vết đổi màu tím ở vùng bụng có thể là do sốc nội

độc tố

+ Thể á cấp tính: ở thể này hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy

ở những lợn lớn Ho ở những lợn ở lứa tuổi này thường được coi là biểu hiện

để xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh Triệu chứng lâm sàng của bệnh ở thể này giống như viêm màng phổi do A pleuropneumoniae gây ra, nhưng những đặc điểm phân biệt chính là bệnh viêm phổi do P multocida thì hiếm khi gây ra chết đột ngột, hơn nữa lợn mắc bệnh viêm phổi do P multocida gây

ra có thể tồn tại một thời gian dài

Trang 31

+ Thể mDn tính: Đây là thể đặc trưng thường thấy của bệnh, con vật bệnh thỉnh thoảng xuất hiện ho, sốt nhẹ hoặc không Những con vật bị ảnh hưởng thường ở giai đoạn lợn lớn (10- 16 tuần tuổi)

- Bệnh tích:

Bệnh tích của bệnh do P multocida gây ra chủ yếu ở phần xoang ngực và thường kèm với bệnh tích của M hyopneumoniae Đặc trưng của bệnh này xuất hiện ở thùy đỉnh và mặt trong của phổi, cùng với việc có bọt khí trong khí quản

Có sự phân ranh giới rõ rệt giữa vùng tổ chức phổi bị tổn thương và vùng tổ chức phổi bình thường Phần bị ảnh hưởng của phổi sẽ có sự biến đổi màu sắc từ đỏ sang xám xanh phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh

Các trường hợp bệnh nghiêm trọng có thể xuất hiện viêm phế mạc và apxe ở các mức độ khác nhau Trong các trường hợp này thường thấy phế mạc dính chặt vào thành xoang ngực và phế mạc có vùng mờ đục, khô Đây là bệnh tích chủ yếu để phân biệt bệnh viêm phổi do Pasteurella với viêm phổi

do Actinobacillus, trong đó thường thấy mủ chảy ra có màu vàng và dính cùng với rất nhiều sợi fibrin (Pijoan, 1989)

- Chẩn đoán:

Việc chẩn đoán đúng bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra là hết sức cần thiết, do đó cần tiến hành đồng thời nhiều phương pháp như: dịch tễ học, chẩn đoán lâm sàng, giải phẫu bệnh lý và đặc biệt là dựa trên kết quả xét nghiệm vi khuẩn học trong phòng thí nghiệm

Bên cạnh đó còn có thể sử dụng các phương pháp khác như: phản ứng kết tủa khuếch tán miễn dịch trên gel thạch AGID (Agargel Immuno Diffuse)

để xác định kháng nguyên thân (O) từ vi khuẩn phân lập được với kháng huyết thanh chuẩn, phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính để định loại kháng nguyên vỏ (K), phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp để xác định kháng nguyên vỏ, phản ứng ELISA, kỹ thuật PCR,

Việc xác định chủng vi khuẩn P multocida phân lập được thuộc serotyp nào là hết sức cần thiết để có thể xác định được thể bệnh mà chúng gây ra, từ

Trang 32

đó có biện pháp phòng trị bệnh phù hợp Gần đây, kỹ thuật PCR đj được ứng dụng rộng rji trong nghiên cứu và chẩn đoán bệnh do vi khuẩn gây ra ở vật nuôi, trong đó có P multocida và đj được OIE chuẩn hóa thành quy trình chung, có thể áp dụng ở các phòng thí nghiệm để định type giáp mô của vi khuẩn P multocida

- Điều trị:

Kháng sinh rất đa dạng và sự kết hợp giữa các loại kháng sinh đj được

sử dụng thường xuyên như: Oxytetracyline 11mg/kg; Oxytetracyline chậm: 20mg/kg; Procaine penicillin 66.000 U/kg; Benzathine penicillin 32.000 U/kg

và rất nhiều loại kháng sinh khác Tuy nhiên việc điều trị bằng kháng sinh ngày càng khó khăn hoặc không thành công, điều này là do tính kháng thuốc rộng rji ở vi khuẩn P multocida

Người ta đj thông báo rằng Cephalosporins và Fluorinated quinolone thế hệ thứ 3 là thuốc có hiệu quả nhất Một số thuốc kháng sinh đj được dùng

có hiệu quả cho điều trị P multocida: Lincomycin- spectinomycin, một số Cephalosporin và nhiều Quinolones: Enrofloxacin và Danofloxacin Trong đó Ceftiofur đj được một số tác giả chứng minh là kháng sinh tốt để chống lại vi khuẩn P multocida

- Phòng bệnh:

Chúng ta đj có một số vacxin vô hoạt dùng cho việc phòng bệnh viêm phổi do Pasteurella Một vài thông báo gần đây với vacxin chống lại vi khuẩn

P multocida, nhưng không cho kết quả chống lại tính tương đồng

ở Việt Nam, Cù Hữu Phú và cộng sự đj thử nghiệm vacxin phòng bệnh viêm phổi của lợn do một số loại vi khuẩn gây ra trong đó có vi khuẩn P multocida

Việc áp dụng nuôi cấy sục khí để tăng số lượng vi khuẩn trong 1ml canh trùng rút ngắn thời gian nuôi cấy trong sản xuất vacxin cũng đang được tiến hành tại Viện Thú y và các cơ sở sản xuất vacxin khác tại Việt nam

Trang 33

2.3.3 Vi khuẩn S suis và bệnh liên cầu khuẩn do vi khuẩn gây ra ở lợn

Vi khuẩn S suis là một trong số các tác nhân gây bệnh quan trọng ở lợn, là nguyên nhân gây ra bệnh ở các thể cấp tính như bại huyết, viêm njo, viêm màng trong tim, viêm khớp, viêm phổi, thường dẫn đến chết ở lợn, đặc biệt là giai đoạn lợn đj cai sữa và lợn trưởng thành Bệnh do vi khuẩn này gây

ra từ lâu đj và đang được coi là 1 bệnh thu hút được nhiều sự chú ý trong ngành chăn nuôi lợn Bên cạnh đó, tác nhân gây bệnh cũng là nhân tố quan trọng, là nguy cơ tiềm tàng gây các bệnh ở người như viêm njo, viêm màng trong tim và nhiễm trùng máu Vi khuẩn này là mối nguy hiểm nghề nghiệp

đặc biệt quan trọng với những người trực tiếp làm công tác chăn nuôi, thú y, những người làm nghề giết mổ và bán thịt lợn

Gần đây nhất (tháng 7 và 8/2005), một vụ dịch lớn nhất chưa từng gặp trong lịch sử ngành chăn nuôi lợn đj xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc gây chết 644 con lợn, gây nhiễm bệnh cho 208 người, trong đó có 39 người

đj tử vong Các nhà khoa học Trung quốc đj tiến hành các nghiên cứu cơ bản trong phòng thí nghiệm và đj chế tạo được 1 loại vacxin vô hoạt với kháng nguyên là chính các chủng vi khuẩn phân lập được tại ổ dịch để tiêm phòng cho toàn bộ lợn nuôi trong vùng Các ghi nhận cho thấy kết quả bước

đầu là rất khả quan, dịch bệnh đj tạm dừng, không thấy lợn và người bị nhiễm bệnh và chết

Vi khuẩn Streptococcus nói chung và vi khuẩn S suis nói riêng có hình cầu, hình bầu dục, đường kính khoảng 1àm, vi khuẩn xếp thành chuỗi như chuỗi hạt có

độ dài ngắn không đều nhau: có khi chúng đứng thành từng cặp, có thể xếp thành các chuỗi ngắn có 6 - 10 vi khuẩn hoặc dài hơn Vi khuẩn bắt màu gram dương

Vi khuẩn phát triển trong điều kiện hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, nhiệt

độ thích hợp 370C, vi khuẩn không hình thành nha bào, đa số hình thành giáp mô, sự hình thành giáp mô có thể được xác định khi chúng sinh sống trong các mô hoặc mọc trong các môi trường nuôi cấy có chứa huyết thanh

Trang 34

Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường: Glucose, Lactose, Saccarose, Salicin, Innulin, Trehalose, Maltose Vi khuẩn không có khả năng lên men đường: Mannit, Sorbitol, Mannitol, Dextrose, Xylose, Glyxerol Các phản ứng sinh hóa khác: Catalase âm tính, Oxidase âm tính, Indol âm tính, Coagulase âm tính

S suis có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hoá chất: Trong phân, ở

00C vi khuẩn có thể sống 104 ngày, ở 90C vi khuẩn sống được 10 ngày, ở

22-250C vi khuẩn có thể sống được 8 ngày ở 700C vi khuẩn chết trong 35 -40 phút, ở 1000C vi khuẩn chết trong 1 phút; Vi khuẩn sống trong bụi 25 ngày ở

90C nhưng không phân lập được vi khuẩn ở bụi trong nhiệt độ phòng(18 –

200C)/24 giờ Vi khuẩn bị diệt dưới ánh sáng mặt trời sau 40 – 60 phút

Lê Văn Tạo, 2005 cho biết: S suis dễ bị diệt bởi nhiều chất sát trùng như: Phenol, Iod, Hypochlorid, Acid phenic 3 - 5% diệt vi khuẩn trong vòng 3 - 15 phút, formol 1% diệt vi khuẩn trong vòng 60 phút, cồn 700 diệt vi khuẩn trong vòng 30 phút Vi khuẩn có thể sống trong xác lợn chết ở 400C trong 6 tuần Vi khuẩn tồn tại lâu trong đờm, chất bài xuất có protein Tuy nhiên vi khuẩn có thể tồn tại ở trên hạch amidan lợn mang trùng hơn 1 năm, ngay khi các yếu tố thực bào, kháng thể và bổ sung kháng sinh phù hợp trong thức ăn

Streptococcus có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp Có rất nhiều kháng nguyên đj được tìm thấy:

- Kháng nguyên polyozit hay khág nguyên “C” do Lancefield phát hiện năm 1928, đây là một kháng nguyên thân Thành phần kháng nguyên thân có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến tính độc lực của vi khuẩn Streptococcus và nó nằm ở thành vi khuẩn (Cell wall) Thành tế bào vi khuẩn S suis gồm 3 lớp: Lớp ngoài có chứa acid và protein gọi là kháng nguyên M, T, R, , Map (M - Assotated Protein), SOF (Serua Oparty Factor) Phía ngoài cùng của lớp này thường chứa các fimbriae; Lớp giữa chứa Polysaccharide; Lớp trong cùng là Peptidoglycan Những Streptococcus khác nhau có cấu tạo chất “C” khác nhau,

Trang 35

dựa vào đó người ta chia Streptococcus thành các nhóm: A, B, C, D, ,R, trong

đó Streptococcus typ A, B thuộc loại tan máu typ β

- Kháng nguyên protein M là yếu tố độc lực chống lại quá trình thực bào và là kháng nguyên đặc hiệu của Streptococcus type A, người ta xác định

có khoảng 42 typ trong đó có 12 typ quan trọng và thường hay gây bệnh

- Các mucopeptit: Làm cho vách tế bào của Streptococcus cứng rắn

và còn có khả năng gây độc

- Kháng nguyên bám dính: Fimbriae có lipoteibic acid (LTA) giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu mô và ở tế bào lympho đa nhân có điểm tiếp nhận (receptor) tương ứng với LTA trong quá trình thực khuẩn (Trích theo Nguyễn Như Thanh và Cs)

Hiện có 20 nhóm huyết thanh và 25 serotype khác nhau Phần lớn các vi khuẩn gây bệnh trên lợn đều thuộc type 1 và type 2

Vi khuẩn S suis thuộc nhóm D có 9 serotype; R và nhóm S có 2 serotype gây ra các thể bệnh viêm họng, nhiễm trùng huyết và viêm khớp ở lợn

Vi khuẩn S suis thuộc nhóm E có 6 serotype, trong đó serotye 2, 4, 1,

6, 7 gây các thể bệnh apxe hạch và các nội quan khác

Vi khuẩn S suis thuộc nhóm L và C gồm 11 serotype gây các thể bệnh nhiễm trùng huyết, viêm nội tâm mạc và viêm đa khớp ở lợn

Vi khuẩn có thể tồn tại trong phân, bụi bẩn, xác lợn và ở cả những con ruồi trong một thời gian dài Bệnh có thể truyền qua đường hô hấp, các chất bài tiết, máu của lợn bệnh, lây lan thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua kim tiêm nhiễm trùng Lợn con có thể bị lây nhiễm từ lợn mẹ qua đường hô hấp, đường tiêu hoá, đường máu

Vi khuẩn S suis lây truyền theo đường hô hấp xâm nhập vào hạch amidan, vòm họng, từ đó di chuyển theo hệ lâm ba tới hạch dưới hàm, cư trú ở các mô Lúc này cơ thể chưa có dấu hiệu về lâm sàng của bệnh ở các tổ chức cư trú, chúng sống và nhân lên trong tế bào monocyt rồi chuyển vào xoang

Trang 36

dịch njo tuỷ, gây nên viêm màng njo, có thể thông qua con đường nhiễm trùng huyết để xâm nhập vào màng njo, khớp xương và các mô khác (Lê Văn Tạo, 2005)

* Bệnh liên cầu khuẩn do S suis gây ra ở lợn:

Bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn hay còn gọi là bệnh liên cầu ở lợn xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến ở lợn con một vài tuần tuổi đến sau cai sữa vài tuần Đặc trưng lâm sàng của bệnh là nhiễm trùng huyết, viêm màng njo, viêm khớp và viêm phế quản phổi Đặc biệt S suis typ 2 có thể gây bệnh cho người

Thể nhiễm trùng huyết và viêm njo có dịch (thường thấy ở lợn từ 2 - 3 tháng tuổi); Thể viêm đường hô hấp (ở lợn từ 2 tuần tuổi đến 2 tháng tuổi); Thể viêm âm đạo, tử cung (ở lợn cái hậu bị và lợn mang thai); Thể viêm vú (ở lợn đang nuôi con); Thể viêm hạch (ở lợn sau cai sữa và vỗ béo)

+ Thể viêm nDo tuỷ: sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 – 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa, lợn

từ 2 – 3 tháng tuổi Tỷ lệ chết 100 % Bệnh tích: màng njo tụ huyết và xuất huyết, dịch njo và tủy vẩn đục

+ Thể viêm họng, viêm phế quản phổi: sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh; da tụ huyết từng mảng Thường thấy ở lợn con đang theo mẹ và sau cai sữa Tỷ lệ chết 60 – 70 % Bệnh tích: họng và amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có

Trang 37

màng giả, tiểu phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng thũng, tụ huyết

+ Thể viêm hạch: sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thũng, sau thành apxe mủ, lâu thành bj đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 – 8 ngày, tỷ lệ chết 20 – 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng

tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bj đậu

- Chẩn đoán:

Chủ yếu chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng, bệnh tích, đặc điểm dịch tễ học của bệnh, phân lập và xác định vi khuẩn S suis trong phòng thí nghiệm Cần lưu ý khi chẩn đoán, phải tiến hành phân lập vi khuẩn từ một vài cơ quan phủ tạng khác nhau của cùng một lợn mắc bệnh và từ vài lợn trong cùng một đàn để tìm ra serotype gây bệnh chính

Các kỹ thuật sinh học phân tử là công cụ hữu ích giúp phân biệt các chủng

S suis phân lập được, xác định nguồn gốc lây nhiễm trong đàn, giúp khống chế ổ dịch hoặc tìm ra đúng chủng để bổ sung vào vacxin Gần đây nhiều phòng thí nghiệm đj phát triển kỹ thuật PCR để giám định vi khuẩn S suis, xác định các yếu tố độc lực và serotyp của chủng vi khuẩn gây bệnh đj được ứng dụng rộng rji

- Phòng bệnh:

+ Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý:

Thường xuyên quét dọn vệ sinh, phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng

Chú trọng công tác chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn Xác định và loại thải những lợn mang mầm bệnh, tách riêng điều trị, hoặc loại thải Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng

Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách

ly để tránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải nhằm mục đích thu

Trang 38

hẹp và thanh toán được đàn lợn bị bệnh Trong quá trình theo dõi, phải cách ly tuyệt đối không được nhập đàn mới vào, phải tiến hành thường xuyên phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các thuốc sát trùng

+ Phòng bệnh bằng vắc xin:

Các nhà khoa học đj nghiên cứu và đưa vào chế tạo thử nghiệm nhiều loại vacxin khác nhau như: vacxin toàn khuẩn, vacxin sống nhược độc, vacxin tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành tế bào, protein

là các yếu tố độc lực), .Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loại vacxin này cũng rất thất thường và không ổn định

Trong một số trường hợp khẩn cấp, việc lựa chọn dùng vacxin vẫn là phương thức tối ưu nhất để bảo vệ sức khoẻ đàn lợn Tại Trung Quốc, năm

1994 đj dùng vacxin chế từ chủng nhược độc của vi khuẩn S suis chủng ST.171, đông khô tiêm cho lợn từ cai sữa đến trưởng thành và nái có chửa ở thời kỳ đầu Khi sử dụng cho thêm nước muối sinh lý có bổ trợ keo phèn 20% hoà thành huyễn dịch tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với liều 1ml/con Sau khi tiêm 7 ngày đj sinh miễn dịch, miễn dịch cao nhất sau 14 ngày và thời gian miễn dịch kéo dài được 6 tháng Sau đó, năm 2005, chính Trung Quốc cũng

đj kiểm soát dịch bệnh do S suis gây ra ở lợn bằng vacxin vô hoạt chế từ các chủng S suis serotyp 2 (Lê Văn Tạo, Đỗ Ngọc Thuý, 2006)

Tại Việt Nam, từ các kết quả nghiên cứu về bệnh cầu khuẩn ở lợn, Khương Bích Ngọc (1996) đj chế tạo vacxin cầu khuẩn chết có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt hiệu quả bảo hộ cao

Vi khuẩn S suis mẫn cảm với nhiều loại kháng sinh, nhưng cũng rất dễ kháng lại với các loại kháng sinh này Vì vậy trong quá trình sử dụng kháng sinh để phòng và điều trị bệnh phải hết sức thận trọng

- Điều trị:

Chẩn đoán phát hiện sớm bệnh do vi khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn

Trang 39

lợn Với lợn con trước cai sữa và ở giai đoạn đầu của bệnh, nếu sử dụng Penicilin và Dexametasone sẽ mang lại hiệu quả rất cao Trong thực tế, khi sử dụng Penicilin điều trị bệnh do S suis gây ra, điều trị từng cá thể kết hợp với chăm sóc và nuôi dưỡng tốt có thể khỏi bệnh hoàn toàn, tránh được tử vong

Ngoài việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh do S suis gây ra, nhiều nước trên thế giới đj sử dụng huyết thanh đặc hiệu để điều trị bệnh và mang lại kết quả tốt

Trang 40

3 nội dung - Đối tượng - nguyên liệu

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis từ bệnh phẩm lợn nghi mắc hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản nuôi tại các tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Thái Nguyên

3.1.2 Xác định một số đặc tính sinh vật hóa học của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được

3.1.3 Xác định serotype của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được

3.1.4 Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được

3.1.5 Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được

3.1.6 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh viêm phổi ở lợn và đề xuất giải pháp phòng bệnh tại các ổ dịch PRRS với điều kiện thực tễ sản xuất tại các địa phương

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn nghi mắc PRRS nuôi tại các tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Thái Nguyên

- Vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây bệnh viêm phổi kế phát trên đàn lợn nghi mắc PRRS nuôi tại các tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Thái Nguyên

3.3 Nguyên liệu dùng cho nghiên cứu

3.3.1 Bệnh phẩm

Mẫu bệnh phẩm được lấy bao gồm máu tim và các cơ quan phủ tạng

Ngày đăng: 25/11/2013, 23:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ phân lập vi khuẩn  Mẫu bệnh phẩm - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Sơ đồ ph ân lập vi khuẩn Mẫu bệnh phẩm (Trang 42)
Bảng 3.2 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định các serotyp 1, 2, 7 và 9 - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 3.2 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định các serotyp 1, 2, 7 và 9 (Trang 45)
Bảng 3.3. Tiờu chuẩn ủỏnh giỏ mức ủộ mẫn cảm và khỏng khỏng sinh - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 3.3. Tiờu chuẩn ủỏnh giỏ mức ủộ mẫn cảm và khỏng khỏng sinh (Trang 47)
Bảng 4.3.  Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của các chủng - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.3. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của các chủng (Trang 52)
Bảng 4.4. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.4. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của (Trang 53)
Bảng 4.5. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.5. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hoá của (Trang 55)
Bảng 4.6. Kết quả xác định serotyp của các chủng vi khuẩn - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.6. Kết quả xác định serotyp của các chủng vi khuẩn (Trang 57)
Bảng 4.7. Kết quả xác định serotyp của các chủng vi khuẩn S. suis - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.7. Kết quả xác định serotyp của các chủng vi khuẩn S. suis (Trang 59)
Bảng 4.8. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng A. - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.8. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng A (Trang 61)
Bảng 4.9. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng P. multocida - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.9. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng P. multocida (Trang 62)
Bảng 4.10. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng S. suis phân lập - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.10. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng S. suis phân lập (Trang 64)
Bảng 4.11. Kết quả thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn phân lập đ−ợc - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.11. Kết quả thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn phân lập đ−ợc (Trang 65)
Bảng 4.12 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đường hô hấp ở lợn - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Bảng 4.12 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đường hô hấp ở lợn (Trang 67)
Ảnh 4.3  Hình thái vi khuẩn Actinobacillus phân lập đ−ợc - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
nh 4.3 Hình thái vi khuẩn Actinobacillus phân lập đ−ợc (Trang 80)
Hình 4.5 Hình thái vi khuẩn S. suis d−ới kính hiển vi - Phân lập, xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát trong hội chứng rối loạn hô hấp sinh sản ở lợn (PRRS) và đề xuất giải pháp phòng bệnh
Hình 4.5 Hình thái vi khuẩn S. suis d−ới kính hiển vi (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm