1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010

97 593 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Đặc Điểm Sinh Học Và Khả Năng Phòng Chống Bọ Trĩ Frankliniella Intonsa Trybom Bằng Thuốc Hoá Học Tại Lăng Bác Hồ Vụ Xuân 2010
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga
Người hướng dẫn PGS.TS. Hồ Thị Thu Giang
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 8,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trường đại học nông nghiệp hà nội

-  -

nguyễn thị thanh nga

Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng

chống bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom bằng thuốc

hoá học tại Lăng Bác Hồ vụ xuân 2010

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành : bảo vệ thực vật Mã số : 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hồ thị thu giang

Hà nội - 2010

Trang 2

Lời Cam Đoan

- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ1

đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ1 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 3

Lời Cảm ơn

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo, PGS.TS Hồ Thị Thu Giang - Bộ môn Côn trùng đ1 nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài và bản luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban l1nh đạo cùng các phòng chức năng, tập thể cán bộ, công nhân viên đội ươm cây Phú Thượng, đội cây hoa, cây cảnh - Ban quản lý Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Ban quản lý Quảng trường Ba Đình Hà Nội đặc biệt là Thạc sĩ Đỗ Thị Thu Lai - Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp và các hộ gia đình x1 Tây Tựu - huyện Từ Liêm đ1 tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các Thầy cô giáo Viện Sau đại học,

Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học đ1 quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn chỉnh luận văn

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tôi còn có sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè

Trang 4

Môc lôc

Trang

2.1 Kh¸i qu¸t t×nh h×nh s¶n xuÊt vµ ph¸t triÓn c©y hoa trªn thÕ giíi vµ

ViÖt Nam

4

2.1.1 Kh¸i qu¸t t×nh h×nh s¶n xuÊt vµ ph¸t triÓn c©y hoa trªn thÕ giíi 4 2.1.2 Kh¸i qu¸t t×nh h×nh s¶n xuÊt vµ ph¸t triÓn c©y hoa ë ViÖt Nam 5 2.2 Nguån gèc, gi¸ trÞ kinh tÕ vµ gi¸ trÞ sö dông cña hai loµi hoa hång vµ

Trang 5

2.4.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ 16

III Địa điểm, thời gian, vật liệu, nội dung và phương

pháp nghiên cứu

22

3.3.3 Thử nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ trong phòng thí

4.4 Diễn biến mật độ một số loài sâu, nhện hại chính trên hoa dừa cạn

vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ

39

4.5 Phổ ký chủ của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom vụ xuân 2010

tại Lăng Bác Hồ

43

4.6 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom trên hoa hồng

tại Tây Tựu - huyện Từ Liêm - Hà Nội

44

4.7 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom trên hoa dừa 47

Trang 6

cạn tại vườn hoa Phú Thượng - Tây Hồ - Hà Nội

4.8 Thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom khi nuôi

bằng cánh hoa hồng và cánh hoa dừa cạn

50

4.8.1 Thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom khi nuôi

bằng cánh hoa hồng trong phòng thí nghiệm

50

4.8.2 Thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom khi nuôi

bằng cánh hoa dừa cạn trong phòng thí nghiệm

52

4.9 Sức sinh sản và nhịp điệu sinh sản của Frankliniella intonsa khi

được nuôi bàng cánh hoa hồng và hoa dừa cạn ở trong phòng thí

nghiệm

53

4.10 Thành phần thiên địch của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại

hoa hồng và dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ

55

4.11 Thành phần thiên địch của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại

hoa hồng vụ xuân 2010 tại Tây Tựu - Từ Liêm – HN

4.14 Thử nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật trong

phòng trừ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại hoa và đề xuất

biện pháp phòng trừ hợp lý

62

4.14.1 Thử nghiệm hiệu lực thuốc BVTV đối với sâu non bọ trĩ

Frankliniella intonsa Trybom trên hoa hồng trong phòng thí nghiệm

63

4.14.2 Thử nghiệm hiệu lực thuốc BVTV đối với bọ trĩ Frankliniella

intonsa Trybom trên hoa hồng ở ngoài đồng ruộng

64

Trang 7

5.2 §Ò nghÞ 69

Trang 8

Danh Môc C¸c Tõ ViÕt T¾t

Trang 9

Danh mục các bảng

1 Bảng 4.1 Thành phần sõu, nhện hại hoa hồng, hoa dừa cạn vụ

xuân 2010 tại Lăng Bắc Hồ

31

2 Bảng 4.2 Thành phần sõu, nhện hại hoa hồng vụ xuõn 2010

(Tại Tõy Tựu - Từ Liờm - Hà Nội )

33

3 Bảng 4.3 Diễn biến mật ủộ một số loài sõu, nhện hại chớnh trờn

hoa hồng vụ xuõn 2010 (tại Lăng Bỏc Hồ)

35

4 Bảng 4.4 Diễn biến mật ủộ một số loài sõu, nhện hại chớnh trờn

cõy hoa dừa cạn vụ xuõn 2010 (tại Lăng Bỏc Hồ)

40

5 Bảng 4.5 Phổ ký chủ của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom

vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ

43

6 Bảng 4.6 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom

trên hoa hồng vụ xuân 2010 tại Tây Tưu - Từ Liêm

46

7 Bảng 4.7 Diễn biến mật ủộ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom

trờn cõy hoa dừa cạn vụ xuõn 2010 tại vườn hoa Phỳ Thượng -

Tõy Hồ

48

8 Bảng 4.8 Thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa

Trybom khi nuôi bằng cánh hoa hồng

50

9 Bảng 4.9 Thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa

Trybom khi nuôi bằng cánh hoa dừa cạn

52

10

Bảng 4.10 Sức sinh sản và nhịp điệu sinh sản của Frankliniella

intonsa khi nuôi bàng cánh hoa hồng và hoa dừa cạn ở trong

11 Bảng 4.11 Thành phần thiên địch của bọ trĩ Frankliniella

intonsa Trybom hại hoa hồng và dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng

Bác Hồ

56

Trang 10

12 Bảng 4.12 Thành phần thiên địch của bọ trĩ Frankliniella

intonsa Trybom hại hoa hồng vụ xuân 2010 tại Tây Tựu - Từ

Liêm - HN

58

13 Bảng 4.13 Sức ăn bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom của bọ xít

bắt mồi Orius sauteri Poppius

60

14 Bảng 4.14 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa khi đặt

bẫy màu trên hoa hồng vụ xuân 2010 tại Lăng Bác

61

15

Bảng 4.15 Hiệu lực (%) của thuốc BVTV đối với sâu non bọ trĩ

Frankliniella intonsa Trybom trên hoa hồng trong phòng thí

nghiệm

63

16 Bảng 4.16 Hiệu lực (%) của thuốc BVTV đối với bọ trĩ

Frankliniella intonsa Trybom trên hoa hồng ở ngoài đồngruộng

65

Trang 11

Danh mục các hình

1 Hình 2.1 Cấu tạo chung từ trứng đến nhộng giả của bọ trĩ 17

2 Hình 2.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ trưởng thành họ Thripidae 17

3 Hình 4.1 Triệu trứng gây hại của sâu xanh H.armigera (Hubn)

5 Hình 4.3 Diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính trên hoa

hồng vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ

37

6 Hình 4.4 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom

trên lá hoa hồng (trong phòng thí nghiệm)

38

7 Hình 4.5 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom

trên cánh hoa hồng (trong phòng thí nghiệm)

38

8 Hình 4.6 Diễn biến mật độ một số loài sâu, nhện hại chính trên

hoa dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ

41

9 Hình 4.7 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom

trên lá hoa dừa cạn (trong phòng thí nghiệm)

42

10 Hình 4.8 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom

trên hoa dừa cạn (trong phòng thí nghiệm)

