Mục lục.......................................................................................................Trang 1 I. ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................ 2 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 2 2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 2 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài..................................................................... 3 4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 3 5.Phạm vi nghiên cứu........................................................................................... 3 6. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.......................................................................... 3 7. Kết quả khảo sát chất lượng giáo dục........................................................... 5 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :.............................................................................. 6 1. Tên đề tài:................................................................................................. 6 2. Tên biện pháp:.......................................................................................... 6 3. Các biện pháp thực hiện:.......................................................................... 6 Biện pháp 1: ............................................................................................ 6 Biện pháp 2: ............................................................................................... 7 Biện pháp 3: .................................................................................................. 7 Biện pháp 4: ............................................................................................ 8 Biện pháp 5: ............................................................................................ 9 Biện pháp 6: ............................................................................................ 9 Biện pháp 7: ............................................................................................ 9 Biện pháp 8: ............................................................................................ 9 Biện pháp 9: ............................................................................................ 11 Biện pháp 10: ............................................................................................ 12 III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ............................................................ 12 1.Kết luận:.........................................................................................................12 2.Hiệu quả SKKN:............................................................................................. 13 3. Bài học kinh nghiệm: ......................................................................................14 4.Khuyến nghị:................................................................................................... 16
Trang 1MỤC LỤC:
Mục lục Trang 1
I./ ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5.Phạm vi nghiên cứu 3
6 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
3 7 Kết quả khảo sát chất lượng giáo dục 5
II./ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ : 6
1 Tên đề tài: 6
2 Tên biện pháp: 6
3 Các biện pháp thực hiện: 6
* Biện pháp 1: 6
* Biện pháp 2: 7
* Biện pháp 3: 7
* Biện pháp 4: 8
* Biện pháp 5: 9
* Biện pháp 6: 9
* Biện pháp 7: 9
* Biện pháp 8: 9
* Biện pháp 9: 11
* Biện pháp 10: 12
III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 12
1.Kết luận: 12
2.Hiệu quả SKKN: 13
3 Bài học kinh nghiệm: 14
4.Khuyến nghị: 16
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi”
I.ĐẶT VẤN ĐỀ 1/ Lý do chọn đề tài:
Hoạt động phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi là hoạt động đóng vai trò quan trọng không thể thiếu được ở lứa tuổi này, nó có tác động rất lớn trong quá trình phát triển toàn diện ở trẻ về mọi mặt như đức, trí, thể, mĩ Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt với trẻ mầm non, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực, thông qua ngôn ngữ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng trở thành một thành viên của cộng đồng, từ đó giúp hoà nhập với mọi người trong xã hội
Thông qua các giải pháp thực hiện giúp cho trẻ dễ dàng tiếp cận và nhận biết thế giới vạn vật xung quanh phát triển óc tư duy sáng tạo, trí tò mò mà thích khám phá từ đó nảy sinh trong trẻ những nhận thức, tình cảm đạo đức, thẩm mĩ, yêu quí ông bà, cha mẹ, thầy cô Yêu quí loài vật, yêu thiên nhiên cỏ cây, hoa lá Làm cho tâm hồn trẻ ngày thêm hướng thiện Ngoài ra còn giúp trẻ tích luỹ và
mở rộng vốn từ ngữ phong phú đa dạng, giúp trẻ nói sõi, nói chuẩn tiếng Việt, khả năng nói sõi, diễn đạt ngôn ngữ được mạch lạc rõ ràng hơn
Qua thực tế tôi thấy, đặc điểm tâm sinh lí nhận thức của trẻ ở độ tuổi này còn rất nhiều hạn chế do các cơ quan và bộ máy phát âm của trẻ chưa được hoàn thiện Trẻ nói chưa đúng, chưa đủ câu nên khả năng diễn đạt ngôn ngữ, câu chưa được rõ ràng, mạch lạc Nên tôi nghĩ cần tìm ra những biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi ngay từ ban đầu là rất quan trọng chính vì vậy tôi quyết
định chọn đề tài này “Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi”
2/ Mục đích nghiên cứu.
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có lôgic, có trình tự, chính xác
Trang 33/ Đối tượng nghiên cứu của đề tài
-Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở lớp A1
4/ phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Những phương pháp thực tiễn:
+ Nhóm phương pháp quan sát
+ Phương pháp đàm thoại
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5/ Phạm vi thực hiện đề tài:
- Đề tài được thực hiện từ tháng 9/2019 đến 4/2020 tại trường Mầm non Đỗ Động
6/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
* Thuận lợi:
Là một trong những giáo viên của trường tôi luôn luôn phấn đấu và học tập để trở thành một giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn vững vàng để thực hiện kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ Ngay từ đầu năm tôi đã đặt ra kế hoạch phấn đấu trở thành lớp tiên tiến, phát triển toàn diện ở các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực phát triển ngôn ngữ
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các ban nghành đoàn thể trong xã trong thôn tạo điều kiện giúp đỡ về cơ sở vật chất và ủng hộ về mặt tinh thần chính vì vậy mà giáo viên càng thêm yêu trường yêu lớp hơn
Dưới sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu về chuyên môn xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo điều kiện giúp tôi thực hiện tốt chương chình giáo dục mầm non
Ngay từ nhỏ trẻ đã được làm quen với thiên nhiên với xã hội, điều đó trẻ mạnh dạn, tự tin, tình cảm của cô và trẻ không có khoảng cách vì vậy trẻ được làm quen và học tập qua các câu chuyện, dù câu chuyện ngắn hay dài, nội dung của bài rất sống động làm cho trẻ có cảm giác gần gũi, hoà nhập mình vào những câu chuyện đó cho nên trẻ rất thích và chú ý lắng nghe cô kể, từ đó giúp trẻ yêu vẻ đẹp thiên nhiên, yêu con người xung quanh trẻ
Trang 4Lớp được chia theo đúng độ tuổi quy định, đồ dùng học tập của trẻ phong phú về hình ảnh, màu sắc hấp dẫn và được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, sự ủng hộ, đóng góp từ phía các bậc phụ huynh và đặc biệt sự chỉ đạo, quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường
Giáo viên nắm vững phương pháp dạy hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, được bồi dưỡng thường xuyên và tham gia học các lớp chuyên đề
do phòng tổ chức
Giáo viên trong trường có tinh thần đoàn kết, có sự phối hợp trong công tác giảng dạy, đặc biệt là chú ý đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ và luôn được sự ủng hộ của phụ huynh học sinh
Ví dụ: Hoạt động kể chuyện giúp cho trẻ hiểu được về sự vật, sự việc xung quanh trẻ, trẻ có thể cảm nhận được những việc tốt, việc xấu, từ đó hình thành nên nhân cách cho trẻ thông qua những câu chuyện và cũng từ đó trẻ hiểu
và tích luỹ được một số vốn từ để trẻ giao tiếp một cách tự tin nhất với mọi người xung quanh
Vì vậy cô là người chủ đạo dạy trẻ nói rõ ràng đúng câu và cả những lời nói đẹp Dạy trẻ biết vâng, dạ, cảm ơn, xin lỗi đúng lúc Qua đó dạy trẻ biết cách ứng xử với mọi người xung quanh Từ đó giúp cho trẻ có những lời nói hay, những câu từ giầu âm điệu, cảm xúc đó là điều kiện hình thành phong cách nghệ thuật trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ và làm cho trẻ gần gũi với những tác phẩm văn học nghệ thuật
* Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi trên tôi vẫn còn gặp không ít những khó khăn sau:
Mặt bằng dân trí xã tôi còn thấp nên nhận thức của người dân về giáo dục Mầm non còn xem nhẹ
Bản thân tôi là một giáo viên đã được đào tạo với trình độ trên chuẩn nhưng do mới bước chân vào nghề nên cũng còn nhiều hạn chế về nhiều mặt
Trang 5Trẻ 5-6 tuổi do tôi trực tiếp phụ trách, vẫn còn có trẻ nói ngọng, phát âm chưa chuẩn
Do phụ huynh bận công việc và đi làm ăn xa nên chưa thực sự quan tâm đến việc dạy dỗ con cái mà hoàn toàn giao phó cho ông bà và cô giáo ở trường Đứng trước những khó khăn như vậy tôi suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm
ra một phương pháp phát triển ngôn ngữ qua các tiết dạy hàng ngày Chính vì vậy tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
7/ Kết quả khảo sát chất lượng giáo dục.
Trước khi tiến hành các giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi, tôi tiến hành khảo sát trẻ trong lớp và kết quả thu được như sau:
STT Nội dung thực nghiêm
Kết quả
Số lượng Tỉ lệ %
1 Trẻ phát âm đúng , to, rõ ràng, mạch
2 Trẻ sử dụng từ ngữ linh hoạt, phong
3
Trẻ biết thể hiện ngôn ngữ, giọng điệu
trong kể chuyện sáng tạo và kể chuyện
theo trí nhớ
5 Trẻ mạnh dạn trả lời câu hỏi của giáo
6 Trẻ tự tin trong giao tiếp với mọi người
Nhìn vào bảng khảo sát trên ta thấy khả năng ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua giờ kể chuyện là rất thấp Vì vậy cần phải có các giải pháp phù hợp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi
Trang 6II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1: “Tên đề tài: Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi”.
2 Tên các giải pháp:
Biện pháp 1: Khảo sát đầu năm trên trẻ:
Biện pháp 2: Công tác bồi dưỡng
Biện pháp 3: Phát triển ngôn ngữ thông qua việc cho trẻ trực tiếp quan sát đồ
dùng, đồ chơi.
Biện pháp 4: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giờ kể chuyện qua các phương
tiện truyền thông, công nghệ thông tin
Biện pháp 5: Phát triển ngôn ngữ qua các thủ pháp nghệ thuật
Biện pháp 6: Phát triển ngôn ngữ thông qua các trò chơi văn học
Biện pháp 7: Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời và ở mọi lúc, mọi nơi
Biện pháp 8: Tạo môi trường giáo dục phát triển ngôn ngữ lấy trẻ làm trung tâm
Biện pháp 9: Chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở khi tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Biện pháp 10: Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh
3 Các biện pháp thực hiện:
Hiểu được tầm quan trọng của việc giúp trẻ yêu thích môn loàm quen với toán trong lĩnh vực nhận thức Bản thân tôi dựa vào chương trình của Bộ giáo dục đề ra, các chuyên đề của phòng chỉ đạo, và phiên chế của nhà trường xây dựng và những kinh nghiệm đã đúc kết trong thực tế giảng dạy của từng bài, để tìm ra những biện pháp giảng dạy phù hợp giúp trẻ yêu thích hoạt động làm quen với toán Sau đây là 1 số biện pháp :
Biện pháp 1: Khảo sát đầu năm trên trẻ:
Đầu năm học nào cũng vậy cùng với sự chỉ đạo của trường, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đầu vào lĩnh vực phát triển ngôn ngữ với các kỹ năng
cụ thể của ngôn ngữ, 100% trẻ lớp tôi được khảo sát và tôi thấy chất lượng đầu vào của lớp tôi phụ trách học sinh đạt thấp Tỷ lệ trẻ đạt các kỹ năng cần thiết
Trang 7trong giờ kể chuyện còn dưới 50% Đặc biệt đa số trẻ chưa hứng thú khi tham gia kể chuyện, tỷ lệ trẻ mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp bằng ngôn ngữ chưa cao
Biện pháp 2: Công tác bồi dưỡng
Tự bồi dưỡng: Bản thân tôi luôn học tâp bồi dưỡng qua viêc đọc và nghiên cứu tài liệu, chuyên san, học tập các lớp chuyên đề do phòng tổ chức, dự giờ học tập trong tổ, trong cụm, chị em đồng nghiệp
Qua việc tự học tập bồi dưỡng tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân trong việc giáo dục trẻ, áp dụng có hiệu quả chương trình giáo dục Mầm non, ứng dụng các phương pháp đặc trưng và phương pháp lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tính tích cực của trẻ trong các hoạt động giúp trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Biện pháp 3 Phát triển ngôn ngữ thông qua việc cho trẻ trực tiếp
quan sát đồ dùng, đồ chơi.
Qua thực tế giảng dạy và tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí, nhận thức của trẻ
từ 5 - 6 tuổi là lối tư duy trực quan hình tượng, nên tôi đã sáng tạo làm nhiều loại đồ dùng, đồ chơi phù hợp với từng nội dung câu chuyện cần kể, để giới thiệu cho trẻ, giúp cho trẻ có những cảm xúc và nhữnh ấn tượng tốt về đồ vật, sự vật đó ngay từ ban đầu tôi đã tận dụng những đồ dùng phế thải qua đời sống sinh hoạt hàng ngày nhưng vẫn đảm bảo vệ sinh thẩm mĩ làm đồ dùng, đồ chơi cho các tiết dạy
Ví dụ: Tôi đã dùng bìa cứng, xốp, giấy màu, hộp, chai, lọ, nhựa, vải bông, len vụn, các hột, hạt …khéo léo cắt tỉa, khâu tạo thành những nhân vật rối dẹt, rối que, rối tay, dùng xốp gọt tỉa tạo thành các nhân vật để làm đồ dùng trực quan giới thiệu cho trẻ
Với câu chuyện “Bác gấu đen và 2 chú thỏ” tôi dùng vải vụn, bông, hột,
hạt…khâu những nhân vật rối như bác gấu đen, thỏ nâu, thỏ trắng để diễn rối tay
Trang 8cho trẻ xem, trẻ rất thích thú chỉ và gọi tên nhân vật đó, trẻ tưởng như các nhân vật đó từ trong tranh truyện bước ra thật gần gũi, ngộ nghĩnh và đáng yêu
Cũng với đồ dùng tự tạo trên tôi chú ý đến việc sử dụng đưa ra giới thiệu cho trẻ bằng nhiều cách khác nhau để dẫn dắt gây hứng thú vào bài Hoặc có thể cho trẻ nhìn thấy các nhân vật trong chuyện mà trẻ có thể tự kể chuyện, tự sáng tác những câu chuyện theo ý mình Ngoài ra tôi còn khéo léo cắt tỉa tạo thành những cái mũ xinh xắn có gắn những nhân vật mà trẻ yêu thích, tận dụn vải vụn khâu thành những con thú nhồi bông ngộ nghĩnh đẹp đẽ để làm phần thưởng khi trẻ hoạt động, vừa động viên khuyến khích trẻ, vừa giúp trẻ tham gia vào các trò chơi
Ví dụ: Cô làm những chiếc mũ cáo để thưởng cho trẻ chơi vận động: Sau
khi học xong chuyện: “Cáo thỏ và gà trống ”
Biện pháp 4 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giờ kể chuyện qua các phương tiện truyền thông, công nghệ thông tin.
Hoà nhập cùng cả nước đưa công nghệ thông tin vào trường học nói chung, bậc học mầm non nói riêng, trong các giờ cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học hay tích hợp vào các hoạt động khác cho trẻ Tôi sử dụng các đoạn phim hoạt hình, truyện cổ tích cho trẻ xem và thảo luận về vài học liên quan, cho trẻ phát biểu các nội dung câu chuyện
Ví dụ: Trong nội dung câu chuyện “Cáo, thỏ và gà trống” tôi đã chọn
phim hoạt hình có các con vật như cáo, thỏ và gà trống là những hình ảnh động Tôi thấy trẻ rất thích xem hình ảnh đó Khi gợi cảm xúc trước khi kể chuyện từ những hình ảnh đó trẻ đã học hỏi được nhiều điều và phần nào hiểu được nội dung câu chuyện
Ngoài ra tôi còn dùng những trò chơi trên máy trẻ trực tiếp tham gia bấm máy chơi trò chơi củng cố nội dung câu chuyện Trò chơi này giúp trẻ hứng thú
và khắc sâu nội dung câu chuyện
Trang 9Biện pháp 5 Phát triển ngôn ngữ qua các thủ pháp nghệ thuật.
Ngoài biện pháp sử dụng đồ dùng đồ chơi đưa công nghệ thông tin vào các tiết dạy thì việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, giọng kể để trẻ làm quen với các tác phẩm trong câu chuyện là rất cần thiết
Ví dụ: Trong câu chuyện “ Bác gấu đen và hai chú thỏ” tôi dùng tiếng ghi
âm tiếng gõ cửa, tiếng cô giả giọng làm tiếng của các nhân vật trong câu chuyện,
…bật mở cho trẻ nghe để dẫn dắt vào câu chuyện, cho trẻ xem trẻ rất thích thú
và gọi tên những nhân vật đó
Khi trẻ được xem băng đĩa tôi thấy trẻ rất hứng thú, chăm chú theo dõi từng nhân vật, thấy trẻ rất hiểu bài và tích cực trả lời các câu hỏi đàm thoại của
cô đưa ra
Biện pháp 6 Phát triển ngôn ngữ thông qua các trò chơi văn học
Để tránh tình trạng trẻ bị nhàm chán mệt mỏi khi nghe cô kể chuyện tôi luôn tổ chức đan xen những trò chơi vận động để nhằm thay đổi trạng thái giữa động và tĩnh cho trẻ Từ nội dung của các mẩu chuyện tôi chuyển sang trò chơi
một cách nhẹ nhàng để trẻ thông qua chơi mà học, học mà chơi.
Ví dụ: Trong câu chuyện: “Nàng tiên mưa” tôi cho trẻ đội mũ vịt vào chơi
trò chơi “ mưa to mưa nhỏ” trẻ làm những tiếng mưa to mưa nhỏ tôi thấy trẻ rất thích thú và hăng hái tích cực tham gia và hoạt động mà ý nghĩa giáo dục của câu chuyện được khắc sâu hơn
Biện pháp 7 Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời và
ở mọi lúc, mọi nơi.
Khi trẻ hoạt động quan sát ngoài trời, những hình ảnh trẻ quan sát được là những hình ảnh sống động trực quan tôi tận dụng luôn và gợi mở hướng trẻ tới các câu chuyện có liên quan tới vật cần quan sát
Ví dụ: Khi quan sát con mèo tôi đọc ngay lời thoại trong câu chuyện Con
cáo: Meo, meo, meo, đuổi theo, đuổi theo và hỏi trẻ câu nói đó trong câu chuyện
gì? thì trẻ nói ngay là bạn Mèo hoa có trong câu chuyện “Con cáo” và tôi nói:
Trang 10Bạn Mèo hoa hôm nay đến thăm lớp mình đấy Các con nhìn xem bạn Mèo hoa
có đẹp không? Làm như vậy, tôi thấy trẻ rất chăm chú quan sát bạn Mèo hoa
Khi dạo chơi tắm nắng ở ngoài trời tôi cho trẻ quan sát thời tiết và dùng những câu hỏi đàm thoại về thời tiết Sau khi học xong tôi cho trẻ chơi trò chơi
Trời nắng, trời mưa để khắc sâu thêm nội dung bài trẻ vừa học.
Bên cạnh đó trong giờ hoạt động ngoài trời tôi còn tận dụng những bức tranh tường ở trong trường bằng cách gợi mở cho trẻ cùng nhau kể chuyện về những bức tranh đó hoặc có các con vật trong sân trường tôi cũng gợi mở cho trẻ thi nhau kể chuyện về các con vật đó…hình thức này đã giúp trẻ em có nhiều ý tưởng sáng tạo hay và có ý thức thi đua để đạt kết quả tốt
Biện pháp 8: Tạo môi trường giáo dục phát triển ngôn ngữ lấy trẻ làm trung tâm.
Tạo môi trường giáo dục phát triển ngôn ngữ lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ hoạt động là rất cần thiết trong chương trình đổi mới
Hiện nay, nếu cô tạo được môi trường cho trẻ hoạt động tốt thì sẽ kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ, tham gia vào các hoạt động và kết quả đạt được rất cao Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đã đi sâu vào tạo môi trường bằng cách đưa hình ảnh nhân vật của các câu chuyện nổi bật vào góc văn học và một số góc trong và ngoài lớp học thể hiện trên các mảng tường Vẽ và sưu tầm một số bộ truyện tranh ngoài chương trình để đưa vào giảng dạy, vận động phụ huynh đóng góp truyện tranh đưa vào góc văn học cho trẻ hoạt động thường ngày Những câu chuyện được thể hiện trên các mảng tường trong không gian to đã giúp trẻ dễ tri giác, trẻ được thảo luận, bàn bạc về câu chuyện đó Từ đó trẻ biết vận dụng những kiến thức đó vào kể chuyện sáng tạo một cách dễ dàng Ngoài việc tạo những bức tranh trên mảng tường, những tập truyện tranh chữ to tôi còn
đi sâu làm một số đồ dùng trực quan cho trẻ hoạt động trong góc Văn học như: Một số con rối dẹt có bánh xe, có cử động tay chân và tận dụng những truyện tranh cũ, những sản phẩm vẽ của trẻ, cắt dán bồi bìa cứng cho trẻ ghép tranh kể