1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam bắc giang

102 551 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện Lục Nam - Bắc Giang
Tác giả Dương Thị Thủy
Người hướng dẫn TS. Đoàn Văn Lư
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 8,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-*** -

DƯƠNG THỊ THUỶ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

NHẰM RẢI VỤ, TĂNG NĂNG SUẤT, PHẨM CHẤT CÂY NA

TẠI HUYỆN LỤC NAM - BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành ñào tạo: Trồng trọt

Mã số : 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: TS ðOÀN VĂN LƯ

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc

Ngày 20 tháng 12 năm 2010

DƯƠNG THỊ THỦY

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện ñề tài nghiên cứu tôi luôn nhận ñược sự quan tâm, giúp ñỡ của cơ quan, nhà trường, của các thầy cô giáo,các ñồng nghiệp, bạn bè và gia ñình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban lãnh ñạo Trạm Khuyến Nông huyện Lục Nam – Bắc Giang, chi cục Bảo Vệ Thực Vật tỉnh Vĩnh Phúc ñã tạo ñiều kiện cho tôi ñược tham gia khóa ñào tạo và thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin ñược bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS ðoàn Văn Lư ñã hướng dẫn tận tình, cặn kẽ tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Nông Học, Viện Sau ðại Học, ñặc biệt các thày cô giáo trong bộ môn Rau Hoa Quả - trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội, ñã trực tiếp ñóng góp nhiều ý kiến quý báu về chuyên môn cho tác giả hoàn thành luận văn

Qua ñây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia ñình, bạn bè, ñồng nghiệp ñã tao ñiều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn này

Ngày 20 tháng 12 năm 2010

DƯƠNG THỊ THỦY

Trang 4

2.1 Nguồn gốc phân loại và các giống na 4 2.2 Tình hình sản xuất na trên thế giới và ở Việt Nam 6 2.3 ðặc ñiểm thực vật học và yêu cầu sinh thái 16 2.4 Những nghiên cứu về cây na 19

3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

3.1 ðối tượng và vật liệu nghiên cứu 36

3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: 39

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40 4.1 ðiều kiện khí hậu ñất ñai vùng na Lục Nam 40 4.1.1 ðiều kiện khí hậu, ñất ñai 40 4.3 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật ñến sinh trưởng phát

triển, năng suất và chất lượng na 48

Trang 5

4.3.1 Ảnh hưởng của thời gian ñốn tỉa sau thu hoạch ñến ñến sinh

trưởng phát triển, năng suất và chất lượng na 48 4.3.2 Ảnh hưởng của phương pháp ñốn tỉa ñến sinh trưởng phát triển,

năng suất và chất lượng na 54 4.3.3 Ảnh hưởng của một số phân bón qua lá ñến sinh trưởng phát

triển, năng suất và chất lượng na 59 4.3.4 Ảnh hưởng của thời ñiểm lấy phấn ñể thụ phấn bổ sung ñến tỷ lệ

Trang 6

FAO : Tổ chức lương thực – nông nghiệp của Liên Hợp

Quốc (Food and Agriculture Organization)

ðC : ðối chứng

TBN : Trung bình ngày

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

2.1 Chất lượng của mãng cầu so với hai loại trái phổ biến 7 2.2 Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tỉnh Bắc Giang 13 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây ăn quả tại huyện Lục

4.1 Một số ñặc trưng về khí hậu thời tiết tại Bắc Giang

4 tháng cuối năm 2009 và 6 tháng ñầu năm 2010 41 4.2 Thời gian ra lộc rộ và ra hoa rộ của na ở các ñộ tuổi 43 4.3 Số lộc trên cành, chiều cao cây, ñường kính tán của na ở các

4.4 ðộng thái ra hoa trên cành của na ở các ñộ tuổi 45 4.5 Khối lượng quả và số mắt của na ở các ñộ tuổi 46 4.6 Tỷ lệ ñậu quả, số quả/cây và năng suất của na ở các ñộ tuổi 47 4.7 Ảnh hưởng của thời gian ñốn tỉa sau thu hoạch ñến thời gian ra

4.8 Ảnh hưởng của ñốn tỉa sau thu hoạch ñến ñộng thái tăng trưởng

4.9 Ảnh hưởng của thời gian ñốn tỉa sau thu hoạch ñến yếu tố câu

thành năng suất và năng suất na 51 4.10 Ảnh hưởng của phương pháp ñốn tỉa ñến ra lộc, ra hoa na 54 4.11 ðộng thái tăng trưởng số lá, chiều dài cành lộc na qua phương

4.12 Ảnh hưởng của kỹ thuật ñốn tỉa tới ñường kính cành lộc, tỷ lệ

4.13 Ảnh hưởng của phương pháp ñốn tỉa tới năng suất, các yếu tố cấu

Trang 8

4.14 Ảnh hưởng của phân bón qua lá ñến ñộng thái tăng trưởng số lá,

4.15 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái ra hoa trên cành lộc 62 4.16 Ảnh hưởng của phân bón qua lá ñến tỷ lệ ñậu quả, số quả trên

4.17 Ảnh hưởng của phân bón qua lá ñến kích thước quả và năng

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

4.1 ðộng thái ra hoa trên cành của na ở các ñộ tuổi 46 4.2 Ảnh hưởng của thời gian ñốn tỉa sau thu hoạch ñến tỷ lệ ñậu quả na 52 4.3 Ảnh hưởng của thời gian ñốn tỉa sau thu hoạch ñến năng suất na 52 4.4 ðộng thái tăng trưởng số lá, chiều dài cành lộc na qua phương

4.5 kích thước quả qua các kỹ thuật ñốn 58 4.6 năng suất của na qua các kỹ thuật ñốn 58 4.7 Ảnh hưởng của phân bón qua lá ñến ñộng thái tăng trưởng số lá,

4.8 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái ra hoa trên cành lộc 61 4.9 Ảnh hưởng của phân bón qua lá ñến năng suất na 65

Trang 10

1 MỞ ðẦU

1.1 ðặt vấn ñề

Tỉnh Bắc Giang hiện có tới trên 48 nghìn ha cây ăn quả, ñứng thứ hai toàn quốc, có nhiều lợi thế về sản xuất cây ăn quả Theo thống kê hiện tại thì diện tích na ở Bắc Giang ñạt 2478 ha, chỉ ñứng sau nhãn, vải Với diện tích 59.678,76 ha ñất tự nhiên trong ñó có 19.158,23 ha ñất nông nghiệp, huyện Lục Nam

- một trong những huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang có ñiều kiện khí hậu, ñất ñai, kinh tế - xã hội rất thuận lợi cho phát triển nghề trồng cây ăn quả với ña dạng về chủng loại: vải, na, nhãn, hồng…trong ñó ñặc biệt có cây na

Na (Annona squamosa L) là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao và ñược trồng khá phổ biến ở các vùng kinh tế của ñất nước Trong những năm gần ñây, cây na ñã trở thành một loại cây xoá ñói giảm nghèo cho bà con vùng ñồi núi huyện Lục Nam Do nhận thấy hiệu quả cây na mang lại là rất cao nên huyện ñã mở rộng diện tích trồng na và coi ñây là hướng phát triển cây ăn quả chủ ñạo Ngoài huyện Lục Nam có diện tích trồng na khá lớn, hiện nay tỉnh Bắc Giang ñã và ñang mở rộng thêm diện tích trồng na ở một số huyện khác như Lạng Giang, Yên Thế, Tân Yên…

Cây na ñã góp phần ñáng kể vào việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng, làm tăng giá trị sử dụng ruộng ñất giúp tăng thêm thu nhập, góp phần xoá ñói giảm nghèo cho người dân trong huyện, phủ xanh ñất trống ñồi núi trọc, cải thiện môi sinh Tuy nhiên, sản xuất na theo hướng hàng hóa tập trung ñang gặp phải một số vấn ñề như: Quả na chín tập trung, quả bé, vẹo

vọ, không ñồng ñều, người trồng chưa áp dụng quy trình kỹ thuật tốt vào thâm canh na Do ñó, hiệu quả sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng của loại cây ăn quả này

Nhằm góp phần tháo gỡ các khó nhăn trong sản xuất na hiện nay ở Lục Nam – Bắc Giang, dựa trên ñặc tính nông sinh học của cây na, chúng tôi ñã

Trang 11

tiến hành nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật: ðốn tỉa, thụ phấn bổ khuyết bằng các nguồn phấn khác nhau và một mốt số loại phân bón qua lá trong các

năm 2009 – 2010 với ñề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm

rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện Lục Nam - Bắc Giang”

góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất na theo hướng hàng hóa, mang lại hiệu quả cao trong sản xuất na

1.2.1 Mục ñích

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật (ñốn tỉa, thụ phấn bổ khuyết, phân bón lá cho cây na) và ảnh hưởng của những biện pháp này ñến sự sinh trưởng cành, ra hoa, ñậu quả, năng suất và chất lượng quả na tại Lục Nam - Bắc Giang nhằm góp phần xây dựng quy trình thâm canh na trên ñất ñồi huyện Lục Nam – Bắc Giang theo hướng sản xuất hàng hóa

- Kết quả ñánh giá ñặc ñiểm nông sinh học của cây na tại Lục Nam là

cơ sở ñể xác ñịnh ñược vùng trồng và khả năng mở rộng diện tích na ở Bắc Giang

- Các kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật là cơ sở ñể xây dựng quy trình thâm canh và nâng cao năng suất, phẩm chất na, là tài liệu cho các nghiên cứu tiếp sau về cây na, tài liệu tham khảo, tập huấn khuyến nông tại ñịa phương

Trang 12

Kết quả của ñề tài là cơ sở cho công tác nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh na hợp lý theo hướng sản xuất hàng hóa

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Trên cơ sở ñánh giá khả năng sinh trưởng, ra hoa và khả năng ñậu quả của cây na qua các biên pháp kỹ thuật ñốn tỉa nhằm rải vụ, góp phần khắc phục tình trạng thu hoạch ồ ạt tập trung, Kéo dài thời gian thu hoạch na

Trên cơ sở ñánh giá khả năng ñậu quả và năng suất qua biện pháp kỹ thuật thụ phấn bổ khuyết và sử dụng một số phân bón qua lá nhằm bổ sung, sây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh na hợp lý theo hướng sản xuất quả chất lượng cao tại ñịa phương

Kết quả nghiên cứu của ñề tài này sẽ góp phần xây dựng hoàn thiện quy trình thâm canh na tại Bắc Giang nói riêng và các vùng trồng na trong cả nước nói chung

Trang 13

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc phân loại và các giống na

2.1.1 Nguồn gốc phân bố của cây na

Cây na ñược coi là có nguồn gốc phát sinh từ vùng nhiệt ñới Châu Mỹ

Từ thế kỷ 16, các cây họ Na ñã ñược nhập vào nhiều nước nhiệt ñới khác và

do tính thích nghi rộng hiện nay na ñược trồng phổ biến ở các vùng nhiệt ñới

và á nhiệt ñới

Nguồn gốc bản ñịa chính xác của loại cây này chưa rõ, do hiện nay nó ñược trồng khắp nơi nhưng các nhà thực vật học cho rằng nó là cây bản ñịa của các nước thuộc Trung và Nam Mỹ Song trồng với quy mô lớn tập trung ở Châu Á và chỉ phổ biến ở các nước nằm trong vĩ ñộ 20o Bắc – 30o Nam có khí hậu tương ñối ẩm và khô nóng Tại châu Á: Thái Lan, Campuchia, Malayxia… và rất ít ở Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, na dai ñược trồng rộng rãi cả ngoài Bắc và trong Nam, còn na xiêm chỉ trồng trong Nam, ở miền Bắc chỉ mới trồng thí nghiệm Ở nước ta nay có một số vùng trồng

na khá tập trung có tiếng trong nước như: Na Chi Lăng ở Lạng Sơn, mãng cầu ta Bà ðen ở Tây Ninh, Ninh Thuận, Bà Rịa, Vũng Tàu, na dai Huyền Sơn ở Lục Nam - Bắc Giang… [3], [24], [25]

2.1.2 Phân loại và các giống na hiện nay ñang trồng

Cây na thuộc chi Na (Annona), họ na (Annonaceae) Chi na có nhiều loài,

ở Việt Nam có bốn loài là Na dai (Annona Squamosa), Na xiêm (Annona

Muricata ), Nê (Annona reticulata), Bình bát (Annona glabra) Trong ñó chỉ có

na dai, na xiêm ñược trồng tập trung với mục ñích kinh doanh, còn nê thì trồng

lẻ tẻ vài cây trong vườn, vì quả ăn ñược nhưng chất lượng kém Bình bát cũng ăn ñược quả nhưng chất lượng còn kém hơn nữa, chủ yếu là cây mọc dại [3]

Trang 14

Theo yêu cầu sinh thái:

- A Squamosa (na, mãng cầu ta): Khá chịu lạnh, cần khô và ñược trồng khá phổ biến ở các nước nhiệt ñới ở ñộ cao 300 – 500m so với mặt nước biển

- A Muricata (mãng cầu xiêm): Ưa nhiệt, ẩm nên chỉ trồng ñược ở các vùng nhiệt ñới có nhiệt ñộ, ñộ ẩm cao

- A Glabra (bình bát): Chịu mặn, ánh sáng nên ñược trồng ở vùng duyên hải nhiệt ñới ñể làm cây chắn sóng, giữ ñất hoặc làm gốc ghép, chọn tạo giống

- A Reticulata (nê): ðược trồng ở vùng nhiệt ñới có nhiệt ñộ không cao nhưng ẩm ñược trồng ñể làm vật liệu tạo giống Nhiều vùng còn gọi nê là na núi vì nó trồng ở vùng nhiệt ñới cao

Tên gọi Mãng cầu hay Annona ở nước ta có sự khác nhau Ở miền Bắc

gọi Annona Squamosa là na, gồm 2 loại là na dai và na bở, gọi Annona Muricata

là mãng cầu, Annona glabra là bình bát, Annona reticulata là nê Ở miền Nam chỉ khác là gọi Annona Squamosa là mãng cầu dai và gọi Annona Muricata là

Tên khoa học: Anona Squamosa [3], [25]

Hiện nay có Khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở châu Phi, và các loài khác ở châu Á [24]

Trang 15

Cho ựến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu thật ựầy ựủ về giống na ở Việt Nam Việc phân ựịnh các giống na thường dựa vào màu vỏ và

ựộ bở của cùi quả Với mãng cầu xiêm (A Muricata) ở miền Nam thường phân ra các giống sau:

+ Mãng cầu xanh: loại mãng cầu màu xanh, lá và quả ựều màu xanh, khi quả chắn vỏ quả có màu xanh nhạt

+ Mãng cầu nâu: loại mãng cầu màu nâu, lá xanh ựậm quả màu nâu + Mãng cầu vàng: là loại mãng cầu mà lá và quả có màu vàng nhạt

Ở các tỉnh miền bắc người ta phân biệt na (A Squamosa) thành hai loại: Na dai và na bở dựa vào ựộ bở của cùi quả

+ Na dai: Vỏ mỏng, dễ tách bóc khỏi thịt quả, ắt hạt nhều thịt, thịt chắc, ngọt ựậm và thơm ngon Hạt nhỏ và hạt rễ tách khỏi thịt quả Xu hướng hiện nay của người làm vườn là thắch trồng loại na dai vì bán ựược giá cao, quả sau hái cất giữ ựược lâu hơn so với na bở

+ Na bở: Vỏ màu xanh, thịt bở, khó bóc vỏ hơn so với na dai, quả thường hay nứt, ăn ngọt song thịt quả không chắc [2], [24]

2.2 Tình hình sản xuất na trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Giá trị của cây na

Na là cây nhiệt ựới có giá trị dinh dưỡng cao, riêng Annona cherimosa

là loại na thắch hợp ở vùng cao và hiện không ựược trồng nhiều, chủ yếu dùng làm vật liệu nghiên cứu trong chọn tạo giống Nó là cây ựược ựánh giá cao

nhất về mặt chất lượng Ờ ngang tầm với cây dứa Tuy là cây nhỏ nhất nhưng

na dai lại là cây quan trọng và trồng nhiều nhất trong các loại na và ựược ựánh giá cao về mặt chất lượng chỉ sau cherimosa, có hương vị ựược nhiều người

ưa thắch vì ựộ ngọt cao, hơi có vị chua, lại có hương thơm, giàu sinh tố, giàu chất khoáng [8]

Hiện nay, ở một số nước châu Á (đài Loan, Thái lan, PhilippinẦ) ựã

và ựang phổ biến trồng giống lai giữa A squamosa với A muricata với tên

Trang 16

gọi là Cherimosa có quả to, chất lượng quả tốt, ít hạt Việt Nam ñã du nhập và ñang trong quá trình khảo nghiệm ñể ñưa ra sản xuất

Về mặt dinh dưỡng

Quả na là một trong những loại quả có giá trị dinh dưỡng cao Theo GS.TS Trần Thế Tục (2008), trong 100g phần ăn ñược của quả na cho 66cal, 1,6g protein, 14,5g gluxit, 0,12% axit, 30mg vitamin C, 0,54% chất béo và 1,22% xenlulozơ Na chủ yếu dùng ñể ăn tươi, làm nước giải khát, làm rượu [12],[13]

Theo GS.TS Vũ Công Hậu, trong quả na dai chứa nhiều ñường, canxi, photpho và rất giàu vitamin, trừ vitamin A Hàm lượng dinh dưỡng chứa trong 100g phần ăn ñược của quả na so với na xiêm, xoài, chuối sứ [4], [28]:

Bảng 2.1 Chất lượng của mãng cầu so với hai loại trái phổ biến

(Hàm l ượng chất dinh dưỡng trong 100g phần ăn ñược, không tính vỏ, hạt, lõi)

Giá trị dinh dưỡng Na dai Na xiêm Xoài Chuối sứ

Trang 17

Theo FAO (1976), giá trị dinh dưỡng của quả na dai trong 100g phần ăn ñược so với một số loại quả khác [3]:

Thành phần Cam Dứa Nhãn Ổi ðu ñủ Na dai Nước (%) 88,6 87 81 80,6 87,1 77,5 Năng lượng (cal) 41 47 71 69 45 78 Gluxit (g)

(cả xenlulozơ) 9,9 11,6 15,6 17,3 11,8 20,0 Protein (g) 0,7 0,7 1,0 1,0 0,5 1,4 Lipit (g) 0,2 0,3 1,4 0,4 0,4 0,2 Tro (g) 0,3 0,4 1,0 0,7 0,5 0,9 Canxi (mg) 26 17 23 15 24 30 Photpho (mg) 14 12 36 24 22 36 Sắt (mg) 0,2 0,5 0,4 0,7 0,7 0,6 Vitamin A (µg) 465 35 _ 75 710 5 Vitamin B1(mg) 0,09 0,06 0,3 0,05 0,03 0,11 Vitamin C (mg) 42 22 56 132 71 36

Như vậy, về mặt dinh dưỡng và cả hương vị, na dai xứng ñáng ñược xếp vào loại trái cây nhiệt ñới có giá trị

Về mặt dược liệu

Ở nhiều nước khác nhau, người ta sử dụng các bộ phận của cây na ñể làm thuốc chữa nhiều chứng bệnh Người ta dùng rễ na và vỏ na trị ỉa chảy và trục giun Ở Vân Nam – Trung Quốc, lá na dùng ñể trị trẻ em bị lòi dom, quả dùng trị u ác tính Ở Thái Lan, lá tươi và rễ dùng ñể trị chấy, mụn nhọt, nấm tóc, lang ben Ở Ấn ðộ, rễ ñược dùng ñể gây xổ, hạt kích thích và gây sẩy thai Tại Ấn ðộ, nước sắc cành non, nước sắc lá còn ñược dùng ñể chữa tổn

Trang 18

thương bàng quang, ho, tiêu chảy, chứng khó tiêu, thậm chí có tác dụng hỗ trợ phụ nữ sau khi sinh con Tại Guiana, nước ép từ trái na dùng ñể chữa say rượu, còn ở Ecuado dùng ñể giảm ñau, trị chứng co thắt Tại Hà Lan, lá na ñược cho vào bao gối hoặc khăn trải giường ñể hi vọng có một giấc ngủ ngon Nhai lá na ñắp lên vết thương hở hoặc vết mổ làm mất sẹo lồi Lá na giã thành bột nhão, làm thuốc ñắp, chữa vết chàm bội nhiễm, thấp khớp Nhựa lá na non

có tác dụng kích thích nhanh lên da non Bột thịt quả na non có tác dụng làm

se mặt vết thương Nước ép của quả na chín ñược xem như một phương thuốc lợi tiểu, giúp chữa bệnh huyết liệu [28]

Rễ, lá, hạt, quả na xanh có thể dùng làm thuốc trợ tim, tiêu ñộc các vết thương cho người [12] Quả na xanh còn làm săn da, tiêu sưng Quả chín vị ngọt, hơi chua, tính ấm, có tác dụng hạ khí ách, tiêu ñờm, bồi bổ khí huyết, kiện tỳ, nhuận táo [18], [19]

Hạt na chứa 38,5- 42% dầu, các axit myristic, palmitic, stearic, arachidic, hexadecanoic, oleic, ancanoit annonain có tính diệt trùng, trừ chấy rận Lá, vỏ thân và rễ chứa axit hydrocyanic ñộc [18]

Một số bài thuốc ở Việt Nam sử dụng na:

+ Lỵ ra nhầy mãi: 10 quả na ương, ăn thịt quả và lấy vỏ, hạt sắc uống + Mọc mụn ở vú: Quả na ñiếc mài giấm bôi nhiều lần

+ Mụn nhọt, sưng tấy: Lá na và lá bồ công anh lấy cùng lượng giã, ñắp + Sốt rét mãn tính: Lá 20-30g giã, chiết nước ép, phơi sương, thêm rượu, hâm nóng, uống liền 5-7 ngày, chặn cơn sốt

+ Giun ñũa ngoi lên, ợ nước trong: Rễ na 3-6g sao vàng, sắc uống cho

ra giun

+ Chấy, rận: Giã hạt na, sắc nước, gội ñầu hay ngâm quần áo Tránh vương vào mắt vì ñộc Có thể giã hạt ngâm rượu dùng dần [18]

Trang 19

Về mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

Tất cả các bộ phận rễ, thân, lá, quả, hạt của na ựều có giá trị sử dụng

Rễ, lá, quả xanh, hạt dùng làm thuốc Thân có hàm lượng xellulozơ từ 76%, là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho ngành công nghiệp giấy Quả na ựược dân vùng ựảo Virgin dùng làm mồi ựánh bắt cá [4]

65-Cây na sớm cho quả, năng suất cao, ắt sâu bệnh, cho thu nhập cao Vùng núi ựá vôi ở đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn nhiều gia ựình làm giàu nhờ trồng

na Riêng xã Chi Lăng có 800 hộ trồng na với tổng diện tắch khoảng 350 ha, tổng sản lượng khoảng 1400 tấn và thu nhập 6-8 tỉ ựồng/năm Năm 2005, tỉnh Tây Ninh có 3036ha na với sản lượng 23136 tấn Diện tắch na tập trung ở chân núi Bà đen, thị xã Tây Ninh, ở ựây 1ha na cho thu hoạch 7-8 tấn quả/năm, thậm chắ 12 tấn quả/năm nhờ làm thêm quả trái vụ Với 7-8 tấn quả/năm/ha bán xô 10000-12000ựồng/kg thì 1ha cho thu nhập khoảng 70-100 triệu ựồng/năm, trừ chi phắ ựầu tư trung bình 1ha na là 20 triệu ựồng, lợi nhuận thu ựược 50-80 triệu ựồng/ha Na Bà đen ựược trở ựi tiêu thụ ở Thành phố Hồ Chắ Minh, Hà Nội, các tỉnh miền đông, miền Tây Nam bộ, miền Trung, miền Bắc Những năm gần ựây, một số công ty kinh doanh ở Thành phố Hồ Chắ Minh ựã ựem na Bà đen xuất khẩu sang Pháp, Úc, Canada Tuy nhiên, na vẫn chưa ựược xuất khẩu nhiều chủ yếu vì không chịu vận chuyển, khó bảo quản [4], [12]

Na dai hoàn toàn có thể xuất khẩu nếu ựược cải tiến giống, giảm tỉ lệ hạt,

vỏ, tổ chức ựóng gói, chuyên chở tốt, hoặc chế biến thành ựồ hộp, thức uống Một ưu ựiểm lớn của cây na dai là tắnh thắch ứng rộng Vắ dụ, trên ựất cát ven biển miền Nam Trung bộ ựất xấu ựến ựộ cỏ mọc cũng khó nhưng người ta vẫn trồng ựược na dai do nó chịu ựược mùa khô khắc nghiệt, không cần tưới [4] Tại huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang hiện nay, ở những vùng trồng lúa hay

bị hạn thiếu nước tưới người dân còn chuyển ựổi trồng lúa sang trồng na dai

Trang 20

Cây na ñã tham gia vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp với ñiều kiện tự nhiên và ñem lại hiệu quả cao hơn nhiều so với trồng lúa

Một quả chín nặng khoảng 150-250g có 60-70% thịt vừa một người ăn nên rễ bán Nghề trồng na dai dễ phát triển vì những lý do sau:

Hương vị quả na ñược nhiều người ưa thích, ñộ ngọt cao, hơi có vị chua nên không lạt, lại có hương thơm của hoa hồng Giàu sinh tố, giàu chất khoáng Thích ứng với nhiều vùng ñất khác nhau, dễ trồng, dễ chăm sóc, nhanh cho quả Cây na ñược chăm sóc tốt chỉ sau 2-3 năm trồng ñã cho quả [4]

Có thể sử dụng cây na làm cây phủ xanh ñất chống, ñồi núi trọc, ñặc biệt

là ở vùng gò ñồi, vùng trồng lúa thiếu nước tưới ñể hạn chế xói mòn rửa trôi ñất, bảo vệ môi trường sinh thái và cho thu nhập cao

2.2.2 Sản xuất na trên thế giới

Cây na dai có nguồn gốc ở vùng Caribê và Nam Mĩ, nó rất ñược ưa thích

và ñược trồng nhiều nhất ở ñây (chưa kể những cây mọc nửa dại) như ở các nước Mehico, Braxin, Cuba [3]

Từ miền nhiệt ñới châu Mỹ, cây na ñược du nhập sang miền nhiệt ñới châu

Á từ rất sớm Hiện nay cây na ñược trồng ở khắp các vùng nhiệt ñới của cả Bắc

và Nam bán cầu, thậm chí ở cả vùng á nhiệt ñới Florida của nước Mỹ

Chi na (Annona) có khoảng 50 loài khác nhau [20] trong ñó có hàng chục

loài có trái ăn ñược nhưng chỉ có hai loài ñược trồng phổ biến nhất ñó là

mãng cầu dai (na dai - Annona squamosa) và mãng cầu xiêm (na xiêm -

Annona muricata) [4]

Trong các loài na (Annona) thích hợp với khí hậu nhiệt ñới ñứng ñầu

bảng là na dai, do hương vị thích hợp với nhiều người, nhiều dân tộc và cũng

do nó khá dễ tính, trồng ñược cả ở vùng nóng và vùng có mùa ñông lạnh nên ñược trồng nhiều nhất trong các loài na trên phạm vi toàn thế giới Ngoại trừ

na (Annona cherimola) là cây á nhiệt ñới, na dai cũng ñược ñánh giá cao nhất

Trang 21

về mặt chất lượng Những nước ựánh giá na dai rất cao là ấn độ, Cuba, Braxin [4]

Riêng ở Thái Lan, 1986-1987, trồng trên 51500 ha với sản lượng 188900 tấn, một con số không nhỏ với một loại quả ựược coi là thứ yếu [3]

Ở Ấn độ, na dai ựược nhập nội từ lâu và ựược trồng rộng ựến mức ựộ nó trở thành cây dại và có nhiều tác giả ựã cho rằng Ấn độ là ựất tổ của na dai Theo Venkataratnam (1963), diện tắch trồng na ở Ấn độ ựã ựạt 44613 ha [18] Ngay ở Nam Trung Quốc, đài Loan na dai cũng ựược ựánh giá cao và ựược trồng rộng rãi với tên gọi là phan lệ chi [18], [4]

Mặc dù na ựược trồng phổ biến ở các nước vùng nhiệt ựới, song những nghiên cứu về na lại rất ắt Chủ yếu tập trung vào việc tuyển lựa giống quả to,

ắt hạt, ựộ ựường cao, kỹ thuật nhân giống, bón phân, cắt tỉa nhưng còn rất hạn chế Nhiều nghiên cứu ựã cung cấp thông tin về giá trị dinh dưỡng của quả na dai ở thời kỳ ăn ựược nhưng chưa thực sự quan tâm ựến biến ựổi sinh lý, hoá sinh theo tiến trình phát triển của quả na

2.2.3 Sản xuất na ở Việt Nam

Vùng phân bố cây na ở nước ta khá rộng, trừ những nơi có mùa ựông lạnh

và sương muối không trồng ựược na, còn hầu hết các tỉnh ựều có na Phần lớn cây na ựược trồng lẻ tẻ trong các vườn gia ựình với mục ựắch thu quả ựể ăn tươi, cải thiện khẩu phần ăn, còn một ắt ựem ra chợ ựịa phương bán, không trở thành hàng hoá lớn [12]

Các vùng trồng na tập trung ở miền Bắc: xã Thái đào, Lạng Giang, Bắc Giang; xã đông Phú, đông Hưng, Mai Sơn, Trường Sơn, Lục Sơn, Vô Tranh huyện Lục Nam, Bắc Giang thị trấn đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn [13], các

xã Hoà Lạc, Cai Kinh, đồng Tân huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn Miền Nam: huyện Tân Thành, Châu đức thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; tỉnh Tây Ninh, ngoài ra còn ở Ninh Thuận và đồng Nai

Trang 22

Những nghiên cứu về na ở trong nước cũng rất hạn chế Cho ñến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu thật ñầy ñủ về các giống na Qua ñiều tra, GS.TS Trần Thế Tục nhận thấy, ở các vùng trồng có những giống na có màu vỏ khác nhau: loại vỏ màu xanh nhạt, loại vỏ màu nâu, loại mầu vàng nhạt; ñược xếp theo hai nhóm: nhóm na dai và nhóm na bở Xu hướng người dân thích trồng na dai vì bán ñược giá cao và quả cất giữ ñược lâu hơn sau thu hoạch [12]

*Sản xuất na ở Bắc Giang

Bảng 2.2: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tỉnh Bắc Giang

Diện tích (ha) Sản Lượng (tấn) Năm

Cây 2005 2006 2007 2008 2005 2006 2007 2008 Nhãn, vải 42217 41576 41694 41063 73955 72602 236613 215998 Hồng 1562 1562 1567 1567 7089 7572 12295 8038

Na 2541 2480 2478 2478 4394 4140 4316 5177 Xoài 417 417 414 414 1232 1185 1749 2100 Dứa 1246 1006 1009 907 9390 10664 8813 8322

Nguồn: Niên gián thống kê tỉnh Bắc Giang 2005-2008 [6] Xem bảng 2.2 cho thấy năm 2008 cây na có diện tích khá lớn (2478 ha), ñứng thứ hai sau nhãn vải (41063 ha) tại Bắc Giang Sản lượng na năm

2008 tại Bắc Giang ñạt 5177 tấn Cây na là cây góp phần ñáng kể trong cơ cấu cây trồng nhằm xoá ñói giảm nghèo ở vùng miền núi Bắc Giang

Huyện Lục Nam có diện tích na 1700 ha, ñứng thứ 2 sau nhãn vải, chiếm 68,6 % diện tích na của cả tỉnh Những năm gần ñây xu thế phát triển cây ăn quả nói chung và cây na nói riêng ñang có thế mạnh trong chuyển dịch

cơ cấu cây trồng của tỉnh Bắc Giang ñối với nền sản xuất nông nghiệp cây hàng hoá có giá trị kinh tế cao, ña dạng Là huyện trung du miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang, có diện tích vườn ñồi khá lớn, huyện Lục Nam có tiềm năng

Trang 23

phát triển kinh tế vườn ñồi phong phú ña dạng như: Vải thiều, hồng, nhãn, na dai… Vải thiều, na dai ñang là cây trồng chủ lực, chiếm ưu thế và có giá trị kinh tế cao Năm 2008, huyện Lục Nam có 9124ha ñất trồng cây ăn quả trong

ñó diện tích trồng na là 1710ha chiếm 18,74% diện tích cây ăn quả toàn huyện Năng suất, sảm lượng năm 2009 cao hơn nhiều so với năm 2008 do nông dân ñâng dần biết áp dụng quy trình thâm canh na vào sản xuất Năng suất na năm 2008 ñạt 21,2 tạ/ha, năm 2009 ñạt 32,4 tạ/ha Sản lượng na năn

2008 ñạt 3600 tấn, năm 2009 ñạt 5500 tấn [5] Các số liệu ñược thể hiện ở bảng 2.3 dưới ñây

Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng một số

cây ăn quả tại huyện Lục Nam

Cây trồng Nhãn,

vải

Xoài Hồng Na Chuối Dứa

Năm 2005 6552,0 125,0 245,0 1710,0 15,0 295,0 Năm 2006 6552,0 125,0 245,0 1710,0 15,0 190,0 Năm 2007 6512,0 125,0 245,0 1710,0 17,0 250,0 Năm 2008 6465,0 123,0 235,0 1700,0 17,0 250,0

Diện

tích

(ha)

Năm 2009 6465,0 125,0 240,0 1700,0 17,0 250,0 Năm 2005 14,7 19,6 25,0 15,9 100,0 61,4 Năm 2006 11,9 19,7 25,1 15,2 102,7 95,3 Năm 2007 60,4 29,8 27,6 16,5 94,1 72,0 Năm 2008 71,2 35,0 32,0 21,2 112,9 100,0

Năng

suất

(tạ/ha)

Năm 2009 20,1 54,0 40,0 32,4 115,9 106,0 Năm 2005 9610 245,0 612,0 2720,0 150,0 1810,0 Năm 2006 7770,0 246,0 615,0 2600,0 154,0 1810,0 Năm 2007 39350,0 372,0 675,0 2830,0 160,0 1800,0 Năm 2008 46000,0 430,0 752,0 3600,0 192,0 2500,0

Sản

lượng

(tấn)

Năm 2009 20257,0 675,0 960,0 5500,0 197,0 2650,0 Nguồn: Niên gián thống kê huyện Lục Nam 2005 – 2009 [5]

Trang 24

Huyện Lục Nam có dòng sông Lục chảy qua, những dải ựất ven sông ựược bồi ựắp phù sa thắch hợp với sự phát triển của cây na Từ lâu, na dai ở ựây nổi tiếng bởi hương vị thơm mát ngọt bùi, dẻo dai, ựược nhiều người biết ựến Trước ựây, nông dân ở Lục Nam ựã trồng na dai nhưng chủ yếu xen canh cùng với một số cây ăn quả khác trong vườn của gia ựình Nhận thấy trồng na dai mang lại hiệu quả kinh tế cao, nên nhiều hộ dân mạnh dạn ựưa loại cây trồng này sản xuất ựại trà trên những chân ruộng cao cấy lúa một vụ không ăn chắc Qua đông Phú sang Huyền Sơn, Nghĩa Phương, Cẩm Lý rồi ựến Cương Sơn, Lan MẫuẦ ựâu ựâu cũng thấy những vườn na xanh mướt Tuy nhiên, do nông dân quen chăm sóc na theo lối truyền thống ựể na tự thụ phấn, bón phân không cân ựối, không ựốn thân và tỉa thưa cành sau mỗi vụ thu hoạch nên năng suất, chất lượng sản phẩm không cao, quả na nhỏ, không ựồng ựều, tiêu thụ gặp nhiều khó khăn để nâng cao chất lượng sản phẩm na dai, từ năm

2006 ựến nay, UBND huyện Lục Nam tăng cường phối hợp với các ngành chức năng khảo sát ựiều kiện ựất ựai ựể hướng dẫn nông dân trồng na trên những chân ruộng thắch hợp đồng thời, xây dựng nhiều mô hình thử nghiệm

áp dụng kỹ thuật thâm canh và thụ phấn nhân tạo cho na dai Theo ựó, thay vì sản xuất theo lối truyền thống, các hộ trồng na ựược hướng dẫn kỹ thuật ựốn cành cao, tỉa thưa kết hợp bón phân cân ựối Sau lập xuân khoảng 20 ngày, dùng kéo cắt sạch ựầu cành 20 cm và tiếp tục bón phân chuồng và NPK, tưới 1-2 lần thuốc kắch rễ và phun kắch phát tố ựể làm bật mầm hoa rồi tiến hành thụ phấn Áp dụng kỹ thuật chăm sóc mới, cây na ựược cung cấp ựầy ựủ dinh dưỡng nên phát triển mạnh, tỷ lệ ựậu quả cao, cho thu hoạch quả sớm hơn 30 ngày đặc biệt, chất lượng na ựược nâng lên Quả na mắt to ựều, căng mịn, màu sáng ựẹp, trung bình ựạt 0,2-0,3 kg/quả, ựược thị trường ưa chuộng Những vườn áp dụng kỹ thuật thâm canh tốt cho năng suất na bình quân ựạt hơn 12 tấn/ha, cho thu nhập hơn 200 triệu ựồng/ha/vụ, cao gấp ựôi so với sản xuất theo phương pháp cũ

Trang 25

2.3 ðặc ñiểm thực vật học và yêu cầu sinh thái

Cây cao 2-8 mét, vỏ có nhiều lỗ bì nhỏ, tròn, trắng [12], [14], [11]

Cành na nhỏ, mềm kiểu cành la, thường mọc trên cành mẹ (cành của năm trước) Trên tán cây, phần từ giữa trở xuống cành cho quả tốt hơn [20]

* Lá na

Lá hình mũi mác, tù hay nhọn, hơi mốc ở phần dưới, thường dài khoảng 10cm, rộng 4cm, có 6-7 ñôi gân phụ [17] Lá nguyên mềm, dài, nhẵn, mọc so le [13] Lá mỏng hình thuôn dài hoặc hình trứng, mặt lá mầu xanh lục, lá non có lông thưa ñến khi già thì không còn nữa, vò lá có mùi thơm Cuống lá ngắn, có lông nhỏ, chiều dài cuống khoảng 1,5-1,8cm Na thuộc nhóm cây ăn quả rụng lá vào mùa ñông Lá rụng xong trơ cuống lúc ñó mới mọc mầm mới

* Hoa na

Hoa mọc ñơn hoặc mọc thành chùm 2-4 hoa trên nách lá hoặc ñỉnh cành năm trước hoặc mọc trên ñoạn dưới của các lá già Hoa nhỏ, mầu xanh lục, mọc ñối với lá, có cuống dài 2-3cm Chiều dài hoa khoảng 2-4cm, hoa bé 1,4-2cm Hoa thường rũ xuống có ba lá ñài mầu lục, cánh hoa xếp hai vòng, mỗi vòng ba cánh, ba cánh hoa ngoài hẹp và dầy, các cánh hoa ở trong rất hẹp hoặc thiếu hẳn

Nhiều nhị và nhiều lá noãn, nhị và nhụy của hoa na mọc trên cùng một hoa Nhị bé nhưng nhiều tạo thành một lớp bọc ở vòng ngoài của nhụy Nhụy cũng rất nhiều, xếp thành hình tròn, nhọn

Trang 26

Cây na thụ phấn chéo do nhụy thường chín sớm hơn so với nhị của cùng một hoa nên thời gian tiếp nhận phấn ngắn nếu không có côn trùng hoặc thụ phấn bổ sung thì ñậu quả kém [12], [14],[11]

Cây na thường ra hoa vào tháng 4-5 dương lịch, những lứa hoa ñầu thường rụng nhiều, sau ñó khi bộ lá ñã khoẻ, quang hợp ñủ thì ñậu quả Những lứa hoa cuối vào tháng 7-8 cũng rụng nhiều, quả tạo thành nhỏ, vì vậy

na thuộc loại trái cây có mùa [4]

* Qu ả na

Quả mọng, kép, mầu xanh mốc, gần như hình cầu, ñường kính từ 10cm, có từng múi, mỗi múi ứng với một lá noãn, thịt quả trắng, hạt ñen, vỏ hạt cứng Thời gian sinh trưởng và phát triển của quả từ khi hoa nở ñến khi quả chín khoảng 90-100 ngày [20]

7-Mùa na chín từ tháng 6-9 dương lịch Miền Nam thu hoạch sớm hơn miền Bắc Quả ñược thu hoạch làm nhiều ñợt, khi quả ñã mở mắt, vỏ quả chuyển sang mầu vàng xanh, kẽ mắt na có mầu trắng [20]

Dấu hiệu na chín là mầu trắng xuất hiện ở các kẽ ranh giới giữa hai mắt, các kẽ này dày lên, ñỉnh múi thấp xuống ðối với giống na bở, kẽ có thể nứt toác Vỏ quả khi vận chuyển nếu bị sát vào nhau dễ thâm lại và nát quả, mã xấu ñi [4]

2.3.2 Yêu cầu sinh thái của cây na

2.3.2.1 V ề khí hậu

Na có nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới nên thích hợp với khí hậu ấm áp và khô Tuy vậy, na vẫn sinh trưởng ñược trong ñiều kiện nóng ẩm Cây na dai tương ñối chịu rét nhưng khả năng chịu rét kém vải và nhãn Cây trưởng thành có thể chịu ñược nhiệt ñộ O0C trong thời gian ngắn Người ta thấy ở

40C cây ñã có thể bị thiệt hại do nhịêt ñộ thấp, vì vậy ít thấy na mọc ở các ñiểm vùng cao của các tỉnh phía Bắc, nơi hàng năm có sương muối Về mùa ñông, ở các tỉnh phía Bắc cây na ngừng sinh trưởng, rụng hết lá, mùa xuân ấm

Trang 27

áp lại ra ựợt lá mới, nhờ ựó mà na không những ựược trồng ở miền Bắc mà còn ựược trồng ở Nam Trung Quốc, đài Loan, Bắc Ấn độ [4]

Nhưng nếu ở các vùng mà nhiệt ựộ mùa hè quá cao trên 400C, lại bị hạn hoặc khô nóng cũng không thắch hợp cho việc thụ phấn, thụ tinh của na và sự phát triển của quả, dễ gây hiện tượng rụng quả sau khi thụ tinh hoặc nếu quả

có phát triển ựược cũng kém về năng suất và phẩm chất [12]

Na sinh trưởng phát triển thắch hợp ở nhiệt ựộ trung bình hàng năm

20-250C, số giờ chiếu sáng trung bình 2500 giờ/năm [17]

2.3.2.2 đất trồng

Na không kén ựất, chịu hạn tốt, không thắch ựất úng đất cát sỏi, ựất thịt nặng, ựất có vỏ xò, hến, ựất ựá vôi ựều trồng ựược na Nhưng tốt nhất là ựất có tầng canh tác dầy, ựất rừng mới khai phá, ựất ựồi ven sông suối, ựất chân núi ựá vôi thoát nước nhiều mùn giàu dinh dưỡng là thắch hợp hơn cả

độ PH: 5,5 - 7,4 Na ưa khô ựể rụng lá và sẽ mọc chồi hoa Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận vào mùa khô sau khi thu hoạch quả xong cây na rụng lá một phần [3], [11], [12]

2.3.3 Một số ựặc tắnh sinh lý, sinh thái ựặc trưng của cây na dai

Ngoài các ựặc ựiểm trên, về mặt sinh lý, sinh thái, na dai cùng với nê ựược coi là loại cây rễ tắnh nhất trong họ na, trồng ựược ở các vùng khắ hậu nhiệt ựới và cả á nhiệt ựới như đài Loan Ở ựồng bằng sông Hồng hay sông Cửu Long, ựất tốt, ựủ ẩm hay ở ven biển Nam Trung Bộ với khắ hậu nóng, hạn, trên ựất cát gần như bỏ hoang ựều có thể trồng ựược na dai và có sản lượng, duy ở ựồng bằng thâm canh thì quả to, sản lượng và chất lượng tốt hơn [3]

Còn một ưu ựiểm nữa là trong các loài na, na dai là loài ra quả nhanh nhất, ựầu tư cho một vườn na chóng thu vốn và ựầu tư không nhiều

Bệnh cây nguy hại hầu như không có, sâu nguy hiểm nhất chỉ có rệp sáp, rệp mềm và các loài này dễ trị bằng thuốc

Trang 28

Về ựất ựai, na dai cũng rất dễ tắnh Dọc ựường quốc lộ ở Phan Giang và Phan Thiết nhiều người ựã gặp những vườn na trên ựất cát gần như trắng và trong vườn nhà trên ựất xấu nhất, miễn là thoát nước, ựặt cây na vào cũng có thể cho quả [3]

Về ựộ pH ựất, nơi nào có thể trồng trọt ựược, không kể cây gì là có thể trồng ựược na dai (giới hạn pH rất rộng)

Cũng vì na dai dễ tắnh nên ở Việt Nam người ta trồng na dai rất quảng canh: không chọn giống, có khi không dùng vườn ương mà trồng bằng hạt gieo thẳng vào chỗ cố ựịnh Ở các nơi ựất xấu không trồng ựược cây gì, thường là ựất cát, không tưới nước, bỏ phân rất ắt mà vườn na vẫn cho quả Tuy nhiên, quả nhỏ, khi ăn chỉ thấy hạt So sánh quả na dai của ta bán ở chợ, hai bên ựường với những quả na bán ở chợ các nước đông Nam Á thấy ngay trình ựộ thâm canh na của ta còn thấp đó cũng là một thiệt thòi lớn cho nghề trồng na vì người tiêu thụ không mua, trong khi nhu cầu tiêu thụ quả tươi của

ta ựang tăng lên [3]

2.4 Những nghiên cứu về cây na

2.4.1 nghiên cứu về chọn tạo giống

Trang 29

Trước khi gieo có thể ñập nhẹ cho nứt vỏ hoặc trà lẫn cát khô cho thủng vỏ ñể hạt nhanh nẩy mầm Tốt nhất là gieo hạt khi mới thu hoạch Sau khi gieo từ 10 - 20 ngày hạt mới nảy mầm, nếu hạt ñể lâu thì phải tới

120 ngày

Trước khi trồng na ra vườn người ta trồng na trong bầu Cách làm này rất phổ biến vì không làm thương tổn ñến rễ như cách gieo hạt vào vườn ươm và khi trồng phải ñánh bầu

Ươm cây trong bầu nilon và có ñục lỗ ở ñáy ðường kính bầu khoảng 15cm chiều cao 18cm, trọng lượng ñất và phân trong mỗi bầu từ 1,0 - 1,5kg, trên 1m2 vườn ươm có thể ñặt ñược 30 - 35 bầu Trong mỗi bầu có thể gieo từ

1 - 2 hạt, khi cây mọc chọn cây sinh trưởng khoẻ giữ lại, chăm sóc cho ñến ñủ tuổi trồng Nói chung, cây con từ 3 - 12 tháng tuổi là có thể ñem trồng, nhưng cây 3 tháng tuổi còn bé cao khoảng 15 - 20 cm trồng không tốt bằng cây từ 8 -

12 tháng tuổi Khi trồng chú ý thời vụ trồng

ðất ñộn bầu có thể dùng ñất phù sa, ñất bùn ao, cho thêm ít lân, trộn phân chuồng hoai và phân hữu cơ [12], [24]

Tuy nhiên nhân giống bằng hạt có một số nhược ñiểm: Có nhiều biến

dị về các chỉ tiêu kinh tế như chậm có quả, số quả trên cây không ñồng ñều, tỷ

lệ ñậu quả, tỷ lệ phần ăn ñược so với quả và hạt, phẩm chất quả vì vậy ngày nay ở nhiều nước người ta ñã thay thế phương pháp gieo hạt bằng phương pháp nhân giống vô tính như chiết cành, ghép cành

2.4.1.2 Chi ết cành

Chọn cành chiết: ðường kính gốc cành từ 1,0 - 1,5cm Chiều dài cành chiết từ 40 - 60cm, có hai nhánh, cành bánh tẻ, ngoài tán cây, không sâu bệnh Cây chiết phải chọn trên cây mẹ ñã cho quả liên tục nhiều năm, phẩm chất tốt

Trang 30

- ðất bó bầu: ðất bùn ao phơi khô, ñất vườn, ñập nhỏ trộn mùn cưa, trấu, rơm rác mục Hỗn hợp 2/3 ñất và 1/3 hỗn hợp kể trên Bầu chiết có ñường kính 6 - 8cm, chiều dài bầu từ 10 - 12cm

- Cắt khoanh vỏ: Chiều dài khoanh vỏ bằng 1,5 – 2,0 lần ñường kính gốc (2 - 3cm) Bóc lớp vỏ ngoài, cạo sạch lớp vỏ trắng ñến lớp gỗ, dùng giẻ lau sạch vết cắt

- Phía ngoài bầu chiết bọc giấy PE sau ñó buộc chặt 2 ñầu túi bầu

- Sau chiết từ 30 - 60 ngày quan sát rễ mọc qua túi bầu Khi rễ ñã chuyển từ màu trắng sữa sang vàng ngà hoặc hơi xanh thì cưa cành chiết giâm vào vườn ươm, hàng ngày tưới nước và che bớt 50% ánh sáng [2], [12]

2.4.1.3 Ghép cành

Nhiều loại cây trong họ na, do huyết thống gần có thể ghép loại nọ lên loại kia Ở châu Mỹ La tinh có tới 9, 10 loại na có thể kết hợp tốt với nhau thành từng cặp còn ở Việt Nam chỉ có 4 loại : Na dai, na xiêm, bình bát, nê

Từ các tài liệu và thực tế sản xuất cho biết:

Các loài thuộc chi na ñều có thể ghép lên nhau dược nhưng nếu muốn

có hiệu quả kinh tế phải chọn cặp ghép tiếp hợp tốt với nhau

Na xiêm ghép lên nê hay na dai không tốt nhưng na xiêm ghép lên bình bát thì tiếp hợp tốt, sinh trưởng, kết trái bình thường và ở miền Nam ñã sử

dụng rộng rãi kinh nghiệm này ñể sản xuất cây na xiêm ghép

Na dai ghép lên bình bát hay na xiêm thì tuy có thể sống nhưng sau ñó tiếp hợp không tốt do ñường kính gốc ghép và cành ghép khác nhau nhiều, trao ñổi nhựa giữa cành ghép và gốc ghép khó sau một thời gian thì cành ghép

chết dần

Na dai ghép lên nê thì tiếp hợp, sinh trưởng phát dục rất tốt nhờ nê có

tính thích ứng tốt nhưng chỉ có thể trồng ở ñất cao, không úng nước

Với na dai, na xiêm, nê, bình bát, chắc chắn nhất là ghép cùng loài

Trang 31

Hiện nay có 2 phương pháp nhân giống vô tính na ñược sử dụng phổ biến nhất là ghép cành và ghép mắt Ở Việt Nam, ghép mắt mới áp dụng cho ghép na xiêm lên bình bát, các phương pháp ghép khác ít sử

dụng trong sản xuất

- Các ph ương pháp ghép:

Ghép áp: Gốc ghép trồng trong bầu, ñược kê hay buộc lên cao gần cành ghép Cắt hai lát ñể lộ tượng tầng rồi buộc áp vào nhau Khoảng 2 tháng sau khi ghép có thể cắt dời cành ghép ñưa vào vườn ươm chăm sóc tới khi cây con ñủ tiêu chuẩn xuất vườn thì ñem trồng vườn ăn quả Ở miền Nam, người

ta cải tiến ghép áp bằng cách cắt cụt ngọn gốc ghép rồi cắt hai lát chéo nhau thành hình nêm, ở cành ghép chỉ cắt một lát, xiên từ dưới lên sau ñó lùa gốc

ñó dùng dây buộc chắc, che kín ñể nước mưa không thấm vào ñược, sau 3 tuần mới ñược mở dây Nếu cành ghép nhú chồi thì cắt ngọn gốc ghép và chờ cho ra lá ổn ñịnh mới ñem ñi trồng

Trang 32

- Thời vụ ghép: Từ ñầu mùa mưa tới cuối mùa mưa

Ở Cu Ba - nơi có nghề trồng na từ lâu ñời và rất ñược coi trọng , các giống na ñều ñược nhân bằng phương pháp ghép cành hay ghép mắt Dù ghép cành hay ghép mắt người ta ñều chủ trương dùng gốc ghép ñã cứng cáp, ñường kính từ 12 - 15mm hoặc hơn, 12 - 24 tháng tuổi ñể có cây ghép to, khoẻ ñánh ñi trồng chóng phục hồi, ra hoa quả nhanh, vườn na ñồng ñều Chỉ ghép khi na ñang trong thời gian nghỉ Thực tế cho thấy ghép cành ñược ưa chuộng hơn ghép mắt vì cây ghép khoẻ hơn Cành ghép là cành 12 tháng tuổi, ñường kính từ 5 - 10 mm, dài 15 cm, cắt ở chỗ lá ñã rụng rồi ngâm 1- 2 phút

ñể khử trùng trong dung dịch CuSO4 60g trong 20 lít nước Gốc ghép ñường kính thường phải ñạt 15 mm trở lên (gốc ghép 18 - 24 tháng tuổi) và cũng có thể ghép trên cây lớn ñường kính gốc 15 cm và dài hơn, khi ñốn ñi ñể ñổi giống [3], [24]

Với nhân giống vô tính thì chỉ có phương pháp ghép, ghép cành và ghép mắt là 2 phương pháp ghép hay ñược sử dụng phổ biến vì cắm cành còn ñang nghiên cứu; còn chiết cành, theo các tác giả Ấn ðộ ít có triển vọng thực hiện rộng rãi trong sản xuất [3]

* Chọn tạo giống

- Với na dai

Từ xưa tới nay, na ñược trồng chủ yếu bằng hạt, hơn nữa chúng khá dễ tính và ít ñược chú trọng nên chúng không giữ ñược những phẩm chất tốt ban ñầu: quả nhỏ, nhiều hạt, chất lượng kém… Song các nhà nghiên cứu lại nhận ñịnh rằng việc cải tiến giống na dễ vì na dai là loại quả ngon lại dễ tính mặc

dù không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới việc cải tiến gống na chưa làm ñược bao nhiêu [3] Dẫn chứng là trong một cuộc ñiều tra ở bang Maharashtra, Ấn ðộ người ta thấy ở na dai trọng lượng quả từ 130 ñến 370g, số hạt trong một quả từ 14 ñến 66, tỷ lệ cùi (phần ăn ñược) từ 34,4% ñến 60,6%, chất hoà tan từ 18,0 - 28,2, ñộ chua từ 0,20% - 0,80% [21] Với những biến thiên lớn

Trang 33

như vậy, chỉ cần chọn cây tốt nhân rộng ra Lai tạo ra giống mới cũng nhanh vì dù gieo bằng hạt, na dai cũng chỉ cần từ 2 - 3 năm là có quả Canizares cho biết, ở Cu

Ba ñã có những giống na không hạt nhưng quả nhỏ, sản lượng thấp nên cần phải cải tiến thêm [22]

- Với na xiêm

Cũng như na dai, ở trong nước công tác chọn giống na xiêm chưa làm ñược nhiều Chưa nói ñến dòng vô tính ngay ñến vùng chuyên canh cũng chưa có Phải bắt ñầu bằng việc chọn những cây mẹ, có những ñặc tính như : ñậu trái nhiều, hình thù ñều ñặn (có khả năng thụ phấn tốt) ít xơ, tỷ lệ cơm (phần ăn ñược) cao, mùi thơm hấp dẫn rồi nhân vô tính, so sánh ñể tạo ra những dòng vô tính [3]

2.4.2 Nghiên cứu về phân bón và các chế phẩm phun lá cho na

* Phân bón cho na

Cây ăn trái cần nhiều loại dinh dưỡng ñể sinh trưởng và cho năng suất, chất lượng nhưng trong ñó, ñạm, lân, kali là 3 yếu tố mà cây trồng cần nhiều nhất và ảnh hưởng lớn nhất ñến năng suất, chất lượng trái cây

- Phân ñạm: Phân ñạm giúp cây sinh trưởng, phát triển, ñâm chồi, ñâm ñọt Nếu thiếu phân ñạm, cây sẽ chậm ñâm ñọt, còi cọc, làm giảm năng suất ñáng kể, nhưng bón thừa phân ñạm, sẽ làm cho cây có nhiều cành lá sum suê,

dễ bị sâu bệnh tấn công làm giảm chất lượng, tăng tỷ lệ hao hụt, thất thoát

- Phân lân: Lân cần thiết trong việc giúp cây ñâm rễ, ñâm chồi,… Nếu thiếu lân, cây sẽ còi cọc, ít ñâm ñọt, khó ra hoa, ñậu trái

- Phân kali: Tăng cường vận chuyển dinh dưỡng, tăng tính chống chịu của cây ñối với ñiều kiện bất lợi, giúp chồi mau thuần thục, dễ ra hoa, kali giúp tăng phẩm chất trái cây

ðể cây na sớm cho quả và năng suất cao cần bón kết hợp giữa phân hữu cơ và vô cơ ñủ số lượng và ñáp ứng nhu cầu của cây ở các thời kỳ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong năm Có thể bón theo liều lượng sau:

Trang 34

L ượng phân bón cho na theo tuổi cây

Lượng bón (kg/cây) Tuổi cây

Hữu cơ 15 - 20 2 – 25 30 - 40 ðạm Ure 0,6 – 0,8 1,0 - 1,5 1,5 - 2,0 Supe lân 0,3 – 0,4 0,5 - 0,8 0,7 - 1,0 Clorua kali 0,2 – 0,3 0,5 - 0,7 0,7 - 1,0

Th ời vụ bón

Lượng bón mỗi lần (% so với cả năm) Lần

Hữu

Supe lân

ðạm

Ure

Clorua kali

* M ột số chế phẩm phun qua lá cho na

Trang 35

Ngoài các yếu tố ña lượng thì các yếu tố trung lượng, vi lượng cũng ñóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng chất lượng trái cây Trung, vi lượng thường có mặt khá ñầy ñủ trong các loại phân bón lá Bên cạnh ñó, phân hữu cơ cũng ñóng vai trò rất quan trọng, giúp cung cấp một phần dinh dưỡng cho cây, nhưng cơ bản nhất là làm cho ñất tơi xốp, giữ ẩm cho ñất, giảm thất thoát phân bón

ðể sử dụng phân bón ñạt hiệu quả, có nhiều ñiều cần phải lưu ý như ñiều kiện ñất ñai, giai ñoạn sinh trưởng, tình trạng sinh trưởng của cây, giống trồng Trong ñó, quan trọng nhất là chủng loại, liều lượng phân bón theo từng giai ñoạn sinh trưởng ñể ñáp ứng tốt nhất yêu cầu của cây và cách bón thích hợp ñể cây sử dụng ñược nhiều nhất

Cây hút chất dinh dưỡng chủ yếu qua rễ, ñồng thời cũng có thể hấp thu một lượng ít qua lá Vì vậy, ñể góp phần cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các chất vi lượng cần thiết, người ta thường dùng dưới dạng phân bón qua lá Nói cách khác, phân bón qua lá chủ yếu là các chất vi lượng, do cây cần với số lượng rất ít nên bón qua lá sẽ có hiệu quả cao hơn và ñỡ lãng phí hơn nhiều so với bón qua ñất Cây cũng có thể hấp thu chất ña lượng qua

lá, nên trong nhiều loại phân bón qua lá, ngoài các chất vi lượng, người ta cũng cho thêm các chất ña lượng ñể cung cấp thêm cho cây Hiện nay người dân ñã sử dụng phân bón, biện pháp kỹ thuật và một số chế phẩm phun qua lá

cho na ñể ñiều khiển ra hoa trái vụ cho na

ðây là một yêu cầu của thị trường làm sao ñể có thể kéo dài thời gian thu hoạch na hàng năm ðiều khiển ra hoa trái vụ cũng là một khâu trong quy trình kỹ thuật thâm canh na

ðặc ñiểm của na là sau khi rụng lá, cành sẽ nảy chồi lá mới, trên ñó có mang theo hoa Tùy từng vùng mà có cách xử lý ra hoa rải vụ như sau:

Trang 36

Ở những vùng khô hạn cục bộ trong năm có thể thông qua việc ñiều tiết nước kết hợp với việc bón phân như kiểu "xiết nước" với vườn quýt ở ðồng bằng sông Cửu Long, làm cho cây ra hoa chậm lại [15], [24]

ðể tự nhiên na rụng lá vào tháng 12 - 1, ra hoa, quả vào tháng 5 - 6, chín vào tháng 9 Muốn na ra hoa sớm, kết quả vào tháng 4, thu hoạch vào 5 - 15/8 thì cần thực hiện ñồng thời một số biện pháp kỹ thuật sau:

Sau thu hoạch tỉa bỏ cành la, cành vóng, cành sâu bệnh ñể tán thông thoáng Vào tháng 11 vặt hết lá xanh trên tán Có thể dùng thuốc dấm hoa quả Trung Quốc (dung dịch Ethlen 45%), pha 1 lọ 5ml với 1lít nước, phun ướt tán Sau 10 - 15 ngày thì na sẽ rụng hết lá Vào ñầu tháng 2, cần tưới ẩm, bón thúc phân sớm Bón mỗi cây 20 - 30 kg phân chuồng hoai mục và 3 - 10kg NPK (5:10:3) ñồng thời giữ ẩm liên tục, cây sẽ ra hoa và kết quả vào tháng 4 như ý muốn [26]

Kinh nghiệm trồng na ở Thái Lan, người ta còn kết hợp việc cắt tỉa với tuốt lá ñể làm cho hoa ra muộn hơn Thường cắt tỉa vào tháng 5 chọn cắt những cành non, chỉ ñể lại ñoạn cành bánh tẻ có màu xanh nâu Sau ñó tuốt hết lá, cành này sẽ mọc chồi mới có hoa và quả thu hoạch vào tháng 10 - 11 Các biện pháp làm cho na ra quả trái vụ ñều có kết hợp với việc bón phân và tưới nước [24]

Theo kinh nghiệm thì phương pháp cụ thể có thể làm như sau:

1 Sau thu hoạch:

- Bón 5 kg phân hữu cơ + 1-2 kg NPK 16.16.8 + 0,4 kg vôi/cây Cuốc xới ñất ñể vùi lấp phân khi bón

- Muốn Na ra hoa rải vụ thì áp dụng kỹ thuật tuốt lá: pha 800g Urê với

8 lít nước, phun ướt ñẫm cây làm rụng lá già, số lá còn lại thì tuốt bỏ luôn

- Sau khi lá rụng, cắt bỏ toàn bộ những cành nhỏ mọc trong tán, chừa lại những cành to bằng ngón tay út trở lên và trên những cành ấy, cắt bỏ tất cả ngọn Vết cắt ở nơi tiếp giáp giữa ñoạn cành bánh tẻ và cành non Sau khi cắt,

Trang 37

ta có 1 bộ cành trụi lá toàn cành hữu hiệu, sẵn sàng ra cành mới và hoa ñồng thời, tưới nước ñẫm lại cho na

- Bón phân: 1 kg NPK 16.16.8/cây khi nhú lá mới

3 Làm 2 ñợt trái trong 1 vụ ( kinh nghiệm ở Tây Ninh ):

Từ ngày tuốt lá ñến khi thu hoạch là 4 tháng 10 ngày Khi Na cho trái non, tuyển trái tốt, tròn ñều chừa lại, tỉa bỏ trái xấu, méo Cây Na nuôi ít trái, chất lượng trái tốt giá bán cao hơn Sau khi Na ñậu trái ñến 3 tháng cho cắt nhánh già trong thân cây mẹ, tỉa sạch nhánh con ngoài cành ðồng thời phun ñịnh kỳ F.Bo ñể nuôi trái và cho hoa

Như vậy khi thu hoạch xong ñợt 1, nhánh cắt trong thân mẹ và cành ngoài ñã ñâm chồi, trổ bông cho trái ñợt 2 trước vụ chính 1 tháng Vườn Na

sẽ bán ñược giá cao

4 Nuôi trái:

- Khi trái to bằng hột sen bón 1 kg NPK 16.16.8 + 1 kg vôi cho 1 cây

- Khi trái to bằng trứng cút, phun ñịnh kỳ dưỡng trái ( 35 ml/8 lít) + F.Bo (15 g/8 lít) 10 ngày/lần giúp trái to, múi lớn, cơm dày, ngon ngọt

- Trước thu hoạch 15 ngày pha 15 ml NUTRIMIX/8 lít phun 1 lần giúp trái bóng ñẹp và bảo quản tốt

5 Tỉa và bao trái dành cho xuất khẩu:

Mục ñích là làm cho trái to, sáng ñẹp ñều, không bị tỳ vết ñạt tiêu chuẩn xuất khẩu và còn hạn chế sâu bệnh, rệp phá trái nên bán ñược giá cao Cách làm: Khi trái to bằng trứng cút, tỉa bỏ trái nhỏ, cành lá vướng trái xong

Trang 38

phun thuốc ñể diệt trứng, sâu hay nấm có sẵn trên trái Sau ñó 1 ngày dùng túi bao loại 16 x 20 cm bao trái lại, nhớ xiết chặt miệng bao [26]

6 Thu hoạch

Na dai khi ñã mở mắt, vỏ quả chuyển màu vàng xanh là quả ñã già, cần thu hoạch ngay, mùa thu hoạch bắt ñầu vào tháng 6 cho ñến tháng 9 - 10 âm lịch Từ khi bắt ñầu nở hoa tới khi thu hoạch là 110 - 120 ngày Quả cho thu hoạch sớm hay muộn phụ thuộc nhiệt ñộ, ñiều kiện cung cấp nước tưới ở nơi trồng Nhiệt ñộ cao, nước ñầy ñủ thì quả to và sớm thu hoạch hơn

Quả hái lúc ñã già: Na mở mắt, khe hở giữa các mắt nông và hạt có màu nâu hoặc nâu ñen Dùng kéo cắt sao cho quả mang theo một ñoạn cuống Quả na già hái về, bảo quản ở nhiệt ñộ 25 - 30oC sau 2 - 3 ngày là chín

Với na xiêm: thu hoạch khi vỏ quả từ màu xanh tối, bóng chuyển sang vàng và kém bóng ñi một chút, rõ hơn nữa là các gai trên lưng mỗi múi tách nhau ra và trương nước Khác na dai, na xiêm hầu như chín quanh năm

Thường dùng nhiệt ñộ thấp ñể bảo quản Theo Prasanna, K.N.V (2000)

ñể ñảm bảo ñược cảm quan và chất lượng quả tốt nhất là bảo quản trong nhiệt

ñộ 15 - 20oC, ñộ ẩm không khí 85 – 90% Trước khi bảo quản cần dùng 0,5 - 1,0 g/lít Benlate xử lí quả trong 5 giây hay 500mg/lít Carbendazin ngâm trong

1 phút ñể chống nấm bệnh làm thối quả [11], [12], [23], [25]

Các vùng trồng na ở nước ta thuộc các vùng sinh thái khác nhau, có ñiều kiện khí hậu trong năm khác nhau Do vậy cần căn cứ vào ñiều kiện tự nhiên từng vùng mà áp dụng các biện pháp rải vụ thích hợp

2.4.3 Nghiên cứu về thụ phấn bổ khuyết cho na

Hoa na là hoa lưỡng tính, thông thường hoa cái nở sớm hơn hoa ñực hai ngày do ñó khi nhị ñực tung phấn thì khả năng tiếp nhận của ñầu nhuỵ ñã kém hơn rất nhiều nên việc thụ phấn và thụ tinh sẽ khó khăn Việc thụ phấn cho na nhờ vào một loài bọ cánh cứng rất nhỏ thuộc chi Carpaphilus thực hiện [6], [23], [24] Xong nếu ñể hoa thụ phấn tự nhiên thì tỷ lệ ñậu quả rất thấp

Trang 39

Hiện nay người ta dùng phương pháp thụ phấn nhân tạo ñã làm tăng tỷ lệ ñậu quả lên rất nhiều

Theo GS.Trần Thế Tục, chọn hoa ñể thụ phấn là những hoa to mọc ở thân chính, cành chính ñể lấy phấn Không lấy phấn ở những hoa nhỏ, cuống hoa nhỏ, hoa phát triển không cân ñối, hoa ở chóp cành hoặc những cành nhỏ [12] Theo GS Vũ Công Hậu thì: Hoa ñể lại, thụ phấn cho kết thành quả là những hoa to ở trên cành to, phía gần thân Hoa ở gần ngọn các cành hoặc trên cành nhỏ thường không ñậu ñược quả nên ngắt dùng làm hoa cho phấn Hiện trong thực tế bà con ñang áp dụng cách chọn hoa này Thường thì người

ta lấy những hoa sắp nở vào chiều tối cho vào hộp pêtri, giữ trong phòng ở nhiệt ñộ bình thường ñể nở hoa, tung phấn Sáng hôm sau dùng chổi lông chấm nhẹ hạt phấn lên ñầu nhụy ñể thụ phấn cho hoa cái [3]

Thao tác thụ như sau: dùng bàn tay trái ngửa lên trời, ngón trỏ và ngón giữa kẹp lấy cuống hoa ñịnh thụ phấn, ngón cái uốn cong 1 trong 3 cánh hoa, ñộng tác phải nhẹ nhàng tránh làm gãy cuống hoa hoặc cánh hoa bị uốn cong Tay phải dùng một cái bút lông chấm vào trong bình ñựng phấn ñể cho phấn dính vào ñầu bút, khe khẽ lùa vào khe giữa các cánh hoa ñã ñược tách ra, xoay tròn ñầu bút lông cho phấn quệt vào ñầu nhuỵ và dính vào ñó [3], [12], [25]

Kinh nghiệm và kết quả thụ phấn nhân tạo cho thấy lấy hạt phấn khi hoa vừa tung phấn ñể thụ phấn cho hoa cái hiệu quả sẽ tốt hơn Tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn ñạt 53,1%, tỷ lệ ñậu quả ñạt ñến 90%; nếu lấy phấn từ hôm trước thì tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 8,8%, tỷ lệ ñậu quả chỉ ñạt 64,5% [3]

Thời gian thụ phấn:

Có thể chia thời kì nở hoa của na thành 3 giai ñoạn như sau:

+ Giai ñoạn 1: Hoa mới nở, cánh hoa bắt ñầu tách

+ Giai ñoạn 2: Hoa nở, 3 cánh hoa ñã rời nhau, nuốm nhuỵ ñã chuyển sang màu trắng, ñầu nuốm nhuỵ có nhiều chất nhầy, dính

+ Giai ñoạn 3: Hoa nở rõ, 3 cánh hoa ñã xoè hết cỡ

Trang 40

Ở giai ñoạn 1 hoa vừa mới tách thao tác thụ khó khăn nên thụ phấn cho

na ở giai ñoạn 2 thao tác sẽ dễ dàng hơn, tỷ lệ ñậu quả ñạt 87,9% Ở giai ñoạn

3 tỷ lệ ñậu chỉ ñạt 5,3%, còn ñối chứng không thụ phấn chỉ ñạt 4,4% [3]

Ngoài thụ phấn nhân tạo cho na ñể tăng tỷ lệ ñậu, nhiều nơi ñã sử dụng các chất kích thích sinh trưởng ñể phun cho cây ñều thấy kết quả:

+ Sundarajan S và cộng sự (1968) sau khi hoa nở dùng GA3 với nồng

ñộ 10, 25, 50 mg/lít hay NAA với nồng ñộ 5, 10, 25 mg/lít; 2,4D với nồng ñộ

2, 5, 10 mg/lít ñể xử lý, nhận thấy tỷ lệ ñậu quả, ñộ lớn của quả, trọng lượng quả và sự giảm bớt số hạt trong quả cho thấy dùng GA3 50mg/lít ñạt kết quả khá tốt

+ Keskar B.G và cộng sự (1986) dùng NAA nồng ñộ 10 - 30mg/lít trong thời gian nở hoa, 8 ngày phun 1 lần, tổng cộng phun 4 lần cho thấy có tác dụng làm tăng số quả trên cây

+ Kalarni, S.S (1995) dùng GA3 50mg/lít hoặc 100mg/lít, NAA 20 hoặc

30 mg/lít, 2,4D 15 - 30mg/lít ñể phun cho cây cũng làm tăng tỷ lệ ñậu quả rõ rệt

Những kết quả trên ñã làm rõ thêm tác dụng của các chất kích thích sinh trưởng ñối với việc làm tăng tỷ lệ ñậu quả ñối với cây na ðây là những gợi ý bổ ích ñể các chủ vườn na suy nghĩ chọn lọc và ứng dụng vào sản suất của ñịa phương mình nhằm nâng cao năng suất vườn na [3], [24]

Thụ phấn cho hoa na xiêm còn cần thiết hơn vì ít hoa, ít phấn, trái dễ bị vặn vẹo, nhưng cũng dễ hơn vì hoa to, cánh hoa dễ tách ra ñể ñưa phấn vào,

và hoa, trái to thì ít công thụ phấn hơn

2.4.4 Nghiên cứu về cắt và ñốn tỉa

Theo GS.TSKH Trần Thế Tục [12] Cây na sau trồng 2 ñến 3 năm cho quả, năm thứ 4 thứ 5 trở ñi quả ngày một nhiều Nếu ñược chăm sóc tốt năng suất ngày càng cao và sẽ kéo dài ñược thời gian cho quả Cùng với việc bón phân tưới nước ñầy ñủ, cắt tỉa là biện pháp kỹ thuật ñể góp phần khắc phục hiện tượng chóng tàn của cây: làm cho cây trẻ khỏe, hạn chế ñược sâu bệnh

Ngày đăng: 25/11/2013, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Chất lượng của mãng cầu so với hai loại trái phổ biến - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 2.1 Chất lượng của mãng cầu so với hai loại trái phổ biến (Trang 16)
Bảng 2.2: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tỉnh Bắc Giang - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 2.2 Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả tỉnh Bắc Giang (Trang 22)
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng một số   cây ăn quả tại huyện Lục Nam - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây ăn quả tại huyện Lục Nam (Trang 23)
Bảng 4.1: Một số ủặc trưng về khớ hậu thời tiết tại Bắc Giang   4 thỏng cuối năm 2009 và 6 thỏng ủầu năm 2010 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.1 Một số ủặc trưng về khớ hậu thời tiết tại Bắc Giang 4 thỏng cuối năm 2009 và 6 thỏng ủầu năm 2010 (Trang 50)
Bảng 4.4 ðộng thỏi ra hoa trờn cành của na ở cỏc ủộ tuổi - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.4 ðộng thỏi ra hoa trờn cành của na ở cỏc ủộ tuổi (Trang 54)
Hỡnh 4.1: ðộng thỏi ra hoa trờn cành của na ở cỏc ủộ tuổi - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
nh 4.1: ðộng thỏi ra hoa trờn cành của na ở cỏc ủộ tuổi (Trang 55)
Bảng 4.5: Khối lượng quả và số mắt của na ở cỏc ủộ tuổi - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.5 Khối lượng quả và số mắt của na ở cỏc ủộ tuổi (Trang 55)
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch ủến thời gian    ra lộc, ra hoa na - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch ủến thời gian ra lộc, ra hoa na (Trang 57)
Bảng 4.8Ảnh hưởng của ủốn tỉa sau thu hoạchủến ủộng thỏi tăng trưởng số lỏ, chiều dài lộc na CTCT1 CT2 CT3 CT4 CT5  Ngày  theo dừiSLDLSLDLSLDLSLDLSLDL 20/02 3,3 6,2 - - - - - - - -  02/33,8 6,8 3,4 5,8 - - - - - -  12/35,2 7,8 4,2 6,7 2,8 5,1 - - - -  22/ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của ủốn tỉa sau thu hoạchủến ủộng thỏi tăng trưởng số lỏ, chiều dài lộc na CTCT1 CT2 CT3 CT4 CT5 Ngày theo dừiSLDLSLDLSLDLSLDLSLDL 20/02 3,3 6,2 - - - - - - - - 02/33,8 6,8 3,4 5,8 - - - - - - 12/35,2 7,8 4,2 6,7 2,8 5,1 - - - - 22/ (Trang 59)
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch ủến yếu tố cõu  thành năng suất và năng suất na - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch ủến yếu tố cõu thành năng suất và năng suất na (Trang 60)
Hỡnh 4.2 Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
nh 4.2 Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch (Trang 61)
Hỡnh 4.3: Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
nh 4.3: Ảnh hưởng của thời gian ủốn tỉa sau thu hoạch (Trang 61)
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của phương phỏp ủốn tỉa ủến ra lộc, ra hoa na - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của phương phỏp ủốn tỉa ủến ra lộc, ra hoa na (Trang 63)
Hình 4.4: ðộng thái tăng trưởng số lá, chiều dài cành lộc na qua     phương phỏp ủốn - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Hình 4.4 ðộng thái tăng trưởng số lá, chiều dài cành lộc na qua phương phỏp ủốn (Trang 64)
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của kỹ thuật ủốn tỉa tới ủường kớnh cành lộc, tỷ lệ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm rải vụ, tăng năng suất, phẩm chất cây na tại huyện lục nam   bắc giang
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của kỹ thuật ủốn tỉa tới ủường kớnh cành lộc, tỷ lệ (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w