42

11 Hình 4.9 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom

trên hoa hồng vụ xuân 2010 tại Tây Tưu - Từ Liêm

47

12 Hình 4.10 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom

trên hoa dừa cạn tại vườn hoa Phú Thượng - Tây Hồ

49

13 Hình 4.11 Trưởng thành bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom 51

14 Hình 4.12 Sức sinh sản và nhịp điệu sinh sản của Frankliniella 55

Trang 12

intonsa khi nuôi bàng cánh hoa hồng và hoa dừa cạn ở trong phòng

thí nghiệm

15 Hình 4.13 Một số hình ảnh thiên địch của Bọ trĩ Frankliniella

intonsa Trybom

59

16 Hình 4.14 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom

khi đặt bẫy màu trên hoa hồng vụ xuân tại Lăng Bác Hồ

62

17 Hình 4.15 Hiệu lực (%) của thuốc BVTV đối với bọ trĩ

Frankliniella intonsa Trybom trên hoa hồng trong phòng thí

nghiệm

64

18 Hình 4.16 Hiệu lực (%) của thuốc BVTV đối với bọ trĩ

Frankliniella intonsa Trybom trên hoa hồng ngoài đồng ruộng

66

Trang 13

Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển mạnh và đ1 trở thành một ngành thương mại cao, đem lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa trên thế giới Hiện nay có năm quốc gia đứng đầu về diện tích trồng hoa: Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hà Lan Tổng kim ngạch xuất khẩu hoa tươi trên thế giới hàng năm đạt 25 tỷ USD và dự kiến đầu thế kỷ 21 là 40 tỷ USD, tổng tiêu thụ hoa mỗi năm tăng trên 10% (Trung tâm Phát triển xuất khẩu của Liên hợp quốc)

Việt Nam có truyền thống chơi hoa từ lâu đời Với khí hậu đa dạng, đất

đai màu mỡ, phần đông dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp nên rất thuận lợi cho nghề trồng hoa phát triển, thực tế những năm gần đây diện tích

và sản lượng hoa ở Việt Nam đ1 tăng lên nhanh chóng và đang ngày càng đáp ứng tiêu dùng trong nước Các sản phẩm hoa trồng thảm, trồng chậu cũng gia tăng, đóng một vai trò quan trọng đối với môi trường cảnh quan và là một phần không thể thiếu được trong trang trí vườn cảnh công viên, các trục đường giao thông, các khu trung tâm, các công trình kiến trúc hiện đại Đặc biệt là các điểm thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài trong đó có khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình, nhất là vào các ngày lễ lớn của dân tộc và nhiều sự kiện quan trọng diễn ra trong khu vực

Trang 14

Hiện nay trên cả nước chỉ tính riêng Thành phố Hà Nội có khoảng trên

100 ha công viên tại nội thành trong đó khoảng 6,5 ha là diện tích các bồn hoa

và hàng nghìn Kilômet đường phố cần trang trí hoa quanh năm do vậy khối lượng hoa trồng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trang trí Mặt khác chủng loại còn

đơn giản, số lượng ít, chất lượng hoa thấp thiếu sức hấp dẫn đối với du khách trong nước và du khách nước ngoài khi đến tham quan Nguyên nhân của tình trạng này là do chúng ta chưa quan tâm đầu tư nhiều đến việc phát triển các giống hoa, việc nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố ngoại cảnh đến quá trình sinh trưởng-phát triển, năng suất, chất lượng cây hoa vẫn còn nhiều hạn chế

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình - Là một trong những khu trung tâm văn hoá chính trị của cả nước trong những năm gần đây yêu cầu về thẩm mỹ trang trí cây hoa, cây cảnh và cây thế trong khu vực có những yêu cầu mới, ngày càng cao Lựa chọn và trang trí cây hoa cây cảnh

đẹp, gây ấn tượng nhưng phải phù hợp với công trình kiến trúc của khu vực đó

là việc làm cần thiết nên đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể

Để khắc phục những hạn chế trên và để phát triển nghề trồng hoa trang trí góp phần cải tạo môi trường sống, làm tăng vẻ đẹp hiện đại của khu di tích lịch

sử lăng chủ tịch Hồ Chí minh và Quảng trường Ba Đình, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “ Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom bằng thuốc hoá học tại Lăng Bác Hồ vụ xuân

2010

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở điều tra xác định thành phần sâu, nhện hại trên một số loài hoa ( hoa hồng, hoa dừa cạn ), nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài hại chủ yếu tại Lăng Bác Hồ và vùng phụ cận Hà Nội trong vụ xuân năm 2010

từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ chúng một cách hợp lý có hiệu quả

Trang 15

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Xác định thành phần sâu, nhện hại hoa hồng, hoa dừa cạn ở Lăng Bác

Trang 16

II Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Khái quát tình hình sản xuất và phát triển cây hoa trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Khái quát tình hình sản xuất và phát triển cây hoa trên thế giới

Diện tích trồng hoa trên thế giới hiện naylà 1.100.000 ha, trong đó Châu

á chiếm khoảng 80% diện tích trồng hoa, Châu Âu 8%, Châu Mỹ 10%, Châu Phi với diện tích còn rất khiêm tốn chiếm khoảng 2% Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển mạnh và đ1 trở thành một ngành thương mại cao,

đem lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa trên thế giới

ở một số nước như Hà Lan, Mỹ, Colombia, Kenya, Trung Quốc, việc kinh doanh hoa được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần không nhỏ vào nguồn thu cho ngân sách quốc gia Hàng năm, các nước này sản xuất một lượng lớn hoa cắt để cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Chỉ tính riêng Trung Quốc, diện tích hoa đ1 đạt tới 3 nghìn ha, thu nhập lên đến

18 000- 650 000 USD/ha, trong khi trồng rau thu nhập chỉ đạt 11.000 USD/ha ( dẫn theo Nguyễn Mai Thơm (2008) [31] )

Giá trị sản lượng hoa trên thế giới tăng một cách nhanh chóng Theo báo cáo của FAO năm 1995 đạt 35 tỷ USD, năm 2004 đạt 56 tỷ USD

Theo số liệu của Trung tâm thương mại hoa ( Thụy sĩ 2005) thì tổng lượng hoa tiêu thụ trên thế giới tăng hàng năm là 10%, trong đó tỷ lệ tiêu thụ hoa cắt chiếm 60%, hoa chậu-hoa thảm 30% và các loại cây trang trí khác là 10% Hàng năm lượng hoa thảm , hoa chậu tiêu thụ ở Mỹ đạt 6,5 tỷ USD và

Đài Loan xấp xỉ 9,2 tỷ USD

Các loại hoa phục vụ nhu cầu thị trường rất đa dạng và phong phú, các nước sản xuất hoa chính như: Hà Lan với hoa cắt, hoa chậu, hoa trang trí, lá măng Mỹ là các loại cỏ, hoa chậu, hoa thảm và các loại hoa làm cảnh, Nhật

Trang 17

Bản là hoa cắt, hoa chậu và lá măng Colombia hoa cắt, hoa thảm và các loại lá làm cảnh Israel là hoa cắt cành, lá măng Đài Loan là hoa cắt và chuyên sản xuất các loại hạt để trồng chậu và thảm Các nước như ý, Tây Ban Nha, Kenya và Đan Mạch chủ yếu là hoa cắt và hoa trồng thảm Thái Lan những năm gần đây nghề trồng hoa rất phát triển, sản xuất hoa chậu, hoa thảm và hoa trang trí vườn cảnh, công viên, các trục đường quốc lộ rất được coi trọng, khu Chang Mai là vườn thực vật lớn nhất Thái Lan tập trung các giống hoa thảm trên thế giới Nhìn chung hoa cắt cành, hoa chậu và hoa trồng thảm trên thế giới được tiêu thụ với một số lượng khá lớn và ngày càng được đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, bởi các loại hoa này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: phục vụ tiêu dùng, trang trí công cộng Hoa cắt cành thường chủ yếu tập trung vào hoa hồng, cúc, cẳm chướng, lay ơn ( Một trong những nước nghiên cứu và sản xuất hoa hồng hàng đầu thế giới là Hà Lan với tổng kim ngạch xuất khẩu hoa hồng năm 2003 lên đến 430 triệu Euro) Ngược lại hoa trồng thảm lại rất phong phú về chủng loại và đa dạng về màu sắc

Sự phát triển của nền kinh tế đô thị của tất cả các quốc gia trên thế giới ngày nay không một quốc gia nào lại không chú ý đến việc thiết kế vườn cảnh, công viên trong kiến trúc đô thị, các trục đường giao thông và ngoại vi thành phố, trong các công trình kiến trúc công cộng, nhà thờ, đình chùa…Vườn phong cảnh được xây dựng, phát triển và thay đổi nội dung, tính chất qua mỗi thời kỳ phát triển của nền kinh tế và tốc độ đô thị hoá Vì vậy việc phát triển sản xuất và nghiên cứu các giống hoa, cây cảnh nói chung và

đặc biệt là hoa trồng thảm đóng vai trò quan trọng mang lại lợi nhuận cho nền kinh tế đất nước

2.1.2 Khái quát tình hình sản xuất và phát triển cây hoa ở Việt Nam

Nghề sản xuất hoa ở Việt Nam có từ lâu đời, nhưng chỉ được coi là một ngành kinh tế có giá trị hàng hoá từ những năm 1980 Sự phát triển của ngành này cũng đ1 góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của cả nước

Trang 18

Việt Nam có diện tích đất tự nhiên trên 33 triệu ha, diện tích trồng trọt trên 7 triệu ha, 80% dân số làm nông nghiệp, có kinh nghiệm sản xuất hoa lâu

đời Nước ta có nhiều vùng thuận lợi cho nghề trồng hoa phát triển như Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Sa Pa, Hà Nội, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh (với những làng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân) Theo số liệu thống kê năm 2006 diện tích trồng hoa cây cảnh của cả nước khoảng trên 13.000 ha, Nguyễn Thị Kim Lý (2009)[21]

Theo kết quả điều tra ( Nguyễn Xuân Linh và các cộng sự ) các loài hoa chính được trồng ở các tỉnh trong vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam là :

Bảng 1 : Các loại hoa trồng phổ biến ở Việt Nam

Trong các loại hoa đó, hoa hồng có tỷ lệ cao 35- 40%, hoa cúc là 25%, hoa lay ơn 15%, hoa khác 20-25% Sản xuất hoa ở Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống và áp dụng kỹ thuật nhân giống hoa cổ truyền Cây giống hoa đem trồng hiện nay gồm các giống gieo từ hạt, mầm, củ, nhánh, từ

Trang 19

cây nuôi cấy invitro Các phương pháp nhân giống cổ truyền dễ làm, quen với tập quán, kinh nghiệm của nông dân, giá thành thấp Do đó hiện nay phương pháp nhân giống này là ….phổ biến, chiếm ưu thế trong sản xuất, nhược điểm của phương pháp nhân giống cổ truyền là chất lượng giống không cao Cây hoa trồng lâu bị thoái hoá, bệnh virus có nhiều khả năng lan truyền và phát triển, từ đó làm giảm phẩm chất của hoa, Nguyễn Xuân Linh (1998) [19]

Diện tích trồng hoa ngày càng tăng lên nhanh chóng, bởi sản xuất hoa đ1 đem lại thu nhập cao cho cuộc sống người dân và làm giàu cho các vùng trồng hoa Điều đó cũng được thể hiện rõ qua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa một phần diện tích trồng lúa, rau sang trồng hoa và kết quả cho thấy: chi phí cho 1ha trồng hoa là 28.000.000đ, lợi nhuận thu được là 90.000.000đ/ha/năm - so với đất trồng 2 lúa và 1 màu chi phí là 11.400.000 đ/ha/năm, lợi nhuận đạt 7,6 triệu/ha /năm Như vậy so với sản xuất 2 lúa + 1 màu thì sản xuất hoa có giá trị sản lượng tăng 6,2 lần, lợi nhuận tăng 11,8 lần [19]

Năm 2005 diện tích trồng hoa cắt của cả nước là 15.000 ha tăng 7% so với năm 2004 Sản xuất hoa hàng năm đ1 mang lại cho nhiều hộ nông dân ở các vùng trồng hoa trọng điểm như Tây Tựu - Hà Nội, Mê Linh - Vĩnh Phúc từ 70.000.000 đến 130.000.000/ha Cũng theo Tổng công ty Rau Hoa Quả Việt Nam (2007), lần đầu tiên Việt Nam đ1 xuất khẩu hoa sang các nước Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan đạt kết quả rất khả quan [31]

Trồng hoa nước ta là nghề mới phát triển, không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, còn đóng góp nhiều lợi ích to lớn khác như: những vùng khô cằn khi diện tích trồng các cây hoa màu khác gặp khó khăn thì trồng hoa cây cảnh lại tỏ ra ưu thế hơn vì hoa cây cảnh thường là những cây có sức sống m1nh liệt, làm đẹp cảnh quan môi trường, không gian chật hẹp, nhiều loại hoa cây cảnh là vị thuốc chữa bệnh Diện tích trồng hoa còn nhỏ, chỉ bằng 0,05% diện tích trồng trọt Diện tích tập trung chủ yếu ở Hà Nội với khoảng 1100 ha và

TP Hồ Chí Minh với 900 ha, Đà Lạt 300 ha, và sản xuất phân bố tại các tỉnh

Trang 20

khác Trong những năm gần đây cùng với nhu cầu hoa cắt ngày càng cao, hoa trồng chậu và trồng thảm đang dần đóng góp vai trò quan trọng Hoa thời vụ

là hoa trồng kinh doanh vào dịp tết Nguyên Đán, và các ngày lễ lớn như ngày

8 /3; 30/4 và 1/5; 19/5; 2/9; 20/ 11; 22/12 tết dương lịch và tết Nguyên đán… Hoa trồng quanh năm cung cấp cho nhu cầu hàng ngày và các hội nghị hay vào các ngày mồng 1 và ngày rằm các tháng âm lịch [17] Những năm gần

đây sản xuất hoa nước ta tăng nhanh nhưng chủ yếu vẫn là trồng ngoài tự nhiên, người nông dân trồng hoa, phải đối đầu với rủi ro thất thu do ảnh hưởng của nhiều yếu tố Sản xuất hoa ở nước ta còn nhỏ lẻ, chưa tập trung mặt khác lại gặp không ít khó khăn về vốn đầu tư Mặc dù sản lượng cao, lợi nhuận nhiều, nhưng chi phí cho việc trồng cây hoa là tương đối lớn, tuỳ theo mức độ thâm canh mà có thể từ 2 - 3,5 triệu đồng/sào Bắc Bộ, đây là một hạn chế cho những hộ nghèo muốn chuyển dịch cơ cấu cây trồng Điều này cần phải có sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương trong việc cho vay vốn, hỗ trợ một phần kinh phí và giống hoặc vật tư khác Hơn nữa sản phẩm hoa tươi cao cấp, hoa trồng chậu yêu cầu chất lượng cao, để tránh rủi ro về giống, sâu bệnh

và các yếu tố khách quan khác, nhất thiết phải có chương trình tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật xuống các vùng sản xuất, nâng cao trình độ kỹ thuật cho người dân về giống, phân bón, bảo vệ thực vật và các biện pháp kỹ thuật, nhằm tăng năng suất chất lượng hoa trái vụ và xây dựng những mô hình trồng hoa có hiệu quả cao

2.2 Nguồn gốc, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của hai loài hoa hồng và hoa dừa cạn

2.2.1 Cây hoa hồng

* Nguồn gốc

Hoa hồng có tên khoa học là Rosa sp, thuộc họ Rosaceae Hoa hồng đ1

xuất hiện trên trái đắt có thể tới vài chục triệu năm, thực sự đ1 được nuôi trồng

từ vài ngàn năm nay và mới nhân giống lai tạo được từ vài trăm năm [19] Hoa hồng có nguồn gốc từ sứ Ba Tư, người Ba Tư là những người đầu tiên đ1 triết

Trang 21

suất tinh dầu bằng cách chưng cất, khoảng giữa 1582 đến 1612 Do đó, họ

được nổi tiếng là những người thành thạo về ngành sản xuất nước hoa

Theo Paul Barden (2004)[56], cho rằng có 8 nhóm hoa hồng cổ xưa, từ chúng đ1 hình thành nên nhiều giống hoa hồng phổ biến trên thế giới sau này

Nghiên cứu của Saunders, P.J.W (1970)[58], lại cho thấy cây hoa hồng

được tìm thấy ở vùng ôn đới từ hàn đới đến cận nhiệt đới, tập trung nhiều nhất

ở một số nước như : Mỹ, Iraq, Ethiopia và Trung Quốc

Ngày nay hoa hồng có số lượng loài rất lớn, bởi do con người đ1 thuần hoá loài hoang dại và chọn tạo thành công các giống mới đưa vào sản xuất, quá trình này đ1 làm đa dạng nguồn tài nguyên di truyền cây hoa hồng [31]

Theo Dương Công Kiên (2008),[15] hoa hồng phân bố chủ yếu ở vùng

ôn đới và cận nhiệt đới bắc bán cầu

Theo Nguyễn Thị Kim Lý (2009)[21] hiện nay các giống hoa hồng phổ biến trong sản xuất hầu hết đều được nhập nội từ Châu Âu

ở Việt Nam, hoa hồng được trồng ở khắp mọi nơi từ Bắc vào Nam Người Việt Nam coi hoa hồng là biểu tượng của tình yêu và hạnh phúc, lòng chung thuỷ và sự khát khao vươn tới cái đẹp

Với kỹ thuật canh tác ngày càng cao, nên chất lượng hoa cũng ngày càng rất tốt và đáp ứng được yêu cầu của thị trường

* Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng:

Hoa hồng là loài hoa có giá trị kinh tế cao, có thể cắm lọ, cắm bình, trồng chậu, trồng bồn Bonsai, trang trí Ngoài việc sử dụng hoa tươi, hồng còn được dùng để chưng cất dầu thơm Trong y học hoa hồng dùng để tri, ung nhọt, bệnh hô hấp, bệnh tiêu chảy

2.2.2 Cây hoa dừa cạn ( hoa trường xuân )

* Nguồn gốc

Hoa dừa cạn có tên khoa học là Catharanthus roseus, thuộc họ trúc đào

Apocyaceac, có nguồn gốc từ Madagasca Trong nhiều thế kỷ qua nó được

Trang 22

phân bố và trồng ở khắp các khu vực từ Châu Âu đến các vùng nhiệt đới ở Pháp dừa cạn xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 18 Đến năm 1950 những nghiên cứu cho thấy trong dừa cạn có hợp chất ancaloit có nhiều tác dụng trong y học, G.H.Schmelzer, A Gurib-Fakim (2008) [48]

* Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng:

Hoa dừa cạn nở quanh năm và rất bền, đẹp Hoa có thể dùng làm cảnh trồng trong chậu, bồn, hoặc trồng thảm trang trí Bên cạnh đó hoa dừa cạn còn

có tác dụng phòng chữa nhiều bệnh Các nhà khoa học đ1 nghiên cứu chiết suất từ cây dừa cạn hai hợp chất Alkaloid là Vinblastin và Vincristin, là những chất ức chế mạnh sự phân bào Ngoài ra cây dừa cạn còn có tác dụng hạ huyết

áp, làm thuốc ho, ngăn cản sự phát triển của thai trên động vật mang thai và kháng một số chủng nấm gây bệnh

ở Mỹ và Hungari cũng đ1 chế thành biệt dược trị ung thư máu với hoạt chất của cây dừa cạn

Trong y học cổ truyền Trung Hoa, các chất tiết ra từ dừa cạn được sử dụng để điều trị một số bệnh như: bệnh đái đường, bệnh sốt rét, bệnh Hodgkin…

ở Việt Nam cây dừa cạn là cây hoang dại, có vùng phân bố tự nhiên tương

đối đặc trưng từ Quảng Ninh đến Kiên Giang dọc theo vùng ven biển, tương đối tập trung ở các tỉnh miền Trung như: Thanh hoá, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định và Phú Yên Dừa cạn còn có tên gọi khác là hải đằng, dương giác, bông dừa hay trường xuân hoa ở Việt Nam cây được trồng làm cảnh, trang trí mùa hè trong các khu di tích lịch sử, công sở, công viên,

có thể trồng bồn b1i, trồng dày thành thảm hoa rất đẹp hoặc làm thuốc trị cao huyết áp, tiểu đường, sốt rét, bệnh máu trắng, thông tiểu

Trang 23

2.3 Thành phần sâu, nhện hại hoa hồng và hoa dừa cạn trên thế giới

và Việt Nam

Cũng như các loại cây trồng khác, thành phần sâu hại các loại cây hoa rất đa dạng và phong phú Chúng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất trong đó có màu sắc, hương vị, độ tươi bền dẫn đến làm giảm giá trị kinh tế, giá trị thẩm mỹ, giá trị hàng hoá và xuất khẩu của các loài hoa trên thị trường trong và ngoài nước [21]

Trong các loài dịch hại của cây hoa, thì các loài côn trùng là đối tượng lớn nhất gây tác hại nghiêm trọng Với thành phần, số lượng phong phú đa dạng, côn trùng là đối tượng thường xuyên phổ biến phá hại các loại cây hoa, gây tổn thất nặng nề trong sản xuất

Theo thống kê của các nhà côn trùng học, có khoảng một triệu loại côn trùng khác nhau Trong đó có nhiều loại côn trùng tấn công gây hại trên hoa

Các nghiên cứu về sâu hại hoa cây cảnh tập chung chủ yếu ở việc điều tra, chẩn đoán thành phần sâu, các biện pháp phòng trừ Còn những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái vẫn chưa được đề cập nhiều

Các kết quả nghiên cứu trên thế giới đ1 cho thấy các loài côn trùng hại chính trên hoa hồng chủ yếu thuộc các bộ Hemiptera, Coleoptera, Lepidoptera, Thysanoptera Trong đó đáng chú ý nhất là sự gây hại của côn trùng bộ cánh tơ mà đặc biệt là bọ trĩ hại hoa

Theo (Pirone et al.,1960; Wang, 1982; Waterhouse, 1995; [57]; [62]; [64]) số lượng loài gây hại trên hoa hồng khá phong phú: ở Hoa Kỳ đ1 thu thập được 39 loài sâu hại ( chủ yếu là nhóm chích hút ), ở Đài Loan là 29 loài, Thái Lan (7 loài), Singapore (6 loài) và Indonesia (5 loài )

Nhện hại cây trồng là loài đa ký chủ, nhiều loại cây lương thực ( ngô, lúa, sắn ), cây công nghiệp ( bông vải, đậu tương, lạc, cà phê, cao su ), cây

có múi, cây hoa kiểng ( hoa hồng, hoa cúc, hoa dừa cạn, phong lan, mai vàng,

đỗ quyên, ngọc lan ) đều bị nhện tấn công và gây hại Nhện hại cây trồng

Trang 24

được chia ra các loài: nhện đỏ, nhện vàng, nhện trắng , trong đó nhện đỏ rất phổ biến

Nhện đỏ 2 chấm (Tetranychus urticae) là loài đa thực, gây hại trên nhiều cây trồng nông nghiệp cũng như cây hoa cây cảnh ở nhiều nước trên thế giới Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của nhện đỏ 2 chấm trên cây hoa hồng được tiến hành ở Hà Lan, Brazil, Đài Loan, Ba Lan, úc, Pakistant ( Sabelis,1982; Suplicy Filho et al.,1996; Wang et al.,1996; Goodwin et al., 1996; Wisnieewska Gizeszkiewicz et al., 1996; Jesiotr, 1981; [59]; [58]; [62]; [49];[64]; [51])

Thuộc nhóm chích hút, rệp muội cũng khá phổ biến trên hoa hồng, có loài

đa thực gây hại trên nhiều cây trồng, nhưng cũng có loài mới chỉ ghi nhận gây hại cho hoa hồng ( Macrosiphum rosae, M Rosivorum, ) (Agarwala et al., 1982)[43]

Bọ xít và rầy thường chích hút chất độc vào cây trước khi hút dịch cây, tác động này làm biến dạng hoặc tiêu diệt chồi hoa, chúng gây ra các vết hại màu nâu trên lá, phần ngọn của lá thường bị héo đi Rầy còn là vật trung gian truyền bệnh virus từ cây hoa này sang cây hoa khác Làm cho lá cây bị hại trở nên héo, biến thành màu nâu và làm cho cây chết Chỉ trong một thời gian ngắn một vài cá thể rầy có thể truyền bệnh cho cây và làm cho cây có thể bị chết hoàn toàn

Rệp cũng là côn trùng hại phổ biến trên hoa Rệp tập trung chích hút trên mô đang phát triển như : chồi , thân , mặt dưới của lá Mức độ nhiễm rệp

từ thấp tới trung bình làm gây hại nhẹ cho cây Tuy nhiên các nhà trồng hoa vẫn lo lắng về sự có mặt của rệp Mức độ nhiễm rệp từ trung bình đến cao thì các chất tiết của rệp sẽ che phủ lên lá, hoa, chồi làm giảm khả năng quang hợp Khi mật độ cao hơn nữa có thể tiêu diệt chồi, làm lá xoăn, làm giảm kích thước hoa, làm cho cây lùn sinh trưởng phát triển kém

Nhiều loài sâu non của bộ cánh vẩy và bộ cánh cứng còn chui và sống trong thân của cây hoa Thân hoa hồng thường bị hại bởi 4 loại sâu đục thân

Trang 25

Sâu đục thân của bộ cánh cứng thường có kích thước dài khoảng 25.4 mm hoặc dài hơn, màu trắng, không có chân Dấu hiệu gây hại phổ biến của chúng thường không thấy ở trên lá mà triệu trứng thể hiện rõ khi cây rụng lá Trong thân hoa cúc thường bị hại bởi hai loài sâu đục thân bộ cánh cứng, một loài có kích thước dài và một loài có kích thước ngắn hơn, và biện pháp tốt nhất là nhổ bỏ cây nhiễm sâu đó

Sâu xanh Helicoverpa armigera (Hubner) được phân bố khắp các vùng

trên thế giới, cũng là loài sâu hại đa thực nguy hiểm hại nhiều loại cây trồng Ngoài cây hoa và cây cảnh là những ký chủ đầu tiên chúng còn gây hại những cây trồng có giá trị kinh tế: khoai tây, cà chua, đậu tương, bông, thuốc lá

Theo GH.Schmelzer và A.Gurib-Fakim tại Châu Phi dừa cạn được biết

đến là loại cây hoa không có bệnh hoặc sâu, nhưng ở Malaysia hoa dừa cạn lại

có triệu trứng lá vàng, chùm hoa lá và còi cọc- đó là hiện tượng nhiễm một

sinh vật giống như mycoplasm Còn theo báo cáo ở Mỹ, trong các container

cây trồng nhập khẩu gốc rễ và thân cây dừa cạn bị mục nát do sự xuất hiện và

xâm nhập gây hại bởi nấm Phytophthora parasitica Khi trồng trong nhà kính thì loài nhện đỏ Tetranychus urticae lại chiếm ưu thế phổ biến [48]

Bọ trĩ là côn trùng có kích thước cơ thể nhỏ bé và nhẹ Chúng phân bố khắp thế giới, số lượng loài phân bố ở các vùng nhiệt đới, ôn đới nhiều thậm trí một vài loài đ1 lan rộng tới vùng bắc cực Trong đó loài bọ trĩ xuất hiện

thường xuyên gây hại chủ yếu trên hoa và cây cảnh là Thrips palmi, Thrips flavus, Thrips Tabaci Scirtothrips dorsalis, Frankliniella intonsa Trybom Trưởng thành bọ trĩ gây hại trên hoa là côn trùng nhỏ hình thon, màu nâu đến

đen Sâu non đẫy sức có hình dạng giống trưởng thành, nhưng không có cánh, cơ thể nhỏ hơn và màu nhạt hơn Chúng tấn công gây hại làm cho đài, lá và cánh hoa bị mất màu và biến dạng

Các loài côn trùng và nhện hại trên hoa hồng rất đa dạng, chủ yếu là nhóm côn trùng chích hút như rệp, bọ trĩ, bọ xít, bọ rầy thường thích phá hại các lá non, ngọn non, nụ, hoa và loài sâu đa thực như : sâu xanh, sâu khoang

Trang 26

cùng một số loài sâu khác thường gây hại đáng kể và là mối quan tâm thường xuyên của người trồng hoa

Theo Đặng Nguyễn Hồng Phương có 9 loài nhện hại hoa hồng, trong đó

có 3 loài xuất hiện phổ biến nhất Tetranychus urticae; T cinnabarinus và Panonychus citri đều thuộc họ Tetranychidae [27]

Nguyễn Đức Tùng (2006) [32] đ1 xác định loài nhện đỏ hại cam chanh

Panonichus citri cũng xuất hiện gây hại trên hoa hồng

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng (2008) trên hoa hồng vụ xuân vùng Hà Nội gồm 14 loài sâu và nhện hại thuộc 5 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ Trong số các loài sâu hại thì những loài sâu hại chính là: sâu xanh, sâu khoang, nhện đỏ 2 chấm, bọ trĩ [13]

Nguyễn Thị Kim Oanh (2003) [26], đ1 ghi nhận nhện đỏ Tetranychus cinnabarinus hại trên hoa hồng vùng Hà Nội, sự phát sinh gây hại mạnh vào tháng 3 và tháng 4

Kết quả nghiên cứu của Tô Thị Hoài Anh (2007) cũng cho thấy thành phần sâu hại và nhện hại hoa hồng tại Hải Phòng khá phong phú bao gồm 11

loài thuộc 6 bộ sâu hại và 1 bộ Ve bét Trong đó sâu khoang Spodoptera litura

và loài bọ trĩ Scirtothrips dorsalis, Frankliniella intonsa Trybom là loài phổ

biến trên hoa hồng ở vùng điều tra [1]

Không chỉ gây hại trên hoa hồng, nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae

còn là đối tượng gây hại nặng trên hoa sô đỏ, đỗ quyên, mai vàng ( Nguyễn Thị Kim Lý, 2009; Trần Văn M1o, 2008; Thái Văn Thiện, 2007) [21]; [22]; [29] )

Nghiên cứu của nhiều tác giả cũng cho thấy ngoài cây hoa và cây cảnh

sâu xanh Helicoverpa armigera (Hubner), sâu khoang Spodoptera litura còn

gây hại những cây trồng có giá trị kinh tế: khoai tây, cà chua, đậu tương, bông, thuốc lá, ngô

Khác với cây hoa hồng, mức độ xuất hiện và gây hại của các loài sâu bệnh hại có phần thấp hơn Những loài sâu hại chủ yếu là nhóm chích hút, sâu

Trang 27

ăn lá…trong đó bọ trĩ, nhện đỏ, sâu xanh là những đối tượng xuất hiện thường xuyên Những nghiên cứu về sâu bệnh hại trên cây hoa dừa cạn vẫn còn rất ít

Theo báo cáo tổng kết 25 năm chăm sóc hoa, cây cảnh tại Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh (2001): “sâu bệnh, chuột, cỏ dại đ1 gây tổn thất mùa màng,

đôi khi ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân Đối với khu di tích lịch sử, các khu công viên cây xanh, các khu du lịch và các công sở lớn cũng không nằm ngoài quy luật phát sinh và gây hại của sâu bệnh, chuột nói trên nhưng lại còn đa dạng và phức tạp hơn nhiều bởi lẽ: Đây là những công trình có ý nghĩa lịch sử, chính trị, x1 hội cao và đặc biệt có quan hệ lớn trong nước và quốc tế,

ví dụ như : vườn Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng lịch sử, các công viên cây xanh của các thành phố, các khu du lịch, rừng quốc gia Trong nông lâm nghiệp những cánh đồng, khu rừng thường chỉ có một loài hoặc một số cây trồng xen canh Trái lại trong khu di tích cây trồng đa dạng có hàng trăm loại khác nhau, được bố trí đan xen nhau làm cho hệ sinh thái ở đây có những màu sắc đặc biệt và phức tạp Các cây ăn quả thì càng đa dạng và phúc tạp với hàng loạt sâu hại và côn trùng có ích

Cây cảnh thường bị nhiều loài côn trùng, chích hút gây hại, đặc biệt là tập đoàn rệp và nhện hại

Cây hoa bị nhiều loài côn trùng ăn lá, đục ngọn, các loại chích hút như: rầy, nhện, rệp, bọ trĩ

Cũng theo kết quả chăm sóc hoa cây cảnh tại Lăng Bác cho thấy hoa dừa cạn là loại cây trồng xanh tốt, khả năng chống sâu bệnh cao và cho hoa nở quanh năm Thành phần và mật độ sâu hại trên hoa dừa cạn thấp hơn trên cây hoa hồng, trong đó nhóm côn trùng ăn lá, chích hút ( nhên, rệp, bọ trĩ ) đều gây hại trên cả hai loại cây hoa này [2]

2.4 Một số nghiên cứu về bọ trĩ

2.4.1 Phân loại

CABI (2006) [44] bọ trĩ thuộc bộ Thysanoptera, lớp côn trùng (insecta), ngành chân khớp (Arthropoda)

Trang 28

Mound L.A, 1997) [54] cho biết có khoảng 5000 loài thuộc bộ cánh tơ

được xếp vào 8 họ, hầu hết các loài bọ trĩ gây hại trong bộ cánh tơ tập trung ở

họ Thripidae với khoảng 1700 loài phân bố khắp thế giới

Trước đây vị trí phân loại của bọ trĩ dựa vào hệ thống của Priesner (1968) (Hà Quang Hùng và cs, 2005 [12] ) Ngày nay, vị trí phân loại của bộ cánh tơ trên thế giới đều dựa theo tài liệu của Mound L.A (2007)[55] Mound L.A cho rằng Bộ cánh tơ (Thysanoptera) có 2 bộ phụ là Tubulifera và Terebrantia

Các loài bọ trĩ gây hại cho cây trồng nói chung, đặc biệt là hoa xuất nhập khẩu chủ yếu là họ Thripidae

2.4.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ

- Gồm có: trứng, bọ trĩ non các tuổi, tiền nhộng, nhộng giả của bọ trĩ và trưởng thành

- Trứng thường cắm một phần vào biểu mô tế bào

- Bọ trĩ non tuổi 1 và 2 trông giống bọ trĩ trưởng thành nhưng chưa có cánh và bộ phận sinh dục

- Tiền nhộng có mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 3

- Nhộng giả có mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 8, râu đầu quặp ra phía sau theo chiều dọc cơ thể

Trang 29

Hình 2.1 Cấu tạo chung từ trứng đến nhộng giả của bọ trĩ

(Nguồn tài liệu: Mound L.A, 2007 [55])

Hình 2.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ trưởng thành họ Thripidae

(Nguồn tài liệu: Mound L,A, 2007 [55])

Trang 30

2.5 Một số kết quả nghiên cứu vể bọ trĩ

ở Đức đ1 phân loại được 6 loài bọ trĩ hại trên nhiều loại cây trồng nông nghiệp khác nhau ở Đài Loan, Cheng (1987)[45] đ1 nghiên cứu phát hiện thấy 156 loài bọ trĩ, trong đó có 70 loài gây hại cho cây trồng Tại ấn Độ, có

82 loài bọ trĩ chủ yếu gây hại trên 76 loại cây trồng khác nhau, trong đó có 6 loài bọ trĩ thường xuất hiện gây hại chè ở ấn Độ (Ananthakrishna,1984 )[41] Nghiên cứu của Daj Teulon và MC Nielsen (2005) cho thấy có hơn 120 loài

bọ trĩ đ1 được ghi nhận ở New Zealand, với khoảng một nửa trong số này đ1

được biết đến

Nghiên cứu của Mau và Martin (1993)[52], cho kết quả bọ trĩ

Frankliniella occidentalis có mặt trên 500 loài cây thuộc 50 họ thực vật trong

đó có nhiều cây trồng nông nghiệp và hoa cây cảnh

Theo Hua và cộng sự (1997)[50], khi nghiên cứu về các loài bọ trĩ chủ yếu hại cây hoa ở phía nam Đài Loan, các tác giả đ1 xác định trên hoa hồng

có 7 loài bọ trĩ đó là: Haplothrips chinensis Priesner, Rhipiphorothrips cruentatus Hood, Frankliniella intonsa Trybom, Microcephalothrips abdominalis Crawford, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips hawaiinensis Morgan và Thrips tabaci Linderman Trên hoa cúc có 5 loài bọ trĩ, bao gồm:

F intonsa, M abdominalis, T hawaiiensis và T tabaci và T palmi

Theo kết quả điều tra sơ bộ của (Atakan và cộng sự, 2001)[42] ở bang

Cukurova tại Thổ Nhĩ Kỳ đ1 cho biết bọ trĩ trưởng thành Frankliniella intonsa

tấn công vào hoa của cây bông có thể gây rụng quả non, rõ nhất là sau 10 ngày, tỷ lệ rụng quả non khoảng 70%

Theo Wanjboonkong (1981) Thrips palmi đ1 trở thành sâu hại trên cây

bông và gây thành dịch trên một số diện tích trồng bông ở Thái Lan vào năm

1978 và 1979 (dẫn theo Nguyễn Việt Hà, 2008)[11]

Bọ trĩ không chỉ gây hại cho cây trồng mà chúng còn là môi giới truyền

Trang 31

bệnh virus từ cây này sang cây khác Thời điểm bọ trĩ gây hại thường có ảnh hưởng quyết định đến mức độ thiệt hại năng suất ( Fournier và ctv, 1995 ) [46]

ở Việt Nam, bọ trĩ cũng là một trong những đối tượng sâu hại và gây hại phổ biến trên nhiều loài cây trồng khác nhau như lúa, khoai tây, đậu tương, lạc, chè, bông, hoa… Những công trình nghiên cứu về bọ trĩ cũng còn hạn chế

Yorn Try (2003), [35] cho biết trên đậu rau vụ xuân hè tại vùng Gia

Lâm - Hà Nội có 4 loài bọ trĩ (Thrips palmi Karny, Scirtothrips dorsalis Hood, Caliothrips sp., và Frankliniella sp.) Trong đó Thrips palmi là loài có

mặt sớm nhất trên đồng ruộng, chúng bắt đầu xuất hiện trên ruộng rau ngay từ

khi cây ở giai đoạn 6 đến 8 lá và ở giai đoạn này Thrips palmi chiếm ưu thế

với tỷ lệ hại 100% Khi nghiên cứu trên cây bông, Hoàng Anh Tuấn (2002)[28] đ1 điều tra và thống kê được tại vùng trồng bông Ninh Thuận xuất

hiện 3 loài bọ trĩ gây hại : Thrips palmi Karny, Scirtothrips dorsalis Hood và Arayaria chaetophora Karny

Trên cây nho tại tỉnh Ninh Thuận có 2 loài bọ trĩ xuất hiện phổ biến

nhất là: Thrips palmi Karny, Scirtothrips dorsalis Hood Khi nghiên cứu trên

cây mai, Nguyễn Thị Chắt (2010)[19] đ1 ghi nhận được hai loài bọ trĩ chính

gây hại trên cây mai là Scirtothrips dorsalis và Frankniella occidentalis

Theo Hà Quang Hùng, 2005, [12] có 5 loài bọ trĩ thường gây hại trên

hoa cúc: Thrips tabaci Linderman, Thrips flavus Schrark, Frankliniella

intonsa Trybom, Sirtothrips dorsalis Hood và Frankliniella sp Trong đó có 3 loài thường xuyên xuất hiện và gây hại chủ yếu là Thrips tabaci Linderman, Thrips flavus Schrark và Frankliniella intonsa Trybom

Nguyễn Việt Hà (2008)[11] khi nghiên cứu trên hoa hồng và hoa cúcđ1

cho biết Frankliniella intonsa Trybom là loài gây hại phổ biến nhất, phát triển

mạnh vào giai đoạn cây ra hoa Cả trưởng thành và ấu trùng dũa hút dịch của

Trang 32

hoa làm cho cánh hoa, đài hoa chuyển mầu nâu hoặc dầy lên, khi nặng hoa bị cong queo biến dạng, khô héo dần đi làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất của hoa Trưởng thành hoạt động nhanh nhẹn, sống chủ yếu trên cánh hoa và nhuỵ hoa, khi bị khua động chúng bay rất nhanh, do có kích thước nhỏ nên dễ dàng phát tán nhờ gió Vào hhững ngày mưa, chúng thường ẩn nấp trong các cánh hoa, trên ngọn non Cơ thể trưởng thành dài trung bình: dài 1,37±0,34mm, rộng 0,31±0,13mm Râu đầu có 8 đốt, trên mảnh ngực trước có

5 đôi lông dài, mảnh lưng ngực sau có 1 đôi lông dài nằm sát mép trước, cánh trước màu vàng Các pha : trứng, sâu non thuổi 1, sâu non tuổi 2, tiền nhộng, nhộng có kích thước trung bình lần lượt là: 0,12±0,006mm; 0,19±0,006mm; 0,24±0,07mm; 0,32±0,009mm; 0,32±0,009mm Trứng nằm trong mô, một phần hơi nhô ra ngoài Sâu non tuổi 1 và tuổi 2 có thể ở trong hoa hoặc trên lá Sâu non tuổi 1 cơ thể có màu trắng trong về sau vàn nhạt, tuổi 2 có mầu đậm hơn Giai đoạn tiền nhộng có mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ III Nhộng

thường ở trong tàn dư và hoa đ1 héo úa Vòng đời trung bình của Frankliniella intonsa Trybom 16,5 -19,94 ngày

Do cơ thể có kích thước nhỏ nên biện pháp phòng trừ bọ trĩ nói chung cũng

như đối với Frankliniella intonsa Trybom bằng thuốc trừ sâu là khó khăn

Theo Fournier và cộng sự (1995) việc bố trí thời vụ, tưới nước hợp lý giúp ngăn cản sự di chuyển của bọ trĩ từ cây ký chủ phụ sang cây trồng chính Việc tiêu huỷ cỏ dại ở trên đồng ruộng và xung quanh bờ có thể làm giảm mật

độ bọ trĩ vì đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ (Kuepper, 2001) Sự cân bằng dinh dưỡng(bón phân) là một trong những yếu tố giúp hạn

chế sự tấn công của bọ trĩ Biện pháp sử dụng giống kháng, biện pháp quản lý

bọ trĩ tổng hợp (IPM), nhấtt là biện pháp sinh học trong phòng trừ bọ trĩ đang

được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước Các loài được biết đến nhiều nhất

thuộc các họ : 2 họ ong kí sinh là Eulophidae và Trichogrammatidae; họ bọ xít bắt mồi Anthocoridea và nhện bắt mồi Phytoseiid và một số vi sinh vật gây bệnh Các loài bọ xít ăn thịt thuộc giống Orius và chuồn chuồn cỏ

Trang 33

Chrysoperla spp đ1 được nhân nuôi và đưa ra sản xuất được đánh giá là tác nhân sinh học mang lại hiệu quả phòng trừ cao với các loài bọ trĩ.

ở Nhật Bản Orius sauteri được chứng minh có hiệu quả như một tác nhân sinh

học trong phòng trừ bọ trĩ đ1 được đăng ký sử dụng như một loại thuốc trừ sâu

sinh học

Theo Trần Thị Tuyết (2005) , khi thử nghiệm một số thuốc: Tập kỳ 1,8

EC, Arrivo 10 EC, Actara 25WG và Spinosad với Thrips palmi trên lá bí xanh

đ1 cho rằng Actara có hiệu lực phòng trừ nổi trội so với các loại thuốc khác Theo Yorn Try (2008) [29] trong 4 loại thuốc hóa học Marshal 200SC, Amico 10EC, Conphai 10WP, Regent 800WP thì Marshal 200SC có hiệu lực cao nhất Theo Nguyễn Xuân Linh (1999) [16] có thể diệt bọ trĩ trên hoa hồng, cúc, lay ơn và phong lan bằng Politrin 440EC, Wofatox 400EC, Supracide 40ND Theo Hà Quang Hùng (2005) [7], các thuốc Tập Kỳ 1,8EC, Sumicidin 20 EC, Decis, Diazinon, Nicotin đều có thể phòng trừ bọ trĩ đạt kết quả tốt [1]

Theo Nguyễn Thị Minh Hằng (2007)[14], cho rằng có 4 loại thuốc có

khả năng phòng chống bọ trĩ Franklinienlla intonsa: thuốc nội hấp Actara

25WG, thuốc tiếp xúc Pegasus 500SC, thuốc kháng sinh Tập Kỳ 1.8 EC, thuốc thảo mộc Sokupi 0.36 AS.Thuốc nội hấp Actara 25WG có tác dụng tốt nhất với cả 2 pha bọ trĩ non và trưởng thành đạt 98,67% (ở thời điểm 7 ngày sau phun), trên hoa cúc đạt 99,33% đối với bọ trĩ non và bọ trĩ trưởng thành trên hoa hồng Hiệu lực của 4 loại thuốc đối với từng pha bọ trĩ non va trưởng thành ở 7 ngày sau khi phun không khác biệt giữa hoa hông và hoa cúc [11]

- Nguyễn Việt Hà đ1 tiến hành thử nghiệm bốn loại thuốc (Dylan 2EC, Shepatin 36EC, Silsau 10WP và Kuraba WP) trên hoa cúc, kết quả cho thấy

chúng đều có khả năng phòng trừ Frankliniella intonsa, song Shepatin 36EC

có hiệu lực cao nhất (89,18%) trên pha trưởng thành, nhưng có thể đạt tới 94,98% trên pha sâu non

Trang 34

III Địa điểm, thời gian, vật liệu, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

* Địa điểm nghiên cứu :

- Quảng Trường - Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội và vùng phụ

cận

- Bộ môn côn trùng trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

* Thời gian nghiên cứu :

- Từ tháng 01/2010 - tháng 10/ 2010

3.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

- Hoa hồng và hoa dừa cạn

- Thành phần sâu, nhện hại hoa hồng, hoa dừa cạn

* Vật liệu nghiên cứu:

- Lọ đựng côn trùng thu thập có nắp lưới thông thoáng, lọ đựng

bọ trĩ có nắp (hoặc ống ephendoff) chứa cồn 70o, khay nhựa thu thập mẫu, túi nilon có mép dán kín, vợt bắt côn trùng, bút lông, giấy thấm, kéo, panh, bình phun thuốc trừ sâu bằng tay 2 l, bình phun thuốc bằng tay đeo vai 8lít , kính lúp soi nổi (có bộ phận chụp ảnh) và kính hiển vi huỳnh quang quan sát các

đặc điểm hình thái của sâu hại chính Lọ nhân nuôi có nắp lưới ( bọ trĩ ), đĩa petri theo dõi thí nghiệm sinh học, bẫy dính màu xanh (kích thước: 12x12x20cm,, bên ngoài có bọc nykon trắng có phủ bằng một lớp chất dính) Thuốc trừ sâu tổng hợp hữu cơ thuộc nhóm Cacbamat, Pyrethroit, và các thuốc trừ sâu sinh học nhóm Abamectin hiện đang được bán trên thị trường và được khuyến cáo trừ bọ trĩ tốt đó là:

+ Nhóm Abamectin: Thuốc Emalusa 50,5 WSG, Aramectin 300EC

+ Nhóm Cacbamat : Thuốc Padan 95SP

+ Nhóm Pyrethroit : Thuốc Polytrin 440EC

Trang 35

- Hộp kỹ thuật thử nghiệm thuốc BVTV (10x14cm), bút, sổ ghi chép

và các dụng cụ cần thiết khác

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Điều tra ngoài đồng

a) Phương pháp điều tra xác định thành phần sâu, nhện hại hoa hồng và hoa dừa cạn

* Điều tra tại Lăng Bác Hồ và Từ Liêm - Tây Tựu: Việc điều tra được tiến hành theo phương pháp tự do không có định điểm trên cây hoa hồng, hoa dừa cạn

+ Quan sát bằng mắt để phát hiện sâu hại, triệu trứng gây hại trên các

bộ phận của cây hoa Nhẹ nhàng dùng vợt, bắt bằng tay đồng thời ngắt những

bộ phận bị hại để về phân tích Đối với loài côn trùng nhỏ thì ngắt bộ phận bị hại đang có sâu hại cho vào từng túi nylon kín miệng

+ Đưa các mẫu vật về phòng thí nghiệm, phân tích xác định tên loài, số lượng thu bắt được trên từng loại cây hoa và mô tả hình thái Đối với những loài côn trùng được xử lý theo phương pháp khô và ngâm ướt - thì ngoài lọ phải ghi nh1n: “ ngày thu mẫu, địa điểm thu mẫu, cây hoa thu mẫu ( tên Việt Nam, tên khoa học), bộ phận thu mẫu, người thu mẫu ”

b) Phương pháp điều tra diễn biến mật độ sâu hại hoa hồng và hoa dừa cạn

- Điều tra trên 5 ruộng cố định điển hình cho mỗi giống hoa Điều tra

định kỳ 7 ngày/lần, theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 3-5 cây trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Đếm số lượng loài sâu hại trên từng cây hoặc con trên bộ phận của cây

- Đối với những loài sâu hại có kích thước nhỏ ( rệp, bọ trĩ, nhện hại…), mỗi điểm chọn 3-5 cây, mỗi cây điều tra ở 3 tầng lá (tầng lá ngọn, tầng lá giữa, tầng lá sát gốc) đếm hoặc ngắt 10 lá/tầng đưa về phòng xác định mật độ (con/lá) ( hoặc điều tra 3-5 hoa/cây)

Trang 36

3.3.2 Nghiên cứu trong phòng

* Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh học của loài sâu hại chính trên hoa hồng, hoa dừa cạn

- Thu bắt sâu non, nhộng từ ngoài đồng về phòng nuôi và cho vũ hóa và theo dõi tập tính sinh học Thu thập trứng và sử dụng trứng đẻ cùng một ngày để xác định thời gian phát dục của các pha phát dục theo phương pháp nuôi cá thể ( n= 30 cá thể)

- Phương pháp nuôi cá thể bọ trĩ trên cây trồng:

+ Ghép cặp trưởng thành ( đực+cái), cho mỗi cặp trưởng thành vào lồng nuôi sâu có sẵn bộ phận cây ký chủ thích hợp của chúng ( cánh hoa-đ1 tiến hành kiểm tra loại bỏ bọ trĩ để có nguồn thức ăn sạch cho bọ trĩ nuôi trong phòng) Sau 1 ngày tiến hành soi các cánh hoa dưới kính núp 2 mắt để tìm trứng Dùng kim tách phần cánh hoa có trứng, sau đó lấy đặt mỗi trứng vào trong một hộp nuôi sâu nhỏ có đặt sẵn một cánh hoa sạch ( dưới đáy lót giấy thấm nước để giữ cánh hoa tươi ), ngoài hộp có dán nh1n đánh số thứ tự từ 1

đến 30 và ghi ngày chuyển trứng Tiếp tục theo dõi trứng nở và các pha phát dục khác của bọ trĩ ( bọ trĩ tuổi 1, bọ trĩ tuổi 2, tiền nhộng, nhộng giả và trưởng thành ) cho tới khi kết thúc thí nghiệm

- Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi được thời gian phát dục của từng pha, thời gian vòng đời của bọ trĩ trên cánh hoa hồng ( hoặc hoa dừa cạn)

3.3.3 Thử nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng

Trang 37

Đối chứng phun nước l1

* Phương pháp tiến hành : Mỗi hộp nuôi sâu (kích thước 10x14cm) đặt một bông hoa được cắm trên miếng xốp thấm nước Dùng bút lông chuyển 30 cá thể sâu non bọ trĩ tuổi 2 vào một hoa trong 1 hộp nuôi sâu Tiến hành làm 5 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần (số cá thể trong 1 lần nhắc lại là n=30), mỗi công thức phun một loại thuốc Sau đó phun lượng vừa thuốc đ1 pha lên hoa ( không để thuốc đọng thành giọt trên hoa) Tiếp tục theo quan sát

và đếm số lượng bọ trĩ còn sống sau 6h, 24h, 48h Tính hiệu lực thuốc theo công thức Abbott

b) Thí nghiệm ngoài đồng

* Thử nghiệm bốn loại thuốc:

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm của một lần nhắc lại là 25m2, bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) với 5 công thức - mỗi công thức nhắc lại 3 lần

- Phun thuốc được tiến hành bằng bình bơm tay đeo vai

Trang 38

Sơ đồ bố trí thí nghiệm phun thuốc đối với bọ trĩ hại hoa hồng

- Hiệu lực thuốc đ−ợc tính theo công thức Hendeso -Tilton

* Đặt bẫy màu xanh (12x12x20cm) với khoảng cách đặt bẫy là: 1bẫy/20m

chiều dài Theo dõi thí nghiệm và thay bẫy 1tuần/lần

3.3.4 Các công thức tính toán

Tổng số điểm điều tra có loài sâu A

Tổng số điểm điều tra

- : Mức độ phổ biến rất ít ( < 5%)

+ : Mức độ phổ biến ít ( 5- 25%)

Trang 39

Tæng sè l¸,hoa ®iÒu tra

+ Thêi gian ph¸t dôc trung b×nh cña mét c¸ thÓ (ngµy)

∑X × ni i

XTB (ngµy) =

N

Trong ñã: XTB : thêi gian ph¸t dôc trung b×nh

Xi : thêi gian ph¸t dôc cña c¸ thÓ thø i

Trang 40

+ Sức ăn mồi trung bình của một cá thể bọ xít (con)

Xi

XTB(con)=

N

Trong đó : XTB : số l−ợng bọ trĩ tiêu thụ trung bình

Xi : số l−ợng bọ trĩ tiêu thụ của cá thể thứ i

N : Tổng số cá thể theo dõi

- Sai số đ−ợc tính theo công thức :

n

t X

δ

+ Hiệu lực của thuốc trừ sâu trong phòng đ−ợc tính theo công thức ABBOTT:

(Ca –Ta ) H(%) = x 100

Ca Trong đó:

H(%): Hiệu lực của thuốc Ca: Số l−ợng côn trùng sống ở công thức đối chứng sau khi xử lý

Ngày đăng: 25/11/2013, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Các loại hoa trồng phổ biến ở Việt Nam - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Bảng 1 Các loại hoa trồng phổ biến ở Việt Nam (Trang 18)
Hình 2.1. Cấu tạo chung từ trứng đến nhộng giả của bọ trĩ - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 2.1. Cấu tạo chung từ trứng đến nhộng giả của bọ trĩ (Trang 29)
Hình 2.2. Cấu tạo chung của bọ trĩ tr−ởng thành họ Thripidae - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 2.2. Cấu tạo chung của bọ trĩ tr−ởng thành họ Thripidae (Trang 29)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm phun thuốc đối với bọ trĩ hại hoa hồng - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm phun thuốc đối với bọ trĩ hại hoa hồng (Trang 38)
Bảng 4.1 Thành phần sâu, nhện  hại hoa hồng, hoa dừa cạn  vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Bảng 4.1 Thành phần sâu, nhện hại hoa hồng, hoa dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ (Trang 43)
Bảng 4.2    Thành phần sâu, nhện  hại hoa hồng vụ xuân 2010   ( Tại Tây Tựu - Từ Liêm - Hà nội ) - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Bảng 4.2 Thành phần sâu, nhện hại hoa hồng vụ xuân 2010 ( Tại Tây Tựu - Từ Liêm - Hà nội ) (Trang 46)
Hình  4.1  Triệu trứng gây hại của sâu xanh - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
nh 4.1 Triệu trứng gây hại của sâu xanh (Trang 47)
Hình  4.2  Triệu trứng gây hại của sâu xanh - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
nh 4.2 Triệu trứng gây hại của sâu xanh (Trang 47)
Hình 4.3 Diễn biến mật độ một số loài sâu, nhện hại chính   trên hoa hồng vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 4.3 Diễn biến mật độ một số loài sâu, nhện hại chính trên hoa hồng vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ (Trang 50)
Hình 4.4   Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom  trên lá hoa hồng (trong phòng thí nghiệm) - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 4.4 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom trên lá hoa hồng (trong phòng thí nghiệm) (Trang 51)
Hình 4.5  Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom  trên cánh hoa hồng (trong phòng thí nghiệm) - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 4.5 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom trên cánh hoa hồng (trong phòng thí nghiệm) (Trang 51)
Bảng 4.4: Diễn biến mật ủộ một số loài sõu, nhện hại chớnh trờn   cây hoa dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Bảng 4.4 Diễn biến mật ủộ một số loài sõu, nhện hại chớnh trờn cây hoa dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ (Trang 53)
Hình 4.6 Diễn biến mật độ một số loài sâu, nhện hại chính   trên hoa dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 4.6 Diễn biến mật độ một số loài sâu, nhện hại chính trên hoa dừa cạn vụ xuân 2010 tại Lăng Bác Hồ (Trang 54)
Hình 4.7 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom  trên lá hoa dừa cạn (trong phòng thí nghiệm) - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 4.7 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom trên lá hoa dừa cạn (trong phòng thí nghiệm) (Trang 55)
Hình 4.8 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom  trên hoa dừa cạn (trong phòng thí nghiệm) - Một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống bọ trĩ frankliniella intonsa trybom bằng thuốc hoá học tại lăng bác hồ vụ xuân 2010
Hình 4.8 Triệu chứng gây hại của Frankliniella intonsa Trybom trên hoa dừa cạn (trong phòng thí nghiệm) (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm